Có thể kể đến Luận án PTS khoa học kinh tế của Mai Văn Xuân về “Nghiêncứu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá trên các vùng sinhthái ở Hường Trà Tỉnh Thừa Thiên H
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
PHIẾU KHẢO SÁT
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG
SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN PHÚ VANG
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện Giáo viên hướng dẫn
Trang 2Lời Cảm Ơn
Sau t hời gian dài trau dồi kiến thức trong học tập, rèn luyện, nghiên cứu, kết hợp với quá trình tham gia thực tập tại Chi cục thống kê Phú Vang, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đềtài “ Phát triển kinh tếhộnông dân theo hướng sản xuất hàng hóa ởhuyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo Trường Đại học Kinh TếHuế
đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức bổích trong thời gian tôi học tập tại trường Đặc biệt tôi xin gửi đến thầy giáo Vũ Thành Huy, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡcho tôi rất nhiều trong việc hoàn thành khóa luận của mình lời cảm ơn sâu sắc và chân tình nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục thống kê Phú Vang cùng toàn thểcán bộnhân viên của cơ quan đã cho phép và tạo mọi diều kiện thuận lợi đểtôi được thực tập tại cơ quan.Tôi xin chân thành cám ông Huỳnh Nam, Chi cục trưởng Chi cục thống kê Phú Vang đã giúp đỡtôi rất nhiều trong quá trình tìm kiếm, thu thập sốliệu.
Cuối cùng tôi xin gửi những lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, khuyến khích, giúp đỡtôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp.
Huế, tháng 5 năm 2014 Sinh viên thực hiện HồHuy LụcTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 4
5.2 Phương pháp phân tổ thống kê 5
5.3.Phương pháp thống kê so sánh 5
5.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 5
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6
7 Kết cấu của đề tài 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 7
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá 7
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 7
1.1.1.1 Khái niệm hộ 7
1.1.1.2 Khái niệm hộ nông dân 8
1.1.1.3 Khái niệm kinh tế hộ nông dân 8
1.1.1.4 Khái niệm kinh tế hàng hóa 9
1.1.2 Đặc trưng và vai trò của kinh tế hộ nông dân 10
1.1.2.1 Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân 10
1.1.2.2 Vai trò của kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa 11
1.1.3 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa 13
1.1.4 Những nhân tố tác động đến phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa 14 Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 41.1.4.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên 14
1.1.4.2 Các nhân tố về pháp lý và môi trường vĩ mô 15
1.1.4.3 Các nhân tố về thị trường 17
1.1.4.4 Các nhân tố về năng lực của hộ sản xuất 18
1.2 Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa 19 1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay 19
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương đối với huyện Phú Vang 21
1.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Nam Định 21
1.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương 22
1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra để phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Phú Vang 23
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 26
2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Phú Vang 26
2.1.1.Về điều kiện tự nhiên 26
2.1.1.1 Vị trí địa lí 26
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết 26
2.1.1.3.Địa hình đất đai 27
2.1.2 Về điều kiện kinh tế- xã hội 28
2.1.2.1 Quy mô dân số 28
2.1.2.2 Trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng 28
2.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế huyện 28
2.1.2.4 Về văn hóa, xã hội, giáo dục và y tế 29
2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
2.2 Những thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế 31
2.2.1 Những thành tựu cơ bản 31
2.2.1.1 Các yếu tố sản xuất của hộ nông dân 31
2.2.1.2 Cơ cấu và kết quả sản xuất của hộ nông dân 40
2.2.1.3 Hiệu quả sản xuất của hộ nông dân 42 Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 52.2.1.4 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các hộ nông dân 48
2.2.2 Những hạn chế đang tồn tại và nguyên nhân 53
2.2.2.1.Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất còn yếu kém, thiếu đồng bộ 53
2.2.2.2 Khó khăn về vốn đầu tư sản xuất .54
2.2.2.3 Khả năng hợp tác trong sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân còn hạn chế 56
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN PHÚ VANG THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 58 3.1 Phương hướng phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Phú Vang theo hướng sản xuất hàng hóa 58
3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế 60
3.2.1.Giải pháp chung 60
3.2.1.1 Tăng cường đầu tư vốn cho hộ nông dân 60
3.2.1.2 Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp 62
3.2.1.3 Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản phẩm 63
3.2.1.4 Giải pháp về đất đai đối với các hộ nông dân sản xuất hàng hóa 64
3.2.1.5 Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu trong nông thôn 66
3.2.1.6 Phát triển các hình thức hợp tác đa dạng giữa các hộ nông dân 68
3.2.1.7 Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về nông nghiệp cho nông dân 68
3.2.2 Giải pháp cụ thể đối với hộ nông dân từng vùng sinh thái 69
3.2.2.1 Giải pháp đối với các hộ nông dân các xã vùng đồng bằng 69
3.2.2.2.Giải pháp đối với các hộ nông dân các xã vùng đầm phá 70
3.2.2.3 Giải pháp đối với các hộ nông dân các xã vùng ven biển 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6GO : Tổng giá trị sản xuất ( Gross Output)
VA : Giá trị gia tăng ( Value Added)
IE : Chi phí trung gian ( Intemediaate Expenditure)
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
đ : Đồng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Giá trị sản xuất của nhóm hộ năm 2013 41
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Trình độ văn hóa của các hộ nông dân phân theo nhóm hộ 33
Bảng 2.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của nông hộ theo nhóm hộ 33
Bảng 2.3: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Vang năm 2013 35
Bảng 2.4: Tình hình đất đai theo nhóm hộ sản xuất 36
Bảng 2.5: Tình hình áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất của các hộ nông dân huyện Phú vang 38
Bảng 2.6: Cơ cấu và kết quả sản xuất phân theo nhóm hộ năm 2013 40
Bảng 2.7: Hiệu quả sản xuất chung theo nhóm hộ 2013 43
Bảng 2.8: Hiệu quả sản xuất lúa theo nhóm hộ điều tra năm 2013 44
Bảng 2.9: Hiệu quả chăn nuôi lợn theo nhóm hộ điều tra năm 2013 46
Bảng 2.10: Hiệu quả từ hoạt động thủy hải sản theo nhóm hộ điều tra năm 2013 48
Bảng 2.11 Tình hình tiêu thụ một số sản phẩm chủ yếu của các hộ nông dân theo nhóm hộ 49
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế phổ biến, đang có vai trò, vị trí rất lớn
và là bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế, là chủ thể quan trọng trong phát triển nôngnghiệp và đổi mới nông thôn ở nước ta Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội nóichung và ngành nông nghiệp nói riêng thì kinh tế hộ nông dân không ngừng phát triển
cả về quy mô và tính chất Một bộ phận hộ nông dân chuyển từ quy mô nhỏ thành quy
mô lớn, từ sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hoá, trao đổi sản phẩm trên thị
trường Nhiều hộ đã khẳng định được vị trí vai trò sản xuất hàng hoá của mình trong
nông nghiệp, nông thôn Họ sử dụng có hiệu quả đất đai, tiền vốn, lao động và đã vươnlên làm giàu
Mặc dù có nhiều hộ đã thành công trong phát triển kinh tế hàng hoá nhưng nhìnchung, kinh tế hộ chưa chuyển hẳn sang kinh tế hàng hoá Bên cạnh những hộ nông
dân vươn lên mạnh mẽ, vẫn tồn tại một bộ phận khá lớn hộ nông dân gặp nhiều khókhăn trong sản xuất hàng hoá do thiếu vốn, thiếu tư liệu sản xuất, năng suất lao động
thấp Để giải quyết được điều đó, trước hết cần phải có những giải pháp thiết thực vàhữu hiệu nhằm phát triển mạnh kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá trên
cả nước, cũng như tại mỗi vùng, mỗi địa phương, trên cơ sở đánh giá đúng đắn thựctrạng kinh tế hộ nông dân
Do vậy nghiên cứu thực trạng kinh tế hộ nông dân một vùng, miền cụ thể nhằmtìm ra những yếu tố thuận lợi, khó khăn có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế
hộ nông dân của vùng đó nhằm tìm ra những giải pháp phù hợp là vấn đề cần thiết và
có ý nghĩa to lớn, giúp hộ nông dân phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa
Huyện Phú Vang là là một huyện đồng bằng, đầm phá ven biển của tỉnh ThừaThiên Huế Nhìn chung, điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu của huyện tương đốithuận lợi cho phát triển nông nghiệp và đặc biệt là đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.Tuynhiên do xuất phát điểm thấp nên điều kiện kinh tế, xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn,khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, tư
tưởng của người dân còn bó hẹp trong phạm vi làng quê nên rất khó trong việc thay
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10đổi tư duy, thay đổi lề lối làm cũ, đại bộ phận nông dân vẫn sản xuất với mục đích tự
như huyện Phú Vang Nền tảng quan trọng của sự phát triển kinh tế xã hội địa phương
chính là kinh tế hộ, đối với huyện Phú Vang kinh tế nông nghiệp nông thôn là chủ yếuthì phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân là cơ sở để phát triển kinh tế của vùng Xuất
phát từ ý nghĩa quan trọng và to lớn ấy nên tôi chọn đề tài: “Phát triển kinh tế hộ
nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên
Huế” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình.
Tình hình nghiên cứu của đề tài
Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa là một đề tài thuhút nhiều sự chú ý, quan tâm của xã hôi, nó có nhiều khía cạnh khác nhau cần được đềcập nghiên cứu Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học,khóa luận, luận văn nghiên cứu về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuấthàng hóa Có thể kể đến Luận án PTS khoa học kinh tế của Mai Văn Xuân về “Nghiêncứu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá trên các vùng sinhthái ở Hường Trà Tỉnh Thừa Thiên Huế”; Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế củaNguyễn Thị Thu Hằng về “Nghiên cứu khả năng phát triển kinh tế hộ nông dân theo
hướng sản xuất hàng hóa ở Huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”; Luận văn thạc sĩ khoa
học kinh tế của Nguyễn Thị Bích Hường về “Phát triển kinh tế nông hộ theo hướngsản xuất hàng hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình”; Luận văn tốt nghiệp củaNguyễn Thị Thu Hiền về “ Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hànghóa ở xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam” Song chưa có đề tài nào đề cậpnghiên cứu về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyệnPhú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Chính vì vậy đây cũng là một lí do để tôi lựa chọn đềTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11tài: “Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu đề tài
- Đánh giá thực trạng kinh tế hộ gia đình nông dân ở huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên Huế
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến phát triển kinh tế hộ nông dântheo hướng sản xuất hàng hóa
- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, đánh giá khả năng phát triển hàng hoá của
kinh tế hộ ở huyện Phú Vang, đề xuất một số giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy kinh
tế hộ nông dân huyện Phú Vang theo huớng sản xuất hàng hoá
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài :
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông
dân theo hướng sản xuất hàng hoá, đồng thời đi sâu nghiên cứu tính đặc thù của kinh
tế hộ nông dân ở huyện Phú Vang
- Đánh giá đúng khá năng phát triển hàng hoá của kinh tế hộ nông dân ở
huyện Phú Vang và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ
nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở Phú
Vang trong những năm tới theo hướng sản xuất hàng hoá
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là kinh tế hộ nông dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa
Thiên Huế
Ph ạm vi nghiên cứu:
- Không gian: địa bàn huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Thời gian : đề tài nghiên cứu thực trạng khả năng phát triển kinh tế hộ nông
dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn
từ 2009- 2014 và đưa ra định hướng, giải pháp cho giai đoạn 2015-2020
- Về nội dung : Đề tài tập trung nghiên cứu kinh tế hộ nông dân trong cơ chếthị trường hiện nay, nghiên cứu những yếu tố kinh tế tác động đến sự phát triển kinh tếTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá Phân tích thực trạng kinh tế hộ nông dân
trong bước chuyển đổi cơ chế thị trường, sản xuất hàng hoá trong những năm 2009
-2013 và nêu lên định hướng và những giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân sản
xuất hàng hoá của địa phương nghiên cứu đến năm 2020
Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Chọn điểm điều tra, chọn mẫu điều tra
Với đặc điểm riêng của các vùng sinh thái trong huyện Phú Vang, để đảm bảo
tính đại diện và đáp ứng yêu cầu đề tài đặt ra tôi phát phiếu điều tra ở nhiều xã khácnhau trên địa bàn huyên.Về quy mô điều tra, ngoài việc nghiên cứu chung các hộ nông
dân trong toàn huyện, để đi sâu vào chi tiết tôi tiến hành điều tra 6 xã, trong đó 2 xã
vùng đồng bằng đó là xã là Phú Thanh, Phú Mậu; 2 xã vùng đầm phá đó là Phú Xuân,Phú Đa và 2 xã vùng ven biển đó là Vinh Thanh và thị trấn Thuận An; mỗi xã 10 hộ
Niên giám thống kê huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2012
Báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện, các xã được lựa chọn
Một số tài liệu khác liên quan như: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch pháttriển kinh tế xã hội và một số tài liệu liên quan ở sở nông nghiệp và phát triển nông
thôn, các ban ngành, thư viện trường đại học kinh tế Huế…
- Thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra số liệu bằng các phương phápchọn mẫu thông qua điều tra trực tiếp các hộ đã chọn Trong quá trình điều tra tôi thựchiện phỏng vấn hộ nông dân Cụ thể:
Lập phiếu điều tra dựa trên mục đích và nội dung của đề tài
Chọn mẫu điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên, kết hợp với chọn mẫu cóTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13định trước với những hộ sản xuất mang tính chất hàng hóa, một số trang trại…Số mẫuđiều tra là 60 hộ ứng với 3 vùng khác nhau của huyện đó là vùng đồng bằng, vùngđầm phá, vùng ven biển để đảm bảo tính tổng quát chung của vấn đề nghiên cứu.
Nội dung điều tra :
+ Thông tin cơ bản về mẫu phiếu điều tra như: giới tính, tuổi, trình độ văn hóa
của chủ hộ, số nhân khẩu, số lao động của hộ,diện tích đất canh tác, tư liệu sản xuất…
+ Tình hình sản xuất của hộ: thông tin về tất cả yếu tố đầu vào như giống, phânbón các loại, thuốc trừ sâu, giá cả các yếu tố đầu vào, sản lượng đạt được của các loạicây trồng vật nuôi, tỷ trọng về sản phẩm hàng hóa của các ngành nghề sản xuất mà hộtham gia
+ Thông tin liên quan về thị trường sản phẩm nông nghiệp, cùng những thuậnlợi và khó khăn hiện nay mà hộ đang gặp phải…
5.2 Phương pháp phân tổ thống kê
Sử dụng phương pháp này để hệ thống hóa và phân tích các tài liệu điều tra, từ
đó nhận biết tính quy luật kinh tế của quá trình sản xuất Bằng phương pháp này có thể
tìm hiểu mối liên hệ lẫn nhau của các nhân tố riêng biệt: năng suất lúa, chi phí sảnxuất, lợi nhuận, Từ đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả vàhiệu quả của quá trình sản xuất Hiệu quả kinh tế chịu ảnh hưởng, tác động của nhiềunhân tố cùng một lúc, do đó sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để phân tích ảnh
hưởng của từng nhân tố đến hiệu quả kinh tế, phải nghiên cứu các nhân tố trong mối
liên hệ với nhau và trong mối liên hệ với hiệu quả kinh tế
5.3.Phương pháp thống kê so sánh
Kết quả và hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất được tính toán, lượng hóamối quan hệ qua hệ thống các chỉ tiêu khác nhau như: năng suất, tổng giá trị sản xuất,giá trị gia tăng, chi phí trung gian,…hệ thống các chỉ tiêu đó phản ánh mức đó phản
ảnh mức độ đạt được của từng lĩnh vực Vì vậy, khi đánh giá kết quả và hiệu quả kinh
tế cần so sánh mức độ đạt được của từng chỉ tiêu theo thời gian và không gian, từ đónhận xét và đưa ra kết luận
5.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Thu thập, tra cứu các công trình đã được công bố, đồng thời lĩnh hội những ýTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14kiến của các cơ quan chức năng và cá nhân có kinh nghiệm trên địa bàn huyện, từ đó
có sự kế thừa và vận dụng phù hợp vào đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Hệ thống hoá và bổ sung lý luận về kinh tế hộ và phát triển kinh tế hộ theo
hướng sản xuất hàng hoá trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay
- Phản ánh thực trạng của phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá
ở huyện Phú Vang trong những năm gần đây
- Đưa ra một số quan điểm và những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế
hộ theo hướng sản xuất hàng hoá
1 Kết cấu của đề tài
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân theo
hướng sản xuất hàng hóa
Chương II: Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng
hoá ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở
huyện Phú Vang theo hướng sản xuất hàng hoá
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái ni ệm hộ
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển Trải qua mỗithời kỳ kinh tế khác nhau, hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau songvẫn có bản chất chung đó là: “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên
trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng
thêm tích luỹ cho gia đình và xã hội” Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm củacác nhà khoa học về hộ:
- Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc: “Hộ là những người cùng sống chungdưới một mái nhà, cùng ăn chung và có cùng một ngân quỹ”
- Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980)
các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản
xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”
- Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống cácnguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặtchẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn.” [13]
- Theo Nhóm hệ thống thế giới: “ Hộ là một nhóm người có cùng chủ sở hữu,chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ là một đơn vị kinh tế giống như cáccông ty, xí nghiệp khác” [13]
- Giáo sư T.G Me Gee, Giám đốc viện nghiên cứu châu Á thuộc đại học tổng
hợp Britiali Columbia, khi khảo sát quá trình phát triển của các nước châu Á đã nêu lênrằng: “Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc sốngchung trong một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”
- Ở Việt Nam chưa có một khái niệm chính thức nào về hộ, hầu như từ trước
tới nay người ta mặc nhiên thừa nhận hộ là gia đình, kinh tế hộ là kinh tế gia đình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 161.1.1.2 Khái ni ệm hộ nông dân
- Hộ nông dân là hộ sống ở nông thôn, cuộc sống chủ yếu nhờ vào nghề nông
Hộ gia đình nông dân là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nước ta và một số
nước Có thể hiểu hộ nông dân đồng thời là một hộ gia đình, bao gồm những thành
viên có mối quan hệ hôn nhân và huyết thống
- Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ
gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử
dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thốngkinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị
trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [6]
- Nhà khoa học Traianốp cho rằng: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn
định” và ông coi “hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông
nghiệp” [14]
- Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân
+ Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1995) cho rằng: “Nông hộ là tế bàokinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [9]
+ Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt
động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi
nông nghiệp ở nông thôn” [4]
+ Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nôngthôn năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao
động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn
nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và
thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp” [11]
1.1.1.3 Khái ni ệm kinh tế hộ nông dân
- Liên hợp quốc cho rằng: Kinh tế hộ nông dân là một hình thức tổ chức cơ sở củanền sản xuất hàng hoá Nó hoạt động sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình, có một hoặcmột số người lao động tự đầu tư khả năng về vốn để trang bị tư liệu sản xuất, sản xuất ra sảnphẩm hoặc dịch vụ theo yêu cầu sản phẩm cho sự sinh tồn của họ trên thị trường
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17- Theo tư tưởng của A.V.Traianôp: Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh
tế phức tạp của tổ chức sản xuất nông nghiệp Đó là những doanh nghiệp hàng hoá gia
đình nông dân không thuê nhân công Ông cho rằng : Kinh tế nông dân gắn bó hữu cơ
với gia đình nông dân vì thế có thể coi kinh tế hộ nông dân là kinh tế gia đình Đó làmột xí nghiệp lao động gia đình sống theo những quy luật của nó, khác với những quyluật từ bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở lao động làm thuê Trong kinh tế gia đình, ngườinông dân vừa là người chủ, vừa là người lao động.[14]
- Theo tư tưởng của Frank Elliss: Kinh tế hộ nông dân là sản xuất của các hộgia đình nông nghiệp, có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sứclao động của gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và
tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường.[6]
- Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế hộ nông dân bao gồm toàn bộ các khâucủa quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Kinh tế hộthể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộnông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp
1.1.1.4 Khái ni ệm kinh tế hàng hóa
- Kinh tế hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế, xã hội mà trong đó hình thái
phổ biến của sản xuất là sản xuất sản phẩm để bán, để trao đổi trên thị trường
+ Kinh tế hàng hóa đối lập với kinh tế tự nhiên là loại hình kinh tế tiến hành sảnxuất sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất Các mối quan hệkinh tế trong nền kinh tế tự nhiên đều mang hình thái quan hệ trực tiếp vật với vật
+ Kinh tế hàng hóa đối lập với nền kinh tế chỉ huy Nếu như kinh tế chỉ huy lànền kinh tế được điều tiết bởi cơ chế kế hoạch hóa tập trung thì kinh tế hàng hóa được
điều tiết bởi thị trường
- Trong nền kinh tế hàng hóa, mọi sản phẩm đều được mua bán trên thị
trường Thị trường là một hợp phần tất yếu và hữu cơ của toàn bộ quá trình sản xuất vàlưu thông hàng hóa.Trong điều kiện đó, sản xuất của hộ đã có sự thay đổi về chất Từ
sản xuất phục vụ nhu cầu của gia đình đã chuyển sang sản xuất hàng hóa với quy mô
và mức độ khác nhau Vì vậy có thể hiểu: kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa lànhững hộ nông dân sản xuất chủ yếu để bán và trao đổi trên thị trường
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 181.1.2 Đặc trưng và vai trò của kinh tế hộ nông dân
1.1.2.1 Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân
Đặc trưng bao trùm của kinh tế hộ nông dân là các thành viên trong hộ làm việc
một cách tự chủ, tự nguyện, sáng tạo vì lợi ích kinh tế thiết thực của bản thân mình,
gia đình mình Kinh tế hộ nhìn chung là kinh tế sản xuất nhỏ, mang tính tự cấp hoặc có
sản xuất hàng hóa với năng suất lao động không cao nhưng có vai trò rất quan trọngtrong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung
và ở nước ta nói riêng
+ Về tổ chức quản lí:
Phần lớn các nông hộ , nông trại đều do mỗi gia đình trực tiếp quản lý Người chủ
hộ vừa là chủ nông trại sản xuất vừa là lao động thực hiện công việc sản xuất kinh doanh
Ngoài ra còn một số hình thức tổ chức quản lí khác như liên doanh, hợp danh, ủy
thác,…Tuy nhiên trong thực tế những loại hình quản lý này thường hiệu quả không cao
+ Về ruộng đất:
Tùy vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia mà việc sở hữu về ruộng đất cũngnhư quy mô có khác nhau Ở Việt Nam, ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, các nông hộđược giao khoán sử dụng ruộng đất ổn định lâu dài Tùy theo cây trồng hăng năm haylâu năm mà ruộng đất được giao khoán từ 20-50 năm Bình quân mỗi hộ ở Việt Nam
có từ 0,4-0,59 ha Ở một số vùng có nhiều ruộng đất như miền Nam, Tây Nguyên quy
mô ruộng đất bình quân nông hộ có từ 1 đến 3 ha Nhà nước giới hạn mức đất nôngnghiệp cho mỗi hộ gia đình là từ 2-3 ha trên đầu người cho cây hàng năm, 10-13 năm
ha trên đầu người cho cây lâu năm (theo nghị quyết 64 của Chính phủ)
+ Về vốn:
Các nông hộ lúc đầu tự có một số vốn tự có để phát triển sản xuất và đảm bảo
đời sống Tùy theo điều kiện và quy mô từng hộ mà số vốn của các nông hộ có khác
nhau Các nông hộ trung bình và nghèo thường ít vốn và thiếu vốn, các hộ khá và giàucũng thiếu vốn để mở rộng sản xuất Nhìn chung các hộ đều thiếu vốn nhưng với mức
độ khác nhau Ở Việt Nam, Nhà nước cho nhân dân vay vốn chưa được nhiều, mới
khoảng 20-30% Các nông hộ vay còn gặp nhiều khó khăn về thủ tục, về thời gian vàlãi suất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19+Về lao động:
Ở các nông hộ, nông trại vừa và nhỏ thường chủ nông hộ, nông trại vừa làm
quản lý vừa trực tiếp sản xuất Lao động sản xuất chủ yếu do các thành viên trongnông hộ, nông trại đảm nhận Những nông trại lớn có thể thuê them lao động ngoàinhững lực lượng chủ yếu vẫn là các thành viên trong gia đình hoặc bà con họ hàng.Tùy theo nhu cầu công việc, lao động có thể gồm hai loại: lao động chuyên môn cónghề nghiệp và lao động phổ thông
Ở Việt Nam trong các nông hộ, các thành viên trong gia đình thường làm nhiều
công việc khác nhau như (trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ) do sự phân công hằng ngàycủa bố hoặc mẹ Một số nông hộ giàu có nhiều đất đai, nhiều ngành nghề có thể thuêthem một số lao động thời vụ có kĩ thuật hoặc thuê lao động thường xuyên
1.1.2.2 Vai trò c ủa kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa
Là cầu nối, khâu trung gian để chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền
đó thì những khoản tiền dư thừa do hoạt động kinh tế của hộ nông dân sẽ biến thành
của cải tích trữ hoặc bị lãng phí vào những công việc khác không được sử dụng vàomục đích tái sản xuất để tăng sản phẩm cho hộ nông dân và xã hội, đó chưa kể đếntiềm năng lao động, kinh nghiệm sản xuất được coi là những nguồn vốn sẽ bị lãng phí.Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20 Là đơn vị cơ sở để phân công lao động xã hội
Trong nền kinh tế tự nhiên, sản xuất của các hộ nông dân chủ yếu nhằm thỏamãn nhu cầu tối thiểu của hộ nông dân, chỉ có sản phẩm dư thừa mới trở thành hàng
hóa nên lao động của các hộ nông dân chưa trở thành hàng hóa Ngược lại, chuyển
sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường lao động đã trở thành hàng hóa
Với tư cách là đơn vị cơ sở tích tụ vốn, kinh tế hộ nông dân có điều kiện chuyểndịch cơ cấu kinh tế làm chuyển dịch lao động và trở thành đơn vị kinh tế cơ sở thựchiện sự phân công lao động xã hội Phát huy tối đa lợi thế so sánh về vị trí địa lý, đất
đai, thời tiết khí hậu, trình độ lao động…để sản xuất chuyên môn hóa một loại nông
sản để lao động có tính chuyên môn hóa
Là đơn vị kinh tế cơ sở tiếp nhận khoa học kỹ thuật - công nghệ
Kinh tế hộ nông dân sản xuất nông sản hàng hóa theo cơ chế thị trường phải
chú ý đến vấn đề lợi nhuận và hiệu quả của sản xuất kinh doanh Điều đó buộc các hộ
nông dân phải tìm mọi cách để tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm để cókhả năng cạnh tranh
Các hộ nông dân phải sử dụng hiệu quả những kinh nghiệm truyền thống lâu
đời của cha ông truyền lại áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ mới vào
sản xuất kinh doanh Động cơ lợi nhuận là động lực thúc đẩy các hộ nông dân áp dụngtiến bộ KH - KT vào sản xuất Thông qua việc áp dụng các tiến bộ KH - KT vào sảnxuất kinh doanh ở từng hộ nông dân, cũng đồng thời là quá trình sàng lọc và cải tiến kĩthuật làm cho nó thật sự thích ứng và mang lại hiệu quả kinh tế cao Vậy, kinh tế hộnông dân vừa là nơi lưu giữ kinh nghiệm truyền thống vừa là nơi tiếp nhận và cải tiếncông nghệ kỹ thuật cho phù hợp với sản xuất của mình
Là đơn vị kinh tế cơ bản đáp ứng nhu cầu của thị trường và là đơn vị tiêu
dùng xã hội
Là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh nông sản hàng hóa, các hộ nông
dân sản xuất ra sản phẩm cần phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường từ đó lên phương
án, kế hoạch sản xuất, bên cạnh đó để đáp ứng sản xuất thì các hộ nông dân cũng phảicần nhu cầu vật tư, công cụ cho sản xuất Vô hình chung mỗi hộ nông dân đã trở thànhmỗi đơn vị cân đối cung-cầu thị trường
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21Nhờ ưu thế của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, tự tích lũy vốn,
ứng dụng khoa học công nghệ và thực hiện phân công lao động cho phép nhanh chóng
sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường dễ thích nghi với sự biến động của cơ chế thị
trường mà các đơn vị kinh tế lớn khó chuyển biến kịp
Hộ nông dân vừa là nơi cung cấp toàn bộ lương thực, thực phẩm cho toàn xãhôi cũng là nơi tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của các khu công nghiệp
và thành thị
1.1.3 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế hộ nông dân theo
hướng sản xuất hàng hóa.
Thứ nhất: Xã hội càng phát triển, đời sống ngày càng nâng cao, đòi hỏi nhu cầu
nông sản phẩm ngày càng lớn cả về số lượng và chất lượng, cùng với nó KH - KTngày càng phát triển làm cho sự phân công lao động xã hội ngày càng chi tiết cụ thể
hơn, sự chuyên môn hoá ngày càng sâu và sự gắn bó giữa người sản xuất và tiêu dùng
càng chặt chẽ, những hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp có quy mô nhỏ, đầu tư thấpkhông có khả năng thích ứng Một bộ phận hộ nông dân có điều kiện phát triển sảnxuất với quy mô lớn về đầu tư, tích tụ ruộng đất, chuyên môn hoá…chuyển sang sảnxuất hàng hoá, mục đích thu được lợi nhuận cao
Thứ hai: Nền kinh tế hàng hóa được hình thành là kết quả phát triển của lực
lượng sản xuất Trong nền kinh tế thị trường hộ nông dân chịu sự chi phối của các quy
luật kinh tế của thị trường.Thông qua sự vận động của kinh tế thị trường, những hộnông dân sản xuất kém hiệu quả phải thu hẹp quy mô sản xuất, thậm chí bị phá sản
Trong khi đó những hộ nông dân có lãi càng có điều kiện tích luỹ để mở rộng quy mô
sản xuất ngày càng lớn và tạo ra nhiều sản phẩm hay dịch vụ hàng hoá lớn hơn
Thứ ba: Quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn đã và đang dần
dần thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ giới máy móc, những thành tựu KH
-KT về lai tạo giống cây mới, chế tạo ra những sản phẩm sản phẩm sinh học, hoá học
đặc hiệu…giúp tăng cường khả năng chế ngự thiên nhiên của con người, tăng hiệu quả
sản xuất, tăng năng suất, chất lượng nông sản, giải phóng sức lao động người nông dânthoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ bé tự cung tự cấp chuyển thành hộ nông dân sảnxuất hàng hoá
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22Như vậy có thể kết luận rằng: Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất mà
nền sản xuất xã hội chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp thành sản xuất kinh tế hàng hoá
là một tất yếu khách quan, trong đó hộ gia đình nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, lànhân vật trung tâm trong quá trình chuyển nền nông nghiệp tự cung, tự cấp sang nềnnông nghiệp hàng hoá
1.1.4 Những nhân tố tác động đến phát triển kinh tế hộ nông dân theo
hướng sản xuất hàng hóa
1.1.4.1 Các nhân t ố về điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý và đất đai
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến SXNN và đến sự phát triển kinh tế hộnông dân Những hộ nông dân có được những vị trí thuận lợi như gần đường giaothông, gần cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâmcác khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ có điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá Thực tếcho thấy, càng ở những vùng sâu, vùng xa, do vị trí không thuận lợi nên kinh tế hộnông dân kém phát triển
Sản xuất của hộ nông dân hiện nay chủ yếu là nông nghiệp, mà đất đai là tư liệusản xuất đặc biệt, không thể thay thế được trong quá trình sản xuất nông nghiệp Dovậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từngloại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra, tới giá trị lợinhuận và lợi nhuận thu được
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên phải kể đến là các ưu đãi của tự nhiên có
ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác, như thời tiết khí hậu,
quá trình hình thành đất có tác động quyết định đến độ phì tự nhiêu, vị trí của mảnh
đất đó Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, quỹ ruộng đất nhiều hay
ít, tốt hay xấu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất; đến khả năng sản xuấthàng hoá
Khí hậu và môi trường sinh thái
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Điều kiệnthời tiết, khí hậu có lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ chặt chẽ
đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất lợi, những rủi ro do thiên
nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển nông nghiệp, tăng cường nông sản hàng hoá
của các hộ nông dân Chẳng hạn đối với Việt Nam là nước có điều kiện thời tiết, khíhậu là vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và pha trộn tính ôn đới của vùng phía Bắc, điều đó
ảnh hưởng khá sâu sắc đến sản xuất nông sản hàng hóa ở nước ta Do điều kiện thời
tiết khí hậu như vậy nền sản xuất nông sản Việt Nam có những thuận lợi và khó khăn
như sau :
Những thuận lợi do thời tiết khí hậu mang lại:
+ Phổ cây trồng và vật nuôi rộng lớn từ nhiệt đới đến ôn đới
+ Khả năng nuôi trồng nông sản phẩm có thể diễn ra quanh năm trong khi các
xứ lạnh chỉ có thể nuôi trồng một vụ ở ngoài trời
+ Giống loài động vật và thực vật cung cấp cho các hộ nông dân sản xuất đadạng và phong phú đặc biệt là các loài có giá trị kinh tế cao cung cấp cho xuất khẩu
Tuy nhiên thời tiết và khí hậu cũng ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông sản như: bão
lũ, hạn hán, sương muối, rét, gió lớn Độ ẩm trung bình cao và thời tiết thay đổi thất
thường là nguyên nhân gây nên các loại sâu bệnh và sự thất thoát các loại nông sản
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất là
nguồn nước, không khí Bởi vì, những cây trồng và con gia súc tồn tại và phát triểntheo quy luật sinh học Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, con gia súcphát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao Nếu môi trường sinh thái không phù hợpdẫn đến cây trồng, con gia súc phát triển, năng suất, chất lượng sản phẩm giảm, từ đósản xuất hiệu quả của hộ nông dân thấp
1.1.4.2 Các nhân t ố về pháp lý và môi trường vĩ mô
Chính sách của Nhà nước
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, cùng với sự phát triển của nền kinh tếthị trường có sự quản lí của Nhà nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm thúc đẩysản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Định hướng phát triểnsản xuất nông nghiệp đã được Đảng khẳng định qua các kì Đại hội, đã có tính quyết
định đối với sự phát triển sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn Đại hội Đảng lần thứ
X đã nêu rõ hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trong thời kì mới: “Thúc đẩy nhanh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sảnxuất các lọai sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh thâm canh cácloại cây trồng trên cơ sở áp dụng các quy trình sản xuất đồng bộ và tiên tiến”.
Từ những định hướng đó Nhà nước đã có những chính sách, cơ chế quản lí, kíchthích phát triển sản xuất, nhằm tạo điều kiện cho người nông dân phát triển kinh tế hộ,phát triển kinh tế theo hình thức trang trại, mở rộng các vùng chuyên canh sản xuất hànghóa nông sản, đáp ứng cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu, từng bước công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Các chính sách và những định hướng trong sản xuất nông nghiệp của Nhà nước
đã có tác động đến việc mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của hộ nôngdân, qua đó phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, gắn sản xuất với tiêu thụ
hàng hóa, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của người nông dân Vì vậy trongthời gian qua công tác quy hoạch xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh đã đượcthực hiện Đồng thời Nhà nước đã hỗ trợ, tăng cường giống mới, đưa tiến bộ khoa học
kĩ thuật vào sản xuất, tạo điều kiện ưu đãi về vốn, giúp nông dân phát triển sản xuất
theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy vai trò kinh tế tự chủ của nông hộ
Công tác quy hoạch vùng, ngành nghề đối với nông nghiệp nông thôn
Để sản xuất hàng hóa nông nghiệp phát triển trong nền kinh tể thị trường, công
tác quy hoạch vùng sản xuất luôn được coi trọng hàng đầu, để xác định vùng sản xuất,
chăn nuôi, xây dựng cơ sở hạ tầng vùng sản xuất Cơ sở hạ tầng là một trong những
yếu tố cơ bản quyết định đến hiệu quả sản xuất Trong cơ sở hạ tầng thì giao thông vàthủy lợi là hai yếu tố luôn được chú trọng Quá trình sản xuất hàng hóa trong nôngnghiệp đòi hỏi quy mô lớn, chi phí vận chuyển cao, vì vậy hệ thống giao thông thuậntiện sẽ đảm bảo cho việc cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản hàng hóa Bên cạnh đó,
hệ thống thủy lợi đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho chủ động tưới tiêu nhằm đảm bảo chosản xuất nông nghiệp đối phó với những biến động bất thường của thời tiết Đặc biệt
đối với quy hoạch vùng sản xuất cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến, thì phạm
vi khoảng cách giữa vùng sản xuất và nhà máy phải phù hợp với điều kiện thực tế để
đảm bảo hiệu quả sản xuất và chế biến
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 251.1.4.3 Các nhân t ố về thị trường
Yếu tố thị trường
Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ
có khả năng sản xuất Đối với từng hộ nông dân, để đáp ứng yêu cầu thị trường vềnông sản hàng hoá, họ có xu hướng liên kết, hợp tác sản xuất với nhau Nói cách khácthị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán tác động qua lại để
xác định giá cả và sản lượng Cơ chế thị trường bao gồm nhiều nhân tố: hàng hoá, tiền,
mua, bán, cung cầu tác động qua lại với nhau
Sản xuất hàng hoá phụ thuộc chủ yếu vào giá cả trên thị trường, những sảnphẩm nào được giá thì hộ nông dân chú ý phát triển Vì vậy nhu cầu thị trường sẽquyết định hộ sản xuất với số lượng hàng hoá bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượngnào Thực tế cho thấy vùng nào có thị trường thuận lợi, nơi đó có sản xuất hàng hoáphát triển Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn hànghoá mà thị trường cần và họ có khả năng sản xuất Từ đó kinh tế hộ có điều kiện pháttriển sản xuất hàng hoá
Phần lớn thị trường trong nông nghiệp mang tính cạnh tranh hoàn hảo hơn sovới các ngành khác, tạo môi trường cạnh tranh khá lành mạnh trong việc tạo vốn, sửdụng, khai thác các thông tin, mua và bán các sản phẩm Nhu cầu thị trường quyết
định trực tiếp đến lượng hàng hóa được sản xuất, cung ứng và ngược lại, khi sản xuất
phát triển có tác dụng kích thích phát triển nhu cầu thị trường Tuy nhiên trên thực tế,trong từng thời điểm, từng vùng cụ thể, khi có xảy ra bất lợi, nếu không có sự canthiệp của Nhà nước thì người sản xuất bị thiệt thòi Mặt khác việc người nông dân nắmbắt ít thông tin thị trường và thương nhân đưa ra các yêu cầu gây sức ép là thường xảy
ra, ảnh hưởng đến tâm lí của người sản xuất
Cung cầu, giá cả
Giá cả các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp
đến quyết định sản xuất của người nông dân, vì nó là bộ phận cấu thành nên chi phí và
kết quả sản xuất Sự biến động giá cả các yếu tố này như biến động tăng, giảm của giáphân bón, thức ăn chăn nuôi, chi phí vận chuyện…hoặc giá sản phẩm đầu ra biến động
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người sản xuất, chăn nuôi Để đảm bảo lợi íchTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26cho cả người mua và người bán, tạo môi trường ổn định trong sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm, thi trường các yếu tố đầu vào và đầu ra cần được điều chỉnh hợp lí nhằm tạo
được các kênh lưu thông hàng hóa phù hợp, tránh sự tự phát trong lưu thông
1.1.4.4 Các nhân t ố về năng lực của hộ sản xuất
Quy mô diện tích đất đai
Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong sản xuất hàng hóa, quy mô sản
xuất là một yếu tố có tính quyết định đến giá trị sản phẩm hàng hóa của nông hộ Việc
mở rộng quy mô diện tích của các vùng sản xuất sẽ tạo điều kiện cho việc áp dụngkhoa học kĩ thuật và đàu tư thâm canh trong sản xuất, là cơ sở cho việc gia tăng sản
lượng hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ, tăng hiệu quả sản xuất và thu
nhập của người nông dân Do vậy quy mô diện tích sản xuất của mỗi nông hộ cũng làmột yếu tố góp phần nâng cao giá trị sản lượng hàng hóa
Trình độ văn hóa, kinh nghiệm của hộ
Sự hiểu biết nói chung và trình độ văn hóa của người sản xuất, của chủ nông hộ
có ảnh hưởng tích cực đến quá trình sản xuất, chăn nuôi Chủ nông hộ và người sảnxuất có trình độ văn hóa cơ bản sẽ tiếp thu được tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sảnxuất, chăn nuôi, thông tin thị trường hàng hóa để quyết định tiến hành sản xuất theo
hướng có lợi nhất trong khả năng của nông hộ, nhằm đạt năng suất cao, hiệu quả tốt,
giữ gìn sự ổn định chất lượng của đất.,…góp phần nâng cao trình độ sản xuất hàng hóatrong nông nghiệp Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực thấp là những trởngại cho quá trình thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp nông thôn
Lao động
Lao động là nhân tố quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất trong nông
nghiệp Tất cả các khâu lao động trong sản xuất phải có con người lao động cụ thể,trực tiếp thực hiện để đảm bảo các yêu cầu về sinh trưởng phát triển của cây trồng, vậtnuôi Số lượng lao động và kĩ năng tay nghề, kinh nghiệm, chất lượng lao động trongnông nghiệp sẽ góp phần có tính quyết định đối với kết quả sản xuất, hiệu quả sản xuấtcủa từng địa phương, từng hộ nông dân
Quá trình sản xuất, đồng thời với việc sử dụng máy móc trong nông nghiệp, số
lượng và chất lượng lao động của địa phương, của nông hộ là yêu cầu cơ bản để cân
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27đối với quy mô diện tích, khối lượng sản xuất trong nông nghiệp Việc bố trí hợp lí các
khâu công việc trong sản xuất, chăn nuôi, phù hợp với lịch thời vụ, cân đối giữa lao
động thủ công và các công đoạn thực hiện bằng máy , cân đối giữa lao động tự có vàlao động thuê ngoài của nông hộ theo một kế hoạch hợp lí sẽ mang lại kết quả tốt trong
sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp phát triển
Vốn sản xuất
Vốn sản xuất tác động vào toàn bộ quá trình sản xuất nông sản thông qua phânbón, thức ăn, thuốc chữa bệnh cho gia súc và mua giống Có thể nói vốn có vai tròquan trọng đối với ngành nông nghiệp Ngành nông nghiệp có thể phát triển được haykhông còn phụ thuộc vào lượng vốn của ngành, trong khi đó vốn sản xuất nông nghiệp
có đặc điểm: vốn cố định ngoài những tư liệu có nguồn gốc kĩ thuật còn có tư liệu laođộng có nguồn gốc sinh học (cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh sản), sản xuất
nông nghiệp có chu kì lâu dài và tính thời vụ làm cho tuần hoàn và luân chuyển củavốn chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn, tạo ra sự cần thiết phải dự trữ đáng kểtrong thời gian tương đối dài của chi phí trung gian và làm cho vốn ứ đọng, sản xuấtnông nghiệp lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên việc sử dụng gặp nhiều rủi ro
đặc biệt làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn
1.2 Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất
100 như là một phương thức đặc trị chữa bệnh chán nản, không quan tâm tới công việcđồng áng của tập thể người lao động, nó bắt đầu từ chế độ ngày công lao động, tình
trạng quản lí lỏng lẻo, tham ô lãng phí…trong các HTX Khoán 100 được xã viên
hưởng ứng ở khắp nơi, người ta bắt đầu quan tâm đến ruộng đất, đến việc tiết kiệm vật
tư tài sản trên cánh đồng hợp tác, đầu tư thêm lao động, tiền vốn trên mỗi mãnh ruộng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28khoán nhằm có mức vượt khoán cao hơn Nhịp độ phát triển sản xuất nông nghiệp,mức thu nhập của hộ gia đình nông dân tăng lên, bộ mặt nông thôn chuyển biến đángkhích lệ
- Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (4/1988) về đổi mới quản lí nông nghiệp vớinhiều nội dung, trong đó có hai nội dung rất quan trọng là khẳng định quyền tự chủsản xuất kinh doanh của các nông hộ và chủ trương giao quyền sử dụng ruộng đất ổn
định cho các nông hộ Cùng với một loạt các biện pháp như xóa bỏ chế độ thu mualương thực thực phẩm theo nghĩa vụ, mở rộng trao đổi hàng hóa, tổ chức lại các HTX
nông nghiệp và chuyển hướng kinh doanh cho phù hợp…Nghị quyết 10 là một đònbẩy tác động vào nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Kinh tế nông hộ và nền nôngnghiệp nước ta từ đó chuyển sang một trang mới đầy triển vọng
Từ khi có Chỉ thị 100 CT (01/1981) của Ban Bí thư Trung ương, đặc biệt là từsau Nghị quyết số 10 - NQ/TƯ của Bộ Chính trị (4/1988), hộ nông dân được xác định
là đơn vị kinh tế tự chủ, tiến hành sản xuất hàng hoá, hạch toán kinh doanh và có đầy
đủ tư cách pháp nhân và quyền bình đẳng như mọi chủ thể kinh tế khác thì mô hình
kinh tế hộ mới được chú ý, kinh tế hộ từng bước được khởi sắc và phát triển
Với mục tiêu giải phóng sức lao động, phát huy mọi tiềm năng của các thànhphần kinh tế, chuyển nền nông nghiệp nước ta sang sản xuất hàng hoá Nghị quyết 10
đã nêu lên những chủ trương giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hộ, đó là: Giao
khoán ruộng đất đến hộ và nhóm hộ xã viên ổn định lâu dài, hoá giá các tư liệu sảnxuất và cơ sở vật chất kỹ thuật của HTX mà tập thể quản lý không có hiệu quả để báncho xã viên sử dụng Thực hiện việc khoán đến hộ và khuyến khích làm giàu chính
đáng Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, kinh tế cá thể và tư nhân trong nông
nghiệp Mở rộng thị trường nông sản, chấp nhận quyền tự chủ tiêu thụ nông sản của hộnông dân Sắp xếp đổi mới cơ chế quản lý HTX, các đơn vị kinh tế quốc doanh nông,
lâm, ngư nghiệp
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã đề ra một số chủ trương, chính sáchlớn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá Nghị quyết
số 06 - NQ/TƯ ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ chính trị về một số vấn đề pháttriển nông nghiệp và nông thôn đã chỉ rõ “ Tiếp tục khuyến khích kinh tế hộ phátTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29triển mạnh mẽ để tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày
càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông
thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiệnviệc chuyển d ịch cơ cấu kinh tế ngày từ kinh tế hộ”
Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được
đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy
mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chếthị trường Nghị quyết số 03/2000/NQ -CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ
về kinh tế trang trại đã khẳng định “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuấthàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộngquy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồngthuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” Nghịquyết đã đề ra các biện pháp về kinh tế và tổ chức nhằm khuyến khích phát triển kinh
tế trang trại ở nước ta trong những năm tới Vì vậy, thực hiện đường lối đối với của
Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới
trong sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
1.2.2 Kinh nghi ệm của một số địa phương đối với huyện Phú Vang
1.2.2.1 Kinh nghi ệm của tỉnh Nam Định
Nam Định là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ Với diện tích 1.669km², địa hình Nam Định có thể chia thành 3 vùng: vùng đồng bằng thấp, vùng đồng
bằng ven biển và vùng trung tâm dịch vụ công nghiệp.Vùng đồng bằng thấp có nhiềukhả năng thâm canh phát triển nông nghiệp và các ngành nghề truyền thống Vùng
đồng bằng ven biển với bờ biển dài 72 km, đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát
triển kinh tế tổng hợp ven biển và thuận lợi cho chăn nuôi và đánh bắt hải sản Là mộttỉnh thuần nông nên bà con nông dân nơi đây có rất nhiều kinh nghiệm trong sản xuấtnông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Sau đây là một số kinh nghiệm của tỉnh Nam
Định trong phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa:
+ Thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, lựa chọn các giống cây phù hợp với
điều kiện đất đai, khí hậu của tỉnh, bố trí cơ cấu mùa vụ hợp lý và đẩy nhanh việc ứng
dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Các hộ nông dân đã áp dụng phương pháp xenTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30canh, gối vụ hoặc trồng trái vụ các loại cây rau màu với nhiều công thức luân canh, đãhình thành hàng trăm cánh đồng cho thu nhập cao, tạo ra sản lượng hàng hóa lớn.
+ Xây dựng các cánh đồng sản xuất nông sản hàng hóa chất lượng cao, hoànthành dồn điền, đổi thửa ruộng đất, vận động nông dân góp đất, góp công, kinh phí;
huy động máy móc, phương tiện đào đắp đường giao thông, thủy lợi nội đồng kết hợp
chỉnh trang, kiến thiết đồng ruộng gọn gàng, liền bờ, liền thửa, tạo thuận lợi cho việcthực hiện cơ giới hóa, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
+ Thực hiện tốt chính sách “tam nông”, coi trọng mối liên kết “bốn nhà”; chútrọng phát triển công nghiệp chế biến nông sản, tìm đầu ra cho sản phẩm nông sản;quan tâm tuyên truyền, vận động nông dân tích cực cải tạo đồng ruộng, thay đổi tập
quán canh tác; tăng cường chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đào tạo nghề cho nông dân để
nâng cao hiệu quả canh tác
+ Đẩy mạnh xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn, áp dụng đồng bộ các tiến
bộ kỹ thuật từ quản lý, tổ chức sản xuất đến cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp thay cho
lao động thủ công, giảm chi phí sản xuất, giảm công lao động nặng nhọc nhưng tăngnăng suất, chất lượng sản phẩm, tăng vụ, nâng cao thu nhập cho nông dân…
1.2.2.2 Kinh nghi ệm của tỉnh Hải Dương
Hải Dương là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng Với dân số: 1.722,5nghìn người (năm 2013), diện tích là 1.652,8km² và được chia làm 2 vùng: vùng đồi núithấp và vùng đồng bằng Vùng đồi núi thấp nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tựnhiên phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày
Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồiđắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm
Hiện nay, tỉnh có nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập trung tạo nên năng suất,chất lượng, giá trị hàng hoá ngày càng lớn góp phần đảm bảo ổn định kinh tế nông
thôn, là động lực quan trọng để xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, văn
minh, tiến bộ hơn và đóng góp cho các ngành kinh tế khác phát triển Một số kinhnghiệm của tỉnh Hải Dương trong phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuấthàng hóa:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31+ Đi tắt đón đầu, áp dụng đồng bộ các tiến bộ KH -KT về giống, kỹ thuật canh
tác cây trồng, kỹ thuật nuôi gia súc, gia cầm, phát triển cơ giới hoá Lựa chọn, đưacác kỹ thuật thâm canh công nghệ cao phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất và tiềmlực kinh tế, trình độ của nông dân để tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnhtranh của nông sản
+ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đa dạng hoá sản phẩmnông nghiệp, gắn sản xất với tiêu thụ Ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học, cónhiều giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng được yêu cầucủa thị trường
+ Có nhiều giải pháp sáng tạo, phù hợp giúp các hộ nông dân tích tụ đất đainhằm nâng cao chất lượng hàng hoá nông sản như tiếp tục khuyến khích việc đồn điền
đổi thửa Có cơ chế để các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản phẩm đến với
nhà nông, có trách nhiệm với nông dân
+ Phát huy lợi thế của các địa phương trong tỉnh; nâng cao chất lượng, hiệu quảcủa những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như: rau quả các loại, lúa chất lượng cao,vải thiều, sản phẩm gia cầm, thịt lợn, cá truyền thống và một số loài thuỷ sản chất
lượng cao
+ Tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng các vùng, khu sản xuất nôngnghiệp hàng hoá tập trung có quy mô từ 50 ha trở lên; khu chăn nuôi tập trung quy mô
3 ha trở lên; khu nuôi trồng thủy sản tập trung 10 ha trở lên
+ Tăng cường công tác khuyến nông, phát huy sức mạnh hệ thống khuyến nông
cơ sở Đầu tư cơ sở vật chất và cán bộ cho hệ thống thú y, bảo vệ thực vật; tăng cường
trang thiết bị, đáp ứng các yêu cầu phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh trên câytrồng, vật nuôi Đổi mới công tác khuyến nông theo hướng chọn mô hình sản xuấthàng hoá, sản phẩm an toàn, cán bộ khuyến nông chỉ đạo mô hình phải có thực tiễnsâu sắc, có tinh thần cao, bám sát đến từng cây trồng vật nuôi để chuyển giao TBKTsản xuất đến nông dân
1.2.3 M ột số bài học kinh nghiệm rút ra để phát triển kinh tế hộ nông dân ở huy ện Phú Vang
Thực tiễn phát triển kinh tế hộ nông dân và trang trại gia đình của các nước trênthế giới và ở nước ta có nhiều kinh nghiệm hết sức phong phú Cụ thể tập trung vàocác vấn đề chủ yếu sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32 Đổi mới về cơ chế chính sách
Đây là cơ sở đầu tiên làm thức dậy nhiều vùng đất có tiềm năng lợi thế so sánh,bước đầu đã khuyến khích việc tạo lập những trang trại gia đình trên nền tảng kinh tế
hộ theo hướng chuyên môn hóa và theo yêu cầu của thị trường, góp phần tạo ra nhữngvùng kinh tế trù phú thực tiễn như ở Trung Quốc từ năm 1978, nước này đã coi “Nôngnghiệp là cơ sở của nền kinh tế, tập trung tinh lực làm cho nền nông nghiệp lạc hậumau chóng phát triển Thực hiện chế độ khoán trong sản xuất nông nghiệp thức chất làhình thức lao động hợp đồng ký kết giữa ba bên : Nhà nước, tập thể, hộ hay nhóm hộnông dân” Thực tiễn ở Việt Nam sau khi đổi mới từ Chỉ thị 100, Nghị quyết 10 vàNghị định 64 của Chính phủ đã tạo ra môi trường thông thoáng thúc đẩy kinh tế hộphát triển
Phát huy vai trò nhân tố con người
Nông dân là người có vai trò quan trọng trong việc tạo lập, phát triển và quản lí
trang trại gia đình, quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hay thấp của gia đình
mà họ đã tạo lập nên Sự tác động của các quy luật kinh tế trong đời sống kinh tế là
trường học quan trọng, là nơi kiểm nghiệm tài năng của họ Chính vì vậy người chủ
trang trại phải có ý chí cao, có tri thức về tổ chức sản xuất “ trồng cây gì ?” và “nuôi con
gì ?” Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hà Lan…có một đội ngũ khoa học kĩ thuật trong nông nghiệp
khá đông đảo, chủ trang trại có trình độ cao, nhạy bén trong việc nắm bắt thị trường
Vấn đề áp dụng tiến bộ KH - KT mới vào sản xuất kinh doanh.
Muốn tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm phải áp dụng tiến bộKHKT mới Thực tiễn cho thấy không có một trang trại gia đình nào tăng trưởng kinh
tế mà không áp dụng tiến bộ KHKT mới vào sản xuất kinh doanh, do đócaanf phải cóhai yếu tố cơ bản đó là : tri thức về kinh tế kỹ thuật đối với cây trồng vật nuôi và lượngvốn tương đối lớn Muốn vậy, Nhà nước phải dành một số vốn lớn cho việc nghiêncứu phát triển khoa học kĩ thuật hiện đại như ở Nhật Bản, từ năm 1950-1971 nhậpkhẩu kỹ thuật của Nhật là15.289 triệu yên, nhờ đó cải tạo can bản tài sản cố định gópphần nâng cao năng suất lao động trong nền kinh tế nói chung và trong nông nghiệpnói riêng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33 Thị trường có tính chất quyết định đối với sản xuất.
Sản xuất nông nghiệp hiện nay nhằm hướng đến sản phẩm có tỷ trọng hàng hóacao, phù hợp thị hiếu của người tiêu dùng Qua thực tiễn, chúng ta thấy thị trường vàbiến động của thị trường trong và ngoài nước có tính chất quyết định đối với sự thay
đổi về chiến lược sản phẩm của kinh tế trang trại gia đình
động đồng vốn nội bộ cho phát triển kinh tế gia đình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN PHÚ VANG,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Phú Vang
2.1.1.V ề điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 V ị trí địa lí
Phú Vang là một huyện đồng bằng, đầm phá ven biển, nằm ở trung tâm phía
Đông Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lí 107°34’20”-107°50’50” độ kinhĐông và 16°20’13’’-16°34’30’’ độ vĩ Bắc; phía Tây Bắc giáp huyện Hương Trà, phía
Tây giáp huyện Hương Thủy và thành phố Huế, phía Đông Nam giáp huyện Phú Lộc
và phía Đông Bắc giáp biển Đông
Toàn huyện được tổ chức theo 20 đơn vị hành chính, trong đó có một thị trấn và
19 xã, với tổng diện tích đất tự nhiên 27.987,03 ha chiếm 5,6% diện tích tự nhiên củatỉnh Thừa Thiên Huế Địa hình bị chia cắt bởi các dải cồn cát và hệ đầm phá tạo nên sự
đa dạng giữa các vùng
Trên địa bàn huyện có cảng Thuận An, có quốc lộ 49, tỉnh lộ 10A, 10B, 10C và
các tuyến trục ngang nối các tỉnh lộ với quốc lộ tạo thành một hệ thống đương giaothông thủy bộ hợp lí, thuận lợi cho giao lưu trong nội bộ huyện và với bên ngoài
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết
Phú Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa ven biển, có hai mùa
mưa nắng rõ rệt Mùa mưa từ tháng 9 kết thúc vào tháng 12, lượng mưa trung bìnhhàng năm khoảng 2.700-3.400 mm Mùa nắng gió Tây Nam khô nóng oi bức, bắt đầu
từ tháng 3 đến tháng 8, lượng bốc hơi cao nhất là từ tháng 1 đến tháng 8 chiếm 82% tổng lượng bốc hơi năm
77-Nhiệt độ không khí trung bình từ 24,9°C-26,4°C, khí hậu trong vùng cơ bản làkhí hậu nóng có số ngày có nhiệt độ trung bình trên 25°C Về mùa đông, nhiệt độ thấp
có thể xuống 8-10°C, về mùa hạ nhiệt độ cao nhất có thể lên tới 40-41°C
Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt từ 83-87% Độ ẩm cao nhất vào các tháng11,12,1 và 2 đạt trên 90%; độ ẩm thấp nhất kéo dài 5 tháng (từ tháng 4 đến tháng 8)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35với trị số 73-83% Độ ẩm tăng nhanh khi bắt đầu vào mùa mưa chính duy trì ở mức độ
cao đến tháng 3 năm sau
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu của huyện tương đối thuậnlợi cho phát triển nông nghiệp và đặc biệt là đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản.Tuy
nhiên đối với huyện ven biển, đầm phá có những đặc thù của hệ sinh thái ven bờ, hàngnăm có mưa to, gió bảo nên khác thác nguồn lợi, phát triển kinh tế cần thiết phải tôn
trọng và biết lợi dụng quy luật tự nhiên
2.1.1.3.Địa hình đất đai
Địa hình huyện Phú Vang khá phức tạp và đa dạng có đầy đủ chế độ của vùngđồng bằng, đầm phá, ven biển và gò đồi, cho phép huyện có thể phát triển một hệ
thống cây trồng tổng hợp bao gồm nhiều loại cây trồng và vật nuôi đa dạng, phong
phú; chăn nuôi trâu bò đàn, gia cầm, thủy sản; trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả, cây
thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày…
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 27.987,03 ha, trong đó diện tích đất nôngnghiệp là 12.448,12 ha chiếm tỉ lệ 44,48%; đất phi nông nghiệp là 14.236,05 ha chiếm50,87 %, còn lại đất chưa sử dụng là 1.302,86 chiếm 4,66% tổng số đất đai tự nhiên
Địa hình của huyện chia thành 3 vùng sinh thái rõ nét
- Vùng đồng bằng: Gồm 7 xã là Phú Thanh, Phú Mậu, Phú Dương, Phú
Thượng, Phú Mỹ, Phú Hồ, Phú Lương chiếm 65% diện tích trồng lúa của huyện, chủ
yếu nằm dọc theo tuyến giao thông tỉnh lộ số 10 của huyện và nằm ven thành phố
- Vùng đầm phá: Gồm 6 xã là Phú An, Phú Xuân, Phú Đa, Vinh Thái, VinhPhú, Vinh Hà Thế mạnh của vùng này có diện tích mặt nước nuôi trồng thủy hải sảnlớn 518,89 ha chiếm 87,84% diện tích mặt nước nuôi trồng thủy hải sản toàn huyện,rất phù hợp phát triển nuôi trồng thủy hải sản và mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp bội
so với trồng lúa
-Vùng ven biển : Gồm 7 xã còn lại của huyện, dân cư tập trung chủ yếu ở phía
Đông phá Ta Giang, giáp với biển Vùng này có lợi thế về ngư nghiệp và phát triển
dịch vụ biển nên ngành công nghiệp chế biến thủy sản ở đây khá phát triển
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 362.1.2 V ề điều kiện kinh tế- xã hội
2.1.2.1 Quy mô dân s ố
Tổng dân số toàn huyện năm 2012 là 184.516 người, trong đó dân cư nông thôn
là 151.226 người chiếm 82%, dân cư thành thị là 33.290 người chiếm 18% Dân cưphân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các xã đồng bằng ven thành phố Huế, thị xã,thị trấn, ven biển và dọc theo theo các trục đường giao thông Mật độ dân số trungbình 659 người/km2, là huyện có mật độ dân số cao thứ 2 của tỉnh (sau thành phốHuế) Mật độ dân số cao nhất là xã Phú Thượng 2453 người/ km2, thấp nhất là xã Phú
Xuân 283 người/ km2
2.1.2.2 Trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng
Thủy lợi: là một vùng có diện tích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sảntương đối lớn và là vùng thấp trũng do đó công tác thủy lợi được huyện rất quan tâmđầu tư Đến nay, 100% diện tích gieo trồng của vùng trọng điểm lúa đã được chủ độngtưới tiêu Hệ thống thủy lợi rất đa dạng, một số công trình thủy lợi được đầu tư nâng
cấp như kiên cố hóa kênh mương, đê bao, tu sửa các cống, xây them các trạm
bơm…đã góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp Tuy vậy công tác thủy lợi vẫn chưađược thật sự quan tâm đối với vùng cồn cát ven đầm phá, đặc biệt là vùng ven biển của
huyện, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và khai thác lợi thế so sánh của vùng
Giao thông: trong những năm qua được sự đầu tư bằng nguồn vốn Trungương, của tỉnh và huyện Phú Vang, huyện đã xây dựng kéo dài quốc lộ 49 từ Huế về
huyện lỵ, hình thành các tuyến trục ngang nối tỉnh lộ 10B với tỉnh lộ 10C và 10D Xâydựng bến phà Vinh Phú, Vinh Thanh,và cầu chợ Dinh qua sông Hương nối Phú
Thượng với phía Đông Bắc Huế Đặc biệt đối với chương trình bê tông hóa giao thông
nông thôn nguồn vốn Nhà nước và nhân dân đóng góp huyện Phú Vang đã bê tông hóamột số tuyến đường trong thôn, xã và liên thôn, liên xã, đến nay đã có 100% xã và thịtrấn có đường ô tô đến trung tâm xã Do vậy, việc đi lại của nhân dân rất thuận lợi gópphần không nhỏ vào việc thay đổi đời sống, sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của
người dân trong huyện một cách tích cực
2.1.2.3 Tình hình phát tri ển kinh tế huyện
Trong những năm qua, nền kinh tế huyện Phú Vang đã có những bước phát triểnTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37tích cực, trong giai đoạn 2010-2013 tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất bình quân là
17%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ - công
nghiệp - TTCN và giảm dần tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp Dịch vụ có bước pháttriển đa dạng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống của nhân dân
Năm 2013, giá trị tăng trưởng kinh tế của Phú Vang đạt 18,3%; giá trị sản xuất
các ngành dịch vụ trên địa bàn huyện Phú Vang tiếp tục tăng trưởng khá với tổng giátrị đạt 2.210,3 tỷ đồng; giá trị sản xuất CN-TTCN đạt 593,77 tỷ đồng, tăng 14,9% sovới năm 2012; tổng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp đạt 1.082,98 tỷ đồng
Bên cạnh những kết quả đạt được như vậy thì nền kinh tế huyện còn bộc lộ một
số yếu kém: tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa
phương Đặc biệt trong lĩnh vực khai thác đánh bắt xa bờ còn nhiều khó khăn; nuôi
trồng thủy hải sản đang bị ảnh hưởng nặng bởi ô nhiễm môi trường và dịch bệnh nênphát triển thiếu bền vững Chưa phát huy tốt nội lực trong nhân dân, nhất là các xãvùng biển để đầu tư cho phát triển sản xuất, giải quyết việc làm ở nông thôn Công tácquản lí điều hành Nhà nước có mặt chưa thật kiên quyết, còn lúng túng trong định
hướng phát triển các lĩnh vực, các ngành nghề
2.1.2.4 V ề văn hóa, xã hội, giáo dục và y tế
- Giáo dục và đào tạo: Đến năm 2013, huyện Phú Vang có 25 trường mầm non,
62 trường phổ thông trong đó tiểu học 37 trường, trung học cơ sở 20 trường, phổ thông
cơ sở 4 trường, trung học 1 trường 100% xã, thị trấn trên địa bàn huyện đạt chuẩn phổ
cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở Trẻ em 5 tuổi huy động vào lớpmẫu giáo đạt trên 90%, trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt trên 98%.Tỉ lệ xã có trường tiểuhọc, trường trung học cơ sở là là 100% Tỉ lệ học sinh đi học ở các bậc học: tiểu học100%, Trung học cơ sở 53%, phổ thông trung học là 21,4 %
-Y tế: đến năm 2013 toàn huyện có 1 bệnh viện cấp huyện với 90 giường bệnh,
2 phòng khám đa khoa khu vực và 20 trạm y tế xã, phường với tổng giường bệnh là
105 giường Đội ngũ cán bộ y tế toàn ngành có 255 người gồm có 54 bác sĩ, 72 y sĩ, 70
y tá, 59 hộ sinh…các phòng khám đa khoa khu vực, các trạm y tế xã, thị trấn đangtừng bước được nâng cấp và ngày càng phục vụ tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh chonhân dân trong huyện
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38- Các hoạt động văn hóa, thông tin và thể dục thể thao: đến nay đã có gần
100% làng, thôn, cơ quan, trường học đăng kí đời sống văn hóa, trong đó có 50% đơn
vị được công nhận đạt chuẩn văn hóa, mạng lưới phát thanh được đầu tư mở rộng, phủsống ở 100% xã Điện thoại đến được tất cả các xã trong huyện
2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Thực trạng kinh tế-xã hội, các nguồn lực của địa phương và đặc điểm về điềukiện tự nhiên của huyện, chúng ta có thể thấy được những lợi thế và hạn chế của huyện
sẽ tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đó là:
Về lợi thế
- Huyện Phú Vang có quốc lộ 49, tỉnh lộ 10A, 10B, 10C và các tuyến trụcngang nối các tỉnh lộ với quốc lộ tạo thành một hệ thống đương giao thông thủy bộhợp lí, thuận lợi cho giao lưu trong nội bộ huyện và với bên ngoài Đây là điều kiện tốt
để thúc đẩy, phát triển buôn bán hàng hóa với các vùng trong nước
- Có nguồn tài nguyên biển, ven biển và đầm phá khá lớn tạo điều kiện thuậnlợi cho đầu tư phát triển các ngành kinh tế biển; đặc biệt là các ngành nghề chế biếnthủy hải sản, thực phẩm; nuôi trồng đánh bắt thủy sản làm nguồn nguyên liệu phục vụcác ngành công nghiệp chế biến
- Có bãi biển Thuận An nổi tiếng và đầm phá Tam Giang rộng lớn thuận lợicho việc tổ chức các loại hình du lịch biển, du lịch sinh thái và du thuyền câu cá trên
đầm phá, ngoài ra còn một số di tích lịch sử khác như nhà lưu niệm của Chủ tịch HồChí Minh, nhà lưu niệm Nguyễn Chí Thanh, các đình làng Dương Nỗ, An Truyền,…sẽ
trở thành các điểm trong tua du lịch tỉnh Đây sẽ là tiền đề cho việc phát triển cácngành nghề thủ công mỹ nghệ sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN) phục vụ du lịch
- Có một số tài nguyên khoáng sản có giá trị như khoáng titan ven biển, các thạch
anh và các điểm nước khoáng nóng có thể phục vụ ngâm tắm, chữa bệnh cho du khách
- Cảng biển Thuận An có thể đón nhận các tàu có trọng tải dưới 2000 tấn vàcác tàu du lịch đến Thừa Thiên Huế Cảng cá Thuận An làm nơi neo đậu và cập bến
cho các tàu đánh bắt thủy hải sản thuận lợi
- Nguồn nhân lực dồi dào là lượng lao động sẵn có để khai thác tiềm năngnông lâm nghiệp và các ngành khác
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39TVới những tiềm năng đó, Phú Vang có cơ sở và điều kiện để phát triển kinh tếnông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.
Về hạn chế
- Xuất phát điểm cho quá trình kinh tế-xã hội của huyện nói chung và sản xuấtcông nghiệp -TTCN nói riêng còn ở mức thấp so với mức bình quân toàn tỉnh, ở nông
thôn đại đa số kinh tế còn phát triển tự nhiên (tự cung tự cấp), không có tích lũy để dân
cư mở rộng phát triển sản xuất, nâng cao đời sống
- Điều kiện giao lưu giữa các vùng còn khó khăn do bị chia cắt bởi hệ thốngđầm phá, sông ngòi và các cồn cát dài
- Cơ sở hạ tầng yếu kém, đặc biệt là các xã ven biển
- Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm còn cao, khả năng tạo việc làm cho người
lao động của công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp nói riêng và cac ngành khác nói chung
còn hạn chế, trình độ dân trí thấp và không đồng điệu giữa các vùng
- Đội ngũ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đa số trình độ vẫn
hạn chế và hoạt động bán chuyên trách
- Lao động tuy dồi dào nhưng lại thiếu lực lượng lao động có tay nghề, có
trình độ chuyên môn kĩ thuật Lực lượng cán bộ quản lí, doanh nhân giỏi còn quá ít
- Các biện pháp để đẩy mạnh phát triển kinh tế chưa được cụ thể nên hiệu quả
đạt được chưa cao
2.2 Những thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế hộ nông dân theo
hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
2.2.1 Nh ững thành tựu cơ bản
2.2.1.1 Các y ếu tố sản xuất của hộ nông dân
Lao động
Lao động trong nông nghiệp nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với
sự phát triển bền vững của kinh tế nông nghiệp nói riêng và của kinh tế xã hội nóichung Bởi vì nông thôn có vai trò và vị trí hàng đầu trong giai đoạn đầu của quá trìnhcông nghiệp hóa hiện đại hóa nước ta Nguồn lao động nông thôn rất phong phú chiếmgần 70% tổng số lao động xã hội Với lực lượng lao động đông đảo như vậy lao động
nông thôn đóng vai trò quyết định đối với kinh tế nông thôn, họ là những người làm ra
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40của cải vật chất cho khu vực nông nghiệp, đồng thời cũng là những người tạo nên sứcmạnh để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp nước ta Không những thế lao độngcòn là yếu tố quyết định trực tiếp đến kết quả sử dụng các yếu tố sản xuất trong quátrình lao động đạt hiệu quả sản xuất cao của nông hộ Đây là nhân tố đầu vào ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và sử dụng các yếu tố đầu vào khác Do vậy,
việc bố trí và sử dụng lao động hợp lý trong nông hộ là một vấn đề đáng quan tâm Chỉ
tiêu lao động đánh giá việc đảm nhiệm giá trị sản xuất nông nghiệp của hộ và là tiêuchí đánh giá khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương
- Về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật: Cùng với sự ảnh hưởngcủa số bình quân lao động/ hộ thì trình độ văn hóa, chuyên môn kĩ thuật cũng ảnh
hưởng rất lớn đến khả năng sản xuất của hộ Kết quả điều tra ở bảng 2.1 cho thấy có sự
khác biệt về trình độ văn hóa, chuyên môn của lực lượng lao động ở hai nhóm hộ
+ Đối với nhóm hộ sản xuất tự cấp, trình độ văn hóa của chủ hộ là tiểu học
chiếm 30%, THCS chiếm 40% và THPT chiếm 30% Về trình độ chuyên môn, đa sốcác chủ hộ ở nhóm này đều không có trình độ chuyên môn chiếm tới 80%, chỉ 14 % cótrình độ trung cấp, 4% có trình độ trung học chuyên nghiệp và 2% có trình độ CĐ-ĐHtrở lên Nhìn chung trình độ văn hóa, chuyên môn của lực lượng lao động nhóm hộ sảnxuất tự cấp là tương đối thấp Đây là vấn đề hạn chế của nhóm hộ sản xuất tự cấp,trình độ văn hóa, chuyên môn thấp đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất thể hiện ở sựhiểu biết, sự tiếp cận tiến bộ KH-KT, tiếp cận thị trường của chủ hộ
+ Trong khi đó đối với nhóm hộ sản xuất hàng hóa, trình độ văn hóa của chủ hộcao hơn rất nhiều, chỉ có 10% chủ hộ có trình độ tiểu học và có tới 60% chủ hộ có
trình độ văn hóa THPT Ngoài ra ở nhóm hộ sản xuất hàng hóa, tỉ lệ chủ hộ có trình độchuyên môn kĩ thuật rất cao có 30% chủ hộ có trình độ sơ cấp, 40% có trình độ trunghọc chuyên nghiệp và 30% có trình độ CĐ-ĐH trở lên Đây là một sự khác biệt lớn sovới nhóm hộ sản xuất tự cấp, với trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật cao
hơn các chủ hộ nhạy bén với thông tin thị trường, giá cả và tiếp cận KH-KT tiên tiếnứng dụng vào sản xuất linh hoạt hơn
Trường Đại học Kinh tế Huế