Tính cấp thiết: Trong cuộc sống đô thị hóa, xã hội ngày càng phát triển hiện nay, việc tồn tại một cộng đồng dân cư vạn đò có điều kiện sống bất bình đẳng với môitrường xung quanh, những
Trang 1Lời Cảm Ơn
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này là
sự tổng hợp kết quả học tập, nghiên cứu trong suốt 4 năm học dưới giảng đường trường Đại học Kinh tế Huế.
Trong quá trình thực tập nghiên cứu và viết báo cáo tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể, cá nhân, các thầy cô giáo trong trường Đại học Kinh
tế Huế.
Trước hết tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong những năm học Đại học.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến TS Lê Nữ Minh Phương đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tôi tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành báo cáo.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến phòng Kế Hoạch – Tài Chính Ủy ban nhân dân Thành phố Huế đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian thực tập vừa qua, cung cấp những kinh nghiệm, kiến thức thực tế quý báu cũng như những tư liệu cần thiết cho tôi trong việc nghiên cứu hoàn thành báo cáo này.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tập thể lớp K44A Kế hoạch – Đầu tư, cảm ơn già đình và bạn bè đã hết lòng động viên, giúp đỡ tôi thực hiện khóa luận này.
Mặc dù đã cố gắng nỗ lực hết sức hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này nhưng do điều kiện thời gian còn hạn chế, kiến thức có
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2hạn, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên trong báo cáo tốt nghiệp không tránh khỏi sai sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô giáo để đề tài hoàn thiện hơn nữa.
Huế, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Phương Hảo
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội 5
1.1.2 Lý thuyết phát triển bền vững 5
1.1.3 Lý thuyết hệ thống áp dụng cho việc tái định cư 6
1.1.4 Một số thuật ngữ và khái niệm chính của nghiên cứu 7
1.1.4.1 Khái niệm thu nhập 7
1.1.4.2 Thuật ngữ “Tác động” 8
1.1.4.3 Đời sống xã hội 8
1.1.4.4 Đời sống vật chất 9
1.1.4.5 Đời sống tinh thần 9
1.1.4.6 Môi trường 9
1.1.4.7 Tái định cư bắt buộc 10
1.1.4.8 Lợi ích kinh tế xã hội của dự án đầu tư 10
1.2 Tác động của tái định cư đến cuộc sống người dân 11
1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề cần nghiên cứu 12
1.3.1 Kinh nghiệm xử lý vấn đề tái định cư ở một số tỉnh, thành phố trên cả nước 13
1.3.2 Kinh nghiệm xử lý vấn đề tái định cư ở một số nước trên thế giới 14
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
2.1 Hiện trạng khu tái định cư vạn đò Bãi Dâu phường Phú Hậu, Tp Huế 19
2.1.1 Thực trạng về công tác xây dựng 19
2.1.2 Công tác di dân vạn đò đến khu tái định cư 20
2.1.3 Một số chính sách hỗ trợ cho việc tái định cư của các hộ dân vạn đò 20
2.2 Vai trò và ý nghĩa của việc tái định cư hộ dân vạn đò tại khu tái định cư đến sự phát triển của Tp Huế 21
2.2.1 Hiệu quả xã hội 21
2.2.2 Hiệu quả kinh tế 22
2.2.3 Hiệu quả môi trường 22
2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của các hộ dân vạn đò ở khu tái định cư Bãi Dâu, phường Phú Mậu, Tp Huế 25
2.3.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu 25
2.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng 26
2.3.2.1 Yếu tố về việc làm, thu nhập, điều kiện làm ăn 26
2.3.2.2 Yếu tố về nhà ở và điều kiện sinh hoạt 31
2.3.2.3 Yếu tố về giáo dục và đào tạo 35
2.3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án xây dựng khu tái định cư Bãi Dâu khi nhà nước tiến hành đầu tư 39
2.3.3.1 So sánh cảm nhận, mức độ thỏa mãn của các hộ gia đình trước và sau khi tái định cư 39
2.3.3.2 Đánh giá lợi ích, chi phí kinh tế mà dự án xây dựng khu định cư Bãi Dâu cho dân vạn đò đạt được 39
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 42
3.1 Định hướng về việc quy hoạch xây dựng khu định cư cho người dân vạn đò 42
3.2 Các giải pháp hỗ trợ 43
3.2.1 Giải pháp cải thiện thu nhập 43
3.2.1.1 Mô hình tín dụng nhỏ 43
3.2.1.2 Vấn đề đào tạo nghề cho người tái định cư 46
3.2.2 Nhóm giải pháp về môi trường 47
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 53.2.3 Giải pháp về y tế và việc gia tăng dân số 48
3.2.4 Giải pháp về văn hóa, giáo dục 48
3.2.5 Giải pháp hỗ trợ tín dụng, xóa đói giảm nghèo 48
3.2.6 Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực cán bộ quản lý 49
3.2.7 Nhóm giải pháp hạn chế tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của chính quyền và các tổ chức xã hội của người dân vạn đò 49
3.2.8 Nhóm giải pháp vai trò của cộng đồng tham gia vào quá trình ổn định đời sống, trật tự an ninh xã hội 50
3.2.9 Nhóm giải pháp hướng nghiệp, đào tạo nghề, giải quyết việc làm 51
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
1 Kết luận 53
2 Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 2
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
CN-TTCN-XD : Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu giới tính của các hộ gia đình được điều tra 23
Bảng 2.2: Trình độ học vấn của người dân vạn đò theo giới tính 25
Bảng 2.3: Trình độ học vấn của các thành viên hộ gia đình theo độ tuổi 26
Bảng 2.4: Thay đổi việc làm theo giới tính 28
Bảng 2.5: Thay đổi việc làm theo độ tuổi 28
Bảng 2.6: Thay đổi việc làm theo trình độ học vấn 29
Bảng 2.7: Việc làm trước và sau tái định cư của những người đang làm việc có thay đổi việc làm 30
Bảng 2.8: Thu nhập hộ gia đình trước và sau tái định cư 31
Bảng 2.9: Tình trạng nhà ở trước và sau tái định cư 34
Bảng 2.10: Vấn đề điện, nước, vệ sinh trước và sau tái định cư 34
Bảng 2.11: Ý kiến của các hộ gia đình về việc học hành của con em sau TĐC 36
Bảng 2.12: Số hộ có người đang học nghề (theo nhóm thu nhập hộ) 38
Bảng 2.13: Cảm nhận của các hộ gia đình về cuộc sống sau tái định cư 39
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒBiểu đồ 1: Cơ cấu dân cư mỗi nhóm tuổi theo giới tính 24 Biểu đồ 2: Tình trạng hoạt động của các thành viên hộ gia đình trên 13 tuổi 27
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đề tài: “Dự án khu chung cư Bãi Dâu và tác động của nó đến người dân
vạn đò Thành phố Huế.”
1 Tính cấp thiết: Trong cuộc sống đô thị hóa, xã hội ngày càng phát triển hiện
nay, việc tồn tại một cộng đồng dân cư vạn đò có điều kiện sống bất bình đẳng với môitrường xung quanh, những thiệt thòi về nơi ở, việc làm, văn hoá giáo dục, y tế cũngnhư các dịch vụ xã hội khác của người dân vạn đò so với các đối tượng khác trên địabàn Thành phố Huế là một vấn đề bất cập Các dự án tái định cư cho đối tượng này đã
ra đời, trong đó, dự án khu tái định cư Bãi Dâu - phường Phú Hậu - Thành phố Huế đãđược đưa vào sử dụng vào cuối năm 2009, dù đã được định cư nhưng vẫn chưa đảmbảo chất lượng cuộc sống cũng như tình trạng thất nghiệp khá cao nên việc tìm hiểutác động của dự án đến người dân, đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện cuộc sống vàthu nhập là một vấn đề quan trọng và cấp thiết
2 Mục đích nghiên cứu: Dựa trên những cơ sở lý thuyết về tái định cư,
những thông tin từ việc khảo sát trực tiếp người dân khu tái định cư Bãi Dâu để tìmhiểu cảm nhận của họ, xem xét những ảnh hưởng, tác động của việc tái định cư đếncuộc sống và những thay đổi về thu nhập của các hộ dân vạn đò, từ đó đưa ranhững giải pháp phù hợp để giải quyết các vần đề tồn đọng
3 Phương pháp nghiên cứu: Tìm hiểu, tham khảo một số tài liệu liên quan,
điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trên hệ thống các
hộ dân tại vùng nghiên cứu, cụ thể là khu tái định cư Bãi Dâu Dữ liệu thu thập đượcgồm 40 bảng hỏi, được xử lý bằng bảng tính Excel và các phương pháp khác như phântích số liệu; phân tích so sánh; thống kê mô tả; phương pháp tổng hợp để hoàn thànhbài viết cho đề tài đặt ra
4 Kết quả nghiên cứu: Kết quả điều tra cho thấy các yếu tố tác động đến cuộc
sống, thu nhập và cảm nhận của người dân vạn đò sau tái định cư Có một số thay đổitích cực nhưng nhìn chung vẫn chưa cải thiện được nhiều, đặc biệt về mặt thu nhập vàcông ăn việc làm Do vậy cơ quan ban ngành cần có những chính sách hợp lý để cảithiện cuộc sống cho những đối tượng này
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Huế đẹp và thơ cũng một phần nhờ vào hệ thống sông hồ rộng lớn SôngHương được coi như phần “hồn” của Huế không thể thiếu trong tổng thể cấu trúc đôthị Huế hôm nay và ngày mai
Nói đến Huế là nói đến Sông Hương, nói đến những con đò làm đẹp cho dòngsông, cho Huế Nhưng chính con đò với bao trôi nỗi chòng chành cùng số phận nhữngcon người trên đó đã trở thành nỗi băng khoăn, nhức nhối cho Huế
Theo số liệu điều tra ngày 01/04/2009, cộng đồng dân cư vạn đò sinh sống trênsông của thành phố Huế là 6.075 người (791 hộ), sinh sống trên các đoạn sông thuộcđịa bàn 7 phường (Phường Đúc, Kim Long, Vĩ Dạ, Phú Hiệp, Phú Bình, Phú Cát,Hương Sơ) trong thành phố Huế
Nghề nghiệp chủ yếu là đánh bắt thuỷ sản, khai thác vật liệu xây dựng, vận tải,lao động đơn giản, kinh doanh buôn bán nhỏ Một phần không nhỏ trong số ấy lànhững hộ chưa có nhà ở, lấy đò làm nhà hoặc trong những căn nhà lụp xụp được dựnglên bằng một vài miếng tôn, tre, mảnh ván dọc hai bên bờ sông, hay ở chỗ nước cạnsát bên con đò, như một phần nối dài của con đò còn gọi là “Chồ” Mức sống và trình
độ văn hoá của cộng đồng dân vạn đò rất thấp, sinh hoạt tuỳ tiện, toàn bộ chất thải sinhhoạt (phân, rác ) đều được thải trực tiếp xuống sông, không qua xử lý, gây ô nhiễmmôi trường, cảnh quan bị xâm hại nghiêm trọng và là đầu mối cho các ổ dịch bùngphát Hơn nữa chính sự tồn tại của cộng đồng dân cư này là mầm mống xuất hiện các
tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự Dưới chế độ cũ, cư dân vạn đòkhông những không được quan tâm giúp đỡ mà còn bị miệt thị, phân biệt, cuộc sốngcủa họ gần như dần dần bị tách khỏi cộng đồng cư dân trên đất liền
Mặt khác, cảnh hàng trăm con thuyền cũ nát đậu san sát trên những khúc sônggây mất mỹ quan, tạo ấn tượng không đẹp cho du khách, cản trở dòng chảy, gây ảnhhưởng đến an toàn giao thông đường thuỷ và tính mạng người dân vạn đò khi xảy rabão lụt luôn bị đe doạ do cuộc sống quá tạm bợ trên sông nước
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11Ngay sau khi đất nước thống nhất, với sự quan tâm của chính quyền, các khu táiđịnh cư ở thành phố Huế đã lần lượt ra đời Từ năm 1992 đến 2001, các khu định cư:Trường An đã giải quyết 100 hộ với 650 nhân khẩu; khu định cư Kim Long giải quyết
164 hộ; khu định cư Bãi Dâu giải quyết 110 hộ; khu định cư Hương Sơ giải quyết 216
hộ Tuy nhiên, theo thời gian, cuộc sống của cộng đồng dân nghèo ở các khu tái định
cư vẫn chưa được cải thiện nhiều, tỉ lệ hộ nghèo vẫn khá cao Điều này nói lên rằngviệc hình thành các khu tái định cư không phải đơn thuần chỉ là để thay đổi nơi định
cư cho dân nghèo mà cần phải quan tâm đến sự thay đổi chất lượng cuộc sống của họ
Do đó việc tìm hiểu về cuộc sống của người dân sau tái định cư và đề ra giải pháp chonhững vấn đề bất cập xung quanh giúp định cư lâu dài cho những người dân này rấtquan trọng và cấp bách Từ đó, tác giả quyết định thực hiện đề tài: Dự án khu chung
cư Bãi Dâu và tác động của nó đến người dân vạn đò Thành phố Huế
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá được các vấn đề lý luận và thực tiễn về tái định cư
- Xác định được tác động của việc tái định cư đến các yếu tố như thu nhập, khảnăng thích nghi, con cái, nghề nghiệp của các hộ dân tại khu tái định cư vạn đò BãiDâu phường Phú Hậu, Thành phố Huế
- So sánh những thay đổi trong cuộc sống của người dân vạn đò trước và saukhi xây dựng khu chung cư Bãi Dâu, phường Phú Hậu
- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao thu nhập và cải thiệncuộc sống cho các hộ dân tại khu tái định cư vạn đò Bãi Dâu phường Phú Hậu, Thànhphố Huế
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Người dân vạn đò đang sinh sống tại khu tái định cư vạn
đò Bãi Dâu, phường Phú Hậu, Thành phố Huế
Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
+Nội dung:
Những thay đổi trong cuộc sống của các hộ dân sau khi định cư tại khu tái định
cư vạn đò Bãi Dâu, phường Phú Hậu, Thành phố Huế
+ Không gian:
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 12Tập trung điều tra thu nhập và cảm nhận của các hộ dân sau khi định cư tại khutái định cư vạn đò Bãi Dâu, phường Phú Hậu, Thành phố Huế.
+ Thời gian:
• Số liệu thứ cấp: thu thập các số liệu, tài liệu chủ yếu trong giai đoạn từ năm
1995 đến 2013 từ các phòng ban có liên quan, đặc biệt là Ban Đầu tư và Xây dựngThành phố Huế
•Số liệu sơ cấp: được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp người dân vạn đò
ở khu chung cư Bãi Dâu từ tháng 03 đến tháng 04 năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập dữ liệu ở phòng Tài Chính - Kế Hoạch ở ủy ban thành phố Huế, Banquản lý dự án các công trình xây dựng TP Huế
Phương pháp thu thập số liệu:
Trang 13từ Ban Đầu tư và Xây dựng Thành phố Huế và các phương tiện thông tin đại chúng.
- Dữ liệu sơ cấp:
+ Sử dụng bảng hỏi điều tra, phỏng vấn các hộ dân vạn đò
+ Phương pháp chọn mẫu: thực tập sinh dùng phương pháp chọn mẫu ngẫu
nhiên trên hệ thống số lượng hộ dân vạn đò sinh sống tại khu tái định cư vạn đò BãiDâu, cụ thể ở đây phỏng vấn trực tiếp 40 hộ tương đương với 40 bảng hỏi (cách làm sẽđược trình bày rõ ràng ở phần cách tiến hành)
Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Các thông tin cần thu thập: điều tra bằng bảng hỏi thu thập thông tin sơ cấp Nộidung bảng hỏi gồm 6 phần: thông tin cá nhân mỗi hộ; việc làm, thu nhập và điều kiện làmăn; nhà ở và điều kiện sinh hoạt; giáo dục; đào tạo; ý kiến là nguyện vọng của gia đình –đây cũng là phần cảm nhận chủ quan của người dân về ảnh hưởng của dự án tái định cư đếncuộc sống của họ (xem chi tiết bảng hỏi ở phần phụ lục) Khi trả lời bảng hỏi, nếu đối tượng
có thắc mắc thì tác giả sẽ giải thích rõ nội dung bảng hỏi cho họ hiểu hoặc đọc cho họ trả lờitại trường hợp cần thiết (người già, mắt kém hay tay bận xách, mang vật nặng…)
- Tra cứu các tài liệu nghiên cứu hiện có về các dự án tái định cư được đăng tảitrên các sách, báo, tạp chí, internet…của các nhà khoa học, nhà quản lý
* Phương pháp xử lý thông tin dữ liệu: Số liệu thứ cấp được phân tích tổng hợpsao cho phù hợp với mục tiêu đề tài, số liệu sơ cấp được xử lý bằng bảng tính Excel
* Phương pháp phân tích số liệu: Để phân tích số liệu đề tài đã sử dụng phươngpháp phân tích so sánh, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích so sánh: Các số liệu phân tích được so sánh qua cácthời điểm, các tiêu chí để thấy được những thực trạng và ảnh hưởng liên quan đến vấn
đề nghiên cứu
- Phương pháp thống kê mô tả: Các thông tin số liệu được liệt kê và mô tả theophương pháp thống kê
- Phương pháp tổng hợp: Là phương pháp liên kết thống nhất toàn bộ các yếu
tố, các nhận xét mà khi ta sử dụng các phương pháp có được thành một kết luận hoànthiện, đầy đủ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội
Nguyên lý phát triển của Xã hội học Mác chỉ ra rằng phát triển là quá trìnhtrong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ, là hiện tượng diễn ra không ngừng trong
tự nhiên, xã hội và tư duy Nguyên lý này chỉ ra rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều nằmtrong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt động của bản thân,chúng ta phải có quan điểm phát triển Điều đó có nghĩa là khi xem xét bất kỳ sự vật,hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướngbiến đổi, chuyển hóa của chúng
Khi thực hiện nghiên cứu này, tác giả chọn lý thuyết biến đổi xã hội là mộttrong những lý thuyết làm nền tảng để phân tích khi đưa ra bốn lĩnh vực (đời sống xãhội, đời sống vật chất, đời sống tinh thần và môi trường) để phân tích sự tác động củachính sách tái định cư tới đời sống người dân vạn đò, những người đang sống trongmột xã hội Việt Nam biến đổi nhanh chóng từng ngày và bản thân cuộc sống của họtrong xã hội thu nhỏ xung quanh đã bị thay đổi hoàn toàn trong quá trình di chuyểnchỗ ở, thay đổi về điều kiện sống và sinh kế được trình bày ở phần sau của luận văn
1.1.2 Lý thuyết phát triển bền vững
Phát triển bền vững là thuật ngữ mới xuất hiện gần đây Trong báo cáo của hộiđồng thế giới về Môi trường v à Phát triển năm 1987, khái niệm phát triển bền vữngmới được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế và được định nghĩa nhưsau: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tạinhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”
Nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo có sự phát triển kinh tế hiệuquả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất
cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải bắt tay
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 4 lĩnh vực chính: kinh tế xã hội văn hóa môi trường
-Bởi vậy nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách tái định cư đối với ngườidân vạn đò tại dự án khu chung cư Bãi Dâu theo 2 nhóm tiêu chí của lý thuyết pháttriển bền vững: (1) Sự biến đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong vùng
dự án (2) Sự hài lòng của người dân đối với quá trình tái định cư thể hiện ở một sốtiêu chí cụ thể sẽ được trình bày ở phần sau luận văn
1.1.3 Lý thuyết hệ thống áp dụng cho việc tái định cư
Tiếp cận hệ thống là một nguyên lý hoạt động của khoa học điều khiển học.Nguyên lý đó được nhiều ngành khoa học khác nhau ứng dụng, trong đó có xã hội học.Đại biểu cho lý thuyết hệ thống là nhà xã hội học Mỹ Talcott Parsons Lý thuyết này đượcông xây dựng vào khoảng năm 1940 - 1950, sau đó lan rộng và ảnh hưởng ở nhiều nướctrên thế giới Để tìm hiểu được một cách sâu sắc vấn đề tái định cư, đề tài sử dụng lý thuyết
hệ thống như một “kim chỉ nam” dẫn đường trong suốt quá trình điều tra và phân tích
Lý thuyết hệ thống cho rằng, xã hội là một sinh thể hữu cơ đặc biệt với hệ thốnggồm các thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định Như vậy, xãhội ở tầm vĩ mô hay vi mô đều luôn luôn tồn tại với một hệ thống toàn vẹn Hệ thống đó làtổng hoà các thành tố, các thành phần, các bộ phận và các mối quan hệ giữa chúng theomột kiểu nào đó tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn, hoàn chỉnh Đối với một hệ thống nhưthế, đòi hỏi phải được xem xét trong một sự thống nhất, trong một nhãn quan đa diện, biệnchứng và thống nhất
Đề tài này xem xét các cộng đồng dân cư tái định cư như là các hệ thống xã hội,trong đó các thành phần cấu tạo nên hệ thống này bao gồm các yếu tố như: kinh tế (việclàm và thu nhập), giáo dục và đào tạo, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh hoạt khác, việctiếp cận y tế và các dịch vụ xã hội, các quan hệ xã hội Tất cả những yếu tố này là cácthành phần của một hệ thống xã hội, và chúng quan hệ, tương tác với nhau tạo thành mộtchỉnh thể hoàn chỉnh, đó chính là cộng đồng dân tái định cư
Lý thuyết hệ thống còn cho rằng, một xã hội, một hệ thống tồn tại được, phát triểnđược là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sựcân bằng chung của cả cấu trúc Bất kỳ một sự thay đổi ở trật tự và thứ tự của các thành
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16phần, hay sự thay đổi ở kiểu quan hệ giữa các thành phần, hoặc một sự phát triển quánhanh hay quá chậm, sự bành trướng hay thu hẹp quá mức, sự thay đổi quá sớm hay quámuộn của bất kỳ một thành phần nào cũng đưa đến “sự lệch pha”, sự thay đổi ở các thànhphần khác và ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng của toàn bộ hệ thống Trạng thái mất cânbằng, mất ổn định của hệ thống về thực chất đều đưa đến sự suy yếu và đổ vỡ của hệthống, nhưng một đằng hứa hẹn sự thay thế bằng một hệ thống tốt hơn, một đằng thì làmcho hệ thống ngày càng trở nên tồi tệ hơn.
Từ những luận điểm trên, đề tài nghiên cứu về thực trạng đời sống kinh tế xã hộicác hộ gia đình sau tái định cư xác định rằng, tái định cư là việc di dời một nhóm, một bộphận hay một cộng đồng dân cư từ nơi ở này sang nơi ở khác Đây chính là sự thay đổi vềchỗ ở của cộng đồng dân cư được di dời Theo lý thuyết hệ thống, chỉ một sự thay đổi vềchỗ ở này cũng có thể dẫn đến những thay đổi ở các thành phần khác trong hệ thống như:kinh tế (việc làm và thu nhập), giáo dục và đào tạo, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinhhoạt khác, việc tiếp cận y tế và các dịch vụ xã hội, các quan hệ xã hội,… Và như thế sự ổnđịnh, trạng thái cân bằng của cộng đồng dân cư tái định cư đã bị ảnh hưởng Sự mất cânbằng này có thể hứa hẹn một sự sụp đổ của hệ thống cũ và thiết lập được một hệ thốngmới, một cộng đồng dân cư mới có đời sống tốt hơn nếu có những chính sách tác động phùhợp và hiệu quả Tuy nhiên, nếu không có những chính sách hỗ trợ hoặc các chính sách hỗtrợ không phù hợp, không đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của người dân thì có thểdẫn tới việc chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư tái định cư sẽ ngày càng đi xuống
và tồi tệ hơn Chính sách đóng một vai trò, nếu không muốn nói là có tính quyết định trongviệc ổn định cuộc sống người dân tái định cư, trước mắt là nhận ngôi nhà mới, và cả về lâudài cho “cuộc sống sau tái định cư”
1.1.4 Một số thuật ngữ và khái niệm chính của nghiên cứu
1.1.4.1 Khái niệm thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhậptrong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng
Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đãtrừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17nhất định, thường là 1 năm.
Thu nhập của hộ bao gồm:
- Thu nhập từ tiền công, tiền lương;
- Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí vàthuế sản xuất);
- Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đãtrừ chi phí và thuế sản xuất);
- Thu khác được tính vào thu nhập như thu cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm…Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tàisản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liênkết trong sản xuất kinh doanh …
1.1.4.2 Thuật ngữ “Tác động”
“Tác động” là kết quả đo được của một hành động đối với môi trường xã hội(theo từ điển Xã hội học nguyên bản tiếng Pháp, Pierre Ansarb và Andre Akwoun,Paris, Nhà xuất bản Robert và Senil, 1999, trang 272) Thuật ngữ “Tác động” chỉ kếtquả, hệ quả của một hành động, một quyết định một thông điệp, một chính sách, mộtchương trình… đối với cá nhân, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong Xãhội học, thuật ngữ này được dùng để đo những hệ quả, phức hợp do con người cảmnhận trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài của một hành động Thuật ngữ nàyđược sử dụng trong nước để đo những cảm nhận và biến đổi của người dân trước vàsau khi di cư có tổ chức Ở đây, hệ quả của hoạt động tái định cư được đánh giá và đo
ở bốn khía cạnh: Kinh tế, Văn hóa, Xã hội và Môi trường
1.1.4.3 Đời sống xã hội
Đời sống xã hội là tổng thể các hiện tượng phát sinh do sự tác động lẫn nhaucủa các chủ thể xã hội và cộng đồng tồn tại trong những không gian và thời gian nhấtđịnh, là tổng thể hoạt động xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Do vậy, đờisống xã hội đã trở thành mục tiêu phát triển của các xã hội
Vấn đề mối quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần trong đời sống
xã hội cũng là một đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội, cụ thể triếthọc Qua vận dụng vấn đề cơ bản của triết học về mối quan hệ giữa tinh thần và tự
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18nhiên, giữa ý thức và vật chất vào lĩnh vực xã hội, chúng ta thấy xuất hiện vấn đề mốiquan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội.
“Đời sống xã hội” ở đây được sử dụng như hai nhóm nhu cầu (sơ cấp và caocấp) của Maslow Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành xem xét sự biến đổi của đời sốngkinh tế vật chất đã đáp ứng nhu cầu của người dân trực tiếp hay gián tiếp thụ hưởng dự
án hay chưa, còn các biến đổi về văn hóa, xã hội và môi trường lại xem xét như là mức
độ đáp ứng các nhu cầu cao cấp của người dân vạn đò ở dự án
1.1.4.4 Đời sống vật chất
Đời sống vật chất là phương tiện, phương thức thể hiện đời sống của con ngườivới tư cách là một sinh vật xã hội Nói cách khác, đời sống vật chất là phương tiện đolường trình độ phát triển của con người trong xã hội loài người Chẳng hạn, những giátrị tinh thần bao giờ cũng phải được tồn tại, phát triển thông qua một số cơ sở, phươngtiện vật chất như nhà in, đài phát thanh, đài truyền hình, thư viện, bảo tàng… và đượcvật chất hóa dưới nhiều hình thức như sách báo, tranh ảnh, băng hình, băng nhạc,tượng đài, đình chùa… Đời sống vật chất của một nhóm đối tượng cụ thể thường được
đo lường bằng rất nhiều tiêu chí như nguồn sinh sống chính, mức sống so với tiêu chí
cụ thể, điều kiện sống được đo lường bằng các tiêu chí phụ như nhà ở, nước sạch, vệsinh môi trường, giao thông…v…v… Chất lượng sống với các tiêu chí như cơ sở giáodục, chăm sóc y tế, vui chơi giải trí, v…v…
1.1.4.5 Đời sống tinh thần
Đời sống tinh thần xã hội được hiểu bao gồm tất cả những gì liên quan đến lĩnhvực tinh thần: từ những giá trị, sản phẩm tinh thần đến những hiện tượng, quá trìnhtinh thần, từ những hoạt động tinh thần (sản xuất tinh thần, phân phối, tiêu dùng giá trịtinh thần…) đến những quan hệ tinh thần (trong trao đổi, giao tiếp tinh thần…) Nóiđến đời sống tinh thần xã hội là nói đến tính liên tục về thời gian, tính rộng lớn vềkhông gian của tất cả những hiện tượng, những quá trình tinh thần
1.1.4.6 Môi trường
Trong “Luật Bảo vệ Môi trường” đã được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993định nghĩa khái niệm môi trường như sau:
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan
hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” (Điều 1 Luật bảo vệ môi trườngcủa Việt Nam)
Ở đây tác giả sử dụng khái niệm môi trường để đo sự biến đổi trong đời sốngngười dân tái định cư cũng với các mặt như xã hội và văn hóa trước và sau khi thựchiện dự án xây dựng Khu chung cư Bãi Dâu như một thước đo mức chất lượng cuộcsống của cộng đồng và đánh giá tính bền vững của hoạt động tái định cư cho ngườidân vạn đò ở đây
1.1.4.7 Tái định cư bắt buộc
Di dân tái định cư được hiểu là quá trình di chuyển chỗ ở của người dân đến lập
cư ở một nơi khác Có hai dạng di dân chính:
- Dạng thứ nhất là việc di chuyển tự phát của các cá nhân hoặc gia đình hoặcthậm chí cả toàn bộ cộng đồng nhưng không có kế hoạch và sự trợ giúp của các cơquan nhà nước
- Dạng thứ hai là tái định cư bắt buộc, đó là hoạt động tái định cư bắt buộcthuộc các chương trình hoặc dự án chính thức có kế hoạch được nhà nước quản lý
và cấp kinh phí
Trong thực tế cả hai dạng di dân tái định cư này đều có thể xảy ra nhưng ở đâytác giả chỉ đề cập đến các vấn đề di dân – tái định cư mà có sự quản lý và quy hoạchcủa nhà nước
1.1.4.8 Lợi ích kinh tế xã hội của dự án đầu tư
Lợi ích kinh tế – xã hội và môi trường là một phạm trù kinh tế tương đối Mộtmặt nó phản ánh lợi ích trên phạm vi toàn xã hội, toàn bộ nền kinh tế quốc dân, mặtkhác phản ánh lợi ích từng mặt kinh tế, xã hội và môi trường đồng thời có mối quan hệthống nhất và mâu thuẫn giữa các mặt đó trong từng thời gian nhất định
Chủ đầu tư bỏ vốn để thực hiện dự án đầu tư, mục tiêu chủ yếu là thu đượcnhiều lợi nhuận Khả năng sinh lợi của một dự án là thước đo chủ yếu để thu hútcác nhà đầu tư, mức sinh lợi càng cao thì sự hấp dẫn càng lớn Tuy nhiên, trongthực tế không phải bất cứ dự án đầu tư nào có khả năng sinh lợi lớn và mức an toàntài chính cao đều có lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao Phân tích kinh tế xã
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 20hội và môi trường của dự án đầu tư là phải xem xét những lợi ích xã hội được thụhưởng là gì? Đó chính là sự đáp ứng của dự án đối với mục tiêu chung của xã hội
và nền kinh tế quốc dân
Theo nghĩa hẹp, lợi ích kinh tế phản ánh sự đóng góp của dự án đầu tư về mặtkinh tế xét trên phạm vi nền kinh tế quốc dân
Theo nghĩa rộng là phản ánh sự đóng góp của dự án đầu tư cả về mặt kinh tế, xãhội và môi trường Theo nghĩa này, lợi ích kinh tế là tổng thể các lợi ích mà nền kinh
tế quốc dân và xã hội thu được khi dự án đầu tư được thực hiện
Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, xã hội cũng phải đóng góp hoặc bỏ ranhững chi phí Như vậy lợi ích kinh tế – xã hội và môi trường là phần chênh lệch giữalợi ích được dự án đầu tư tạo ra so với cái giá mà xã hội phải trả Phần chênh lệch nàycàng lớn thì hiệu quả kinh tế – xã hội càng cao Các lợi ích kinh tế – xã hội và môitrường có thể là lợi ích định lượng được như mức gia tăng sản phẩm, mức tăng thunhập quốc dân, sử dụng lao động, tăng thu ngân sách…, cũng có thể không định lượngđược như sự phù hợp của dự án đầu tư với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nhữnglĩnh vực ưu tiên… Chính vì vậy việc tính toán và đo lường các chỉ tiêu lợi ích kinh tế –
xã hội và môi trường phải có phương pháp luận đúng đắn với những thông số được lựachọn hợp lý, đảm bảo độ tin cậy cao, tránh sai sót có thể xảy ra
1.2 Tác động của tái định cư đến cuộc sống người dân
Tái định cư là quá trình di dời, giải toả và bố trí nơi ở mới cho một cộng đồng dân
cư Do đó, điều thay đổi đầu tiên đối với các đối tượng tái định cư là sự thay đổi về chỗ ở.Người dân thường được bố trí để chuyển đến những nơi ở mới có cơ sở hạ tầng và điềukiện sống tốt hơn, đến các khu chung cư hay khu tái định cư với các căn hộ và các ngôinhà khang trang và rộng rãi hơn Việc thay đổi chỗ ở dẫn đến hàng loạt những thay đổikhác trong cuộc sống của người dân tái định cư như: thay đổi về kinh tế (công việc làm
ăn, thu nhập), thay đổi về việc giáo dục và đào tạo cho con em, thay đổi về việc tiếp cậncác dịch vụ xã hội (y tế, mua sắm,…), thay đổi về các quan hệ xã hội,…
Thật vậy, việc làm của các cá nhân trong hộ gia đình bị giải tỏa là một yếu tốrất quan trọng cần được quan tâm khi xây dựng phương án tái định cư Vì tính chất đặcthù của các hộ gia đình bị giải tỏa là các hộ dân sống trên và ven kênh rạch, làm các
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21công việc như buôn bán nhỏ lẻ trong các thôn xóm, làm hàng gia công tại nhà, chothuê mặt bằng,….nên việc lựa chọn một nơi ở mới rất quan trọng đối với cả hộ giađình Việc phải chuyển đổi chỗ ở lên các căn hộ chung cư hay đến các khu tái định cưdân cư còn thưa thớt gây ra khá nhiều khó khăn cho công việc làm ăn buôn bán củangười dân Còn các hộ có việc làm ở các công ty, xí nghiệp thì có thể khoảng cách đilại của họ xa và chi phí đi lại cao hơn nơi cũ Bên cạnh đó, chi phí sinh hoạt của ngườidân sau tái định cư cũng có khả năng tăng lên, nhất là đối với những hộ nhận căn hộchung cư Ngoài ra, có một bộ phận không nhỏ các hộ gia đình khi bị giải tỏa hoàntoàn nhận được tiền bồi thường thấp hơn số tiền họ phải bỏ ra để mua các căn hộ haycác khu đất tái định cư Nguyên nhân là nhà ở của họ trước kia là những ngôi nhà nhỏ,thuyền, bè… nhiều nơi diện tích chỉ khoảng 10-20 m2, tình trạng tạm bợ nên tiền bồithường rất thấp Do đó họ phải mắc nợ tiền nhà nước và luôn mang tâm trạng nợ nần.
Như vậy, có thể thấy, tái định cư không chỉ là quá trình thay đổi chỗ ở củangười dân tái định cư, mà kéo theo đó là hàng loạt những thay đổi khác, hay nói cáchkhác, đó là sự thay đổi của cả một hệ thống Chính vì thế, khi hoạch định các chínhsách về tái định cư, không nên chỉ dừng lại ở những chính sách về nhà ở, mà còn cần
mở rộng ra các chính sách về các vấn đề “hậu tái định cư” của người dân để không cótình trạng quay lại đò sinh sống Có như thế mới giúp người dân dễ dàng nhanh chóngthích nghi và ổn định cuộc sống
1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề cần nghiên cứu
Quan điểm tái định cư của chính phủ Việt Nam là nhằm đảm bảo cho người dânphải di chuyển có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ về các mặt nhà ở, cơ sở hạ tầng, phúc lợi côngcộng, đặc biệt là về điều kiện sản xuất và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai
Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khẳngđịnh quyền của công dân trong việc sở hữu và bảo vệ quyền hợp pháp về sở hữu nhà ở.Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý liên quan để nhằm tạo nênkhung pháp lý cho việc thu hồi đất, đền bù và tái định cư
Bên cạnh việc nghiên cứu tìm hiểu các nguyên tắc của các tổ chức quốc tế, tácgiả nghiên cứu đã dành thời gian để tìm kiếm các kinh nghiệm xử lý vấn đề tái định cư
ở các tỉnh, thành phố như Hồ Chí Minh, hay một số nước trên thế giới như Trung
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Ấn Độ… và đã thấy rằng công tác giải toả, di dời, tái định
cư trong các dự án phát triển ở các tỉnh, thành phố này cũng đang gặp phải những vấn
đề tương tự như ở Huế, và người dân cũng gặp không ít khó khăn trong cuộc sống
“hậu tái định cư” Những tư liệu này chủ yếu là những bài báo đăng trên Internet màtác giả đã tải về, phản ánh tình hình tái định cư thực tế của các dự án ở các tỉnh, thànhphố ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm xử lý vấn đề tái định cư ở một số tỉnh, thành phố trên cả nước
Thông tin từ UBND các quận, huyện của TP.HCM cho thấy, có trên 50% sốngười dân bị di dời ở các dự án chọn phương án nhận tiền tự lo nơi ở mới Trong đónhiều hộ gia đình có cuộc sống khó khăn hơn trước khi bị di dời Nguyên nhân chính
là do họ không tìm được công việc phù hợp tại nơi ở mới Còn theo điều tra của CụcThống kê TP, hơn 26% số hộ dân tái định cư có thu nhập giảm sút so với trước kia
Trên địa bàn TP còn có hàng loạt dự án khác như khu dân cư Bắc Rạch Chiếc(Q.9), với hơn 100 căn hộ dùng để bố trí tái định cư cho dự án Bắc Rạch Chiếc; chung
cư Tân Hưng (Q.7) có 72 căn hộ được đưa vào sử dụng từ năm 2006; Tân Mỹ (Q.7) có 300căn hộ nhưng cũng chỉ có lèo tèo vài hộ dọn về ở
Một lãnh đạo Sở Xây dựng thừa nhận, khi quy hoạch khu tái định cư thì bắtbuộc phải có quy hoạch hạ tầng xung quanh, việc này chưa thực hiện đầy đủ vì ngânsách nhà nước khó khăn Điều đáng nói là do trước đây nhà tái định cư được thành phốtriển khai theo từng dự án riêng lẻ và giao cho các quận, huyện quản lý nên đang có
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23thực trạng là trong khi quỹ nhà tái định cư của thành phố còn thừa thì người dân ở một
số quận, huyện vẫn chưa nhận được nhà tái định cư để ổn định cuộc sống
Đơn cử như, chương trình đầu tư xây dựng 12.500 căn nhà phục vụ tái định cưkhu đô thị mới Thủ Thiêm (TP.HCM) đang trong quá trình triển khai xây dựng; songtới thời điểm này mới chỉ có khoảng 1/4 tổng quỹ nhà trên được hoàn thành và bàngiao do các công ty xây dựng chậm tiến độ thi công
Lãng phí đang là điều được nói đến với thực trạng “thừa” của quỹ nhà, đất táiđịnh cư Không chỉ có các cơ quan nhà nước mới than về sự lãng phí, ngay cả cácdoanh nghiệp tham gia chương trình xây dựng nhà tái định cư cũng kêu trời Đơn cửnhư Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn - chủ đầu tư dự án 481 Bến Ba Đình (Q.8) - cũngthan thở, chung cư ba năm trời bỏ trống, chủ đầu tư phải gánh đủ thứ chi phí vô lý
Chỉ tính riêng lãi vay, doanh nghiệp phải trả 13 tỉ đồng Do lâu ngày không sửdụng, chung cư xuống cấp nhanh chóng, công ty phải trả vận hành, bảo quản, mất đứthàng trăm triệu đồng mỗi năm Ngoài ra, theo báo cáo thì số lượng nhà tái định cư đã
và sẽ xây dựng trên địa bàn trong thời gian tới khá lớn Trong khi đó, cơ chế mua bán,ràng buộc trách nhiệm chưa rõ ràng, người dân cũng không muốn vào ở nhà chung cưtái định cư vì bất tiện cho sinh hoạt, phí hàng tháng
Do đó, theo đánh giá của các doanh nghiệp, nếu TP không giải quyết những bấtcập nói trên, sẽ dẫn đến tình trạng bội thực nhà chung cư
Để có thể giải quyết vấn đề, UBND TP.HCM đã yêu cầu Sở Xây dựng phải làmviệc với các quận huyện để phân bổ quỹ nhà 3.799 căn hộ và nền đất hiện nay từ nơithừa sang nơi còn thiếu
Tuy nhiên, điều khó giải quyết nhất chính là quỹ nhà tái định cư đang “tồn kho”hiện tại Mới đây, Sở Xây dựng cũng đã đề xuất giải pháp chuyển từ nhà tái định cưsang nhà ở xã hội để giải quyết hàng tồn kho tái định cư, song nhiều chuyên giakhuyến cáo, việc này làm không khéo thì sẽ đẩy tồn kho từ nhà tái định cư sang tồnkho nhà ở xã hội
1.3.2 Kinh nghiệm xử lý vấn đề tái định cư ở một số nước trên thế giới
*Thái Lan
Cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoáĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuynhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trìnhtự: Tổ chức nghe ý kiến người dân sau đó mới tiến hành định giá đền bù.
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tínhchiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìnchung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù vớimức cao hơn giá thị trường
Người dân cảm thấy được tôn trọng và "được lợi" khi họ phải nhường đất chocác dự án của chính phủ và trong suốt tiến trình tiến hành thu hồi đất, người dân cóquyền và nghĩa vụ "tương tác" với chính quyền địa phương thông qua một đường dâynóng Họ có quyền giám sát những người thực thi quá trình thẩm định giá, tiến hànhđền bù, tái định cư
Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thuhồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụchính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chínhsách tái định cư
Việc thu hồi đất của nông dân luôn theo nguyên tắc "hai bên cùng có lợi": Chínhphủ tìm cách thương lượng người bị thu hồi đất về giá đền bù, phương thức di dân, nơi ởmới Đồng thời, các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản
lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Seoul khoảng 5 km
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầuhết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá caohơn nhiều lần so với giá gốc
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25Trên thực tế, phần lớn những đối tượng bị thu hồi đất đều có mức sống bằng vàcao hơn mức sống ban đầu Trên bình diện chung mà nói, người dân bị thu hồi đất ởnước này hưởng lợi nhiều từ việc giao đất lại cho chính quyền, bởi ngoài những giá trịhiện tại đã được hoàn nguyên họ còn có thêm một số vốn để kinh doanh, buôn bán,chuyển đổi nghề nghiệp.
*Trung Quốc
Có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là hạn chếđến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnhhưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư bởi Tung Quốc luôn tuân thủnguyên tắc "công trình lớn, di dời nhỏ"
Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thậnphương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân,đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống
so với trước khi bị thu hồi đất
Theo qui định của pháp luật Trung Quốc, khi nhà nước thu hồi đất thì ngườinào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất được thanhtoán ba loại tiền: Tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồithường hoa màu trên đất (nếu trên đất có các cây hoa màu, rừng thì chủ sở hữu cóquyền gia hạn một thời gian để khai thác hết phần tài sản gắn liền với đất ấy trước khigiao cho chính quyền)
Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giátrị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số (cách tính nàyViệt Nam chúng ta cũng áp dụng, song việc thực thi còn theo kiểu mỗi nơi làm mỗikiểu) Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cảhiện tại
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảocho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Việc quản lý giải phóng mặtbằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm Tổchức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn vị xây dựnggiải tỏa mặt bằng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủyếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cảxây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ Hai là, giá đất tiêuchuẩn Ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở.
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ởnông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn.Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, vớimức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá,xác định giá
Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linhhoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: Tiền bồithường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có nhữngthành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do:
- Thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đốivới các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân táiđịnh cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư
- Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh Chínhquyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồithường hỗ trợ tái định cư
- Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ táiđịnh cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mấtkhông trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đấtmới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chínhquyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng
*Ấn Độ
Tại Ấn Độ, một trong những dự án phát triển lớn đang được tiến hành tại đây
là các dự án xây dựng đập nước trên khu vực Narmada Theo nghiên cứu của Uỷ BanQuốc Tế về Đập nước (World Commission on Dams – WCD), ở Ấn Độ có ít nhất 75%trong số 40 triệu người phải di dời bởi việc xây dựng những con đập lớn ở Ấn Độ chưa
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27được bố trí tái định cư trong 5 thập niên vừa qua Người dân không được bồi thườngnhững nhu cầu cơ bản như: đất ở và đất sản xuất, phương tiện sinh sống, kế sinhnhai,… Bên cạnh đó, cũng có hàng chục ngàn hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án nhưnglại không được coi là đối tượng cần được giúp đỡ và bố trí tái định cư Ngoài ra, các
dự án tái định cư tại Ấn Độ cũng chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về điều kiện sống và cơ
sở hạ tầng tại các khu tái định cư cho người dân Đường giao thông dẫn vào 2 khu táiđịnh cư Karnat – 1 và Karnat – 2 (thuộc dự án xây dựng đập Sardar Sarovar) đầy đásỏi và gập ghềnh, khiến xe cộ không đi lại được, người dân chỉ có thể đi bộ để đi làm,
đi học hay đi khám chữa bệnh Bên cạnh đó, các khu tái định cư này cũng thiếu những
cơ sở hạ tầng như hệ thống cấp thoát nước Như vậy, tình hình chung của công tác táiđịnh cư và phục hồi ở Ấn Độ có thể được khái quát qua phát biểu của Giáo Sư ShobitaJain (Điều phối viên chương trình tái định cư và phục hồi, IGNOU) như sau: “Các dự
án mặc dù ban đầu đã nhận thức rõ về ảnh hưởng và mức độ của việc di dời, nhưng khithực hiện, ban quản lý các dự án lại ít quan tâm đến việc tái định cư và phục hồi củangười dân bị di dời Các dự án phát triển chỉ tập trung vào lợi ích và hiệu quả kinh tế,
mà không quan tâm đến những người bị mất tất cả những gì họ có, mất đất đai, mấtphương tiện sinh sống, mất thói quen sống và mất cả đời sống văn hoá tinh thần.”
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Hiện trạng khu tái định cư vạn đò Bãi Dâu phường Phú Hậu, Tp Huế
2.1.1 Thực trạng về công tác xây dựng
* Sơ lược về dự án khu tái định cư vạn đò Bãi Dâu
Năm 1988 thành phố Huế tiếp tục đầu tư xây dựng khu định cư Bãi Dâu nằmtrên địa bàn phường Phú Hậu
- Diện tích: 1.12 ha, 208 lô
Nằm trên đất khu chung cư Bãi Dâu cũ đã được xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng kỹthuật, chỉ xây dựng 2 khu chung cư 4 nguyên đơn 3 tầng gồm 208 căn hộ
+ Dự án xây dựng 4 chung cư 3 tầng tại phường Phú Hậu giai đoạn 1: diện tíchsàn 5.543 m2, bố trí 104 căn hộ
+ Dự án xây dựng 4 chung cư 3 tầng tại phường Phú Hậu giai đoạn 2: diện tíchsàn 5.543 m2, bố trí 104 căn hộ
Nhận xét: Thuận lợi cho xây dựng vì đây là khu vực Thành phố đã đầu tư hệthống hạ tầng cho phát triển đô thị, đã có bố trí tái định cư cho dân vạn đò trong dự ántiến hành năm 1998
- Tái định cư cho các hộ dân thuộc diện không hành nghề sông nước các hộ chỉdùng thuyền để ở, nghề nghiệp chủ yếu là làm thuê, buôn bán nhỏ, đạp xích lô, xe ôm,khuân vác…(theo số liệu thống kê các hộ thuộc các khu vực Phú Hiệp, một phần PhúCát và Vĩ Dạ…)
- Nhà ở theo kiểu chung cư thấp tầng (03 tầng)
- Các chương trình chuyển đổi nghề nghiệp cho các lao động chính của dân vạn
đò lên bờ tái định cư
* Sơ lược về các dự án hỗ trợ phát triển và cải tiến cuộc sống tái định cư
- Dự án xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng Phú Hậu, diện tích sàn 130 m2
- Dự án xây dựng trường tiểu học Phú Hậu giai đoạn 2: diện tích sàn 1.250 m2,bao gồm 12 phòng học
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29- Dự án xây dựng trường tiểu học Phú Hậu giai đoạn 3: diện tích sàn 565,2 m2,bao gồm nhà hiệu bộ.
- Dự án xây dựng chợ Phú Hậu: diện tích sàn 1850 m2
- Các công trình hạ tầng kỹ thuật xã hội đã đầu tư xây dựng trước đây, như sau:+ Trường tiểu học Phú Hậu giai đoạn 1
+ Trường mầm non Phú Hậu diện tích 680 m2
+ Mở rộng trường dạy nghề Phú Hậu diện tích 690 m2
+ Công viên Phú Hậu
2.1.2 Công tác di dân vạn đò đến khu tái định cư
Đến nay số hộ dân vạn đò tại khu nhà chung cư đã được bố trí đầy đủ 110/208căn hộ, còn lại vẫn đang trong quá trình di dời
Những hộ dân vạn đò được chuyển đến đây chủ yếu từ phường Phú Hiệp, một
số ít khác từ các phường như Vĩ Dạ, Kim Long… đến đây tái định cư
2.1.3 Một số chính sách hỗ trợ cho việc tái định cư của các hộ dân vạn đò
Các hộ dân vạn đò khi di dời tái định cư tại các khu định cư tại Bãi Dâu đượchưởng các chính sách hỗ trợ
UBND Thành phố căn cứ số nhân khẩu hiện có của từng hộ để bố trí vào căn hộchung cư, nhà liền kế đảm bảo công bằng và phù hợp với thực tế Cụ thể như sau:
Bố trí nhà chung cư:
Hộ dưới 10 khẩu bố trí 1 căn hộ
Chính sách hỗ trợ:
Nhà nước giảm giá 15% tiền xây dựng nhà, không thu tiền đất và chi phí đầu tư
hạ tầng và giá bán căn hộ, Nhà nước hỗ trợ 15.000.000 đồng được khấu trừ vào giá trịnhà được giao; phần còn lại được trả góp trong vòng 30 năm, trong 10 năm đầu khôngtính lãi Sau 10 năm phải trả lãi theo lãi suất của Ngân hàng nhà nước quy định tại thờiđiểm còn nợ Các hộ không được sang nhượng, thế chấp, cho thuê, góp vốn dưới bất
cứ hình thức nào
Hộ trên 10 khẩu, hộ có 3 cặp vợ chồng trở lên ăn riêng, ở riêng nhưng chưa tách
hộ cho mua thêm 1 căn hộ theo giá Thành phố quy định nhưng phải có đơn xin mua.Trả tiền lần đầu 30% giá căn hộ, phần còn lại trả góp trong 30 năm Nếu sau 10 năm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30chưa trả hết thì phải trả lãi phần còn nợ theo lãi suất ngân hàng tại thời điểm nợ.Trường hợp trả tiền đủ 1 lần thì được giảm 10% giá trị căn hộ Hộ gia đình mua căn hộtrả hết tiền mới được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ và không được sangnhượng cho đối tượng khác.
2.2 Vai trò và ý nghĩa của việc tái định cư hộ dân vạn đò tại khu tái định cư đến
sự phát triển của Tp Huế
2.2.1 Hiệu quả xã hội
Như đã được đề cập ở phần đầu dự án, thành phố Huế không phải chỉ là một disản của người Việt Nam chúng ta mà còn là một di sản văn hóa thế giới Việc từngbước giải quyết vấn để cuộc sống của dân vạn đò cũng như trả lại vẻ đẹp thơ mộngvốn có của sông Hương một phần chủ thể quan trọng tạo nên cấu trúc đô thị Huế, mộtđịa danh thu hút sự ngưỡng mộ của rất nhiều du khách trong và ngoài nước là rất cầnthiết nhằm góp phần tạo nên một đô thị đẹp, văn minh hiện đại Khi dự án “ Định cư
và cải thiện cuộc sống dân vạn đò Thành phố Huế” được phê duyệt và thực hiện sẽ gópphần ổn định và nâng cao cuộc sống của những người dân vạn đò và cải thiện cảnhquan của sông Hương Dự án triển khai thực hiện, các khu tái định cư được hình thành
có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ với trường học, bệnh viện…sẽgiúp cho các hộ dân vạn đò không phải sống lênh đênh trên mặt nước hoặc lang thangtạm bợ quanh vùng chân bờ thành như hiện nay Bên cạnh đó cuộc sống cộng đồngtheo phường, xã sẽ giúp cho nhận thức của họ được nâng lên, xóa bỏ những suy nghĩ,những tập tục lâu đời, tạo điều kiện cho việc chủ động gặp gỡ trao đổi làm ăn và hòanhập cộng đồng giữa những người dân vạn đò cũng như các tổ chức đoàn thể, xã hộiđược thuận lợi Ngoài việc nâng cao và cải thiện cuộc sống của các hộ dân vạn đò thìviệc trả lại vẻ đẹp cảnh quan của sông Hương nói riêng và nét đẹp tôn nghiêm củamảnh đất cố đô nói chung cũng rất quan trọng Bởi Huế đẹp vì có sông Hương và sôngHương trở nên thơ mộng cũng do được nằm giữa lòng cố đô Huế chính vì vậy nếu dự
án được thực hiện sẽ sớm chấm dứt việc hàng ngày hàng giờ sông Hương đang bị ônhiễm và xuống cấp thật đau xót như hiện nay Cùng với những ý nghĩa về mặt xã hộikhi dự án được phê duyệt sẽ là cơ sở tạo điều kiện thu hút sự giúp đỡ về nguồn vốncủa các tổ chức xã hội trong và ngoài nước, các tổ chức phi Chính phủ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 312.2.2 Hiệu quả kinh tế
Dự án mang tính chất xã hội rất cao song không phải vì thế mà chúng ta không nhậnthấy những hiệu quả về mặt kinh tế lâu dài mà dự án mang lại cụ thể như:
Việc định cư dân vạn đò góp phần nâng cao dân trí thông qua các dự án sẽ cócác chính sách, tìm nguồn kinh phí hỗ trợ cho các lớp xóa mù, tình thương, các lớp tậphuấn, dạy nghề… Khi dự án được thực hiện sẽ tạo ra những lực lượng lao động cótrình độ nghề được đào tạo, có sức khỏe và chính hộ sẽ là lực lượng chính góp phậncải thiện, nâng cao đời sống kinh tế gia đình nói riêng và nền kinh tế cộng đồng cũngnhư mặt bằng kinh tế của Thành phố nói chung từ đó hàng năm hạn chế khoản chi phí
hỗ trợ xóa đói giảm nghèo như hiện nay Khi dự án được phê duyệt sẽ thu hút được sựquan tâm giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước giúp cho hoạt động của các tổchức y tế đối với sức khỏe của cộng động dân cư vạn đò được tốt hơn, việc phổ cậpcác kiến thức về kế hoạch hóa gia đình thuận lợi hơn khi họ đã có cuộc sống định cưthành cộng đồng trên bờ, hạn chế các tệ nạn xã hội từ đó giảm bớt các chi phí về y tếchăm sóc sức khỏe ban đầu giúp cho người dân có ý thức hơn trong việc tự chủ tránh
sự ỷ lại Hàng năm các chi phí về môi trường trên dòng sông Hương là rất lớn, vì vậykhi dự án định cư dân vạn đò được phê duyệt sẽ giảm thiểu rất lớn về ô nhiễm đối vớidòng sông Hương từ đó tiết kiệm rất nhiều cho khoản chi phí về môi trường
2.2.3 Hiệu quả môi trường
Sự tồn tại của các con đò “ổ chuột” trên sông Hương đã gây ảnh hưởng mỹquan tới sông Hương, cái “thần” của kiến trúc cảnh quan đô thị Thành phố Huế Giảiquyết triệt để sự tồn tại các con đò này sẽ giữ gìn bộ mặt kiến trúc cảnh quan đô thịThành phố Huế, một Thành phố trung tâm du lịch lớn của miền Trung, di sản văn hóathế giới Định cư ổn định cuộc sống dân vạn đò trên bờ sẽ giải quyết triệt để mộtnguồn gây ô nhiễm khó kiểm soát, hàng năm đe dọa đến nguồn nước sông Hương,nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho toàn bộ người dân Thành phố Huế Giảiquyết triệt để sự tồn tại của các con đò trên sông Hương cũng là giải quyết triệt để mộttrong những trung tâm phát sinh dịch bệnh hàng năm cho người dân Thành phố, gópphần cải thiện sức khỏe người dân sống cả trên bờ lẫn dưới nước Dự án được thựchiện cũng sẽ giảm thiểu được các tệ nạn xã hội, nghiện hút mãi dâm lợi dụng sự tồn tại
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 32của các tụ điểm vạn đò trên sông để tồn tại và phát triển Môi trường các khu vực dân
cư mới trên bờ sẽ được đảm bảo do hệ thống hạ tầng kỹ thuật được xây dựng đồng bộkhi thực hiện xây dựng khu định cư mới Đối với các tụ điểm tập trung các thuyềnnghề, vấn đề vệ sinh môi trường cũng được đảm bảo do đã thực hiện các giải pháp môitrường phù hợp thích ứng
2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của các hộ dân vạn đò ở khu tái định cư Bãi Dâu, phường Phú Mậu, Tp Huế.
2.3.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu
Bảng 2.1: Cơ cấu giới tính của các hộ gia đình được điều tra
Giới tính Tần số (Người) Tỉ lệ (%)
(Nguồn: Điều tra hộ tái định cư, 2014)
Thông qua 40 bảng hỏi hợp lệ mà tác giả thu thập được, mẫu điều tra có nhữngđặc điểm như sau:
* Về giới tính:
Về vấn đề giới tính, trong 40 hộ gia đình được chọn điều tra thì nam giới chiếm53,45% và nữ giới chiếm 46,55% Có thể xem tỷ lệ nam chiếm nhiều hơn ở đây là mộtlợi thế trong việc tái định cư cho dân vạn đò từ phường Phú Hiệp đến khu chung cưBãi Dâu vì đối tượng là nam sẽ ít bị “tổn thương” hơn nữ giới khi có sự thay đổi vềnhững điều kiện xung quanh, được biểu diễn cụ thể trên bảng 2.1
* Về độ tuổi:
Theo biểu đồ 1 dưới đây, số trẻ em trong độ tuổi từ 0 đến 13 tuổi chiếm 14,22 %tổng số người dân trong 40 hộ được điều tra Với tỉ lệ này cho ta biết được người dân ởđây vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc kế hoạch hoá gia đình Ngược lại,
số người trên 60 tuổi lại có tỷ lệ rất thấp, chỉ chiếm khoảng 4,74 %, qua đó cho thấy mứcsống của người dân vẫn chưa tốt, điều kiện về ăn uống chưa đủ chất dinh dưỡng, điều kiệnsinh hoạt khó khăn, ảnh hưởng đến tuổi thọ của người dân vùng vạn đò ở đây Số ngườitrong độ tuổi từ 13 đến 60 tuổi là 188 người, chiếm 81,03 %, có thể coi là mặt thuận lợi,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33nguồn lao động dồi dào giúp tạo thu nhập cho gia đình Nhưng với việc thay đổi nơi ở vàdân trí còn thấp đã làm cho tỷ lệ thất nghiệp và hiệu quả lao động ở nơi này càng cao vànhững người này lại trở thành gánh nặng trong mỗi hộ gia đình nói riêng cũng như xã hộinói chung Bên cạnh đó tổng số trẻ em và người già dù chiếm phần nhỏ khoảng 18,96 %(44 người) là thành phần chưa đến tuổi lao động hoặc mất sức lao động, già cả cũng sẽ trởthành gánh nặng, làm tăng thêm các khoản chi tiêu cho các hộ gia đình.
Biểu đồ 1: Cơ cấu dân cư mỗi nhóm tuổi theo giới tính
(Nguồn: Điều tra hộ tái định cư, 2014)
Ta thấy, số lượng nam giới trong độ tuổi lao động từ 13 đến 60 tuổi chiếm79,03% (98 người) trong khi số này ở nữ giới là 83,33% (90 người) Trong các hộ giađình tái định cư Bãi Dâu có mức thu nhập từ thấp đến trung bình thì nam giới thường
là lực lượng lao động chính tạo ra thu nhập Vì thế, tỷ lệ nam giới trong độ tuổi laođộng ít hơn so với nữ giới cùng độ tuổi cũng là một điểm yếu trong việc nâng cao tìnhtrạng kinh tế của các hộ tái định cư
Số người trên tuổi lao động chiếm 4,7% Những người này đã già cả, mất sứclao động, một số mắc các chứng bệnh, không đảm nhận được các công việc nặng nhọc
và thường sống nhờ vào tiền cấp dưỡng của con cháu Tuy nhiên, vẫn có một số ítngười già có thể làm thêm những việc thủ công đơn giản như: làm gia công những mặthàng như: đan lưới, làm chổi…nhưng thu nhập rất thấp, chỉ vừa đủ cho bản thân Đa
số họ làm công việc nội trợ và chăm sóc cháu nhỏ, công việc này cũng đòi hỏi nhiềuthời gian và công sức
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34* Về trình độ học vấn:
Trình độ học vấn và nâng cao trình độ học vấn cho người dân tái định cư là vấn đềđang được các chính quyền quan tâm hàng đầu sau khi tái định cư, vì học vấn là yếu tố quantrọng tác động đến nhiều vấn đề trong cuộc sống: mức sinh, công việc, thu nhập, chi tiêu…
Trong tổng số 232 nhân khẩu được điều tra, có 12 con em chưa đến tuổi đi họcnên không đưa vào xem xét Nhìn chung trình độ học vấn của các thành viên trong hộgia đình tái định cư còn khá thấp Tỷ lệ không biết chữ chiếm 7,73%, so với mặt bằngchung của Thành phố Huế thì đây là con số khá lớn Ngoài ra thì tỷ lệ trình độ học vấngiảm nhanh qua các cấp, giảm 34,55% từ cấp I đến cấp II và giảm 24,09% từ cấp II lêncấp III, biểu diễn cụ thể ở bảng 2.2 bên dưới Điều này chứng tỏ giáo dục ở đây vẫnchưa được coi trọng hoặc có nhiều tác động tiêu cực ảnh hưởng đến việc học như:những khó khăn do phải đi học xa, những rắc rối trong việc chuyển trường và lí dochính thường vì những khó khăn về kinh tế gia đình
Bảng 2.2: Trình độ học vấn của người dân vạn đò theo giới tính
(Nguồn: Điều tra hộ tái định cư, 2014)
Qua điều tra, ta thấy được trình độ học vấn của các thành viên trong hộ gia đìnhtái định cư có sự chệnh lệch rõ ràng theo giới tính Nhìn chung thì trình độ học vấn của
nữ thấp hơn nam, tỷ lệ không biết chữ của nữ chiếm 9,7%( 10 người), tỷ lệ không biếtchữ ở nam lại thấp hơn, chiếm 5,98%( chiếm 7 người) Ngoài tỷ lệ cấp I ra thì tỷ lệ ở
nữ luôn thấp hơn nam Đây là một vấn đề khó khăn cho các thành viên nữ của các hộgia đình tái định cư trong tìm kiếm việc làm
Bảng 2.3 cho thấy, trong số những trẻ em ở độ tuổi từ 6 – 10 tuổi có 92% trẻđang học cấp I Điều này cho thấy các hộ gia đình tái định cư cũng cố gắng để đưa con
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35em đến trường theo đúng độ tuổi quy định Tuy nhiên, khảo sát cũng cho thấy khi tuổicàng tăng, số trẻ em đi học đúng tuổi đúng cấp càng giảm Tỷ lệ trẻ ở độ tuổi từ 11 –
15 tuổi đang học cấp II chỉ chiếm 73,68%, và tỷ lệ trẻ ở độ tuổi từ 16 – 18 tuổi đanghọc cấp III chỉ chiếm 33,33% Nguyên nhân của việc trẻ không đi học đúng tuổi có thể
là do các em đã nghỉ học, đi học trễ hoặc ở lại lớp Hơn nữa, đáng chú ý là do nhữngbiến động của quá trình tái định cư đã khiến cho một số trẻ phải nghỉ học hay tạm thờinghỉ học để giảm bớt gánh nặng cho gia đình Chính vì thế, cần có những chương trình
hỗ trợ để đào tạo, bảo đảm các em trong độ tuổi đi học (6-18 tuổi) có điều kiện đếntrường lớp và hoàn tất được chương trình phổ thông
Bảng 2.3: Trình độ học vấn của các thành viên hộ gia đình theo độ tuổi
(Nguồn: Điều tra hộ tái định cư, 2014)
Bên cạnh đó, số người trong độ tuổi lao động (19 – 60 tuổi) có trình độ học vấnchủ yếu là cấp I với tỷ lệ 68,12%; 25,36% có trình độ học vấn là cấp II, chỉ có 0,72%
có trình độ học vấn cấp III và 5,8% không biết chữ Những tỷ lệ này cho thấy lựclượng lao động trong các hộ gia đình tái định cư có trình độ học vấn khá thấp, và điềunày khiến cho những công việc họ làm chủ yếu là những công việc lao động tay chânđơn giản với thu nhập không cao Do đó, cuộc sống sau tái định cư của họ thường khó
có thể ổn định trong một thời gian ngắn
2.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng
2.3.2.1 Yếu tố về việc làm, thu nhập, điều kiện làm ăn
Tình trạng hoạt động của các thành viên hộ gia đình trên 13 tuổi sẽ được mô tảbởi biểu đồ dưới đây:
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3628.64
24.12 16.08
13.07
6.03
Việc làm ổn định Việc làm bấp bênh Không có việc làm
Đi học Nội trợ Mất sức, già
Biểu đồ 2: Tình trạng hoạt động của các thành viên hộ gia đình trên 13 tuổi
(Nguồn: Điều tra hộ tái định cư, 2014)
Trong khi cuộc sống người dân ở đây khá khó khăn thì có tới 13,07% người nộitrợ và 6,03% người mất sức và già, đây là một tỷ lệ khá lớn, vì vậy để cải thiện cuộcsống thì chính quyền địa phương cùng với các cơ quan ban ngành giúp đỡ, tư vấn, tìmkiếm những ngành nghề phù hợp cho những đối tượng trên
Nghiên cứu việc tái định cư ảnh hưởng như thế nào đến việc làm của người dâncũng là một phần giúp chúng ta hiểu rõ thêm về đời sống và thu nhập của các hộ dânvạn đò tại khu tái định cư Bãi Dâu
* Tái định cư tác động đến việc làm của người dân
Cụ thể trong cuộc khảo sát này, việc làm được phân thành 8 nhóm chính nhưsau: nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, buôn bán, vậnchuyển, dịch vụ, hành chính sự nghiệp, và nhóm các công việc khác
Việc làm là một chỉ tiêu quan trọng tác động đến đời sống vật chất cũng nhưtinh thần các hộ gia đình tái định cư Nhìn chung, tỷ lệ người thay đổi việc làm do táiđịnh cư khá cao, chiếm 74,46%, như ở bảng 2.4 đã thống kê Tỷ lệ này khá phù hợp sovới trình độ học vấn lẫn trình độ chuyên môn của những người ở đây, với trình độ nàythì sau khi tái định cư nhiều người phải thay đổi việc làm cho phù hợp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37Bảng 2.4: Thay đổi việc làm theo giới tính
-(Nguồn: Điều tra hộ tái định cư, 2014)
Xem xét sự thay đổi việc làm do tái định cư theo giới tính, có thể thấy nam giớithay đổi việc làm nhiều hơn nữ giới khoảng 18,4% Điều này cho thấy để phù hợphoàn cảnh sống thì mọi người phải tìm kiếm công việc mới, nhưng do trình độ còn hạnhẹp và kinh nghiệm lẫn sức khoẻ không được tốt nên họ vẫn khó có thể làm nhữngcông việc như cũ Trước những biến động của cuộc sống, nam giới, những người vẫnđược coi là “trụ cột gia đình”, luôn cố gắng tìm mọi cách để thích nghi với cuộc sốngmới Hơn nữa, với ưu thế về sức khoẻ, về trình độ chuyên môn, người nam có thể dễdàng thay đổi việc làm hơn so với nữ giới
Bảng 2.5: Thay đổi việc làm theo độ tuổi
-(Nguồn: Điều tra hộ tái định cư, 2014)
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ