A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bác Tôn Đức Thắng, một nhà yêu nước vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản kiên cường mẫu mực, lãnh tụ kính mến của GCCN và nhân dân các dân tộc Việt Nam. Bác Tôn là hình mẫu phong phú, hoàn chỉnh về lối sống, lẽ sống, nhân cách, đạo đức cách mạng cần kiệm, liêm chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Cuộc đời sự nghiệp của Bác Tôn mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp các thế hệ người Việt nam nói chung, cho các thế hệ GCCN Việt Nam nói riêng noi theo. Bác Tôn Đức Thắng đã có những cống hiến to lớn, quan trọng đối với GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam Cuộc đời hoạt động của Bác Tôn rất phong phú, đa dạng, từ học nghề, làm thợ, làm lính đến tổ chức đấu tranh, từ tù đày Côn đảo đến tham gia kháng chiến, tham gia các chức vụ quan trọng trong bộ máy lănh đạo Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị. Từ trực tiếp tham gia hoạt động trong phong trào công nhân, công đoàn ở nước ngoài, đến tham gia hoạt động ở trong nước. Dù ở đâu, Bác Tôn cũng luôn thể hiện rỏ một người yêu nước, thương dân nhất mực, người có tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, chia sẻ ngọt bùi, tương thân tương ái, trọng nghĩa khí, ghét áp bức bất công, cần cù sáng tạo, bao dung, độ lượng. Khi bị bắt giam, đày đọa hơn 15 năm trời trong ngục tù Côn Đảo, với những cực hình hết sức dã man, nhốt vào hầm xay lúa, nhốt vào hầm tối, tay chân bị xiềng xích, kềm kẹp, bị đánh đập tàn bạo, bị bỏ đói, khát, Bác Tôn vẫn giữ vững tinh thần cách mạng kiên cường và sự trung thành vô hạn đối với Đảng, luôn tin tưởng ở tương lai tươi sáng của dân tộc, luôn vui vẻ, không bao giờ sao nhãng công tác cách mạng, chịu khó nghiên cứu, học tập lý luận. Bản lĩnh và hành động của Bác Tôn làm kẻ thù phải, kính nể, đồng chí, bạn bè càng quư trọng, kính phục. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng dù ở đâu, với những cương vị quan trọng khác nhau của Đảng, Nhà nước, Bác Tôn vẫn giữ vững những đức tính vốn có của mình, ăn những món ăn giản dị, như những món ăn của quê nhà,vẫn mặc như những người bình thường, ghét sự xa hoa, lãng phí, ham lao động trí óc và chân tay. Bác Tôn luôn chăm lo, giữ gìn, củng cố tình đoàn kết đồng chí, đồng bào, đoàn kết với các nước anh em và bè bạn quốc tế vì độc lập thống nhất tổ quốc, vì chủ nghĩa xă hội, vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc. Trong công tác cũng như trong sinh hoạt, Bác Tôn Đức Thắng luôn nêu tấm gương mẫu mực, sáng ngời về tính nguyên tắc, tính tổ chức, dù làm việc lớn, việc nhỏ đều phấn đấu không mệt mỏi, đều tuân thủ quyết định của tổ chức. Cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác Tôn là tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tụy, về tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn, giản dị. Như cố Thủ tưởng Phạm Văn Đồng đă viết di sản quý báu nhất mà đồng chí Tôn Đức Thắng để lại cho nhân dân là chất người Tôn Đức Thắng..., tinh túy của chất người ấy là lòng thương nước, yêu dân, niềm ưu ái với đồng bào, đồng chí, niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cách mạng, mặc dù khó khăn, gian khổ, nhưng tinh thần một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đức chí công vô tư, quên mình, sự khiêm tốn giản dị, hồn nhiên trong sáng. Đó là chất cách mạng tinh khiết, không gì làm phai nhạt được, từ thưở thanh niên đến cuối đời, vượt qua muôn trùng thử thách ngày càng ngời lên đẹp đẽ và cao quý. Phẩm chất đạo đức, ý chí phấn đấu bền bỉ, kiên cường của Bác Tôn Đức Thắng tượng trưng cho tinh hoa phẩm chất cách mạng của GCCN và nhân dân Việt nam. Đạo đức của Bác Tôn là kiểu mẫu phong phú, hoàn chỉnh về lối sống, nhân cách của một người cách mạng suốt đời hoạt động vì nước, vì dân, về tấm lòng trung thành, dũng cảm, thể hiện ý chí sức mạnh phi thường không gì lay chuyển nổi. Bác Tôn mãi mãi là tấm gương sáng, là hình mẫu cho các thế hệ công nhân Việt Nam noi theo. Là nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà lý luận sắc bén, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, người chiến sĩ quốc tế trong sáng được kính trọng trong phong trào cộng sản và quốc tế và là một tấm gương sáng ngời ý chí đấu tranh của một nhà yêu nước lớn, đồng chí Tôn Đức Thắng đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý do em chọn đề tài “ Một số vấn đề về đại đoàn kết và tuyên truyền cách mạng trong tư tưởng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng” làm tiểu luận kết thúc học phần môn Chính trị gia tiêu biểu thế kỷ XX đầu thể kỷ XXI.
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bác Tôn Đức Thắng, một nhà yêu nước vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản kiêncường mẫu mực, lãnh tụ kính mến của GCCN và nhân dân các dân tộc Việt Nam.Bác Tôn là hình mẫu phong phú, hoàn chỉnh về lối sống, lẽ sống, nhân cách, đạođức cách mạng cần kiệm, liêm chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân.Cuộc đời sự nghiệp của Bác Tôn mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp các thế hệngười Việt nam nói chung, cho các thế hệ GCCN Việt Nam nói riêng noi theo BácTôn Đức Thắng đã có những cống hiến to lớn, quan trọng đối với GCCN và tổchức Công đoàn Việt Nam
Cuộc đời hoạt động của Bác Tôn rất phong phú, đa dạng, từ học nghề, làm thợ,làm lính đến tổ chức đấu tranh, từ tù đày Côn đảo đến tham gia kháng chiến, thamgia các chức vụ quan trọng trong bộ máy lănh đạo Đảng, Nhà nước, hệ thống chínhtrị Từ trực tiếp tham gia hoạt động trong phong trào công nhân, công đoàn ở nướcngoài, đến tham gia hoạt động ở trong nước Dù ở đâu, Bác Tôn cũng luôn thể hiện
rỏ một người yêu nước, thương dân nhất mực, người có tinh thần đoàn kết, cố kếtcộng đồng, chia sẻ ngọt bùi, tương thân tương ái, trọng nghĩa khí, ghét áp bức bấtcông, cần cù sáng tạo, bao dung, độ lượng
Khi bị bắt giam, đày đọa hơn 15 năm trời trong ngục tù Côn Đảo, với nhữngcực hình hết sức dã man, nhốt vào hầm xay lúa, nhốt vào hầm tối, tay chân bị xiềngxích, kềm kẹp, bị đánh đập tàn bạo, bị bỏ đói, khát, Bác Tôn vẫn giữ vững tinh thầncách mạng kiên cường và sự trung thành vô hạn đối với Đảng, luôn tin tưởng ởtương lai tươi sáng của dân tộc, luôn vui vẻ, không bao giờ sao nhãng công tác cáchmạng, chịu khó nghiên cứu, học tập lý luận Bản lĩnh và hành động của Bác Tônlàm kẻ thù phải, kính nể, đồng chí, bạn bè càng quư trọng, kính phục Trong suốtcuộc đời hoạt động cách mạng dù ở đâu, với những cương vị quan trọng khác nhaucủa Đảng, Nhà nước, Bác Tôn vẫn giữ vững những đức tính vốn có của mình, ănnhững món ăn giản dị, như những món ăn của quê nhà,vẫn mặc như những người
Trang 2bình thường, ghét sự xa hoa, lãng phí, ham lao động trí óc và chân tay.
Bác Tôn luôn chăm lo, giữ gìn, củng cố tình đoàn kết đồng chí, đồng bào, đoànkết với các nước anh em và bè bạn quốc tế vì độc lập thống nhất tổ quốc, vì chủnghĩa xă hội, vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc Trong công tác cũng nhưtrong sinh hoạt, Bác Tôn Đức Thắng luôn nêu tấm gương mẫu mực, sáng ngời vềtính nguyên tắc, tính tổ chức, dù làm việc lớn, việc nhỏ đều phấn đấu không mệtmỏi, đều tuân thủ quyết định của tổ chức
Cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác Tôn là tấm gương sáng vềlòng trung thành, tận tụy, về tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn,giản dị Như cố Thủ tưởng Phạm Văn Đồng đă viết "di sản quý báu nhất mà đồngchí Tôn Đức Thắng để lại cho nhân dân là chất người Tôn Đức Thắng , tinh túycủa chất người ấy là lòng thương nước, yêu dân, niềm ưu ái với đồng bào, đồng chí,niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cách mạng, mặc dù khó khăn, gian khổ, nhưngtinh thần một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đức chí công vô tư, quên mình, sựkhiêm tốn giản dị, hồn nhiên trong sáng Đó là chất cách mạng tinh khiết, không gìlàm phai nhạt được, từ thưở thanh niên đến cuối đời, vượt qua muôn trùng thửthách ngày càng ngời lên đẹp đẽ và cao quý"
Phẩm chất đạo đức, ý chí phấn đấu bền bỉ, kiên cường của Bác Tôn Đức Thắngtượng trưng cho tinh hoa phẩm chất cách mạng của GCCN và nhân dân Việt nam.Đạo đức của Bác Tôn là kiểu mẫu phong phú, hoàn chỉnh về lối sống, nhân cáchcủa một người cách mạng suốt đời hoạt động vì nước, vì dân, về tấm lòng trungthành, dũng cảm, thể hiện ý chí sức mạnh phi thường không gì lay chuyển nổi BácTôn mãi mãi là tấm gương sáng, là hình mẫu cho các thế hệ công nhân Việt Namnoi theo
Là nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà lý luận sắc bén, một tư duy sáng tạo lớn của cáchmạng Việt Nam, người chiến sĩ quốc tế trong sáng được kính trọng trong phongtrào cộng sản và quốc tế và là một tấm gương sáng ngời ý chí đấu tranh của mộtnhà yêu nước lớn, đồng chí Tôn Đức Thắng đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự
Trang 3nghiệp cách mạng của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Đó là lý do em chọn đề tài “ Một số vấn đề về đại đoàn kết và tuyên truyền cách mạng trong tư tưởng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng” làm tiểu luận kết thúc
học phần môn Chính trị gia tiêu biểu thế kỷ XX đầu thể kỷ XXI
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài sẽ đi tìm hiểu về đồng chí Tôn Đức Thắng, phân tích những quan điểm
lý luận về đại đoàn kết trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân và ý nghĩa những quanđiểm đó với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiểu luận trình bày khái quát về thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Tôn ĐứcThắng và làm rõ một số đóng góp về lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Tôn ĐứcThắng đối với cách mạng Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm cơ bản của Chủ tịch Tôn Đức Thắng về đạiđoàn kết, về tuyên truyền cách mạng của Đảng
Phạm vi nghiên cứu: Trải dài theo suốt quá trình hoạt động cách mạng của Chủtịch Tôn Đức Thắng ( từ năm 1888 - 1980)
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩaMác – Lê nin, phương pháp lý luận gắn liền thực tiễn, phương pháp nghiên cứu,phân tích, tổng hợp tài liệu
5 Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dungtiểu luận gồm 2 chương:
Trang 4Chương 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ, THÂN THẾ SỰ NGHIỆP CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC TÔN ĐỨC THẮNG
1.1 Hoàn cảnh lịch sử
1.1.1 Bối cảnh thế giới đầu thế kỷ XX
Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giaiđoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa).Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường.Đóchính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốcgia phong kiến phương Đông, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sảnphẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tưbản của các nước đế quốc Đến năm 1914, các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức,
Mỹ, Nhật chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km2 với số dân 523,4 triệungười (so với diện tích các nước đó là 16,5 triệu km2 và dân số 437,2 triệu) Riêngdiện tích các thuộc địa của Pháp là 10,6 triệu km2 với số dân 55,5 triệu (so với diệntích nước Pháp là 0,5 triệu km2 và dân số 39,6 triệu người)
Chủ nghĩa đế quốc xuất khẩu tư bản, đầu tư khai thác thuộc địa đem lại lợinhuận tối đa cho tư bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn; làm cho quan hệ
xã hội của các nước thuộc địa biến đổi một cách căn bản Các nước thuộc địa bị lôicuốn vào con đường tư bản thực dân Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa
đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa thực dân càng gay gắt, sựphản ứng dân tộc của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt Và chính bản thânchủ nghĩa đế quốc xâm lược, thống trị các thuộc địa lại tạo cho các dân tộc bị chinhphục những phương tiện và phương pháp để tự giải phóng Sự thức tỉnh về ý thức
Trang 5dân tộc và phong trào đấu tranh dân tộc để tự giải phóng khỏi ách thực dân, lập lạicác quốc gia dân tộc độc lập trên thế giới chịu tác động sâu sắc của chính sách xâmlược, thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân.
Đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tỉnh của các dân tộc châu Á cùngvới phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng 1905 ở Nga đã tạothành một cao trào thức tỉnh của các dân tộc phương Đông Hàng trăm triệu ngườihướng về một cuộc sống mới với ánh sáng tự do
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công Đối với nước Nga, đó làcuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì
đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì trước cách mạng "nướcNga là nhà tù của các dân tộc" Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công,các dân tộc thuộc địa của đế quốc Nga được giải phóng và được hưởng quyền dântộc tự quyết, kể cả quyền phân lập, hình thành nên các quốc gia độc lập và quyềnliên hợp, dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết(1922) Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc
bị áp bức đã "mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giảiphóng dân tộc"
Nó làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phươngTây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan
hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đếquốc
Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập Tại Đại hội II của Quốc tếCộng sản (1920), Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa của V.I Lênin được công bố Luận cương nổi tiếng này đã chỉ raphương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức Với thắng lợi của Cáchmạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, nhiều đảng cộng sảntrên thế giới đã được thành lập
Tình hình thế giới đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam
Trang 61.1.2 Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX, sự kiện lịch sử tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị, kinh
tế, xã hội Việt Nam; làm thay đổi kết cấu giai cấp, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sốngmọi người dân khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Sau thời kỳ "bình định",thực dân Pháp thi hành chính sách "khai thác thuộc địa" - thực chất là tăng cườngbóc lột, vơ vét thuộc địa Vì vậy, đời sống nhân dân lao động đã khó khăn, càngthêm khốn đốn Hậu quả là Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thànhnước thuộc địa nửa phong kiến
Sang đầu thế kỷ XX, đời sống các tầng lớp nhân dân càng bị bần cùng hoá Mâuthuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độthuộc địa ngày một gay gắt, trở thành mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu Bêncạnh đó, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ càng gay gắt Đây là trở lực lớn, kìmhãm sự phát triển của xã hội Việt Nam
Vì vậy, chỉ có giải quyết thành công những mâu thuẫn trên đây - đồng nghĩavới việc tìm ra con đường cứu nước, giành lại độc lập dân tộc thì xã hội Việt Nammới tiếp tục phát triển Đó là đòi hỏi khách quan, cấp bách của cách mạng ViệtNam từ đầu thế kỷ XX
Để giải quyết mâu thuẫn trên, nhiều phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi vớimục tiêu "Phen này quyết chống cả Triều lẫn Tây" Đó là phong trào Đông Du,Đông Kinh nghĩa thục do các sỹ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng dânchủ tư sản như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo hay khởi nghĩa Yên Báicủa Việt Nam Quốc Dân đảng dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thái Học, Phạm TuấnTài rồi khởi nghĩa nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám kéodài hơn 30 năm Đó là trang sử đấu tranh vẻ vang của dân tộc trên con đường đấutranh giành độc lập Mặc dù diễn ra sôi nổi, rộng khắp các vùng miền, nhưng tất cảcác cuộc đấu tranh cuối cùng đều thất bại Bối cảnh lịch sử này, sau này, Hồ ChíMinh viết trong bài Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngàynay: "Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng
Trang 7giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sauđứng dậy Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đã bị dìm trong máu.Những đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam"
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc) ra đi tìm đường cứu nước.Người đã tìm hiểu các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, và Người khẳngđịnh con đường cách mạnh tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sựcho nhân dân các nước nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng
Mùa xuân năm 1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), đã diễn ra Hội nghị thốngnhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc– đại biểu Quốc tế Cộng sản Đi đến thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lậpmột đảng cộng sản lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam
Tháng 10/1930, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất họp đề ra “Luận cươngchính trị” và bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Từ đây,cách mạng Việt Nam chuyến sang một giai đoạn mới
Tuy bị địch khủng bố ác liệt, Đảng và quần chúng cách mạng bị tổn thất nặng
nề, song thành quả lớn nhất của phong trào cách mạng 1930 – 1931 mà quân thùkhông thể xóa bỏ được là : Đã khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo và năng lựclãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân thông qua Đảng tiền phong của mình;
đã đem lại cho nông dân niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng Nhờ tinhthần và nghị lực phi thường được rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh cách mạng đãvượt qua thử thách khó khăn, từng bước khôi phục tổ chức đảng và phong trào cáchmạng
Tháng 3/1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng ở Ma Cao (Trung Quốc).Đại hội đã khẳng định thắng lợi cuộc đấu tranh khôi phục phong trào cách mạng và
hệ thống tổ chức Đảng, đề ra đường lối cách mạng cho giai đoạn mới
Trong những năm 1936 – 1939, chủ trương mới của Đảng đã giải quyết đúngđắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu cụ thể trước mắt của cáchmạng, các mối quan hệ giữa liên minh công – nông và mặt trận đoàn kết dân tộc
Trang 8rộng rãi, giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa phong trào cách mạng ĐôngDương và phong trào cách mạng Pháp và trên thế giới; đề ra các hình thức tổ chức
và đấu tranh giành quyền lợi hàng ngày, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh đỉnhcao hơn vì độc lập dân tộc và tự do
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp đến ĐôngDương và Việt Nam Lợi dụng lúc Pháp thua Đức, ngày 22-9-1940 phát xít Nhật đãtiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng Ngày 23- 9- 1940, tại Hà Nội, Pháp kýhiệp định đầu hàng Nhật Từ đó, nhân dân ta chịu cảnh một cổ bị hai tròng áp bức,bóc lột của Pháp – Nhật Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp –Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
Thực hiện Nghị quyết của Đảng và lời kêu gọi của Nguyến Ái Quốc, các cấp bộđảng và Mặt trận Việt Minh đã tích cực xây dựng các tổ chức cứu quốc của quầnchúng nhân dân, đẩy nhanh việc phát triển lực lượng chính trị và phong trào đấutranh của quần chúng Ngày 25- 10- 1941, Mặt trận Việt Minh tuyên bố ra đời.Công việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang diễn ra sôi nổi ở các khu căn cứ và khắpcác địa phương trong cả nước, đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cáchmạng quần chúng vùng lên đấu tranh giành chính quyền
Đêm 9 – 3- 1945, NHật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương Quân Pháp
đã nhanh chóng đầu hàng quân Nhật Ngay đêm 9-3- 1945, Ban thường vụ Trungương Đảng họp Hội nghị mở rộng, ngày 12- 3-1945, Ban thường vụ Trung ươngĐảng ra chỉ thị “ Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Chỉ thị nêu rõphương châm đấu tranh lúc này là phát động chiến tranh du kích, giải phóng từngvùng, mở rộng căn cứ địa
Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào(Tuyên Quang) từ 13- 15/8/1945 Hộinghị nhận định: Cơ hội rất tốt cho ta giành chính quyền độc lập đã tới và quyết địnhphát động toàn dân Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và taysai, trước khi quân đồng minh vào Đông Dương
Chỉ trong vòng 15 ngày cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trên cả nước,
Trang 9chính quyền về tay nhân dân Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đập tanxiềng xích nô lệ của thực dân Pháp trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủhàng mấy ngàn năm và ách thống trị của phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Nhân dân ViệtNam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của nước độc lập tự do, làm chủ vậnmệnh của mình Ngày 2- 9 – 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặtChính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độclập, tuyên bố với quốc dân đồng bào, với toàn thể thế giới: Nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa ra đời Đưa dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độclập dân tộc tự do và chủ nghĩa xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước ta đi từ thắnglợi này đến thắng lợi khác, đặc biệt là chiến thắng trước hai đế quốc lớn của thếgiới: thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra một giai đoạn mới đưa cả nước tiến lênchủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi của công cuộc đổi mới trong những chặngđường tiếp theo
1.2 Thân thế sự nghiệp Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng
Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực, cốnghiến trọn đời cho cách mạng, cho dân tộc; người bạn chiến đấu thân thiết của Chủtịch Hồ Chí Minh, đồng thời là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng,Nhà nước và Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam Trong suốt cuộc đời hoạt độngcách mạng, ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn, gian khổ đến mấy, Chủ tịch TônĐức Thắng luôn tỏ rõ rất mực trung thành, tận tụy đối với Đảng, nhân dân, luônnêu cao tinh thần anh dũng, bất khuất, phẩm chất đạo đức: cần, khiệm, liêm chính,chí công, vô tư
Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 trong một gia đìnhnông dân tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã MỹHòa Hưng, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang Năm 1910, sau khi tốt nghiệpTrường Bách nghệ Sài Gòn với điểm tối ưu (20/20), Bác gia nhập hàng ngũ giai
Trang 10cấp công nhân Việt Nam và làm việc tại xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son của thựcdân Pháp tại Sài Gòn Truyền thống yêu nước, quật cường của quê hương, đất nước
và cuộc sống của giai cấp công nhân đã sớm thức tỉnh tinh thần yêu nước của Bác -Từ 1906-1909: Học Trường Kĩ nghệ Viễn Đông, làm công nhân Nhà máy BaSon của Hải quân Pháp ở Sài Gòn;
- Năm 1912: Tổ chức cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son
- Từ 1914 đến 1918: Tham gia hoạt động cách mạng từ chiến tranh thế giới, làmcông nhân quân giới ở quân cảng Toulon (miền Nam nước Pháp) và làm thợ máytrên chiến hạm France
- 20/4/1919: Dưới sự lãnh đạo của Công hội Pháp đã tham gia phản chiến vàtreo cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, tham gia cuộcbinh biến của binh sĩ Pháp ở mặt bể Hắc Hải, sau đó bị trục xuất khỏi nước Pháp
- Năm 1920: Lập Công hội bí mật ở Sài Gòn, đây là tổ chức Công hội đầu tiêncủa giai cấp công nhân Việt Nam
- Năm 1927: Tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và trựctiếp lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn
- Tháng 12/1928: Bị địch bắt ở Sài Gòn
- Ngày 26/7/1929: Bị kết án 20 năm khổ sai
Đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3/7/1930, con tàu Armand Roussean của thực dânPháp lặng lẽ rời Sài gòn đưa đồng chí Tôn Đức Thắng và một số cán bộ, quầnchúng yêu nước đày ra Côn Đảo Kể từ đó cho đến ngày 18/8/1945, khi Côn Đảođược giải phóng, người tù mang số tù 5289-TF cùng với lời ghi chú trong phiếuquản lý “Phần tử nguy hiểm” đã chứng tỏ nghị lực phi thường, ý chí kiên cường vàlòng trung thành vô hạn với cách mạng 15 năm ở địa ngục trần gian Côn Đảo làquãng thời gian thử thách lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồngchí Tôn Đức Thắng nhưng đó cũng là quãng đời đầy vinh quanh khi đồng chí thực
sự biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng
- Năm 1930: Lập chi bộ nhà tù lãnh đạo anh em trong tù đấu tranh, được Xứ ủy
Trang 11Nam Kỳ thừa nhận là chi bộ đặc biệt và là đảng viên từ đó Bằng những kinhnghiệm đã có trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, đồng chí Tôn Đức Thắng
đã bàn với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhânlãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù
Nhiều Đảng viên cộng sản trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng bị kết án khổsai cũng bị giam chung với tù thường phạm ở Banh I, nơi chuyên giam giữ tù lưumanh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án Đây là thủ đoạn thâm độc của thực dânPháp mượn bàn tay của những tên tù anh chị nhằm tiêu diệt những người cộng sản.Trong một lần liên lạc của Hội, bọn gác ngục đã phát hiện được Tôn Đức Thắng
và phạt giam ở Hầm xay lúa Hầm là địa ngục của địa ngục, một hình thức cực hìnhđối với tù nhân, địch gọi là “Khu trừng giời” Với âm mưu thâm độc của địch muốndùng tay anh chị để hành hạ và giết Tôn Đức Thắng, hiểu được ý đồ này, đồng chíTôn Đức Thắng đã tập hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúabàn cách nắm lấy quyền lực điều hành để cải thiện đời sống và điều kiện làm việccho những bạn tù ở Hầm: bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp, phân công
để tất cả mọi người làm việc theo điều kiện sức khỏe, người yếu thì sàng gạo, đóngbao, người khỏe thì xay và khuân vác thóc, kíp đứng cối thì bố trí thêm người, thaynhau người làm, người nghỉ
Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, đồng chí Tôn Đức Thắng làm việc tại
Sở Lưới, vừa sửa máy vừa lái canô Sở lưới, với vai trò của đồng chí Tôn ĐứcThắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng của tổ chức Đảng ở Côn Đảo và làđầu mối để tổ chức cho cán bộ, đảng viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạt động trongđất liền
Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, nhanh chóng đánh bạiđạo quân Quan Đông hơn một triêu lính tinh nhuệ của Nhật Ngày 15/8/1945, phátxít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh không điều kiện.Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân cả nước vùng lên Tổng khởi nghĩagiành chính quyền trong cả nước Sau khi nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
Trang 12Tuyên ngôn độc lập do một đài nước ngoài phát lại, toản đảo vui mừng không xiết.Sáng 23/9/1945, tàu Phú Quốc cùng 25 chiếc thuyền bầu đã nhổ neo đưa 1800 tùchính trị trở về đất liền Chiếc canô vừa được sửa lại mang tên Giải phóng do chínhđồng chí Tôn Đức Thắng lái đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo trở về Tuygian nan, vất vả nhưng chiều ngày 2/3/9/1945 mọi người đã cập bến Đại Ngãi, tỉnhSóc Trăng trong sự đón tiếp nồng nhiệt của Đảng bộ và nhân dân địa phương.
- Từ 8/1945: Ở Côn Đảo trở về Nam Bộ làm Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến hànhchính Nam Bộ phụ trách về vấn đề lương thực và vũ khí
- Ngày 06/01/1946: Trúng cử là đại biểu Quốc hội khóa đầu của nước Việt NamDân chủ Cộng hòa và tham gia phái đoàn Quốc hội sang Pháp
- Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước, Đảng
ta chính thức phát động cuộc vận động thi đua yêu nước Đây là thời kỳ đồng chíTôn Đức Thắng có nhiều cố gắng và đạt kết quả tốt trong việc làm cho tư tưởng HồChí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộckháng chiến kiến quốc
- Nhân dịp đồng chí Khu trưởng khu VIII Nam Bộ ra báo cáo với Trung ương
và Bác Hồ về tình hình cuộc kháng chiến, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đến thămĐoàn và trao đổi thân tình: “Mặc dầu tham gia vào cuộc lãnh đão chung ở ngoàinày – một nhiệm vụ rất lớn, nhưng lúc nào tôi cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, lúcnào cung nghĩ tới chiến trường Nam Bộ là nơi đồng chí, đồng bào đương khángchiến gian lao Tôi đã nhiều lần đề nghị với Bác Hồ, với Trung ương cho trở vềchiến trường để cùng với đồng chí, đồng bào Nam Bộ tham gia kháng chiến nhưngBác Hồ chưa đồng ý (…) Đề nghị đồng chí, đề nghị đoàn về báo cáo lại với Xử ủy
và với đồng báo Nam Bộ rằng, Tôn Đức Thắng là người con của nhân dân Nam
Bộ, lúc nào cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, nghĩ tới xứ sở mà mình đã sinh ra và
đã từng hoạt động” Trong thời gian này, Ban Thường trực Quốc hội đã phân côngcác ủy viên đi các địa phương ở Liên khu III và liên khu Việt Bắc động viên nhândân kháng chiến, đồng chí Tôn Đức Thắng được giữ chức Quyền trưởng Ban
Trang 13- Từ 1951: Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội Tại Đại hội Đảng lần thứ
II được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Đồng chí làĐại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI
- Từ 1951 - 1955 : Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt
- Từ 1955 - 1977: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Từ 1960: Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, TổngThanh tra toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó Chủ tịch nước ViệtNam Dân chủ cộng hoà (tháng 7/1960) Tại Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) đượcbầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng
- Ngày 23/9/1969 đến 1981: Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng được bầu vàoBan Chấp hành Trung ương
- Từ 1977 - 1981: Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- 30/3/1980: Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi
Trang 14Chương 2: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA CHỦ
TỊCH NƯỚC TÔN ĐỨC THẮNG 2.1 Lý luận về đại đoàn kết dân tộc
Ðồng chí Tôn Ðức Thắng - tấm gương tiêu biểu cho chính sách đại đoàn kết của Ðảng
Từ những cuộc đấu tranh đầu tiên trên con đường cách mạng của mình, ngườithanh niên yêu nước Tôn Ðức Thắng đã hiểu rõ rằng đoàn kết làm nên sức mạnh Gần 17 năm bị giam cầm trong lao tù đế quốc, trải qua nhiều cuộc đấu tranhchống đàn áp, hành hạ tù nhân, bằng kinh nghiệm, bằng đức độ và uy tín của mình,đồng chí Tôn Ðức Thắng đã đoàn kết được anh em trong tù Ðồng chí đã lãnh đạoanh em tự đấu tranh thắng lợi trong những điều kiện ngặt nghèo Cái tên anh HaiThắng; già Thắng trở nên rất thân thương và quý mến với tất cả tù nhân ở Côn Ðảokhi đó, kể cả tù thường phạm
Những năm 1945 - 1946, trước tình thế thù trong giặc ngoài vô cùng khó khăn,Ðảng chỉ rõ một trong những nhiệm vụ cấp bách là ra sức giữ vững, tăng cường và
mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược "Dân tộctrên hết - Tổ quốc trên hết" "Khẩu hiệu căn bản của cả một giai đoạn cách mạnghiện thời phải là: Lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống phản động Pháp, tiến tớigiành độc lập hoàn toàn"
Ðể đoàn kết, tập hợp đông đảo các lực lượng khác nhau có tinh thần dân tộc,yêu nước và muốn cứu nước nhưng còn đứng ngoài Mặt trận Việt Minh, Ðảng chủtrương thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam Ðồng chí Tôn Ðức Thắng đãđược Ban Chấp hành Trung ương Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọngtrách đó Ðồng chí tham gia Ban sáng lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam cùngvới Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp
và nhiều đại biểu khác không phải là Việt Minh
Ðồng chí Tôn Ðức Thắng đã hoạt động không mệt mỏi bằng tất cả sức lực tâmtrí và kinh nghiệm của mình cùng các sáng lập viên khác để Hội Liên hiệp quốc
Trang 15dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) chính thức ra đời ngày 29-5-1946 tại Hà Nội.
Hồ Chủ tịch được bầu là Chủ tịch danh dự của Hội, cụ Huỳnh Thúc Kháng, PhóChủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là Chủ tịch Hội Ðồng chí Tôn ÐứcThắng được bầu là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam
Sau khi cụ Huỳnh qua đời năm 1947, đồng chí Tôn Ðức Thắng được Ðảng phâncông lãnh đạo Mặt trận Dân tộc thống nhất Sự chọn lựa một người có đức độ, cókhả năng lớn về vận động thuyết phục quần chúng, có khả năng đoàn kết rộng rãi,làm công tác dân vận khéo léo như đồng chí Tôn Ðức Thắng đảm nhiệm vị trí côngtác quan trọng đó là hoàn toàn chính xác
Là người lãnh đạo chủ chốt, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã góp phần quan trọngthảo ra Cương lĩnh của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, trong đó nêu rõ mụcđích của Hội là: " đoàn kết tất cả những đảng phái yêu nước và những đồng bàoyêu nước không đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị,chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường" Với chính sách đó Liên Việt đã thu hút tập hợp được nhiều lực lượng, cá nhântrước kia chưa tham gia Việt Minh nay đứng về phía nhân dân, dù chưa hoàn toànchắc chắn, để phân hóa cô lập kẻ thù, tăng thêm lực lượng cho cách mạng
Ðồng chí Tôn Ðức Thắng đã giải quyết thành công những mối quan hệ giai cấp
và dân tộc trong công tác mặt trận - công tác được đồng chí coi là một hình thứcđấu tranh giai cấp đặc biệt - cho nên đối với bạn đồng minh, phải vừa đoàn kết, vừađấu tranh, đoàn kết để giữ vững mặt trận cách mạng, đấu tranh để đi đến đoàn kếtcao hơn, không thể đoàn kết một chiều, thủ tiêu đấu tranh, cũng không thể đấutranh vô nguyên tắc ảnh hưởng đến đoàn kết
Trước những âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của Pháp và tay sai,Ðảng ta chủ trương thống nhất các tổ chức Mặt trận, lập một Mặt trận dân tộcthống nhất duy nhất với tính chất chặt chẽ và rộng rãi, đặt trên cơ sở công nông vàlao động trí thức, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, lấy tên là Mặt trận LiênViệt Ðồng chí Tôn Ðức Thắng được Ðảng giao nhiệm vụ thống nhất Việt Minh -