1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An

95 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ước lượng về mức sẵn lòng chi trả của đối tượng tham gia phỏng vấn về giá trị bảo tồn của loài Vượn đen má trắng .... - Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng để các nhà chính sách sẽ có c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VĂ PHÂT TRIỂN



-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

GIAÙ TRÒ BẠO TOĂN LOAØI VÖÔÏN

ÑEN MAÙ TRAĨNG (NOMASCUS LEUCOGENYS) ÔÛ VÖÔØN QUOÂC GIA

PUØ MAÙT, TƯNH NGHEÔ AN

Sinh viên thực hiện: Giáo

Trang 2

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

Lời Cảm Ơn

Qua quá trình cố gắng tìm hiểu thông tin, điều tra khảo sát và xử lí tổng hợp số liệu một cách khách quan, cuối cùng

đề tài khóa luận "Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng

(Nomascus Leucogenys) ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An" cũng đã hoàn thành Để hoàn thành đề tài này, bên cạnh

sự cố gắng nổ lực của bản thân, Tôi còn nhận được rất nhiều

sự giúp đỡ, động viên và góp ý từ nhiều phía Vì vậy, Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến những người đã đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy cô Trường Đại học Kinh tế Huế, đặc biệt là PGS.TS Bùi Dũng Thể - người

đã tận tính truyền đạt, hướng dẫn và đóng góp ý kiến, chia sẽ cho tôi những kinh nghiệm vô cùng quý báu trong quá trình thực hiện đề tài.

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể anh chị em, nhân viên trong Vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình này.

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu, kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những sai sót Kính mong quý thầy cô và các bạn đóng góp để đề tài hoàn thiện nhất.

Tôi xin cảm ơn!

Huế, tháng 5 năm 2014

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thủy

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ ix

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TÓM TẮT NGHIÊN CỨU x

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU xi

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC xiii

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

4.1 Phương pháp chọn mẫu 3

4.2 Phương pháp thu thập số liệu 3

4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 3

4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 5

4.3 Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) 5

4.4 Phương pháp phân tích thống kê 5

4.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 5

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LOÀI VƯỢN ĐEN MÁ TRẮNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ NGẪU NHIÊN (CVM) 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Loài Vượn đen má trắng 6

1.1.1.1 Đặc điểm phân bố và những mô tả vật lý 6

1.1.1.2 Tập quán sinh sống của loài 7

1.1.1.3 Tình trạng bảo tồn loài Vượn đen má trắng 9

1.1.2 Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) 10

1.1.2.1 Khái quát về phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) 10

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

1.1.2.2 Cơ sở lý thuyết và cách thu thập WTP 12

1.1.2.3 Các bước tiến hành CVM 13

1.1.2.4 Ưu điểm và hạn chế của CVM 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

1.2.1 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) trong định giá tài nguyên môi trường trên Thế giới [6] 19

1.2.2 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) trong định giá tài nguyên môi trường ở Việt Nam [4] 21

CHƯƠNG 2: ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ BẢO TỒN LOÀI VƯỢN ĐEN MÁ TRẮNG (NOMASCUS LEUCOGENYS) Ở VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN 24

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24

2.1.1.1 Vị trí địa lý 24

2.1.1.2 Đặc điểm địa hình và sông ngòi, thác nước 25

2.1.1.3 Khí hậu 26

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 26

2.1.2.1 Dân cư 26

2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế 27

2.2 Định giá giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An 28

2.2.1 Thiết lập tình huống giả định – Thiết kế bảng hỏi và các bước tiến hành điều tra 28

2.2.1.1 Thiết lập tình huống giả định 28

2.2.1.2 Thiết kế bảng hỏi và các bước tiến hành điều tra 29

2.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của đối tượng phỏng vấn 30

2.2.2.1 Độ tuổi, giới tính, dân tộc và trình độ học vấn 30

2.2.2.2 Nghề nghiệp và xếp hạng kinh tế hộ 32

2.2.3 Hiểu biết của đối tượng tham gia phỏng vấn về loài Vượn đen má trắng 34

2.2.3.1 Khả năng nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng hót của loài 34

2.2.3.2 Đánh giá về sự biến thiên số lượng loài trong vòng 10 năm qua 35

2.2.3.3 Đánh giá tầm quan trọng của việc bảo tồn loài 38

2.2.4 Ước lượng về mức sẵn lòng chi trả của đối tượng tham gia phỏng vấn về giá trị bảo tồn của loài Vượn đen má trắng 39

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

2.2.4.1 Ước lượng WTP về giá trị bảo tồn của loài Vượn đen má trắng 39

2.2.4.2 Điều chỉnh WTP loại bỏ đối tượng không sẵn lòng trả 44

2.2.4.3 Tổ chức thực hiện hoạt động bảo tồn loài Vượn đen má trắng 46

2.3 Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn loài Vượn đen má trắng ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An 47

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN LOÀI VƯỢN ĐEN MÁ TRẮNG (NOMASCUS LEUCOGENYS) Ở VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN 50

3.1 Định hướng kế hoạch hành động bảo tồn loài Vượn đen má trắng ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An 50

3.1.1 Thiết lập chương trình giám sát hoạt động của loài 50

3.1.2 Tham quan học tập bảo tồn loài ở các Vườn quốc gia trong nước 50

3.1.3 Tăng cường ngăn chặn xâm phạm trái phép của con người vào khu vực có sự tồn tại của loài 50

3.1.4 Tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn các loài Linh Trưởng 51

3.1.5 Kế hoạch thời gian và các hoạt động bảo tồn linh trưởng 51

3.2 Giải pháp 52

3.2.1 Đào tạo nghiệp vụ trong công tác bảo tồn loài cho cán bộ 53

3.1.2 Phát triển du lịch sinh thái và giáo dục bảo tồn 54

3.1.3 Đầu tư bảo vệ khu vực dành cho công tác bảo tồn 54

3.1.4 Đầu tư hoạt động quan trắc và giám sát hành động của loài 55

3.1.5 Phục hồi và bảo vệ môi trường sống của loài 56

3.1.6 Xây dựng mô hình “đồng quản lý” trong công tác bảo tồn loài 57

3.1.7 Hỗ trợ chính sách cho người dân 58

3.1.8 Khoanh nuôi, bảo vệ và phục hồi rừng 58

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

1 Kết luận 60

2 Kiến nghị 61

2.1 Đối với phòng TNMT huyện Con Cuông 61

2.2 Đối với VQG Pù Mát 61

2.3 Đối với người dân địa phương 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 65

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

- IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources):

Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên

- DD : Thiếu số liệu xếp hạng

- PGS : Phó giáo sư

- IB : Nghiêm cấm khai thác

- SWOT : Ma trận thế mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

- CVM (Contingent Valuation Method): Định giá ngẫu nhiên

- ĐVT : Đơn vị tính

- WTP (Willingness To Pay): Mức sẵn lòng chi trả

- WTA (Willingness To Accept): Mức sẵn lòng chấp nhận

- VQG : Vườn quốc gia

- THCS : Trung học cơ sở

- THPT : Trung học phổ thông

- SXNN : Sản xuất nông nghiệp

- CNVC : Công nhân viên chức

- TNMT : Tài nguyên môi trường

- NCKH – HTQT : Nghiên cứu khoa học – Hợp tác quốc tế

- KBT : Khu bảo tồn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

Biểu đồ 2.1: Thể hiện giới tính của đối tượng phỏng vấn (ĐVT: %) 31

Biểu đồ 2.2: Thể hiện độ tuổi của đối tượng phỏng vấn (ĐVT: %) 31

Biểu đồ 2.3: Thể hiện trình độ học vấn của đối tượng phỏng vấn (ĐVT: %) 32

Biểu đồ 2.4 Thể hiện tỷ lệ nhìn thấy hoặc nghe về loài VĐMT (ĐVT: %) 35

Biểu đồ 2.5 Thể hiện mức độ đánh giá tầm quan trọng của việc bảo tồn loài (ĐVT: %) 38

Biểu đồ 2.6 Thể hiện sự sẵn lòng chi trả cho việc bảo tồn loài VĐNT (ĐVT: %) 40

Biểu đồ 2.7 Thể hiện sự tin tưởng vào tổ chức thực hiện bảo tồn của đối tượng tham gia phỏng vấn (ĐVT: %) 46

Hình 2.1 Vị trí địa lý Vườn Quốc Gia Pù Mát 25

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các bước nghiên cứu của đề tài 4

Bảng 2.1 Các tính năng sinh sản của loài Vượn đen má trắng 8

Bảng 2.2 Trình tự tiến hành phương pháp CVM 19

Bảng 2.3 Mức giá trung bình WTP 20

Bảng 2.4 Số liệu tính toán mức giá thu tiền quỹ hỗ trợ khu bảo tồn Houay Nhang theo kế hoạch 5 năm 21

Bảng 2.5 Tổng mức sẵn lòng chi trả của du khách 22

Bảng 2.6 Đặc điểm chung của đối tượng điều tra 30

Bảng 2.7 Thống kê mô tả đặc điểm kinh tế - xã hội của đối tượng được phỏng vấn 33

Bảng 2.8 Đánh giá mức độ quan trọng của các nguyên nhân gây suy giảm loài 36

Bảng 2.9 Thống kê mô tả giá trị WTP của đối tượng tham gia phỏng vấn 41

Bảng 2.10 Số liệu tính toán mức giá chi trả cho hoạt động bảo tồn loài VĐMT theo kế hoạch 20 năm 42

Bảng 2.11 Kết quả hồi quy biến phụ thuộc WTP 43

Bảng 2.12 Lý do không sẵn lòng trả của đối tượng tham gia phỏng vấn 45

Bảng 2.13 Thống kê mô tả mức sẵn lòng trả điều chỉnh của đối tượng tham gia phỏng vấn 45

Bảng 2.14 Số liệu tính toán mức giá chi trả đã điều chỉnh cho hoạt động bảo tồn loài VĐMT theo kế hoạch 20 năm 46

Bảng 2.15 Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn loài VĐMT ở VQG Pù Mát 47

Bảng 2.16 Lịch trình hoạt động 52

Bảng 2.17 Đánh giá mức độ quan trọng của các mục đích sử dụng nguồn kinh phí trong công tác bảo tồn loài VĐMT 53

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tính cấp thiết của đề tài

Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) là loài thú có giá trị kinh tế caonhư làm thực phẩm, làm thuốc, cho da lông nên trong nhiều thập kỷ qua, chúng

luôn bị săn bắt ráo riết để tiêu dùng và buôn bán, dẫn đến số lượng bị suy giảm

nhanh chóng Ngoài ra, nơi sống của vượn đen má trắng đang bị tàn phá nhiều hoặc

bị tác động làm cho suy thoái nghiêm trọng, khiến cho chúng không còn nhiều nơisinh sống thích hợp Kết quả là cùng với nhiều loài thú linh trưởng khác, loài Vượn

đen má trắng hiện nay đang đứng trước nguy cơ diệt vong Sách đỏ Việt Nam(2007) đã xếp vượn đen má trắng vào bậc nguy cấp (EN), Danh lục đỏ của IUCNnăm 2010 xếp vượn đen má trắng vào bậc DD do thiếu số liệu để xếp hạng

Trước đây, loài vượn đen má trắng thường sống ở Trung Quốc, Lào và Việt

Nam Tuy nhiên, các nhà khoa học khẳng định quần thể Vượn đen má trắng vừa

được phát hiện tại Vườn quốc gia Pù Mát của Việt Nam là quần thể duy nhất còn

sót lại của loài động vật này trên thế giới Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta, các tổchức cơ quan trong và ngoài nước cũng đang tích cực tìm kiếm các giải pháp nhằm

tránh nguy cơ bị tuyệt chủng, trong đó giải pháp định giá giá trị bảo tồn loài được

xem là một trong những giải pháp mang lại hiệu quả tối ưu trong bối cảnh bảo tồnloài trong nền kinh tế thị trường như hiện nay Và đó là lý do Tôi lựa chọn đề tài:

Gia Pù Mát, t ỉnh Nghệ An” để nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu

- Giới thiệu đặc điểm của loài Vượn đen má trắng và tầm quan trọng của nó

- Ước lượng giá trị bảo tồn bằng tiền của Vượn đen má trắng

- Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn loài Vượn đen mátrắng để từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để bảo tồn loài Vượn đen má trắngmột cách có hiệu quả

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

Dữ liệu phục vụ nghiên cứu

- Thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan tới vấn đề sau: các giá trị bảo tồn loài

Vượn đen má trắng ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An

- Số liệu điều tra phỏng vấn từ 110 hộ gia đình của 3 bản Làng Xiềng, Thái

Sơn, Cò Phạt thuộc xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, Nghệ An

- Những số liệu liên quan thông qua cán bộ ban quản lý vườn quốc gia Pù Mát

- Tìm hiểu thông qua sách báo, truyền hình, mạng internet

- Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM)

- Phương pháp phân tích thống kê

- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

- Vượn đen má trắng là loài có giá trị kinh tế cao nên luôn bị săn bắn ráo riết

và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Vì vậy cần thiết phải tiến hành định giá

giá trị bảo tồn nhằm tạo nguồn kinh phí thực hiện chương trình bảo tồn loài Vượn

đen má trắng này

- Nghiên cứu đã tính toán được mức sẵn lòng chi trả trung bình trong vòng 20

năm của mẫu nghiên cứu là 337.614 đồng/năm/hộ (bao gồm cả những người không sẵn

lòng trả), 395.698 đồng/năm/hộ (không bao gồm những người không sẵn lòng trả)

- Như vậy, với sự đóng góp của 518 hộ gia đình thuộc 3 bản Làng Xiềng, Thái

Sơn, Cò Phạt thì giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng ở Vườn Quốc gia Pù Mát là

3,497 tỷ đồng (chưa điều chỉnh) và 4,099 tỷ đồng (đã điều chỉnh) Và VQG Pù Mát là tổchức chịu trách nhiệm đứng ra thu phí và thực hiện chương trình bảo tồn loài Vượn đen

má trắng này với 81,8% sự tin tưởng và kỳ vọng của người dân

- Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng để các nhà chính sách sẽ có cơ sở để

đầu tư việc bảo tồn Vượn đen má trắng một cách đúng mức như: phục hồi môitrường sống của loài, tuyên truyền giáo dục môi trường, hỗ trợ chính sách chongười dân, xây dựng mô hình “đồng quản lý”, và cũng qua nghiên cứu này sẽ giúpngười dân nâng cao nhận thức để bảo vệ các loài động vật hoang dã, bảo vệ rừng

cũng như bảo vệ chính cuộc sống của họ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

1 Một số hình ảnh của loài Vượn đen má trắng và VQG Pù Mát 65

2 Phiếu điều tra 66

3 Kết quả hồi quy biến phụ thuộc WTP 72

4 Kết quả xử lý SPSS 73

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguồn tài nguyên rừng giữ vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triểncủa nhân loại Các hệ sinh thái rừng có rất nhiều thành phần tác động qua lại lẫn

nhau để duy trì sự cân bằng sinh thái Nhưng hiện nay, một số thành phần đang bị

suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Sự suy giảm này diễn ra mạnhnhất đối với những loài thú lớn, bởi chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi

trường sống, đồng thời chúng cũng là mục tiêu hàng đầu của việc săn bắn nấu cao,buôn bán động vật hoang dã và xuất khẩu

Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) là loài thú có giá trị kinh tế cao như

làm thực phẩm, làm thuốc, cho da lông nên trong nhiều thập kỷ qua, chúng luôn bị

săn bắt ráo riết để tiêu dùng và buôn bán, dẫn đến số lượng của chúng bị suy giảmnhanh chóng Ngoài ra, nơi sống của Vượn đen má trắng là các khu rừng thường xanhhay bán thường xanh có nhiều cây cao cũng đã bị tàn phá nhiều hoặc bị tác động làm

cho suy thoái nghiêm trọng, khiến cho chúng không còn nhiều nơi sinh sống thích hợp.Kết quả là cùng với nhiều loài thú linh trưởng khác, loài Vượn đen má trắng hiện nay

đang đứng trước nguy cơ diệt vong Sách đỏ Việt Nam (2007) đã xếp Vượn đen má

trắng vào bậc nguy cấp (EN) [9], Danh lục đỏ của IUCN năm 2010 xếp Vượn đen mátrắng vào bậc DD do thiếu số liệu để xếp hạng Trước đây, loài Vượn đen má trắng

thường sống ở Trung Quốc, Lào và Việt Nam Tuy nhiên, các nhà khoa học khẳng định

quần thể vượn đen má trắng vừa được phát hiện tại Vườn quốc gia Pù Mát của ViệtNam là quần thể duy nhất còn sót lại của loài động vật này trên thế giới [8] Theo đánhgiá của cố PGS Phạm Nhật (2002), ở Việt Nam chỉ còn khoảng 450 – 500 cá thể củaphân loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) và số lượng của phân loài siki(Nomascus leucogenys siki) cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng Nhằm bảo vệ loàithú quí hiếm này, Nghị định Chính phủ số 36/2006/NĐCP, ngày 30/3/2006 đã xếpVượn đen má trắng vào nhóm IB (nghiêm cấm khai thác sử dụng) [3] Đảng, Nhà nước

ta và các tổ chức cơ quan trong và ngoài nước cũng đang tích cực tìm kiếm các giảipháp nhằm tránh nguy cơ bị tuyệt chủng, trong đó giải pháp định giá giá trị bảo tồn loài

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

được xem là một trong những giải pháp mang lại hiệu quả tối ưu trong bối cảnh bảo tồn

loài trong nền kinh tế thị trường như hiện nay

Liệu việc định giá giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng có góp phần cho sự

đánh giá đúng tầm quan trọng của việc duy trì, bảo vệ loài động vật quý hiếm này

không? Quá trình định giá như thế nào? Kết quả ra sao? Và việc lượng giá giá trị bảotồn loài Vượn đen má trắng có phải là giải pháp tối ưu để các nhà hoạch định chínhsách ra những chính sách đầu tư bảo tồn hợp lý không? Để trả lời cho những câu hỏi

trên, đồng thời cũng là để tìm hiểu rõ hơn về giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng,

Tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Giá tr ị bảo tồn loài Vượn đen má trắng

(Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu.

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Hệ thống hóa các vấn đề về lý luận và thực tiễn về phương pháp định giá ngẫunhiên (CVM) và giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng ở vườn quốc gia Pù Mát,tỉnh Nghệ An

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn loài Vượn đen má trắng

- Ước lượng giá trị bằng tiền của loài Vượn đen má trắng

- Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn loài Vượn đen mátrắng để từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để bảo tồn loài Vượn đen má trắngmột cách có hiệu quả

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến việc định giá giá trị bảo tồn

của loài Vượn đen má trắng ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An

Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn loài Vượn

đen má trắng ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An

Trang 16

Không gian nghiên cứu:

- Nghiên cứu thực địa tại Vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An

- Nghiên cứu chọn mẫu điều tra là 3 thôn (bản) Làng Xiềng, Thái Sơn và CòPhạt thuộc xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 3tháng, từ ngày 10/02/2014 đến ngày 17/05/2014

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn các

hộ gia đình vào mẫu điều tra phỏng vấn phục vụ cho nghiên cứu Quy trình chọnmẫu như sau:

Bước 1: Xây dựng bản danh sách hộ gia đình của 3 thôn (bản) Làng Xiềng,Thái Sơn, Cò Phạt bao gồm 518 hộ gia đình

Bước 2: Sắp xếp danh sách hộ từ A – Z và đánh số thứ tự, bắt đầu từ 1.

Bước 3: Với khoảng cách mẫu k = 5, lựa chọn được số mẫu nghiên cứu theo

công thức sau: n = N/k, suy ra mẫu điều tra cần tính toán là 110 mẫu.

Bước 4: Hộ đầu tiên được chọn tham gia phỏng vấn là hộ có số thứ tự trùng

với số ngẫu nhiên của đơn vị mẫu Hộ thứ 2 được chọn là hộ có số thứ tự trùng với

số thứ tự của hộ đầu tiên cộng với k Quy trình này được lặp lại cho tới khi chọn đủ

110 hộ tham gia phỏng vấn

4.2 Phương pháp thu thập số liệu

4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo bảngcâu hỏi

Nghiên cứu được tiến hành thông qua 3 bước như sau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

Bảng 1.1 Các bước nghiên cứu của đề tài

1 Nghiên cứu sơ bộ Định tính Phỏng vấn bằng bảng hỏi định

phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi 30 hộ ngẫu nhiên của 3 thôn (bản) Làng Xiềng,

Thái Sơn và Cò Phạt thuộc xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Nội

dung của cuộc phỏng vấn xoay quanh đề tài nghiên cứu: “Giá tr ị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”.

Bám sát với cơ sở lí thuyết và thực tiễn của đề tài nghiên cứu, mục đích của cuộcphỏng vấn nhằm khảo sát, tìm kiếm những thông tin cần thiết tạo tiền đề cho việcthiết kế bảng hỏi định lượng trong điều tra thử nghiệm

Bước 2: Sau khi hoàn thành bảng hỏi nghiên cứu thử nghiệm, tiến hành nghiên cứu

thử nghiệm bằng phương pháp định lượng Áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp,phỏng vấn 30 người thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài Sau đó, tiến hành chỉnh sửa,khắc phục những hạn chế của bảng hỏi nhằm hoàn thiện bảng hỏi định lượng cho lần

điều tra chính thức Bên cạnh đó, cũng xác định được kích cỡ mẫu cho đề tài

Bước 3: Sau khi bảng hỏi đã được hoàn thiện, tiến hành nghiên cứu chính thức

với cỡ mẫu được xác định ở bước 2

Thiết kế nghiên cứu được tiến hành theo 3 bước Mỗi bước trong tiến trìnhnghiên cứu đều rất quan trọng Cả 3 bước đều có mối quan hệ mật thiết và gắn kếtchặt chẽ với nhau Vì vậy, nghiên cứu cần phải được tiến hành đúng theo trình tự để

đạt được mục tiêu đã đề ra

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan tới vấn đề sau: các giá trị bảo tồn loài

Vượn đen má trắng ở vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An

- Những số liệu liên quan thông qua cán bộ ban quản lý vườn quốc gia Pù Mát

- Tìm hiểu thông qua sách báo, truyền hình, mạng internet

4.3 Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM)

Phương pháp này sẽ được trình bày cụ thể trong phần cơ sở lý luận của đề tài

nghiên cứu

4.4 Phương pháp phân tích thống kê

Dựa vào những số liệu điều tra, tiến hành thống kê những chỉ tiêu Qua đó,

phân tích được số liệu thống kê, trên cơ sở đó có cái nhìn tổng quát và khách quanhơn trong vấn đề nghiên cứu

4.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

- Xử lý số liệu bằng Excel, phần mềm SPSS

- Tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được từ các phương pháp trên

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LOÀI VƯỢN ĐEN MÁ TRẮNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ NGẪU NHIÊN (CVM)

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Loài Vượn đen má trắng

1.1.1.1 Đặc điểm phân bố và những mô tả vật lý

Đặc điểm phân bố

Nomascus leucogenys hay còn được gọi là Vượn đen má trắng Loài này chỉ

được tìm thấy ở khu vực Đông Nam Á Phân bố chủ yếu ở Lào, Việt Nam và miền

Nam Trung Quốc trong những khu rừng mưa nhiệt đới thường xanh và rừng giómùa Ở Việt Nam, Leucogenys Nomascus được tìm thấy ở phía tây nam của Sông

Mã và Sông Bồ Một họ của chúng có tên là Nomascus concolor (Vượn đen), đượctìm thấy phía đông bắc của Sông Mã và phía đông bắc của Sông Bồ Sự tách biệt

địa lý là điểm rất quan trọng để phân biệt hai loài vượn vì N.Leucogenys và

N.Concolor rất giống nhau về ngoại hình [5]

Loài Vượn đen má trắng này sống theo bầy đàn trong phạm vi lãnh thổ khoảng

0,3 – 0,4 km2 và di chuyển khoảng 1,6 km mỗi ngày trong phạm vi lãnh thổ đó.Chúng tách nhóm và sinh sống theo phạm vi lãnh thổ của nhóm chiếm 3/4 lãnh thổcủa quẩn thể Mỗi nhóm có những cách thức bảo vệ lãnh thổ riêng, mỗi khi có sựxâm phạm lãnh thổ sẽ xảy ra các cuộc xung đột về ranh giới, các cuộc đối đầu vượtqua ranh giới và hiếm khi có sự xung đột giữa các cá thể đực Vượn đen má trắng

thường sống trên cây và dành phần lớn thời gian của chúng trong tán Chúng hiếm

khi xuất hiện ở trên mặt đất trong thời gian dài Khoảng thời gian hiếm hoi khichúng xuất hiện trên mặt đất chúng dành hết thời gian để vui đùa giữa các cá thể vànhào lộn, vật lộn trên cỏ của các con non

Mô t ả vật lý

Một đặc điểm điển hình khác với các loài vượn trong tự nhiên của Vượn đen

má trắng là chúng không có sự khác biệt về chiều cao cân nặng giữa 2 giống đực và

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

cái Cụ thể, chiều cao trung bình của chúng là 47 – 64 cm và cân nặng khoảng 7 – 9

kg Trong một vài nhóm, cá thể cái nặng hơn cá thể đực một chút

Tuổi tác và giới tính được biểu hiện qua màu lông Tất cả con non khi sinh ra đều

có màu be (màu kem sữa) Khi đạt đến 1,5 – 2 tuổi, lông của con non có sự thay đổi từ

màu be sang màu đen với các mảng trắng trên má nối với nhau bằng vệt trắng dưới

cằm Ở tuổi trưởng thành (5 – 7 tuổi), con đực vẫn giữ nguyên màu lông đen với đôi

má trắng, nhưng con cái lại quay trở lại màu be hoặc vàng sẫm và dần mất đi mảngtrắng hai bên má, lông quanh mặt tủn ngang, đỉnh đầu có màu xám hoặc tua đen [9] Cảhai giống đều có răng nanh giống như con dao găm dài Như tất cả các loài vượn,

Vượn đen má trắng không có đuôi Cơ thể của N leucogenys nhỏ và có một tư thế khá

thẳng đứng với hai chân trước đặc biệt dài hơn hai chân sau, hơn nữa, bàn tay có dạngmóc hình, tạo điều kiện để nắm giữ thức ăn và các nhánh cây dễ dàng hơn, thuận tiệnkhi di chuyển trên tán Cơ thể của chúng được tiến hóa cho một lối sống trên cây

1.1.1.2 Tập quán sinh sống của loài

Cơ cấu xã hội

Giống như tất cả các loài vượn, Vượn đen má trắng sống theo chế độ gia đìnhmột vợ một chồng nhỏ bao gồm một cặp bố mẹ và có thể sinh sản lên đến bốn con.Con non sống trên người mẹ cho tới khoảng 2,5 – 3 tuổi có thể sống độc lập cho

đến tuổi trưởng thành và bắt đầu tách nhóm gia đình khi đạt thời gian là 8 tuổi

Vượn đen má trắng là một trong số ít loài khi con cái trưởng thành là động vật

chiếm ưu thế trong nhóm Hệ thống phân cấp mẫu hệ, tiếp theo đặt vị trí con cái củamình trước con đực và cuối cùng là người cha

T ập quán ăn uống

Vượn đen má trắng đặc biệt thích ăn các loại trái cây Không giống như các loàilinh trưởng khác dành một nửa số thời gian trong ngày để tìm kiếm thức ăn và nửa thời

gian còn lại thì ngủ say, Vượn đen má trắng lại tìm kiếm thức ăn trong suốt cả ngày.Sáng sớm, chúng đã tìm kiếm thức ăn trên tán cao Khi mặt trời bắt đầu lên đỉnh đầu,chúng rút xuống tầng tán thấp hơn Cùng với trái cây, Vượn đen má trắng cũng ăn lá,hoa, và côn trùng Các loại thực phẩm mà chúng ăn thường phụ thuộc vào lượng mưa.Khi có rất nhiều mưa, trái cây dồi dào và chúng không cần phải đi xa để tìm thức ăn

Ngược lại, chúng phải di chuyển với khoảng cách xa để tìm thức ăn khi có lượng mưa ít

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

Giao ti ếp và nhận thức

Vượn đen má trắng truyền tín hiệu giao tiếp bằng cách phát âm thanh Chúng

cũng sử dụng âm thanh để gây sự chú ý của đối phương trong giao phối Hình thức

cơ bản của một cuộc giao tiếp là cả con đực và con cái đều cùng hát (hót), tiếp theo

là trình tự luân phiên các tiếng hát giữa con đực và của con cái, thường tiếng hát của

vượn cái rất tuyệt vời và kết thúc cuộc giao tiếp là tiếng hát của con đực Các cuộc

giao tiếp như thế này thường đi kèm với những màn nhào lộn trên tán cây rất lãoluyện Vượn đen má trắng dành nhiều thời gian của chúng cho chải chuốt và chơi

Người ta thường lần theo nghe tiếng hát của Vượn đen má trắng để xác định quần

thể của chúng, đồng thời cũng là cơ sở để phân biệt chúng với các loài cùng họ khác

Sinh s ản và phát triển

Bảng 2.1 Các tính năng sinh sản của loài Vượn đen má trắng

(ĐVT: Thời gian)

Thời gian mang thai trung bình 7 tháng

Số lượng con sinh ra trong một lần mang thai 1 con

Khoảng cách cho mỗi lứa sinh sản 2 – 3 năm

Thời gian cai sữa trung bình 24 tháng

Phạm vi, thời gian con non độc lập tự chủ 3 – 8 năm

Thời gian trung bình để con trưởng thành độc lập 6 năm

Phạm vi độ tuổi sinh sản ở cả con đực và con cái 5 – 8 năm

(Nguồn: “Vườn thú Quốc gia Smithsonian ", xuất bản 2006).

Mỗi chu kỳ của con cái thường là 28 ngày, tại thời điểm này chúng có màu mỡ vàsẵn sàng giao phối Thời gian mang thai của chúng là bảy tháng Vượn đen má trắng

cho ra đời một đứa con duy nhất mỗi hai hoặc ba năm Con non bám vào mẹ từ khisinh ra Chúng thường được bám theo chiều ngang trên bụng của mẹ Điều này cho

phép các bà mẹ ngồi với đầu gối lên như hầu hết các loài vượn làm Con non lớn hơn

định hướng theo chiều dọc trên bụng Chúng được cai sữa sớm trong năm thứ hai sau

khi sinh Một khi con đạt được đầy đủ sự trưởng thành chúng thường rời khỏi nhóm gia

đình và tìm kiếm một lãnh thổ và người bạn đời của riêng cho mình

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

Vai trò sinh thái

Vượn đen má trắng được biết đến với việc gieo hạt giống tuyệt vời bởi vìchúng ăn trái cây, được xem là phân tán hạt giống nhanh nhất Chúng nhả hạt khi ăn

và có thể là khi chúng bài tiết

1.1.1.3 Tình trạng bảo tồn loài Vượn đen má trắng

Giá tr ị kinh tế của loài

Vượn đen má trắng là loài động vật có kích thước tương đối nhưng việc nhìn

thấy nó trong tự nhiên là rất hiếm

Chúng có giá trị kinh tế cao như làm thực phẩm, làm thuốc, cho da lông nênmột số người đã săn bắn chúng để lấy thịt làm thực phẩm, lấy xương nấu cao làmthuốc, lấy lông bán, bên cạnh đó người ta còn trao đổi, buôn bán, xuất khẩu chúng

để làm vật nuôi và làm cảnh

Các m ối đe dọa

Các mối đe dọa chính đối với Vượn đen má trắng là phá rừng, do đó, kẻ thùchính của chúng chính là con người Điều đó cũng đã được ghi nhận rằng ở BắcViệt Nam, nạn chặt phá rừng đã làm mất đi môi trường sinh sống của chúng và dần

đánh mất loài Như đã đề cập, Vượn đen má trắng là loài thú có giá trị kinh tế cao

nên việc săn bắt ráo riết loài này thường xuyên xảy ra không chỉ khi bị các thợ sănbắt gặp rồi bắn hạ mà chúng còn bị người ta săn lùng để săn bắt Ngoài ra, môi

trường sống của chúng là trên các tán cây cao, vì vậy chúng dễ dàng làm mồi cho

các loài chim lớn như đại bàng, cú… và các động vật ăn thịt trên cây Loài vượnnày rất nhanh nhẹn và duy trì cảnh giác ở mức độ cao, điều đó giúp chúng tránh

trắng) đang bị đe dọa do nạn phá rừng, khai thác gỗ, săn bắn và các hoạt động quân

sự Vì vậy, việc định giá giá trị bảo tồn của loài Vượn đen má trắng có ý nghĩa hếtsức quan trọng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

Thứ nhất, qua việc điều tra đánh giá tổng hợp các giá trị của loài Vượn đen mátrắng sẽ giúp người dân địa phương có nhận thức về tầm quan trọng của chúng từ

đó phần nào có thể thay đổi hành động của mình hay góp phần bảo vệ loài động vật

quý hiếm này

Thứ hai, việc xác định giá trị kinh tế của loài Vượn đen má trắng sẽ xác định

được giá trị thực bằng tiền của loài động vật này, từ đó có thể góp phần xác định

các mức phạt hay đền bù khi cá nhân hay tổ chức có vi phạm đến sự sống của loài

Vượn đen má trắng

Thứ ba, xác định giá trị kinh tế của việc bảo tồn Vượn đen má trắng và biết

được mức độ quan trọng của nó sẽ giúp cho các nhà chính sách có các biện pháp vàchính sách đầu tư thích hợp để bảo tồn loại động vật này, cũng như đầu tư cho khu

vực có loài động vật này sinh sống

1.1.2 Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM)

1.1.2.1 Khái quát về phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM)

Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM -Contingent Valuation Method)thườngđược sử dụng để ước lượng giá trị kinh tế cho tất cả các loại hệ sinh thái và dịch vụ môitrường Nó sử dụng để ước lượng cho cả giá trị sử dụng và phi sử dụng, nhưng hầu hết

nó áp dụng cho việc ước lượng giá trị phi sử dụng của một loại hàng hoá môi trường

Phương pháp CVM thực chất bỏ qua những định giá có tính xác định trước,lượng giá giá trị hàng hoá môi trường người ta phỏng vấn trực tiếp người dân một

cách ngẫu nhiên về đánh giá của họ đối với hàng hoá môi trường ở vị trí cần đánh

giá hay xem xét Trên cơ sở đó bằng thống kê xã hội học và kết quả thu được từ các

phiếu đánh giá người ta sẽ xác định hàng hoá môi trường đó [1]

Theo Katherine Balt- Ước lượng chi phí của suy thoái môi trường: “Phương pháp CVM là phương pháp xác định giá trị kinh tế của các hàng hoá và dịch vụ không mua bán trên thị trường Phương pháp này sử dụng bảng hỏi phỏng vấn để xác định giá trị của hàng hoá dịch vụ không trao đổi và do đó không có giá trên thị trường”.

Phương pháp CVM là một trong những kỹ thuật định giá thực hiện dưới sự

sắp xếp trực tiếp các giả định

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

Khi có một thay đổi trong chính sách môi trường sẽ gây một vài ảnh hưởng

đến môi trường, những phần lợi ích nhận được hay phần lợi ích bị mất đi được đưa

vào bảng câu hỏi thông qua việc điều tra mức sẵn lòng chi trả thật sự của họ khi cónhững thay đổi chính sách liên quan đến vấn đề môi trường đó Mức giá này đượckhảo sát cả đối với những người liên quan trực tiếp đến một tài sản môi trường và

cả những đối tượng không liên quan trực tiếp đến tài sản môi trường nhưng họ cónhận thức về việc bảo vệ tài sản môi trường đó

Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) là một phương pháp trực tiếp để ướclượng mức sẵn lòng chi trả CVM dựa trên ý tưởng đơn giản là nếu bạn muốn biết giá

sẵn lòng chi trả của một người cho tính chất nào đó của môi trường, bạn hãy đơn giản hỏi

họ Nói “đơn giản” nhưng cuối cùng sẽ thấy nó trở nên chẳng đơn giản chút nào mặc dù

ý tưởng ban đầu dường như rất rõ ràng Phương pháp gọi là “định giá ngẫu nhiên” bởi vì

nó cố làm người được hỏi nói họ hành động thế nào nếu họ được đặt trong một tìnhhuống giả định Nếu hàng hoá chúng ta đang xem xét là hàng hoá thị trường chúng ta chỉcần quan sát hành vi của con người trên thị trường Nhưng khi hàng hoá không có thị

trường, chẳng hạn đặc tính chất lượng môi trường, chúng ta chỉ có cách là hỏi họ chọnnhư thế nào nếu được đặt trong một tình huống nhất định, nghĩa là nếu họ được giả định

phải quyết định trong thị trường các đặc tính chất lượng môi trường đó [1]

Ngày nay, nghiên cứu định giá ngẫu nhiên được thực hiện cho rất nhiều yếu tố

môi trường: chất lượng không khí, giá trị cảnh quan, giá trị giải trí của bãi biển, bảo

tồn các loài động vật hoang dã, hoạt động câu cá và săn bắn, phát thải chất độc hại,bảo tồn các con sông, sẵn lòng tránh bệnh tật do ô nhiễm và nhiều loại khác

Để hiểu được bản chất của CVM thì tốt nhất là chúng ta phải xem xét kỹ nội

dung trong bảng phóng vấn Bảng phỏng vấn CVM được thiết kế để làm người

được phỏng vấn nghĩ về các đặc điểm môi trường và phát biểu giá sẵn lòng trả tối

đa cho các đặc điểm môi trường đó Bảng phỏng vấn có 3 thành phần quan trọng:

- Mô tả chính xác đặc điểm môi trường là gì để từ đó có thể hỏi người đượcphỏng vấn

- Các câu hỏi về người được phỏng vấn được đưa ra một cách ngắn gọn vàthích hợp ví dụ thu nhập, nơi sinh sống, việc sử dụng các hàng hoá liên quan

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

- Một câu hỏi hay một bộ câu hỏi được thiết kế để rút ra phản hồi về giá sẵnlòng trả của người được phỏng vấn.

Mục tiêu trung tâm của bảng phỏng vấn là để biết người được phỏng vấn đánh

giá đặc điểm môi trường có giá trị như thế nào đối với họ Thuật ngữ kinh tế gọi là

làm cho người được phỏng vấn bộc lộ giá sẵn lòng chi trả tối đa so với trường hợpkhông có sử dụng hàng hoá môi trường Nếu họ trả lời trung thực, con số họ bộc lộchính là giá trị lợi ích ròng của hàng hoá môi trường mà họ đánh giá Người ta đãphát triển một số kỹ thuật để thu thập được những thông tin phản hồi này

1.1.2.2 Cơ sở lý thuyết và cách thu thập WTP

Willingness to pay (WTP) là mức sẵn lòng chi trả của cá nhân để hưởng thụmột giá trị nào đó, ví dụ như việc cải thiện chất lượng môi trường, có được mộtngày nghỉ để đi câu cá, hay một chuyến đi thăm miệt vườn Cá nhân lựa chọn mứcWTP phục thuộc vào sở thích của mình

Như phần trên chúng ta đã biết thì hàng hoá môi trường có những hàng hoá có

giá thị trường nhưng cũng có những hàng hoá không định giá được bằng giá thị

trường (còn gọi là giá trị phi thị trường) Những hàng hoá này để định giá được giá

trị của chúng thì cách tốt nhất đang được áp dụng phổ biến là sử dụng phương pháp

định giá ngẫu nhiên Tức là chúng ta tiến hành thực hiện một cuộc khảo sát và hỏi

cư dân mức sẵn lòng chi trả của họ cho một loại hàng hoá môi trường được nhắcđến Phương pháp này được ứng dụng phổ biến chủ yếu bởi nó khá linh động và nó

có thể định giá giá trị của bất cứ loại hàng hoá môi trường nào nếu hàng hoá môi

trường đó có thể được mô tả chính xác

Rõ ràng nhất là hỏi người được phỏng vấn cung cấp con số này mà phỏng vấn

viên không được gợi ý hoặc thăm dò

Có thể dùng kỹ thuật để ước lượng mức WTP của người được hỏi như sử dụngtrò chơi đấu giá: phỏng vấn viên sẽ bắt đầu hỏi bằng cách nêu ra mức sẵn lòng chitrả ngày càng cao cho người được hỏi đối với loại hàng hoá được nêu đến khi đưa ramột mức nào đấy mà người được hỏi trả lời là “Không” Hoặc người phỏng vấn đưa

ra mức sẵn lòng chi trả từ cao đến thấp cho đến khi người được hỏi trả lời “Có” thìkết thúc việc hỏi và chấp nhận mức sẵn lòng chi trả đã nêu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

Phương pháp tiếp cận theo hình thức câu hỏi mở, người được hỏi chỉ việc trả

lời “Yes” hoặc “No” vào một yêu cầu trong bảng hỏi là họ có sẵn lòng chi trả choloại hàng hoá môi trường được nêu trong đó Trong trường hợp các loại hàng hoácông cộng thì câu hỏi mở là kĩ thuật thích hợp được khuyến khích dùng

Một kỹ thuật nữa là đưa cho người được phỏng vấn một thẻ in sẵn các mức giá trị

và đề nghị họ đánh dấu vào con số tương ứng với giá sẵn lòng chi trả cao nhất của họ [7]

Mức WTP thu thập được là khác nhau đối với các đối tượng khác nhau bởi họ sẵnlòng chi trả khi họ có đủ khả năng chi trả, điều đó phụ thuộc vào thu nhập của họ Kinhnghiệm của các nước phát triển áp dụng phương pháp điều tra thu thập mức sẵn lòng chitrả cho một loại hàng hoá môi trường nào đó cho thấy WTP phụ thuộc vào nhiều yếu tố

như thu nhập, trình độ học vấn, lứa tuổi Vì vậy hàm WTP có dạng như sau:

WTP = f (wi, ai, ei, qi)

Để tiến hành một nghiên cứu thành công, đạt kết quả cao thì việc tiến hành

tuần tự các bước CVM là rất quan trọng [7]:

Bước1: Xây dựng các công cụ cho điều tra

Bao gồm các phương tiện mà dựa trên nguyên lý để tìm ra WTP/WTA (bằnglòng chi trả/ bằng lòng chấp nhận) của các cá nhân và để thực hiện các việc đó cóthể phân thành 3 nhóm khác nhau nhưng có liên quan đến nhau

Nhóm 1: Thiết kế một kịch bản giả thiết

Nhóm 2: Nên hỏi câu hỏi WTP hay WTA bởi vì trong mỗi hoàn cảnh khácnhau thì phương cách trả lời khác nhau

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Nhóm 3: Chúng ta phải tạo ra một kịch bản để người phỏng vấn sẽ thuận tiệnnhất trong việc trả lời WTP hay WTA Ví dụ: Những người có nhận thức cao,những người có hiểu biết cao thì cách thức tiếp cận của chúng ta là hỏi trực tiếp trảlời thẳng bằng tiền Nhưng những người nghèo, thu nhập thấp có trình độ thấp

nhưng vẫn hiểu được giá trị của hàng hoá môi trường, chúng ta hỏi có sẵn sàngđóng góp ngày công không, thì họ sẽ đồng ý, từ đóng góp đó quy được ra tiền

Bước 2: Sử dụng công cụ điều tra của một mẫu tổng thể

Bước này là bước quyết định ban đầu của bản thân mỗi cuộc điều tra, bao gồm

cách tiến hành điều tra bằng gửi thư điện tử, gọi điện hay điều tra trực tiếp người

dân; kích thước mẫu tiến hành điều tra bao nhiêu, đối tượng điều tra là ai và các

thông tin liên quan khác trong bảng hỏi Câu trả lời cho những vấn đề này là dựavào những thông tin khác nhau như tầm quan trọng của vấn đề định giá, tổng hợpcác câu hỏi được hỏi, và chi phí tiến hành điều tra

Bản thân cuộc phỏng vấn nhìn chung ảnh hưởng bởi tổng hợp các câu hỏi vì

nó thường dễ dàng hơn để giải thích xung quanh thông tin được yêu cầu trả lời.Người phỏng vấn thường phải tiến hành điều tra trong thời gian dài do người được

hỏi thiếu thông tin về vấn đề nghiên cứu Trong một số trường hợp, những sự giúp

đỡ cần thiết là cung cấp video hay tranh ảnh màu cho đối tượng hỏi để họ hiểuđược điều kiện giả định mà họ sẽ định giá

Trong quá trình điều tra thì phỏng vấn là quan trọng nhất Tuy nhiên, quá trình điềutra bằng gửi thư điện tử với mục đích tỉ lệ trả lời cao có thể cũng khá đắt Điều tra bằngcách gọi điện hoặc gửi thư điện tử rất ngắn gọn Điều tra bằng cách gọi điện thoại có thểchi phí thấp hơn nhưng thông thường rất khó để hỏi những câu hỏi đánh giá ngẫu nhiên

đối với đối tượng hỏi bởi vì giới hạn số lượng xung quanh thông tin yêu cầu

Trong trường hợp giả định tiến hành bằng gửi thư điện tử thì người điều tra

muốn khảo sát một mẫu rộng, trên nhiều vùng địa lý và hỏi những câu hỏi về vị trí

cụ thể và lợi ích của nó; cái mà dễ dàng được miêu tả trong bài viết

Bước 3: Thiết kế mẫu điều tra thực tế

Đây là một phần quan trọng và khó nhất trong quy trình và có thể phải tiến hành từ

6 tháng hoặc lâu hơn mới hoàn thành Nó đòi hỏi kỹ năng nói chung trong các bước Quy

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

trình thiết kế điều tra thường bắt đầu với cuộc phỏng vấn đầu tiên với nhóm trung tâmtrong mẫu chọn Trong nhóm trung tâm đầu tiên, người nghiên cứu sẽ hỏi những câu hỏichung chung, bao gồm những câu hỏi về hiểu biết của người đó về mối liên quan với nơi

được hỏi và sự gắn bó của họ với địa điểm và động vật hoang dã nơi đó và cách họ đánh

giá về nơi đó và cho những dịch vụ môi trường sống mà nó cung cấp

Trong nhóm trọng tâm tiếp theo, những câu hỏi đưa ra chi tiết hơn và cụ thể

hơn để quyết định thông tin liên quan cần là gì và bằng cách nào để có những thôngtin đó Ví dụ, người đó có thể cần thông tin về địa điểm khảo sát, đặc điểm nổi bật

của các loài động vật và môi trường sống Người điều tra muốn tìm hiểu những hiểubiết của người được phỏng vấn về việc khai thác và tác động của việc khai thác đócũng như tình hình áp dụng các kiểm soát của địa phương

Nếu người đó phản đối việc khai thác, họ có thể trả lời câu hỏi định giá theonhận thức

Bước này cách tiếp cận để kiểm tra rất khó khăn đối với những câu hỏi định

giá và kĩ thuật thanh toán khác nhau sẽ được thử kiểm tra

Những câu hỏi mà có thể xác định bất cứ “ khoản” đặt giá (sự chi trả) nàohoặc những người trả lời khác không đánh giá giá trị thực sự của họ cho dịch vụ ưathích cũng được thực hiện và kiểm tra ở bước này

Sau một số nhóm trọng tâm được tiến hành và người nghiên cứu đạt được một

điểm, nơi mà họ có một ý tưởng bằng cách nào để cung cấp thông tin cần thiết, mô tả

kịch bản giả thiết, và hỏi câu hỏi định giá, họ sẽ bắt đầu kiểm tra thử bởi vì cuộc điềutra này sẽ được tiến hành bằng kĩ thuật gửi thư điện tử Nó sẽ được tiến hành trước vớimột số tiếp xúc có thể với người điều tra Người được hỏi giả giả định họ nhận đượcmột cuộc điều tra trên mail và điền vào đó Sau đó người điều tra sẽ hỏi những câu vềcách họ điền vào Người điều tra tiếp tục quá trình này cho đến khi họ hoàn thiện đượcmẫu khảo sát mà người đó dường như hiểu được và trả lời theo nhận thức và mức giáthực sự mà họ chi trả (WTP) cho những dịch vụ của nơi điều tra

Bước 4: Xử lý số liệu

Bước này là bước tiến hành tổng hợp những thông tin thu được và xử lý số

liệu Những phiếu điều tra không hợp lệ sẽ bị loại bỏ, những thông tin thu thập hợp

lệ sẽ được tổng hợp trên cơ sở đó xây dựng các biến để phân tích

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

Bước 5: Ước lượng mức WTP

Bước này là bước hoàn thành phân tích và báo cáo kết quả Dữ liệu được phân

tích bằng các phần mềm thống kê để xác định các thông số cần thiết cho báo cáo

như trung bình của mẫu, WTP trung bình,…

Sau khi đã tính toán xong thì chúng ta cũng cần phải phân tích độ nhạy tức là

xem xét sự thay đổi của giá trị đã tính toán trước sự biến động của thị trường Cụthể, xem xét liên quan đến tỷ số chiết khấu và biến động về giá trị ròng trong thựchiện đưa vào phân tích chi phí-lợi ích môi trường và đó là kết quả chúng ta đề xuấtcho các nhà hoạch định chính sách và sử dụng

1.1.2.4 Ưu điểm và hạn chế của CVM

Ưu điểm

Phương pháp này rất thuận lợi cho việc sử dụng dạng hàng hoá môi trường,

tính giá trị của các loại hàng hoá không có giá trên thị trường

Khi thiết kế kỹ thuật từ kịch bản đến tiêu chí lựa chọn thì cũng thực hiện

kỹ thì kết quả có thể không chính xác Từ kinh nghiệm của những nghiên cứu trước

đây người ta rút ra, thông thường số tiền mà điều tra có được chỉ đạt 80-90% so với

giá trị thực của nó

Giữa việc sử dụng WTP/WTA thì kết quả cũng khác nhau mặc dù cùng một

đối tượng được phỏng vấn

Trên lý thuyết câu hỏi về việc trả tiền có thể được đặt ra hoặc như thườnglệ: “Bạn sẵn lòng trả bao nhiêu (WTP) để có được tài sản môi trường này?”hoặc là dưới dạng ít gặp hơn “Bạn sẵn lòng chấp nhận bao nhiêu (WTA) để bồi

thường cho việc từ bỏ tài sảng môi trường này?” Khi đem so sánh hai dạng câu

hỏi trên các nhà phân tích để ý rằng WTA cao hơn WTP rất nhiều, một kết quả

mà các nhà phê bình cho là làm mất hiệu lực của phương pháp CVM Tuy nhiên,

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng có những nguyên do về tâm lý và kinh

tế chỉ ra rằng các cá nhân cảm nhận mạnh mẽ “chi phí của việc mất mát” (dướidạng bồi thường WTA) hơn là “ lợi ích của việc đạt được” (dạng WTP) Nếu

đúng như vậy, thì sự khác biệt mà người ta tìm thấy giữa WTA/WTP thực sự hỗ

trợ cho tính hiệu lực của CVM [3]

Thiên lệch một phần-toàn phần:

Các nhà phê bình phương pháp CVM đã lưu ý rằng nếu người ta lần đầu tiên

được hỏi về WTP của họ cho một phần tài sản môi trường (như một con sông trong

hệ thống các con sông) và sau đó được hỏi đánh giá cho toàn bộ tài sản (nghĩa làtoàn bộ hệ thống các con sông) thì số tiền được phát biểu là như nhau Tại sao nhưvậy? Câu trả lời dường như nằm trong cách phân bố thông thường việc chi tiêu củahọ; đầu tiên chia thu nhập khả dụng của họ thành nhiều khoản ngân sách (như nhà

ở, thực phẩm, xe hơi, giải trí) sau đó chia tiếp vào khoản mục thực sự phải mua Vì

thế đối với việc giải trí, bước đầu là xác định tổng ngân sách mà mỗi cá nhân dànhcho giải trí và sau đó chia tiếp thành số tiền họ sẵn lòng chi tiêu cho mỗi nơi họmuốn viếng Một phương pháp giải quyết vấn đề này là đầu tiên hỏi họ để biết tổngngân sách dành cho giải trí và kế đó là WTP của họ đối với tài sản môi trường đangxem xét, nhắc nhở họ về ngân sách giải trí có hạn và rằng số tiền mà họ dành cho tàisản này không thể chi tiêu cho việc khác Một phương pháp thứ hai là giới hạn việc

sử dụng CVM trong việc đánh giá một nhóm lớn của hàng hoá môi trường (toàn bộ

hơn là từng phần), nếu cần nên nhắc nhở họ lần nữa về ngân sách giải trí có hạn của

họ Việc giới hạn này, nếu cần, sẽ làm hạn chế đáng kể việc áp dụng CVM ở quy

mô rộng lớn và chính nó có thể tạo ra những trở ngại nhiều hơn đối với khả năngcủa người trả lời để hiểu nhóm lớn hàng hoá như vậy

Thiên lệch theo phương tiện:

Khi hỏi một câu hỏi về WTP các nhà phân tích phải xác định việc đóng góp

theo con đường nào (phương tiện đóng góp) Những người được hỏi có thể thay đổi

WTP của họ tuỳ theo phương tiện đóng góp được chọn Ví dụ như, trong một thínghiệm gần đây đối với WTP cho việc giải trí ở Norfork Broads, WTP thông qua tổchức từ thiện thì thấp hơn đáng kể so với WTP thông qua thuế Trong trường hợp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

này, những người được hỏi nghi ngờ khả năng của các quỹ từ thiện để bảo vệ môi

trường và mặc dù họ không thích đóng thuế, họ vẫn thấy rằng cách này đảm bảohơn cho việc bảo vệ môi trường Nó còn bắt buộc nhiều người đóng góp hơn là nếu

việc đóng góp thông quy việc quyên góp từ thiện Những kết quả như vậy rõ ràngcho chúng ta biết cản trở cả về mặt phương tiện đóng góp cũng như về giá trị tài sản

đang xem xét Một giải pháp cho các trở ngại như thế là sử dụng phương tiện đónggóp nào thường được sử dụng nhất trong thực tế

Thiên lệch điểm khởi đầu:

Những nghiên cứu ban đầu đã thử gợi ý cho những người trả lời bằng cách đềnghị một số tiền khởi đầu sau đó tăng lên hay giảm đi số tiền dựa theo người trả lời

đồng ý hay từ chối trả số tiền đó Tuy nhiên, người ta thấy rằng sự lựa chọn mức

tiền ban đầu ảnh hưởng đến số tiền WTP sau cùng của người trả lời

Thiên lệch chiến lược:

Hầu hết các nhà kinh tế từ lâu đã cho rằng mặc cả trực tiếp sở thích của

người tiêu dùng đối với hàng hóa công cộng sẽ là không thể Đặc biệt, cái gọi là

"vấn đề tự do lái" sẽ phát sinh do sự ưu đãi của cá nhân đối với hàng hóa côngcộng nên sẽ trần thuật sai sở thích của họ Ví dụ, nếu người dân gần nhà máy điện

được hỏi họ sẵn sàng trả tiền bao nhiêu để làm sạch không khí gần nhà máy điện,

và nếu họ nghi ngờ rằng chi phí sẽ do người tiêu dùng và chủ sở hữu ở những nơikhác chịu, người dân địa phương cũng có thể có động cơ lớn phóng đại sự sẵnsàng trả thực tế của họ, vì trên thực tế họ không phải trả bất cứ điều gì Mặt khác,nếu người dân tin rằng họ sẽ bị đánh thuế một số tiền bằng sự sẵn sàng của mình,

sau đó một động lực rõ ràng sẽ tồn tại để bớt giá trị thực sự của riêng mình, vànhư vậy sự sữn lòng trả của cá nhân có ảnh hưởng không đáng kể vào kết quả

trong bất kỳ trường hợp nào [3]

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

Bảng 2.2 Trình tự tiến hành phương pháp CVM

(1) Xác định

các mục tiêu cụ

thể

1a Xác định đối tượng cần đánh giá

1b Thiết lập giá trị dùng để ước lượng và đơn vị đo

1c Xác định khoảng thời gian tiến hành điều tra1d Xác định đối tượng phỏng vấn

5a Lựa chọn mô hình WTP

5b Ước lượng mức WTP trung bình hàng năm của mỗi cá nhân

5c Lợi nhuận ròng hàng năm5d Tổng giá trị của hàng hoá và dịch vụ môi trường

(Nguồn: Markandya và cộng sự 2002: 429)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Các nghiên c ứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) trong định giá tài nguyên môi trường trên Thế giới [6]

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, các quá trình đô thị hóa gia tăng, khiến cho

môi trường ngày càng trở nên ô nhiễm Ngày nay đã có nhiều người hiểu được rằng

việc bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhiên cũng chính là

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

bảo vệ cuộc sống của họ Nhưng bên cạnh đó có những người vẫn ra sức tàn pháthiên nhiên bởi theo họ “môi trường là tài sản chung, là thứ vô hạn” Bởi vậy, việc

sử dụng CVM để xác định WTP người dân cho việc bảo tồn ĐDSH và sử dụng bềnvững khu bảo tồn Houay Nhang là điều cần thiết, góp phần nâng cao nhận thức của

con người cũng như bảo vệ được các tài nguyên thiên nhiên

Đề tài: “Sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) để xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân ở Viên Chăn cho việc bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững trong Khu bảo tồn Houay Nhang tại thủ đô Viên Chăn, Lào” nhằm mục đích tìm hiểu tầm quan trọng của khu bảo tồn Houay Nhang, đồng

thời đề xuất mức chi trả hợp lý của người dân cho khu bảo tồn Houay Nhang thôngqua việc phỏng vấn WTP đối với người dân Viên Chăn

Kết quả đạt được như sau:

và sử dụng bền vững trong Khu bảo tồn Houay Nhang tại thủ đô Viên Chăn, Lào”).

Mức giá trung bình WTP thu được là 8.806 kip/tháng/hộ gia đình Nếu ápdụng với mức giá thấp hơn thì giá WTP nhận được là 6.175 kip/tháng/hộ gia đình

Khi người dân Viên Chăn 123.174 hô gia đình lựa chon mức giá 6.175

kip/tháng cho khu bảo tồn Houay Nhang trong khoảng thời gian 5 năm thì khu bảotồn này sẽ nhận được khoant tiền ủng hộ là 760 triệu kip/tháng, nếu tính thei một năm

là 9.127 triệu kip và nếu tính tổng trong vòng 5 năm thì con số đó là 45.635 triệu kip

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

Bảng 2.4 Số liệu tính toán mức giá thu tiền quỹ hỗ trợ khu bảo tồn Houay

Nhang theo kế hoạch 5 năm

hộ gia đình

(Nghìn)

USD (Nghìn)

Kip (Nghìn)

USD (Nghìn)

Kip (Nghìn)

USD (Nghìn)

và sử dụng bền vững trong Khu bảo tồn Houay Nhang tại thủ đô Viên Chăn, Lào”).

Với mức giá WTP trung bình = 6.175 kip thì khi thu mỗi hộ gia đình 1000kip/tháng trong vòng 5 năm sẽ có khoản tiền 766,484 nghìn USD; nếu thu 3000kip/tháng thì sẽ là 2.299 nghìn USD; nếu là 5000 kip/tháng là 3.832 nghìn USD vànếu là 6.175 kip/tháng thì sẽ nhận được nguồn vốn là 4.733 nghìn USD

Trong tương lai, nguồn tài trợ để bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học trong

Khu bảo tồn Houay Nhang sẽ được bắt nguồn từ cư dân Viên Chăn, các tổ chứcChính phủ và phi Chính phủ

1.2.2 Các nghiên c ứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) trong định giá tài nguyên môi trường ở Việt Nam [4]

VQG Ba Bể là một địa điểm giải trí nổi tiếng ngày càng thu hút nhiều sự quantâm của khách du lịch trong và ngoài nước Hằng năm, có hàng vạn người đến đây

để tham quan nghỉ dưỡng, ngắm nhìn thiên nhiên, và tìm hiểu giá trị cảnh quan vănhóa Để đánh giá giá trị bảo tồn của Vườn quốc gia Ba Bể, đồng thời là đánh giá giá

trị phi sử dụng của VQG, tác giả Lê Hoài Nam đã tiến hành thực hiện đề tài “định

giá giá trị giải trí và giá trị phi sử dụng của VQG Ba Bể - Bắc Cạn” bằng cuộc

khảo sát phỏng vấn trực tiếp đối với khách du lịch – những người đến tham quankhu bảo tồn VQG

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

Một tình huống giả định được đặt ra là: “Một quỹ bảo tồn được thành lập

nhằm bảo tồn cảnh quan và các loài động thực vật trong VQG cần đến sự đóng góp của khách tham quan, vậy ông bà có sẵn lòng bỏ ra một khoản tiền cho mục đích này không và mức chi trả có thể là bao nhiêu cho lần tham quan này?”

Giá trị phi sử dụng của VQG Ba Bể được xác định là tổng mức sẵn lòng chitrả để bảo tồn VQG của du khách Để xác định giá trị phi sử dụng, tác giả đưa ramột số giả định sau:

- Mức chi trả được tính chung cho khách du lịch trong nước và nước ngoài

- Sự khác biết về mục đích chi trả của khách du lịch trong nước và nước ngoài

là không đáng kể

Từ phân tích trên, mức sẵn lòng chi trả trung bình cho bảo tồn giá trị của VQG

Ba Bể là 38.600 đồng/du khách Căn cứ vào số lượng du khách đên VQG Ba Bể

trong năm 2004 và 2005 có thể xác định tổng mức sẵn lòng chi trả cho hoạt động

bảo tồn của khách du lịch như sau:

Bảng 2.5 Tổng mức sẵn lòng chi trả của du khách

Số lượng du khách (người) 9434 9843

Tỷ lệ sẵn sang chi trả:

- Chi trả cho thế hệ tương lai

- Chi trả vì sự tồn tại của VQG

Chi trả cho thế hệ tương lai (đồng) 252.488,7 263.435

Chi trả cho sự tồn tại của VQG (đồng) 59.255,7 88.793,4

Tổng mức sẵn lòng chi trả (đồng) 311,714,4 352.228,4

(Nguồn: Định giá giá trị giải trí và giá trị phi sử dụng của VQG Ba Bể - Bắc

Cạn_Lê Hoài Nam (2010))

Tổng mức sẵn sàng chi trả năm 2005 của du khách nhằm bảo tồn giá trị củaVQG Ba Bể với mục tiêu là để lại những giá trị đó cho thế hệ tương lai (giá trị lưutruyền) là 263.435 (đồng), mức sẵn sàng chi trả để đảm bảo cho sự tồn tại dài lâu(giá trị tồn tại) của VQG Ba Bể là 88.793,4 (đồng)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

Mức sẵn sàng chi trả trung bình của du khách là 38.600 (đồng/du khách) cao

hơn so với một số nghiên cứu ở Việt Nam trước đây khi hỏi về mức vé vào cổng du

khách có thể chi trả Kết quả này cho thấy du khách đánh giá cao giá trị của VQG

Ba Bể và nó cũng chỉ ra rằng nếu làm rõ mục đích chi trả thì du khách trong nướchoàn toàn có khả năng đánh giá đúng giá trị của tài sản môi trường nói chung và giátrị của đa dạng sinh học nói riêng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

CHƯƠNG 2: ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ BẢO TỒN LOÀI VƯỢN

ĐEN MÁ TRẮNG (NOMASCUS LEUCOGENYS) Ở VƯỜN

QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN

Vườn Quốc Gia Pù Mát được chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát

theo quyết định 174/QĐ/TTg ngày 08/11/2001 của Thủ tướng chính phủ Diện tíchkhu bảo vệ nghiêm ngặt được phê duyệt là 91.133ha, trong đó phân khu bảo vệnghiêm ngặt: 89.517ha, phân khu phục hồi sinh thái là 1.596ha Vùng đệm của

Vườn Quốc Gia Pù Mát có diện tích 86.000ha Ở độ cao từ 200-1841m địa hình

chia cắt mạnh, có đỉnh cao nhất là đỉnh Pù Mát Vườn Quốc Gia Pù Mát nằm trongkhu vực sinh thái Bắc Trường Sơn, nằm về phía Tây Nam tỉnh Nghệ An dọc theobiên giới Việt - Lào, đây là khu vực có tính đa dạng cao nhất trên dãy Trường Sơn

và là nơi đã xác định là nơi phân bố của nhiều loại động vật quý hiếm

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Vườn Quốc Gia Pù Mát nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An thuộc địa

phận của ba huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương Tọa độ 18o46’ đến

19o12’vĩ Bắc, 104o24’ đến 104o56’ kinh Đông Ranh giới của Vườn được xác định:Phía Đông - Bắc giáp các xã: Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn huyện Con

Cuông Phía Tây – Nam giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Phía Đông - Nam

giáp các xã: Phúc Sơn, Hội Sơn huyện Anh Sơn Phía Tây - Nam giáp các xã: TamHợp, Tam Quang, Tam Đình huyện Tương Dương [10]

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

Hình 2.1 Vị trí địa lý Vườn Quốc Gia Pù Mát

(Nguồn: Phòng NCKH – HTQT, VQG Pù Mát) 2.1.1.2 Đặc điểm địa hình và sông ngòi, thác nước

Đặc điểm địa hình

Vườn Quốc Gia Pù Mát nằm trên sườn Đông ở phía Bắc của dãy Trường Sơn

Độ cao biến động của rừng Pù Mát là từ 200 – 1.814 m trong đó có đỉnh Pù Mát cao

nhất với 1.814m, là đỉnh nằm ở phía Nam của Vườn Quốc Gia sát giữa biên giớiViệt Lào; còn lại 90% diện tích của Vườn Quốc Gia nằm dưới 1000m

Vườn Quốc Gia có địa hình dốc núi đá vôi và có nhiều suối sâu, vực thẳm giáp

với biên giới Việt – Lào Địa hình hiểm trở này đã cản trở việc chặt phá rừng trênquy mô lớn và vận chuyển gỗ lậu qua các con sông (Grieser Johns, 2000)

H ệ thống sông ngòi, thác nước

Vườn Quốc Gia Pù Mát nằm trong lưu vực của 4 con sông chính là Khe Thơi,

Khe Bu, Khe Choang, và Khe Khang Cả 4 con sông này đều đổ vào sông Cả chảy

từ hướng Tây sang Đông qua một vùng thung lũng rộng ở phía Bắc Vườn QuốcGia Hiện hệ thống sông ngòi ở đây hầu như vẫn giữ được tính nguyên sơ của nó, ít

bị tác động của con người Nhưng sông Giăng vẫn là con sông chính được nhắc đếnkhi tới Vườn Quốc Gia Pù Mát Hàng năm, con sông này vẫn cung cấp nước, thựcphẩm cho người dân nơi đây, đặc biệt là món cá Mát sông Giăng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

Ngoài ra, Vườn Quốc Gia Pù Mát còn có nhiều thác nước đẹp đến hùng vĩ tiêu

biểu như thác Khe Kèm cách thị trấn Con Cuông khoảng hơn 15km, hay như suốiNậm Mọc, đập Phà Lài, và nhiều thác nước đẹp khác nữa Tất cả đã tạo nên một hệ

sinh thái đặc biệt hiếm có bậc nhất ở Việt Nam

2.1.1.3 Khí hậu

Vườn Quốc Gia Pù Mát là nơi mà hiếm nơi nào giữ được vẻ gần như nguyên

sơ của nó Hầu như bốn mùa: Xuân, hè, thu, đông nhiệt độ ở đây ổn định ở mức

khoảng từ 20 – 22oC Kiểu khí hậu ở đây là khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới thíchhợp cho sự phát triển của nhiều loại động thực vật, và là nơi trú ẩn của nhiều loại

động vật mà chúng vẫn là con số bí ẩn

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Dân cư

Toàn bộ huyện Con Cuông có 13 xã và thị trấn với hơn 68.000 nhân khẩu gồm

4 dân tộc chính là Thái, Đan Lai (Thổ), Kinh, Hoa cùng sinh sống Mặc dù, tậpquán sinh hoạt của các dân tộc khác nhau nhưng họ chung sống rất đoàn kết Do vị

trí địa lý, điều kiện sống của họ còn gặp nhiều khó khăn nên đa số đang được hưởng

trợ cấp từ chương trình 135 cho các vùng sâu, vùng xa Chiếm đa số dân cư sinhsống trong các cùng lõi của Vườn Quốc Gia Pù Mát là người Thái với tập tục văn

hoá, tín ngưỡng lâu đời; có những lễ hội gắn liền với mùa bội thu và sản xuất nông

nghiệp Chiếm số ít trong thành phần dân tộc là người Kinh và người Đan Lai

Người Kinh chủ yếu tập trung ở thị trấn Con Cuông, hoặc những người từ nơi khác

di cư đến Người Đan Lai chủ yếu tập trung ở 3 bản Cò Phạt, bản Cồn và bản Búng

thuộc xã Môn Sơn nằm ở phía Đông Nam của Vườn Quốc gia, họ sống và canh tác

Trang 40

Ngoài ra, người dân còn tham gia chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như trâu, bò,

lợn, gà,….làm gia tăng kinh tế hộ gia đình

Xã Môn Sơn là một xã vùng sâu biên giới gồm 12 thôn bản với hơn 8.200nhân khẩu, thuộc 3 dân tộc Thái, Đan Lai và Kinh Với chỉ thị 30 của Bộ chính trị

năm 1998 về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ra đời, xã Môn Sơn nhờ thực hiện tốt

cuộc vận động và tuyên truyền nên đã giúp bà con thay đổi tập tục canh tác cũ, ápdụng đầu tư kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi Hiện nay, mỗi năm người dânthuộc xã đã tiến hành sản xuất 3 vụ/năm, năng suất lúa hàng năm đạt 54 – 57,8tạ/ha/vụ Tốc độ tăng trưởng kinh tế xã đạt trên 13% năm

Ngoài nghề chính của bà con là sản xuất nông nghiệp thì bà con còn tham giadệt thổ cẩm Đây là mặt hàng đang ngày càng có chỗ đứng trên thị trường Thổ cẩmcủa người Thái đặc biệt nổi tiếng với kiểu dáng, màu sắc và chất lượng rất tốt Hiệnlàng nghề dệt thổ cẩm ở 2 xã Môn Sơn và Lục Dạ đang phát triển đóng góp vàokinh tế hộ gia đình của người dân nơi đây

Lâm nghi ệp

Do sống gần rừng nên lâm nghiệp cũng là một nguồn thu lớn của người dân thuộc

vùng đệm Vườn Quốc Gia Pù Mát Người dân thường thu được các nguồn lợi từ rừngnhư gỗ, củi, các loại cây ăn quả trong rừng hay các loại thuốc quý,…Hiện nay, nhờ chính

sách giao khoán rừng tận tay người dân nên công tác bảo vệ rừng cũng đỡ khó khăn,

người dân lại có thể tham gia trồng rừng và khai thác các nguồn lợi thu được do bán các

lâm sản Đây là nguồn thu tương đối lớn khi rừng trồng được tiến hành khai thác

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 26/11/2016, 07:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GV. Nguyễn Hoàng Diễm My (2012), Bài giảng định giá tài nguyên và môi trường, Đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng định giá tài nguyên và môitrường
Tác giả: GV. Nguyễn Hoàng Diễm My
Năm: 2012
2. TS. Trần Hữu Tuấn, GS. Stale Navrud (2008), Capturing the benefits of Preserving Cultural Heritage. Journal of Cultural Heritage, 9 (2008), pp. 326-337 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Cultural Heritage
Tác giả: TS. Trần Hữu Tuấn, GS. Stale Navrud (2008), Capturing the benefits of Preserving Cultural Heritage. Journal of Cultural Heritage, 9
Năm: 2008
3. Ngô Hải Yến (2009), Chuyên đề tốt nghiệp: Sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) để đánh giá giá trị bảo tồn loài Sao La ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An, Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phương pháp đánh giángẫu nhiên (CVM) để đánh giá giá trị bảo tồn loài Sao Laở Vườn Quốc Gia PùMát, tỉnh NghệAn
Tác giả: Ngô Hải Yến
Năm: 2009
4. Lê Hoài Nam (2010), Nghiên cứu: “Định giá giá trị giải trí và giá trị phi sử dụng của VQG Ba Bể - Bắc Cạn”, tạp chí Khoa học và môi trường, tập 7 (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định giá giá trị giải trí và giá trị phi sửdụng của VQG Ba Bể- Bắc Cạn”,tạp chí "Khoa học và môi trường
Tác giả: Lê Hoài Nam
Năm: 2010
7. Hoàng Thị Thơ, Tiểu luận: Vận dụng bảng câu hỏi trong phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM), Luận văn báo cáo – Tailieu.vn, chia sẻ ngày 29/05/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng bảng câu hỏi trong phương pháp định giángẫu nhiên (CVM)
8. Hà Hương (2011), “Phát hiện loài Vượn quý ở Việt Nam”, Báo baomoi.com, số ra ngày 19/07/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện loài Vượn quýở Việt Nam
Tác giả: Hà Hương
Năm: 2011
9. Bộ Khoa học công nghệ và môi trường (2007), Sách đỏ Việt Nam tập I, II, Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam tập I, II
Tác giả: Bộ Khoa học công nghệ và môi trường
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2007
10. Vườn quốc gia Pù Mát (2013), “Báo cáo kết quả điều tra sự biến động, tình trạng đe dọa và lập kế hoạch hành động bảo tồn các loài linh trưởng tại khu vực khe Chát, VQG Pù Mát – Nghệ An” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra sự biến động, tìnhtrạng đe dọa và lập kếhoạch hành động bảo tồn các loài linh trưởng tại khu vựckhe Chát, VQG Pù Mát–Nghệ An
Tác giả: Vườn quốc gia Pù Mát
Năm: 2013
11. Trung tâm thông tin du lịch – TCDL (2009), “Nghệ An với công tác bảo tồn khu dự trữ sinh quyển thế giới Miền tây”, Báo Nghệ An, số ra ngày 29/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An với công tác bảo tồnkhu dựtrữsinh quyển thếgiới Miền tây
Tác giả: Trung tâm thông tin du lịch – TCDL
Năm: 2009
12. Trung tâm giáo dục Thiên nhiên – ENV (2012), “Vượn đen má trắng”, Báo Nghệ An, số ra ngày 25/07/2012.Trường Đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vượn đen má trắng
Tác giả: Trung tâm giáo dục Thiên nhiên – ENV
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Các bước nghiên cứu của đề tài - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 1.1. Các bước nghiên cứu của đề tài (Trang 17)
Bảng 2.1. Các tính năng sinh sản của loài Vượn đen má trắng - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.1. Các tính năng sinh sản của loài Vượn đen má trắng (Trang 21)
Bảng 2.2. Trình tự tiến hành phương pháp CVM - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.2. Trình tự tiến hành phương pháp CVM (Trang 32)
Bảng 2.3. Mức giá trung bình WTP - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.3. Mức giá trung bình WTP (Trang 33)
Bảng 2.5. Tổng mức sẵn lòng chi trả của du khách - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.5. Tổng mức sẵn lòng chi trả của du khách (Trang 35)
Hình 2.1 Vị trí địa lý Vườn Quốc Gia Pù Mát - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Hình 2.1 Vị trí địa lý Vườn Quốc Gia Pù Mát (Trang 38)
Bảng 2.6. Đặc điểm chung của đối tượng điều tra - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.6. Đặc điểm chung của đối tượng điều tra (Trang 43)
Bảng 2.7. Thống kê mô tả đặc điểm kinh tế - xã hội của đối tượng được - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.7. Thống kê mô tả đặc điểm kinh tế - xã hội của đối tượng được (Trang 46)
Bảng 2.8. Đánh giá mức độ quan trọng của các nguyên nhân gây suy giảm loài - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.8. Đánh giá mức độ quan trọng của các nguyên nhân gây suy giảm loài (Trang 49)
Bảng 2.9. Thống kê mô tả giá trị WTP của đối tượng tham gia phỏng vấn - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.9. Thống kê mô tả giá trị WTP của đối tượng tham gia phỏng vấn (Trang 54)
Bảng 2.11. Kết quả hồi quy biến phụ thuộc WTP - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.11. Kết quả hồi quy biến phụ thuộc WTP (Trang 56)
Bảng 2.14. Số liệu tính toán mức giá chi trả đã điều chỉnh cho hoạt động - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.14. Số liệu tính toán mức giá chi trả đã điều chỉnh cho hoạt động (Trang 59)
Bảng 2.15. Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn loài - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.15. Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn loài (Trang 60)
Bảng 2.16. Lịch trình hoạt động - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.16. Lịch trình hoạt động (Trang 65)
Bảng 2.17. Đánh giá mức độ quan trọng của các mục đích sử dụng nguồn - Giá trị bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.17. Đánh giá mức độ quan trọng của các mục đích sử dụng nguồn (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w