1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11

81 702 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 657,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HÀ NỘI – 2016LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong tin học lớp 11 trường THPT Quế Võ 2, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã nhận được sự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NINH THỊ NGÀ

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂU MẢNG TRONG TIN HỌC LỚP 11

TRƯỜNG THPT QUẾ VÕ 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sư phạm Tin học

Trang 2

HÀ NỘI – 2016

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong tin học lớp 11 trường THPT Quế Võ 2, ngoài sự cố gắng của

bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện của các thầy, cô giáo trong khoa Công nghệ Thông tin trường ĐHSPHN2, đặc biệt là cô giáo

hướng dẫn - TS Lưu Thị Bích Hương cùng với gia đình và bạn bè.

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới cô

giáo Lưu Thị Bích Hương, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo

em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa CNTT trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu

Ngoài ra, em muốn gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu và các thầy cô giáo trong tổ Toán – Tin của trường THPT Quế Võ 2, đặc biệt là cô hướng

dẫn thực tập Phùng Thị Thắng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và đóng góp ý

kiến để em thực hiện đề tài này

Cuối cùng, em xin cảm ơn tập thể lớp Sư phạm Tin, khóa 38, các bạn

đã đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm bản thân giúp khóa luận của em ngày một hoàn thiện

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Sinh viên thực hiện

NINH THỊ NGÀ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan:

1 Em xin cam đoan đây là bài nghiên cứu của riêng em và được sự hướng dẫn trực tiếp của TS Lưu Thị Bích Hương Các nội dung nghiên cứu, kết quả đều là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Những

số liệu kết quả được chính em thu thập trong thời gian thực tập tại trường THPT Quế Võ 2

2 Mọi tham khảo dùng trong khóa luận đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố

3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà nội, tháng 5 năm 2016

Sinh viên thực hiện

NINH THỊ NGÀ

MỤC LỤC

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC 1

HÀ NỘI – 2016 2

CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6

1.2.1.Quá trình dạy học 8

1.2.2 Cơ sở lý luận về tự học 10

1.3 Bồi dưỡng giúp học sinh học tốt Tin học lớp 11 16

1.4 Thực trạng của việc dạy và học bộ môn Tin học lớp 11 trường THPT Quế Võ 2 18

CHƯƠNG 2 23

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂU MẢNG TRONG 23

TIN HỌC LỚP 11 TRƯỜNG THPT QUẾ VÕ 2 23

2.1.1 Những yêu cầu khi xây dựng hệ thống bài tập tin học 23

2.2 Phân tích chương trình tin học phần kiểu mảng 26

2.3 Hệ thống lý thuyết phần kiểu mảng trong Tin học lớp 11 trường THPT Quế Võ 2 28

2.4 Các dạng bài tập kiểu mảng 31

CHƯƠNG 3 51

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51

3.1 Mục đích thực nghiệm 51

3.1.1 Tính khả thi 51

Trang 5

3.2 Đối tượng thực nghiệm 52

3.3 Nội dung thực nghiệm 52

3.4 Tiến hành thực nghiệm 52

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

PHỤ LỤC 1: PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GV 69

PHỤ LỤC 3: PHIẾU THAM KHẢO Ý KIẾN GIÁO VIÊN 71

PHỤ LỤC 4: ĐỀ KIỂM TRA SỐ 1 73

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Các nhóm TN và ĐC 52

Bảng 3.2 Nhận xét của giáo viên về hệ thống bài tập 63

Bảng 3.3 Bảng tổng hợp điểm bài kiểm tra 64

Bảng 3.4 Bảng tổng hợp kết quả học tập của 2 lớp qua bài kiểm tra 65

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Cấu trúc của quá trình dạy học 9

Hình 1.2 Tam giác thể hiện mối quan hệ của giáo viên, học sinh và đối tượng .9

Hình 1.3 Tam giác sư phạm 10

Hình 1.4 Sơ đồ biểu thị quá trình tự học của trò 13

Hình 1.5 Sơ đồ biểu thị quá trình dạy của thầy 14

Hình 2.1 Nhập và hiển thị mảng 31

Hình 2.2 Hàm gọi thủ tục 32

Hình 2.3 Mô phỏng thuật toán với N=10 41

Hình 2.4 Mô phỏng thuật toán với N=10, k=13 43

Hình 2.5 Mô phỏng thuật toán với N=10, k=19 43

Hình 2.6 Mô phỏng thuật toán với N=8, k=10 45

Hình 2.7 Mô phỏng thuật toán với N=8, k=19 46

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, khoa học và kỹ thuật phát triển với tốc độ rất nhanh Người

ta ước tính rằng cứ sau 8 năm thì tri thức của nhân loại được tăng lên gấp đôi

Từ khi chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời mở ra một kỷ nguyên phát triển rực rỡ của CNTT

Những thành tựu to lớn của CNTT đang thâm nhập sâu rộng vào hầu hết các ngành kinh tế quốc dân, vào mọi lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, văn hóa

và nghệ thuật, khoa học và giáo dục, vào mọi cơ quan quản lý các cấp và mọi gia đình Điện tử và Tin học làm biến đổi sâu sắc đến lối sống và phong cách

tư duy của con người Xã hội thông tin đang đặt ra các yêu cầu rất cao đối với các hoạt động trí tuệ của toàn xã hội

Mọi tiến bộ khoa học kỹ thuật cuối cùng cũng đi vào giáo dục và đặt ra cho giáo dục những nhiệm vụ mới Sự bùng nổ của khoa học công nghệ, sự bùng nổ cuả thông tin đòi hỏi nhà trường phải tạo nên những con người thông minh, sáng tạo

Ở Việt Nam, những thành công của sự nghiệp đổi mới trong hơn hai thập niên qua đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng các thành tựu của CNTT vào trong nhà trường

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm đưa nước ta theo kịp nhiệt độ phát triển của thế giới trong xu hướng hội nhập với nền kinh tế toàn cầu đòi hỏi thế hệ trẻ phải sử dụng thành thạo các ứng dụng của CNTT vào lĩnh vực công tác của mình trong tương lai Nhiều quan niệm cho rằng “Không biết Tin học coi như bị mù chữ lần thứ hai Việc dạy tin học cũng quan trọng như việc xóa mù chữ”

Tin học là một môn khoa học công cụ, tri thức và kỹ năng Tin học được

áp dụng rộng rãi, hỗ trợ đắc lực cho rất nhiều ngành khoa học khác nhau trong hầu hết lĩnh vực của đời sống, và là một phần không thể thiếu trong trình độ văn hóa phổ thông của con người ở thời đại mới Bởi vậy, dạy Tin học cho học sinh không chỉ truyền thụ nội dung đơn giản, mà phải hướng cho học sinh

Trang 10

những nhận thức, những hiểu biết ngang tầm thời đại, phải luyện cho học sinh luôn tự tìm tòi, khám phá những lĩnh vực mới của nhân loại, góp phần phát triển tư duy nhận thức của học sinh; rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức Tin học vào thực tiễn Từ đó, giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh.

Hiện nay môn Tin học đã trở thành môn học bắt buộc trong nhà trường phổ thông và có tăng thêm thời lượng Đây là một thuận lợi rất lớn cho việc tiến hành giảng dạy Học sinh sẽ nghiêm túc hứng thú và có trách nhiệm hơn khi học môn học, nhà trường có cơ sở pháp lý để đầu tư về trang thiết bị, phòng máy, triển khai các hoạt động ngoại khóa liên quan Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:

+ Các em chưa được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên sâu, gây khó khăn trong việc tìm hiểu, giải quyết những vấn đề liên quan tới môn học

+ Nền giáo dục ở nước ta đa phần nghiêng về lý thuyết và bài tập, học sinh chưa có điều kiện thực hành nhiều do vậy việc vận dụng kiến thức vào đời sống còn nhiều hạn chế

+ Tài liệu tuy phong phú nhưng chưa có sự chọn lọc, không đáp ứng nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu của học sinh

Và đặc biệt việc xây dựng các hệ thống bài tập nhằm rèn luyện, trang bị đầy đủ cho học sinh các kỹ năng học tập vẫn chưa được chú trọng Vì vậy đa

số học sinh lớp 11 THPT còn non kém về kỹ năng lập trình

Vấn đề đặt ra ở đây là cần xây dựng hệ thống bài tập như thế nào? Quy trình xây dựng ra sao? Cần phải dựa vào những tiêu chí gì?

Là một giáo viên Tin học trong tương lai, việc vận dụng các tri thức phương pháp vào xây dựng hệ thống bài tập tin học, nhất là hệ thống bài tập kiểu mảng nhằm rèn luyện và nâng cao khả năng học tốt cho học sinh là một

đề tài mà em tâm đắc và có nhiều trăn trở

Đi đôi với hệ thống các kiến thức lý thuyết là hệ thống bài tập không thể tách rời Hệ thống bài tập nhằm giúp học sinh hình thành, củng cố tri thức,

Trang 11

kỹ năng, kỷ xảo ở các khâu khác nhau của quá trình học tập, phát triển năng lực trí tuệ, rèn luyện những hoạt động tư duy.

Tuy nhiên, quá trình tiếp thu kiến thức lý thuyết cũng như giải quyết các bài tập của học sinh còn nhiều vướng mắc Các em chưa biết cách phân loại dạng bài tập khi giải quyết, chưa nắm vững các hệ thống thuật toán để giải quyết các bài toán này

Từ những lý do đó và được sự gợi ý của cô giáo hướng dẫn, em đã lựa

chọn đề tài Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong tin học lớp 11 trường THPT Quế Võ 2 làm đề tài nghiên cứu của mình, nhằm giúp các em

có thể phân loại được các dạng bài tập, áp dụng các thuật toán để giải quyết các bài tập trong chương trình Tin học phổ thông

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tổ chức dạy học có hệ thống bài tập kiểu mảng nhằm rèn luyện khả năng giải các bài toán lập trình cho học sinh lớp 11 trường THPT Quế Võ 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng hợp một số nội dung làm cơ sở lý luận cho đề tài:+ Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc dạy và hướng dẫn cho học sinh học tốt tin học;

+ Cơ sở lý luận về việc học và tự học;

+ Cơ sở lý thuyết phần bài tập kiểu mảng

- Nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu phần kiểu mảng nhằm xây dựng hệ thống bài tập theo hướng đơn giản, dễ nghiên cứu phát huy tính tích cực, tự lực, tự giác của học sinh

- Biên soạn hệ thống bài tập kiểu mảng điển hình cho học sinh lớp 11

- Thiết kế mẫu một số giáo án giảng dạy về bài tập kiểu mảng trong tin học lớp 11

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính hiệu quả và khả thi của tài liệu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 12

Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 11

Phạm vi nghiên cứu: Trường THPT Quế Võ 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Nếu việc xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng cho học sinh lớp 11

trường THPT Quế Võ 2 có tính khả thi cao, hợp lý, khoa học, phát huy tốt tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh thì sẽ nâng cao chất lượng dạy

và học tại trường

- Nếu tổ chức dạy học các bài tập kiểu mảng theo phương pháp dạy học tích cực bảo đảm các yêu cầu về sư phạm thì sẽ hình thành, rèn luyện và phát triển được kỹ năng lập trình cho học sinh cũng từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước cũng như của Bộ giáo dục và đào tạo về việc nâng cao chất lượng giáo dục và vấn đề đưa tin học vào nhà trường THPT

- Nghiên cứu sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các tài liệu lý thuyết có liên quan, các bài giảng về phương pháp dạy học Tin học

- Nghiên cứu các tài liệu giáo dục học, tâm lí học, các tài liệu về phương pháp dạy học môn Toán, Vật lý,… để từ đó áp dụng vào giảng dạy Tin học

- Nghiên cứu xây dựng giả thuyết, sử dụng toán học thống kê trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về xây dựng hệ thống bài tập

Phương pháp điều tra xã hội học

- Tìm hiểu thực trạng, tiếp xúc với giáo viên và học sinh trường THPT Quế Võ 2 đề trao đổi các vấn đề liên quan đến việc dạy học, truyền thụ tri thức tin học và rèn luyện kỹ năng xây dựng hệ thống bài tập

Trang 13

Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các giải pháp đề xuất

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và hướng phát triển, tài liệu tham khảo thì nội dung của khóa luận gồm có ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11 trường

THPT Quế Võ 2

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

hệ thống, văn minh và bền vững Hiểu được vai trò trọng yếu của nhân tố con người, Đảng và nhà nước đã có nhiều chiến lược, đẩy mạnh đầu tư hệ thống giáo dục, các trường THPT và các trường đại học ngày càng chú trọng hơn về chất lượng, chuyên môn, hàng loạt các cuộc thi được hưởng ứng Chính vì thế việc nghiên cứu các chuyên đề cho học sinh ngày càng được chú trọng, số lượng các công trình nghiên cứu đã tăng lên đáng kể, không những đa dạng về nội dung, hình thức mà phạm vi nghiên cứu ngày một mở rộng.

Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người…” Chính vì thế, trong những năm gần đây, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao, GV được bồi dưỡng trình độ chuyên môn, HS có nhiều điều kiện, cơ hội để phát triển tiềm năng của bản thân Bên cạnh những kiến thức cơ bản thì hệ thống những kiến thức nâng cao đang được nhiều cán

bộ, GV quan tâm Ngành giáo dục đang từng bước đầu tư, ươm mầm cho những tài năng trẻ của đất nước, chương trình giảng dạy của các trường THPT đã và đang được chú trọng Tuy nhiên, trên thực tế chất lượng giáo dục vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:

- Nền giáo dục nước ở nước ta đa phần nghiêng về lý thuyết và bài tập, HS chưa có điều kiện thực hành nhiều do vậy việc vận dụng kiến thức vào đời sống còn nhiều hạn chế

- Các em chưa được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên sâu, gây khó khăn trong việc tìm hiểu, giải quyết những vấn đề liên quan tới môn học

Trang 15

- Tài liệu tuy phong phú nhưng chưa có sự chọn lọc, không đáp ứng nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu của học sinh.

Hiểu được điều đó nên sau khi được nhà trường phân công về trường THPT Quế Võ 2 thực tập, em đã tìm hiểu và đưa ra được kết luận như sau:

Trước tiên là thực trạng về tình hình học tập của HS:

- Số lượng HS yêu thích giờ bài tập không cao, HS chưa chuẩn bị cho tiết bài tập vì các em chưa biết nhận dạng, chưa nắm phương pháp giải từng dạng, không giải được bài tập khiến các em cảm thấy chán nản

- Số lượng bài tập và số HS làm được bài tập ít, HS chưa có thói quen tìm các bài tập tương tự làm ở nhà

- Thời gian dành cho việc theo dõi, ghi chép các bài tập ở lớp và tự rèn luyện chưa nhiều, các em phải chịu sự chi phối của nhiều môn học

- Chưa được sự hướng dẫn của GV về khả năng tự học, rèn luyện và nâng cao tri thức

Và sau đó là những khó khăn cả về phía nhà trường cả về phía GV:

- Các phòng bộ môn Tin chưa đủ rộng để có thể sử dụng chung cùng máy chiếu

- Khối lượng thao tác trên thiết bị cần nhiều thời gian, thời lượng thực hành ít nên kết quả thực hành thường chưa trọn vẹn

- Trình độ HS ở các khối lớp là chưa đồng đều nên việc tiếp thu, lĩnh hội tri thức của HS còn gặp rất nhiều hạn chế

Nhìn chung, với tâm lý thường các em coi bộ môn Tin học là môn phụ nên không chú trọng, nhiều em học sinh không dành đủ thời gian học nên không hiểu bài và dần bị mất căn bản Dẫn đến lý do nhiều em bị điểm kém, thi lại hay thậm chí là học lại

Trang 16

1.2.1 Quá trình dạy học

a) Định nghĩa

Quá trình dạy học là quá trình hoạt động phối hợp giữa GV và HS, trong đó GV thực hiện hoạt động dạy, HS thực hiện hoạt động học, hai hoạt động này được tiến hành phối hợp, tương tác với nhau, mục đích cuối cùng là nhằm bồi dưỡng cho HS hệ thống tri thức hiểu biết về mọi vấn đề diễn ra trong đời sống, hệ thống kỹ năng sống để thông qua đó hình thành cho HS thái độ đúng đắn trong đời sống

Quá trình dạy học được xác định bởi các dấu hiệu sau [10]:

- Thứ nhất: dạy học là một dạng hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó hình thành và phát triển nhân cách của người học

- Thứ hai: Hoạt động dạy và hoạt động học đều phải được tiến hành trên bản thể của quá trình dạy học đó là nội dung dạy học Nội dung dạy học

là yếu tố khách quan, quyết định tiến trình và phương pháp hoạt động dạy và hoạt động học

- Thứ ba: Kết quả của quá trình dạy học là làm biến đổi ở người học những đặc tính nào đó đã được xác định từ trước, tương ứng với nội dung dạy học Nói cách khác, phải thực hiện được mục đích của chính quá trình dạy học đó

- Thứ tư: Một quá trình dạy học bất kỳ bao giờ cũng phải được tiến hành trong khoảng không gian, thời gian nhất định (một tiết dạy, một bài, một khóa đào tạo, bồi dưỡng…) Nhìn chung, quá trình dạy học phải là quá trình học tập có kiểm soát và điều khiển được

b) Cấu trúc của quá trình dạy học [7]

Cấu trúc của quá trình dạy học là cấu trúc - hệ thống Cấu trúc của quá trình dạy học bao gồm một hệ thống các thành tố vận động và phát triển trong mối quan hệ biện chứng với nhau

Trang 17

Một quá trình dạy học bao gồm các yếu tố: mục đích, nội dung dạy học, các hoạt động dạy học và kết quả học tập Trong quá trình dạy và học phải có phương pháp phù hợp Các yếu tố trên có quan hệ hữu cơ với nhau.

Cấu trúc của quá trình dạy học có thể được biểu diễn theo sơ đồ sau:

Hình 1.1 Cấu trúc của quá trình dạy học

Xem xét về mối quan hệ giữa dạy và học trong quá trình dạy học, Jean Vial (1986) đã cho rằng tế bào của quá trình dạy học là sự tác động của GV

và HS và đối tượng mà GV cần phải nắm vững để học Do đó xuất hiện một tam giác thể hiện mối quan hệ của GV, HS và đối tượng

Tam giác này thể hiện 3 mối quan hệ cụ thể (Hình 1.2):

(Quan hệ sư phạm và cá nhân) ( (3)

Hình 1.2 Tam giác thể hiện mối

quan hệ của GV, HS và đối tượng

HS

ĐT

HS

G V

MÔI TRƯỜNG

Trang 18

Đối tượng có thể là mục tiêu (MT), nội dung (ND), phương pháp và phươ ng tiện dạy học (PP).

Đối tượng còn được gọi là khách thể hay là tri thức (MT: HS nắm được đối tượng hay tri thức để làm gì? ND: HS cần nắm đối tượng hay tri thức cụ thể nào? Và PP: Phương pháp nắm ra sao?)

Tế bào này được biểu thị bằng một tam giác gọi là tam giác sư phạm với ba đỉnh MT, ND, PP (Hình 1.3)

Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh

rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự

nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định”

NGƯT ThS Chu Mạnh Nguyên cho rằng: “tự học, tự nghiên cứu là một quá trình, trong đó mỗi người tự suy nghĩ, tự sử dụng các năng lực trí tuệ

và các phẩm chất của bản thân, khai thác vận dụng những điều kiện vật chất

MT

PP

ND

Trang 19

có thể đế biến một kiến thức nào đó của người khác thành kiến thức sở hữu của mình, vận dụng một kiến thức nào đó của người khác để làm cho công việc của bản thân có hiệu quả hơn”.

Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ cùng với các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan , thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có ý chí tiến thủ, không ngại khó,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực, hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình

Tự học thể hiện bằng cách tự đọc SGK, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người có học thức, các chuyên gia và những người hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu

đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt, làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển, sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện,… Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, tham gia các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao

b) Các hình thức của tự học

Theo tài liệu lý luận dạy học, tự học có 3 hình thức:

Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu

và vận dụng các kiến thức có trong tài liệu Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người học, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự lập rất cao

Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc các phương tiện thông tin khác

Trang 20

Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và có GV trực tiếp hướng dẫn trong một số tiết học trong ngày, trong tuần sau đó HS về nhà tự học.

c) Chu trình của tự học

Theo tác giả Nguyễn Kỳ: “Quá trình dạy - tự học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố: thầy (dạy), trò (tự học), tri thức Ba thành tố cơ bản này luôn tương tác với nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chặt chẽ quá trình dạy của thầy với quá trình tự học của trò làm cho trò dạy học cộng hưởng với tự học tạo ra chất lượng, hiệu quả giáo dục cao.”

Chu trình dạy học gồm chu trình tự học của trò và chu trình dạy của thầy

Trang 21

Hình 1.4 Sơ đồ biểu thị quá trình tự học của trò

TỰ THỂ HIỆN:

Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, tự thể hiện qua hợp tác, trao đổi với bạn bè và thầy cô

TỰ KIỂM TRA, TỰ ĐIỀU CHỈNH:

Sau khi tự thể hiện mình qua hợp tác, trao đổi với bạn bè và thầy cô, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá

Trang 22

Hình 1.5 Sơ đồ biểu thị quá trình dạy của thầy

TỔ CHỨC:

Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn: Tổ chức các cuộc tranh luận, hội thảo, sinh hoạt nhóm…

TRỌNG TÀI, CỐ VẤN, KẾT LUẬN, KIỂM TRA:

Thầy là trọng tài, cố vấn kết luận

về các cuộc tranh luận, hội thảo, đối thoại… thầy là người kiểm tra đánh giá kết quả tự học của trò, trên cơ sở tự kiểm tra, tự đánh giá

Trang 23

Tự học khắc phục nghịch lý, học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì

có hạn Sự bùng nổ thông tin làm cho thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không rơi vào tình trạng tụt hậu Đối với HS THPT, quỹ thời gian 3 năm được đào tạo ở bậc học này chắc chắn không thể nào tiếp thu hết khối lượng kiến thức khổng lồ trong chương trình Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi của nhà trường

Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình

tự học khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức có được

do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học, HS sẽ có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

Người học phải biết cách tự học vì học tập là một quá trình suốt đời Đối với HS THPT, nếu không có phương pháp và khả năng tự học, tự nghiên cứu thì khi đến các bậc cao hơn như đại học, cao đẳng… HS sẽ khó thích ứng với cách học đòi hỏi phải tự học tập, tự nghiên cứu thường xuyên do đó khó

có thể thu được một kết quả học tập tốt

Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường THPT Với

Trang 24

lối dạy theo hướng nhồi nhét trong một số trường THPT, HS khó có thể có thời gian để tự học hiệu quả Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông.

Tóm lại: Tự học là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng

của chính mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người Tuy tự học có vai trò hết sức quan trọng nhưng việc tự học của HS cũng không thể đạt được kết quả cao nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy Chính vì vậy, trong nhà trường điều chủ yếu không phải là cung cấp cho HS vốn kiến thức hỗn độn, nhồi nhét mà là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập và phương pháp giải quyết vấn đề GV cần giúp cho HS tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung cấp cho HS những phương tiện tự học có hiệu quả

1.3 Bồi dưỡng giúp học sinh học tốt Tin học lớp 11

1.3.1 Hình thành và phát triển tư duy cho học sinh

Việc phát triển tư duy cho HS trước hết là giúp HS nắm vững kiến thức tin học, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành Qua đó, kiến thức HS thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn HS chỉ thực

sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của họ được phát triển và nhờ sự hướng dẫn của GV mà HS biết cách phân tích, khái quát tài liệu có nội dung, sự kiện

cụ thể từ đó rút ra những kết luận cần thiết

Tư duy càng phát triển thì càng có khả năng lĩnh hội được tri thức nhanh và sâu sắc, khả năng vận dụng tri thức nhanh và hiệu quả hơn Như vậy, sự phát triển tư duy HS diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức, khi tư duy phát triển sẽ tạo ra một kỹ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp, chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho HS trong hoạt động sáng tạo sau này

Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển [1]:

Trang 25

- Có khả năng vận dụng các tri thức và kỹ năng để giải quyết tình huống mới.

- Trong quá trình học tập, HS phải giải quyết những vấn đề đòi hỏi liên tưởng đến những kiến thức đã liên hệ trước đó Nếu HS độc lập chuyển tải tri thức vào tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện tư duy phát triển

- Tái hiện nhanh chóng kiến thức và sử dụng kiến thức đó một cách chính xác, hợp lý

- Nhanh chóng nhận ra phương hướng giải quyết vấn đề và đề ra cách giải quyết vấn đề hiệu quả, chính xác

- Sử dụng thành thạo các kỹ năng, phương pháp tư duy và biết phối hợp các kỹ năng, phương pháp đó một cách hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh chóng và thuyết phục

1.3.2 Những phẩm chất và năng lực của học sinh

Tin học là một ngành khoa học có mục tiêu là phát triển và sử dụng máy tính điện tử để nghiên cứu cấu trúc, tính chất của thông tin, phương pháp thu thập, lưu trữ, tìm kiếm, biến đổi, truyền thông tin và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Vì vậy, một học sinh muốn học tốt môn Tin học cần có những phẩm chất và năng lực sau đây:

- Hiểu được sâu sắc những kiến thức cơ bản và có khả năng tiếp thu những kiến thức mới Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo những kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theo đường mòn

- Có kiến thức cơ bản vững vàng, sâu sắc Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo những kiến thức mình có trong những tình huống cụ thể

- Có khả năng tư duy sáng tạo, suy luận logic

- Có kĩ năng thực hành tốt, đây là một yếu tố không thể thiếu được đối với mỗi HS giỏi tin Để từ đó kết hợp tốt các kỹ năng thực hành trong thực tế cuộc sống

Ngoài ra, một HS muốn học tốt môn Tin học cần có khả năng tự học tốt, có khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng, luôn hứng thú trong các tiết học, đặc biệt là khi học bài mới, luôn chủ động trong học tập và có ý thức vươn lên trong học tập

Trang 26

1.4 Thực trạng của việc dạy và học bộ môn Tin học lớp 11 trường THPT Quế Võ 2

1.4.1 Những khó khăn và nhu cầu của giáo viên khi dạy cho học sinh lớp 11 a) Khó khăn

Nội dung chương trình Tin học THPT chỉ đề cập những kiến thức cơ bản, còn thiếu nhiều so với lý thuyết chủ đạo, nhiều câu hỏi và bài tập mang tính chất giả định, thiếu thực tế

Việc đầu tư cho các tiết bài tập còn hạn chế, phần lớn là thiết kế một số bài tập theo một số dạng cơ bản rồi yêu cầu học sinh làm bài, giáo viên chuẩn hóa lại bài làm và học sinh ghi chép lại Hoặc giáo viên có thể liệt kê các nội dung kiến thức liên quan (dạng kênh chữ theo dòng) rồi nêu lại, đồng thời đưa

ra các bài tập cơ bản và yêu cầu học sinh làm bài Cách làm này chưa thống

kê logic lại các nội dung mà học sinh cần nhớ và sử dụng Dẫn đến các tiết bài tập thường không đạt được như mục tiêu của tiết học, chưa tạo được hứng thú cho đa số học sinh

Trình độ HS ở các lớp là chưa đồng đều nên việc tiếp thu, lĩnh hội tri thức của HS còn gặp rất nhiều hạn chế

1.4.2 Thực trạng dạy học môn Tin ở trường THPT

Tiến hành phát phiếu điều tra, thăm dò ý kiến của 5 GV hiện đang giảng dạy bộ môn Tin học tại trường THPT Quế Võ 2

Sau khi tiến hành phát phiếu điều tra (phụ lục 1), thu phiếu điều tra, em thu được kết quả như sau:

Thứ nhất: Lãnh đạo nhà trường đã thật sự quan tâm đến công tác quản

lý việc giảng dạy môn Tin học Tuy nhiên do thiết bị phục vụ, cơ sở vật chất còn chưa đầy đủ nên thầy cô vẫn còn gặp khó khăn trong việc giảng dạy

Trang 27

Thứ hai: HS đã có hứng thú tìm tòi, khám phá nhưng do thói quen chỉ nghe giảng, chép bài mà không phát biểu cộng với trình độ học tập của các

em chưa đồng đều nên các em vẫn còn bị động trong quá trình học tập

Thứ ba: Qua khảo sát, các GV đều cho rằng hệ thống bài tập trong SGK chỉ phù hợp với trình độ của HS trung bình Còn đối với HS khá giỏi, cần có thêm hệ thống bài tập, SBT cũng như các tài liệu tham khảo khác để nâng cao hiệu quả học tập và phù hợp với trình độ của các em

Như vậy, thông qua phiếu điều tra, thăm dò ý kiến của các GV, em nhận thấy nhà trường đã quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tin Tuy nhiên, do thiết bị phục vụ, cơ sở vật chất còn chưa đầy đủ cộng với trình độ học tập của các em chưa đồng đều nên thầy cô vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc giảng dạy

Trang 28

1 Em thích học môn Tin vì lí do gì?

%

B Có nhiều điều thú vị, muốn tìm tòi, khám phá 12 34,29

Khi được hỏi vì sao em thích học môn Tin, đa số các em đều trả lời vì môn Tin có nhiều điều thú vị, muốn tìm tòi, khám phá và gần gũi với cuộc sống Các em thích môn Tin nhờ đặc điểm và lòng yêu thích, đam mê cá nhân của mình Chính vì thế các em sẽ chủ động tìm hiểu những vấn đề khó, liên quan đến môn học này

2 Trong giờ học môn Tin, em thường:

A Tập trung nghe giảng, phát biểu ý kiến 2 5,71

B Nghe giảng, chép bài nhưng không phát biểu 33 94,29

Để học tốt môn Tin, ngoài lòng đam mê, yêu thích môn học các em còn phải trang bị cho mình một phương pháp học tập phù hợp Khi được hỏi trong giờ học em thường làm gì, gần như tất cả các em đều học theo cách thụ động, nghe giảng, chép bài nhưng không phát biểu, đây là một vấn đề cần giải quyết Học là cần có sự trao đổi, phát biểu ý kiến của từng cá nhân Vậy phải

có một phương pháp học phù hợp với cách học của các em

Trang 29

3 Khi học môn Tin, ngoài sách giáo khoa, em thường nghiên cứu bài tập trong:

B Bài tập giáo viên giảng dạy biên soạn 16 45,71

D Bài tập, giáo trình, các clip hướng dẫn học trên

Khi học môn Tin, các em thường nghiên cứu bài tập do các giáo viên giảng dạy biên soạn Điều này chứng tỏ, các em vẫn còn thụ động trong việc tìm kiếm tài liệu học tập cho mình

4 Khi gặp bài tập khó hay những vấn đề thắc mắc, em thường:

Khi khảo sát ý kiến với câu hỏi trên, em nhận thấy các em vẫn chưa thật sự quan tâm đến những bài tập khó, tuy các em thường dùng nhiều cách nhưng hỏi GV vẫn là ý kiến được nhiều HS đồng tình

Trang 30

5 Theo các em, nếu có hệ thống lý thuyết và bài tập trong quá trình học là:

Như vậy, qua kết quả khảo sát ý kiến, em nhận thấy khả năng giải bài tập, khả năng phát hiện vấn đề, tìm kiếm tài liệu học tập của HS hầu hết còn yếu nên việc tìm tòi, tư duy rất chậm Hơn nữa, do HS bị hổng kiến thức nên trong quá trình giảng dạy vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn

Từ những khó khăn đó đã dẫn đến thực trạng dạy Tin hiện nay ở trường THPT Quế Võ 2

Trang 31

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂU MẢNG TRONG

TIN HỌC LỚP 11 TRƯỜNG THPT QUẾ VÕ 2 2.1 Những định hướng khi xây dựng bài tập tin học lớp 11 trường THPT Quế Võ 2

2.1.1 Những yêu cầu khi xây dựng hệ thống bài tập tin học

a) Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu dạy học

Mục tiêu của môn tin học ở trường THPT là cung cấp cho HS những kiến thức cơ sở khoa học của tin học ở mức độ cao, cung cấp một hệ thống kiến thức tin học phổ thông cơ bản, thiết thực, mở rộng và nâng cao nhiều vấn

đề thuộc bộ môn tin học; phát triển kĩ năng bộ môn; kĩ năng giải quyết vấn đề

đã có ở cấp học dưới để phát triển năng lực nhận thức và nâng cao năng lực tư duy cho HS

b) Hệ thống bài tập phải đảm bảo chính xác, khoa học

Khi tiến hành xây dựng bài tập nội dung của từng bài tập phải có sự chính xác về kiến thức tin học, đủ dữ kiện để HS có thể vận dụng khi giải quyết bài tập, không dư hay thiếu dữ kiện, diễn đạt bài tập một cách logic, đảm bảo tính chính xác, khoa học về mặt ngôn ngữ tin học

c) Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng

Tất cả mọi sự vật, hiện tượng hay quá trình trong thế giới khách quan không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong một hệ thống, có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau

Vận dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc vào việc xây dựng bài tập cho

HS, mỗi bài tập tương ứng với mỗi kỹ năng cơ bản nhất định Hệ thống gồm nhiều bài tập sẽ hình thành hệ thống kĩ năng toàn diện cho HS

Hệ thống bài tập phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú về hình thức, dạng bài tập Sự đa dạng của hệ thống bài tập cùng với việc vận dụng các phương pháp tích cực sẽ rèn luyện cho HS kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, chuyên biệt một cách hiệu quả

Trang 32

Khi xây dựng hệ thống bài tập thường có sự không đồng đều giữa các dạng bài tập Có những bài tập được đầu tư nhiều về số lượng vì chúng góp phần quan trọng vào việc hình thành và rèn luyện những kỹ năng liên quan đến nhiều hoạt động giáo dục,… Các bài tập trong hệ thống luôn có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau, bài tập bố trí trước là cơ sở, nền tảng để thực hiện bài tập sau và bài tập sau là sự cụ thể hóa, phát triển và vững chắc hơn bài tập trước

d) Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính phân hóa, tính vừa sức

Bài tập phải được xây dựng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Thoạt đầu là những bài tập chỉ đòi hỏi mức độ hiểu, biết hoặc vận dụng theo mẫu đơn giản; tiếp đó là những bài tập vận dụng phức tạp hơn và sau cùng là những BT đòi hỏi sáng tạo

Các BT phải có đủ loại, đủ mức độ để có thể thu hút tất cả các HS, mỗi HS có năng lực và khả năng giải quyết vấn đề khác nhau nhưng tất cả đều có thể tham gia vào hoạt động giải BT Khi phát biểu một ý hay hay phát hiện ra cách giải quyết BT sẽ tạo cho HS một niềm vui, một sự hung phấn cao

HS được củng cố dần dần thông qua hoạt động giải BT

f) Hệ thống bài tập phải góp phần rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS

- Xây dựng và sắp xếp BT theo các mức độ nhận thức và tư duy tăng dần

- Xây dựng nhiều BT vừa sức và nằm ở cận trên trình độ, khả năng của HS

- Xây dựng các bài tập đòi hỏi cao ở các em sự động não, khả năng phân tích, liên tưởng, tổng hợp

- Xây dựng các BT có cách giải mới hoặc có sự kết hợp của nhiều phương pháp giải khác nhau

Trang 33

- Xây dựng thêm một số BT thực tiễn để tạo ra sự tò mò, kích thích sự tìm tòi, nghiên cứu của HS.

2.1.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập tin học

Quy trình tuyển chọn và xây dựng hệ thống BT nhằm rèn luyện năng lực tư duy cho HS được thực hiện qua sáu bước:

- Có liên hệ với những kiến thức cũ và mới hay không?

- Có phù hợp với năng lực nhận thức của HS hay không?

- Có thỏa mãn phương pháp của GV không?

- BT được biên soạn có phù hợp với yêu cầu sư phạm định trước?

- Kiểm tra tính chất phần tử trong mảng

Sau khi đã xác định loại BT, cần đi sâu hơn, xác định nội dung của mỗi loại

d) Thu thập tư liệu để thiết kế hệ thống BT

Trang 34

- Thu thập các SBT, các tài liệu liên quan đến hệ thống BT cần xây dựng

- Tham khảo sách, báo, tạp chí khoa học,… có liên quan

- Số tài liệu thu thập được càng nhiều và càng đa dạng thì việc biên soạn càng nhanh chóng và có chất lượng, hiệu quả

e) Tiến hành soạn thảo BT

Biên soạn, bổ sung thêm các dạng BT hoặc những nội dung còn thiếu chưa có trong SGK

Tiến hành giải và đánh giá các BT, lựa chọn các BT hay, phù hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng và trình độ của HS

Sắp xếp các BT thành các loại và dạng BT như đã xác định theo trình tự:

+ Từ dễ đến khó theo các mức độ nhận biết của HS

+ Từ lý thuyết đến thực hành

f) Tham khảo ý kiến thầy cô giáo, trao đổi với bạn bè, thử nghiệm

Sau khi xây dựng xong các BT, em đã tham khảo ý kiến của thầy cô, trao đổi với bạn bè về tính chính xác, tính khoa học, tính phù hợp với trình độ của HS và đem thử nghiệm trong thực tế

g) Chỉnh sửa và hoàn thiện hệ thống BT

Sau khi tham khảo ý kiến của thầy cô, trao đổi với bạn bè và thử nghiệm để phát hiện những hạn chế, thiếu sót em đã chỉnh sửa lại để hệ thống

BT được hoàn thiện hơn

2.2 Phân tích chương trình tin học phần kiểu mảng

2.2.1 Giới thiệu chung

Muốn nắm vững tin học phần kiểu mảng, muốn giải thích các tính chất nói chung và khả năng xây dựng hệ thống bài tập nói riêng Ta không thể khảo sát ngay các dạng bài tập mà ta phải sớm nắm bắt được những khái niệm

cơ bản mở đầu nhưng có hệ thống rồi mới tìm hiểu về các dạng bài tập cơ bản trên mảng

Trang 35

Bài tập kiểu mảng được chi phối bởi các tính chất và kỹ thuật quan trọng trên mảng Chúng diễn ra như thế nào, được tiến hành như thế nào là vấn đề mà ta cần tìm hiểu bước đầu khi đi vào các dạng bài tập

Và sau khi tìm hiểu xong thì bước đầu tiên ta sẽ đề cập đến các khái niệm mở đầu, sau đó là các tính chất kỹ thuật trên mảng và kết thúc là các bài tập vận dụng

Tin học phần kiểu mảng có mục đích nêu lên những điều cơ bản cần thiết nhất để giúp cho việc học ở các phần sau sáng tạo và có hiệu quả hơn

2.2.2 Các chuyên đề tin học kiểu mảng

Để xây dựng các BT kiểu mảng em đã tham khảo SBT, SGK Tin học lớp 10, 11 Khi tham khảo những tài liệu trên em kết hợp với vốn kiến thức đã tích lũy của mình để xây dựng hệ thống lý thuyết và bài tập Tin học phù hợp với nội dung và chương trình của HS Với mong muốn đem đến cho HS nguồn tài liệu tham khảo bổ ích, chia sẻ những khó khăn cho HS và GV trong quá trình dạy và học, em đã xây dựng phần kiểu mảng thành các bài, nội dung của bài được chọn lọc, cô đọng, ngắn gọn và chứa đựng những lý thuyết trọng tâm, bài tập được trình bày rõ ràng, logic, có sự liên hệ chặt chẽ với hệ thống

lý thuyết đã nêu, ngoài ra còn có BT vận dụng cho HS tự rèn luyện Trong từng bài biểu thị những nội dung sau:

Trang 36

2.3 Hệ thống lý thuyết phần kiểu mảng trong Tin học lớp 11 trường THPT Quế Võ 2

2.3.1 Mục tiêu biên soạn hệ thống lý thuyết và bài tập phần kiểu mảng trong chương trình Tin học phổ thông

2.3.2 Hệ thống lý thuyết phần kiểu mảng trong tin học lớp 11

a) Khái niệm về kiểu mảng

Mảng là một tập gồm nhiều phần tử có cùng chung một kiểu dữ liệu Mỗi phần tử của mảng có một đại lượng xác định vị trí tương đối của phần tử

đó so với các phần tử khác trong mảng gọi là chỉ số

Các yếu tố để xác định một mảng gồm có:

• Tên mảng

• Kiểu dữ liệu chung của các phần tử trong mảng

• Kiểu dữ liệu của chỉ số và phạm vi của chỉ số

Kiểu dữ liệu của các phần tử mảng là mọi kiểu dữ liệu mà một biến có thể có Tuy nhiên, kiểu dữ liệu của chỉ số thì không được là kiểu thực hay kiểu chuỗi, nó chỉ có thể là kiểu đếm được: nguyên, ký tự, logic hay đoạn con

Trang 37

 Mảng 1 chiều là dãy hữu hạn các phần tử cùng kiểu Mảng được đặt tên

và mỗi phần tử của nó chỉ có một chỉ số Để mô tả mảng một chiều cần xác định kiểu của các phần tử và cách đánh số các phần tử của nó

- Kiểu dữ liệu của phần tử;

- Cách khai báo biến mảng;

- Cách tham chiếu đến phần tử;

c) Lợi ích của việc sử dụng dữ liệu kiểu mảng

- Việc gán giá trị, đọc giá trị và tính toán với các giá trị của một phần tử trong biến mảng được thực hiện thông qua chỉ số tương ứng của phần tử đó

- Sử dụng các biến kiểu mảng và câu lệnh lặp giúp cho việc viết chương trình được ngắn gọn và dễ dàng hơn

- Sử dụng biến mảng rất hiệu quả trong việc xử lý dữ liệu: Thực hiện các

- Cách 1: Khai báo gián tiếp biến mảng một chiều:

Type <Kiểu mảng> = Array [<Kiểu chỉ số>] of <Kiểu dữ liệu>;

Var <DS Biến mảng> : <Kiểu mảng>;

VD1: Type Tuoi = Array [0 255] of real;

Var Tuoidau, Tuoituat, Tuoihoi: Tuoi;

- Cách 2: Khai báo trực tiếp biến mảng một chiều:

Trang 38

Var <DS Biến mảng> : Array [<Kiểu chỉ số>] of <Kiểu dữ liệu>;

VD2:

Var Tuoidau, Tuoituat, Tuoihoi: Array [byte] of real;

Lưu ý:

o Số phần tử của mảng được xác định ngay từ khi định nghĩa ra mảng Như ở

cả 2 ví dụ trên số phần tử của các mảng Tuoidau, Tuoituat, Tuoihoi đều là 256 phần tử và được đánh số từ 0->255

o Số phần tử của mảng khi khai báo phải lớn hơn hoặc bằng số phần tử sử dụng

Trong đó:

+ Array, of là từ khóa của chương trình

+ Tên biến mảng do người dùng đặt

+ Kiểu chỉ số thường là một đoạn số nguyên liên tục có dạng n1 n2 với n1,n2 là các hằng hoặc biểu thức nguyên xác định chỉ số đầu và chỉ số cuối

<n1≤ n2>;

+ Kiểu phần tử là kiểu của các phần tử mảng

+ Tham chiếu đến phần tử mảng ta viết:

<tên biến mảng> [chỉ số]

e) Tham chiếu đến phần tử thứ i trên mảng

Tham chiếu tới phần tử của mảng 1 chiều được xác định bởi tên mảng cùng với chỉ số, được viết trong cặp ngoặc [ ]

<Tên biến mảng>[<chỉ số>]

VD: Cho dãy gồm 7 số nguyên như sau:

Type Mang1C= Array[1 7] of Integer;

Var A: Mang1C;

i 1 2 3 4 5 6 7

Trang 39

Trong đó:

+ Tên biến mảng: A

+ Số phần tử của mảng: 7

+ Kiểu dữ liệu của các phần tử: Kiểu nguyên

Khi tham chiếu đến phần tử thứ i ta viết A[i]

Ý tưởng: Vì các phần tử của mảng có cùng tên biến mảng và chỉ khác nhau về chỉ số tham chiếu, các chỉ số này lại thường được đặt theo một quy tắc hay một dãy đếm được, nên ta có thể dùng vòng lặp xác định (For to/ Downto to) để đặt biến chạy (từ giờ về sau quy ước các biến chạy là i, j) để duyệt qua tất cả các phần tử của mảng

Đây là cách nhập thủ công (NSD phải tự nhập giá trị của tất cả phần tử trong mảng)

Trang 40

Ở một số chương trình, dữ liệu của mảng không quan trọng mà quan trọng là thông tin và kết quả xử lý mảng, nên ta có thể gán toàn bộ giá trị của mảng bằng các giá trị ngẫu nhiên, giúp đỡ vất vả hơn cho NSD Khởi tạo giá trị ngẫu nhiên bằng hàm Random(N) sẽ cho ta một giá trị số nguyên thuộc [0, N-1].

Hàm Random chỉ có thể gọi sau khi đã gọi thủ tục Randomize (Xem hình 2.2.)

Hình 2.2 Hàm gọi thủ tục

Lưu ý:

Bản thân mảng không phải là một biến bình thường, tức là ta không thể thực hiện phép gán Tuoidau:=Tuoituat; mà chỉ có thể gán tất cả phần tử của Tuoituat cho Tuoidau, tức là:

For i:=1 to N do {N là số phần tử của Tuoituat}

Tuoidau[i]:=Tuoituat[i]; {chứ không phải số phần tử của Tuoidau}

2.4.2 Sắp xếp mảng

 Khái niệm

- Sắp xếp là một quá trình tổ chức lại một dãy các dữ liệu theo một trật

tự nhất định

- Mục đích của việc sắp xếp là giúp cho việc tìm kiếm dữ liệu một cách

dễ dàng và nhanh chóng Sắp xếp là một việc làm hết sức cơ bản và được dùng rộng rãi trong các kỹ thuật lập trình nhằm xử lý dữ liệu

Randomize; {Mang B[MxN], B:Array[1 100,1 100] of

integer;}

Write(‘Nhap kich thuoc mang:’); Readln(M,N);

For i:=1 to M do

For j:=1 to N do A[i,j]:=Random(1000) - Random(1000);

Ngày đăng: 27/11/2016, 08:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Thanh Hoàng Bảo, Nguyễn Thanh Hương, Tiểu luận bài tập phát triển tư duy, trí thông minh, phát huy tính tích cực sáng tạo, Trường Đại học Sư phạm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận bài tập phát triển tư duy, trí thông minh, phát huy tính tích cực sáng tạo
[2]. Tạ Thị Thanh Bình, (2010), Phương pháp giảng dạy tin học, Giáo trình Học viện quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy tin học
Tác giả: Tạ Thị Thanh Bình
Năm: 2010
[3]. Hồ Sĩ Đàm, Sách giáo khoa Tin học 10, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tin học 10
Nhà XB: NXBGD
[4]. Hồ Sĩ Đàm, Sách giáo khoa Tin học 11, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tin học 11
Nhà XB: NXBGD
[5]. Hồ Sĩ Đàm, Sách giáo viên Tin học 11, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Tin học 11
Nhà XB: NXBGD
[6]. Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn, Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học tích cực, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học tích cực
Nhà XB: NXBGD
[7]. Bùi Thị Mùi, Bùi Văn Ngà, Nguyễn Thị Bích Liên (2000), Giáo dục học đại cương 2, NXB ĐH Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương 2
Tác giả: Bùi Thị Mùi, Bùi Văn Ngà, Nguyễn Thị Bích Liên
Nhà XB: NXB ĐH Cần Thơ
Năm: 2000
[8]. Nguyễn Bá Kim (2009), Phương pháp dạy học đại cương môn Tin học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học đại cương môn Tin học
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
[9]. Vũ Quốc Khanh (2013), Bổ sung hệ thống bài tập môn tin lớp 11, Sáng kiến kinh nghiệm, Trường THPT Đoàn Kết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bổ sung hệ thống bài tập môn tin lớp 11, Sáng kiến kinh nghiệm
Tác giả: Vũ Quốc Khanh
Năm: 2013
[10]. Nguyễn Văn Tuấn (2009), Tài liệu bài giảng lý luận dạy học, Trường Đại học Sư phạm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bài giảng lý luận dạy học
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu trúc của quá trình dạy học - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Hình 1.1. Cấu trúc của quá trình dạy học (Trang 17)
Hình 1.4. Sơ đồ biểu thị quá trình tự học của trò - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Hình 1.4. Sơ đồ biểu thị quá trình tự học của trò (Trang 21)
Hình 1.5. Sơ đồ biểu thị quá trình dạy của thầy - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Hình 1.5. Sơ đồ biểu thị quá trình dạy của thầy (Trang 22)
Hình 2.3. Mô phỏng thuật toán với N = 10 Chương trình: - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Hình 2.3. Mô phỏng thuật toán với N = 10 Chương trình: (Trang 49)
Hình 2.4. Mô phỏng thuật toán với N = 10 k=13 - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Hình 2.4. Mô phỏng thuật toán với N = 10 k=13 (Trang 51)
Hình 2.6. Mô phỏng thuật toán với N = 8, k = 10 - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Hình 2.6. Mô phỏng thuật toán với N = 8, k = 10 (Trang 53)
Hình 2.7. Mô phỏng thuật toán với N = 8, k = 19 - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Hình 2.7. Mô phỏng thuật toán với N = 8, k = 19 (Trang 54)
Bảng 3.1. Các nhóm thực nghiệm và đối chứng - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Bảng 3.1. Các nhóm thực nghiệm và đối chứng (Trang 60)
Bảng 3.2. Nhận xét của GV về hệ thống bài tập - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Bảng 3.2. Nhận xét của GV về hệ thống bài tập (Trang 71)
Bảng 3.4. Bảng tổng hợp kết quả học tập của 2 lớp qua bài kiểm tra Lớp Số HS Khá giỏi (x≥7) Trung bình - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Bảng 3.4. Bảng tổng hợp kết quả học tập của 2 lớp qua bài kiểm tra Lớp Số HS Khá giỏi (x≥7) Trung bình (Trang 72)
Hình thức Trình bày dễ nhìn, đẹp mắt 1 2 3 4 5 - Xây dựng hệ thống bài tập kiểu mảng trong Tin học lớp 11
Hình th ức Trình bày dễ nhìn, đẹp mắt 1 2 3 4 5 (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w