1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tiểu luận môn quản lý nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu thực trạng quản lý giáo dục việt nam trong giai đoạn hiện nay

17 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 81,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập, quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định, sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tếxã hội. Chính vì những lí do đó việc xây dựng một nền giáo dục phát triển có thể đào tạo một đội ngũ nguồn nhân lực đông về số lượng, vững về chất lương trở thành một yêu cầu bức thiết quyết định đến việc thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập quốc tế. Những thành tựu của giáo dục nước ta trong những năm qua đã khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Nhờ những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác mà chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc trong những năm gần đây có những tiến bộ đáng kể: từ 0,688, xếp thứ 109 trong số 174 quốc gia vào năm 2000 đã tăng lên 0,733, xếp thứ 105 trong số 177 quốc gia vào năm 2005. Những thành tựu của giáo dục đã và đang góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tếxã hội, giữ vững an ninh chính trị của đất nước trong hơn 20 năm đổi mới, tạo điều kiện cho đất nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, nền giáo dục Việt Nam cũng bộc lộ rất nhiều yếu kém đòi hỏi phải có những quan điểm chỉ đạo sáng xuốt, kịp thời cũng như giải pháp thời điểm và lâu dài để giải quyết dứt điểm những tồn tại, yếu kém đó nhằm đạt hiệu quả giáo dục toàn diện với chất lượng sánh ngang với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính vì thế, tác giả chọn đề tài thực trạng quản lý giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay làm tiểu luận môn quản lý nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu với mong muốn những kiến nghị về giải pháp trong tiểu luận có thể có những đóng góp nhất định cho việc đánh giá thực trạng cũng như xây dựng giải pháp toàn diện hơn cho nền giáo dục nước nhà.

Trang 1

Mở đầu

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập, quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định, sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng

có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Chính vì những lí do đó việc xây dựng một nền giáo dục phát triển có thể đào tạo một đội ngũ nguồn nhân lực đông

về số lượng, vững về chất lương trở thành một yêu cầu bức thiết quyết định đến việc thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập quốc tế Những thành tựu của giáo dục nước ta trong những năm qua đã khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Nhờ những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác mà chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc trong những năm gần đây có những tiến bộ đáng kể: từ 0,688, xếp thứ 109 trong số 174 quốc gia vào năm 2000 đã tăng lên 0,733, xếp thứ 105 trong số 177 quốc gia vào năm 2005 Những thành tựu của giáo dục đã và đang góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững an ninh chính trị của đất nước trong hơn 20 năm đổi mới, tạo điều kiện cho đất nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, nền giáo dục Việt Nam cũng bộc lộ rất nhiều yếu kém đòi hỏi phải có những quan điểm chỉ đạo sáng xuốt, kịp thời cũng như giải pháp thời điểm và lâu dài để giải quyết dứt điểm những tồn tại, yếu kém đó nhằm đạt hiệu quả giáo dục toàn diện với chất lượng sánh ngang với các nước trong khu vực

và trên thế giới Chính vì thế, tác giả chọn đề tài "thực trạng quản lý giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" làm tiểu luận môn "quản lý nhà nước trong các

lĩnh vực trọng yếu" với mong muốn những kiến nghị về giải pháp trong tiểu luận

Trang 2

có thể có những đóng góp nhất định cho việc đánh giá thực trạng cũng như xây dựng giải pháp toàn diện hơn cho nền giáo dục nước nhà

Trang 3

Chương 1 Một số vấn đề về lý luận

1.1 khái niệm giáo dục

Giáo dục (theo nghĩa rộng):

Là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người

Để hiểu rõ hơn khái niệm Giáo dục (theo nghĩa rộng) cần làm sáng tỏ khái niệm nhân cách và khái niệm xã hội hoá con người

Hình thành nhân cách: Đó là quá trình phát triển con người về mặt sinh lý,

tâm lý và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi về chất Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩm sinh, di truyền, tính tích cực của chủ thể…), và các nhân tố bên ngoài (ảnh huởng của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục), do ảnh hưởng của các tác động tự phát, ngẫu nhiên (tác động bên trong, bên ngoài chưa được kiểm soát, điều khiển)

và các tác động có mục đích, có tổ chức (kiểm soát được, điều khiển được) Quá trình này làm biến đổi đứa trẻ với những tư chất vốn có của con người thànhmột nhân cách

Xã hội hoá con người: Đó là quá trình có tính chất xã hội hình thành nhân

cách Quá trình này chỉ bao hàm các tác động do những nhân tố xã hội; xã hội tác động một cách có mục đích, có tổ chức tới cá nhân, mặt khác cá nhân tích cực tái sản xuất các mối quan hệ xã hội bằng hoạt động, bằng sự tham gia tích cực vào môi trường xã hội Từ đó, giáo dục nói một cách khác là sự xã hội hoá con nguời chỉ dưới những tác động có mục đích và có tổ chức

Giáo dục (theo nghĩa hẹp):

Trang 4

Đó là một bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những cơ

sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thể lực

Chức năng trội của quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) chỉ được thực hiện trên cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến tình cảm và hành vi

Giáo dưỡng (hay trau dồi học vấn):

Dưới góc độ là quá trình thì đó là quá trình con người lĩnh hội hệ thống tri thức nhất định về khoa học tự nhiên, xã hội và về tư duy

Dưới góc độ kết quả lĩnh hội thì đó là trình độ học vấn, nghĩa là trình độ tri thức, kỹ năng kỹ xảo đã được lĩnh hội, chẳng hạn như người ta nói trình độ THPT

cơ sở, trình độ Đại học…Chức năng trội của nó là sự tác động đến ý thức là chính

Dạy học – Đó là con đường, phương tiện của giáo dưỡng (trau dồi học vấn) và giáo dục (nghĩa hẹp):

Dưới góc độ quá trình thì dạy học là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh, điều khiển hoạt động tâm lý của học sinh để giúp họ tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức và hình thành thế giới quan khoa học cho họ

1.2 Các quan điểm của Đảng về quản lý và phát triển giáo dục.

Đại hội VI (1986): chiến lược giáo dục là một bộ phận của chiến lược con người Đầu tư cho giáo dục không phải là một khoản phúc lợi đơn thuần mà là đầu

tư phát triển Chỉ có đầu tư thỏa đáng cho giáo dục thì đất nước mới phát triển được

Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa VII) ra nghị quyết «Tiếp tục đổi mới

sự nghệp giáo dục – đào tạo»

Trang 5

Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đã đề ra những tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu cơ bản để phát triển giáo dục là:

Một là, giữ vững mục tiêu XHCN của giáo dục – đào tạo là tạo ra những lớp

người vừa hồng vừa chuyên để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc XHCN

Hai là, phải thực sự coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu

Ba là, giáo dục – đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Bốn là, phát triển giáo dục – đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã

hội

Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục – đào tạo, tạo điều kiện

ai cũng được học hành

Sáu là, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, trong đó các trường công lập giữ

vai trò nòng cốt, mở rộng các hình thức đào tạo đi đôi với quản lý chặt chẽ để bảo đảm chất lượng

Kết luận Trung ương 6 khóa XI, với đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế"

Trang 6

Chương 2 Thực trạng nền giáo dục Việt Nam hiện nay 2.1 Thành tựu

Hiện nay, hệ thống giáo dục ở nước ta đã khá hoàn chỉnh từ bậc mầm non đến sau đại học; hầu hết các bản, làng, xã, phường đều có trường lớp tiểu học; trường trung học cơ sở được xây dựng ở các xã hoặc cụm liên xã; trường trung học phổ thông được xây ở các huyện, một số huyện có 2 ÷ 3 trường Hệ thống giáo dục

ở nước ta về cơ bản đã đáp ứng được như cầu học tập của nhân dân Đến nay, hầu hết người dân trong độ tuổi đi học đều được đến trường[1]

Các trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) được củng cố và phát triển,

mở rộng quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề đào tạo đang từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Cả nước hiện có 553 cơ sở có đào tạo TCCN, trong đó: 246 trường trung cấp chuyên nghiệp, 201 trường cao đẳng đào tạo TCCN, 74 trường đại học có đào tạo TCCN, 32 cơ sở đào tạo TCCN, quy mô đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp là 614.516 học sinh

Công tác dạy nghề phát triển mạnh mẽ Năm 2010, cả nước có khoảng 2300

cơ sở dạy nghề (kể cả các trường trung cấp nghề và cao đẳng nghề) Quy mô đào tạo nghề dưới một năm vào khoảng 1.268.150 người, ở bậc trung cấp nghề, cao đẳng nghề là 394.350

Với hệ thống đào ta như trên đã hình thành lên lực lượng lao động ở nước ta qua đào tạo hiện nay ở các trình độ khác nhau chiếm gần 40% dân số trong độ tuổi lao động cả nước

2.2 hạn chế

Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển,

có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào

Trang 7

tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập, mà Đại hội IX, X đến Đại hội XI của Đảng vẫn nêu rất đậm nét, đó là:

Chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu

Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên

Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy

“nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc,

tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…

Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối

Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới,

là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước

Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực của một bộ phận còn thấp

Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập

Trang 8

quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập

Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành

cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một

số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội

Không ít người cho rằng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta đang giảm sút Tình trạng này tồn tại trong suốt một thời gian dài nhưng chưa có biện pháp khắc phục hữu hiệu Nguồn nhân lực qua đào tạo không đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội đang trở thành nhân tố cản trở sự phát triển đất nước Một nghịch lý là

số lượng cán bộ khoa học (đặc biệt là số tiến sĩ, PGS, GS) ở nước ta cao vào loại nhất trong khu vực, thế mà chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục lại được đánh giá vào loại thấp Trong khi giáo dục đang bộc lộ nhiều yếu kém thì chi phí cho giáo dục vẫn tăng liên tục đang trở thành gánh nặng đối với ngân sách quốc gia và của người dân

Đạo đức, nhân cách của thế hệ trẻ đang có chiều hướng xấu đi đến mức báo động Tệ nạn xã hội và tội phạm trong lứa tuổi học sinh, sinh viên đang gia tăng cả

về số vụ và mức độ vi phạm Trong số hơn 200 dạng tội phạm ở xã hội hiện nay thì học sinh, sinh viên đều mắc phải, kể cả tội cướp của giết người, buôn bán ma túy

và nhiều loại tội phạm nghiêm trọng khác Tuổi đời vi phạm đang được trẻ hóa, một số hành vi ngày càng phức tạp và dã man Những biểu hiện thiếu văn hóa diễn

ra trong nhà trường không còn là chuyện cá biệt, mà đã trở thành tình trạng khá phổ biến ở nhiều nơi Một số trường học quan hệ thầy trò thiếu lành mạnh, có phần

Trang 9

thô bạo, vô văn hóa mà trước đây chưa từng có cũng đã xuất hiện Văn hóa học đường đang bị tổn thương nghiêm trọng Nền giáo dục ở nước ta mới đạt tới mục tiêu dạy chữ chưa đạt yêu cầu về dạy người và dạy nghề

Một số nội dung trong sách giáo khoa vừa thiếu tính khoa học, vừa cũ kĩ không còn giá trị sử dụng, không cần thiết cho cuộc sống Những yếu kém này đã làm cản trở sự liên thông, liên kết giữa các bậc học, các ngành đào tạo, tình trạng này vẫn chưa được khắc phục Tình trạng "đói" giáo trình vẫn xảy ra ở nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp, nhất là đối với khối khoa học kỹ thuật

Phương pháp dạy và học ở các cấp còn lạc hậu, mô hình tổ chức giáo dục, đào tạo vẫn rập khuôn theo kiểu hàn lâm, nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo theo kiểu hình ống mà không có sự sàng lọc Hiện nay giáo dục ở nước ta vẫn chủ yếu tập trung vào truyền đạt kiến thức cho học sinh, mà chưa làm cho cho học sinh, sinh viên biết cách học, cách làm người, có óc phê phán và sáng tạo, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm, không ngại gian khổ hy sinh để có những thành công trong cuộc sống Trước những yêu cầu của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì giáo dục không thể nhồi nhét càng nhiều kiến thức càng tốt, mà giáo dục cần rèn luyện khả năng tư duy, khả năng thích ứng mau lẹ trong mọi hoàn cảnh, có đủ bản lĩnh tự khẳng định mình, hình thành thói quen tự học, tự rèn luyện để hoàn thiện bản thân,

có hoài bão lớn lao và luôn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và Tổ quốc nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội nhanh chóng và lành mạnh

Công tác quản lý giáo dục ở nước ta còn ôm đồm, chưa phát huy quyền chủ động, linh hoạt của các cấp Quản lý thi cử, bằng cấp quá nhiều sơ hở, lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, thanh tra, dẫn đến hiện tượng mua bằng, bán điểm, học

“giả”, thi “giả” nhưng “bằng cấp thật” ở các ngành học, bậc học, loại hình học Điều này đã tạo ra không ít cán bộ “trình độ giả”, sản phảm “giả” trong xã hội Nhưng sự giả dối trong bằng cấp, không thể đổ lỗi hoàn toàn cho giáo dục mà

Trang 10

chính là do cách sử dụng người của chúng ta còn quá nặng về bằng cấp mà chưa coi trọng thực tài

2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế

2.3.1 Nguyên nhân của những thành tựu

Sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp, sự quan tâm, tham gia đóng góp của các tổ chức kinh tế-xã hội và toàn dân đối với giáo dục đã góp phần quyết định cho sự thành công của sự nghiệp giáo dục

Sự ổn định chính trị, những thành quả phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân của thời kỳ đổi mới đã tạo môi trường với các điều kiện thuận lợi cho phát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục trong tổng chi ngân sách nhà nước đã liên tục tăng qua các năm

Lòng yêu nước, yêu người, yêu nghề, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo và quyết tâm đổi mới của ngành giáo dục đào tạo đã góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ giáo dục Các giáo viên và cản bộ quản lý công tác ở mọi miền tổ quốc, đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách to lớn, đóng góp công sức vào sự nghiệp trồng người

Truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy mạnh mẽ, thể hiện trong từng gia đình, từng dòng họ, từng cộng đồng dân cư Nhân dân đã không tiếc công sức, tiền của đầu tư và khuyến khích động viên con em vượt khó, chăm chỉ học tập, hỗ trợ và tạo điều kiện dạy tốt, học tốt cho các nhà trường

2.3.2 Nguyên nhân của hạn chế

Quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu chưa thực sự được quán triệt đúng mức ở các cấp quản lý và chỉ đạo giáo dục Trong nhiều năm qua Đảng ta đã luôn luôn nhấn mạnh quan điểm “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực của quá trình phát triển” Tuy nhiên trong thực tiễn, quan điểm này chưa được hiểu một cách đầy đủ để triển khai một cách thực sự hiệu quả ở mọi lĩnh vực Nhiều bộ, ngành, địa phương chưa nhận thức đầy

Ngày đăng: 26/11/2016, 12:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w