1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học tiếng việt cho học sinh lớp 2

93 2,3K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 800,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở các tài liệu này, các tác giả đã đề cập rất rõ vai trò cũng như tác dụng của trò chơi và đưa ra những hoạt động vui chơi chung chung nhưng chưa đi sâu vào ứng dụng và tổ chức trò chơi

Trang 1

-

TRẦN THỊ TÂM

TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG GIỜ HỌC TIẾNG VIỆT

CHO HỌC SINH LỚP 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

-

TRẦN THỊ TÂM

TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG GIỜ HỌC TIẾNG VIỆT

CHO HỌC SINH LỚP 2

Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc Tiểu học)

Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ HÒA

HÀ NỘI, 2014

Trang 3

Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học, Thư viện trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn này

Em xin tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo hướng dẫn - TS Phạm Thị Hòa, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu và các thầy, cô giáo giảng dạy tại trường Tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực nghiệm và thu thập số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Người thực hiện

Trần Thị Tâm

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Phạm Thị Hòa Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Hà Nội, tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Thị Tâm

Trang 5

Đại học Sư phạm

Trang 6

Lời cam đoan

1.1.1 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

1.1.2 Lí luận chung về trò chơi học tập

2.1 Nguyên tắc lựa chọn trò chơi phù hợp với từng phân môn Tiếng Việt

2.2 Cách tổ chức, những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt

2.3 Hoạt động tổ chức trò chơi trong các phân môn Tiếng Việt lớp 2

2.3.1 Hoạt động tổ chức trò chơi trong giờ Tập đọc

2.3.2 Hoạt động tổ chức trò chơi trong giờ Kể chuyện

2.3.3 Hoạt động tổ chức trò chơi trong giờ Chính tả

2.3.4 Hoạt động tổ chức trò chơi trong giờ Luyện từ và câu

2.3.5 Hoạt động tổ chức trò chơi trong Tập viết

2.3.6 Hoạt động tổ chức trò chơi trong giờ Tập làm văn

Trang 7

3.1 Mục đích thực nghiệm

3.2 Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm

3.3 Nội dung thực nghiệm

Trang 8

và các kĩ năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân, chuẩn

bị cho HS học tiếp các bậc học trên Tiểu học là bậc học nền tảng, là cơ sở để hình thành và phát triển nhân cách HS Dạy học ở tiểu học có rất nhiều môn như: môn Toán, môn Tiếng Việt, môn Tự nhiên xã hội, môn Nghệ thuật Mỗi môn học đều có đặc trưng riêng của nó, riêng môn Tiếng Việt góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở tiểu học theo đặc trưng bộ môn của mình Ví dụ: qua phân môn Tập viết các em được rèn luyện chữ viết – một trong những công cụ giao tiếp quan trọng của con người Việt Nam, phân môn Tập đọc giúp các em rèn luyện kĩ năng nghe, nói; hay phân môn Luyện từ và câu giúp các em có được kiến thức về cách dùng từ ngữ, câu văn cho đúng, cho hay Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học giúp cho HS có năng lực sử dụng tiếng Việt văn hóa để suy nghĩ, giao tiếp và học tập Đồng thời cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của người Việt Nam và nước ngoài

Xuất phát từ thực tế và từ mục tiêu giáo dục của nước ta là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn

Trang 9

minh; trong những năm gần đây nhà nước ta đã từng đổi mới phương pháp giáo dục ở các nhà trường phổ thông nói chung và ở nhà trường tiểu học nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Hiện nay, nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang được áp dụng vào nhà trường tiểu học Trong đó có

sự kết hợp hài hóa giữa việc sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống,

và vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực Một trong những phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học đang được giáo viên (GV) chú trọng

là phương pháp trò chơi học tập Hoạt động trò chơi học tập góp phần giúp

GV tổ chức dạy học tiếng Việt theo định hướng nói trên Thông qua hoạt động thực hành nói chung và các trò chơi nói riêng, hoạt động dạy học sẽ gây hứng thú học tập cho HS

Đã có nhiều tác giả đề xuất các trò chơi học tập Tiếng Việt Tuy nhiên việc vận dụng sáng tạo các trò chơi đó vào dạy học môn Tiếng Việt còn rất hạn chế Vì vậy, ở đề tài này chúng tôi đi sâu vào việc nghiên cứu cách vận dụng các trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 bậc Tiểu học Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:

“Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học Tiếng Việt cho học sinh lớp 2” Với

mong muốn giúp các em học sinh yêu thích và học tập tốt hơn môn Tiếng Việt

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu hoạt động tổ chức trò chơi học tập, trò chơi Tiếng Việt nói chung và trò chơi trong giờ học Tiếng Việt nói riêng không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ Qua tìm hiểu chúng tôi thấy các công trình nghiên cứu về trò chơi học tập tập trung ở một số hướng chính sau:

Hướng thứ nhất: nghiên cứu các trò chơi học tập nói chung

Trò chơi học tập không phải là vấn đề mới Vào những năm 40 của thế

kỉ XIX , một số nhà khoa học Giáo dục Nga như: P.A.Bexonova, OP.Seina, E.A.Pokrovxki đã đánh giá cao vai trò giáo dục, đặc biệt là tính hấp dẫn của

Trang 10

trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu giáo E.A.Pokrovxki trong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc biệt

và tính hấp dẫn lạ thường của trò chơi dân gian Nga Bên cạnh kho tàng trò chơi học tập, trong dân gian còn có một số hệ thống trò chơi dạy học khác do các nhà Giáo dục có tên tuổi xây dựng Đại diện cho khuynh hướng sử dụng trò chơi dạy học làm phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà

Sư phạm nổi tiếng người Tiệp khắc I.A.Komenxki (1592 – 1670) Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ Trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phú hơn vốn hiểu biết Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ I.A.Komenxki đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi

Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy học được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm người Đức Ph.Phroebel (1782 – 1852) Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ Quan điểm của ông về trò chơi trẻ nhận thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi, nhận thức được những quy luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình Vì thế ông phủ nhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ trong khi chơi Ph.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn sẵn có của trẻ, ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất, làm giàu vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ

I.B.Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học Theo ông, nếu trên tiết học, GV sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn Ông đã đưa ra hệ

Trang 11

thống trò chơi học tập dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kĩ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những từ còn thiếu, Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui

và phát triển năng lực trí tuệ của chúng

Vào những năm 30 – 40 – 60 của thế kỉ XX, vấn đề sử dụng trò chơi học tập trên “tiết học” được phản ánh trong công trình của R.I.Giucovxkaia , VR.Bexpalona, E.I.Udalsova R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như là hình thức dạy học, giúp người học lĩnh hội tri thức mới từ những ý tưởng đó, Bà đã soạn thảo ra một số “tiết học – trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng

Trong quá trình đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học có rất nhiều nhà giáo dục trong nước nghiên cứu, tìm tòi, thiết kế nên các trò chơi

nhằm giáo dục toàn diện hứng thú học tập cho các em như cuốn: “Tổ chức

hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh” của Hà Nhật Thăng (chủ biên), hay cuốn: “150 trò chơi thiếu nhi”

của Bùi Sĩ Tụng và Trần Quang Đức (đồng chủ biên)

Ở các tài liệu này, các tác giả đã đề cập rất rõ vai trò cũng như tác dụng của trò chơi và đưa ra những hoạt động vui chơi chung chung nhưng chưa đi sâu vào ứng dụng và tổ chức trò chơi trong môn học cụ thể

Hướng thứ hai: Nghiên cứu các trò chơi Tiếng Việt

Nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã có những công trình nghiên cứu

và nhiều ý kiến xung quanh vấn đề trò chơi học tập và sử dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học

- Theo tác giả Nguyễn Trí: Dạy học ở bậc Tiểu học, nhất là các lớp 1,2,3 nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các trò chơi học tập thì sẽ có tác

Trang 12

dụng rất tích cực, kích thích hứng thú học tập và tạo chất lượng cho bài học Tiếng Việt

- Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Khắc Tuân (tham gia cuộc thi “Viết sách bài tập và sách tham khảo” của NXB GD) nêu lên những vấn

đề cơ bản:

+ Đưa trò chơi vào các lớp học nhằm mục đích gì?

+ Trò chơi nào có thể đưa vào lớp học?

+ Trò chơi được sử dụng vào lúc nào?

+ Tổ chức chơi trong giờ học như thế nào?

Các tác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga thông qua cuốn Trò chơi học tập Tiếng Việt 2,3 NXB Giáo dục,

2003, 2004 đã bàn về việc sử dụng trò chơi học tập: Những trò chơi đưa vào sách thường dựa vào nội dung cụ thể của từng phân môn Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào từng địa bàn, từng đối tượng HS để có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lí

Tóm lại, khi xây dựng trò chơi sử dụng trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt nói chung và trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 nói riêng , mục tiêu vui mà học được các nhà nghiên cứu cho là yếu tố quyết định Mặt khác thông qua trò chơi học tập, HS được phát triển một cách toàn diện cả về thể lực, trí tuệ lẫn nhân cách Đưa trò chơi vào lớp học làm cho việc học Tiếng Việt nhẹ nhàng và hiệu quả

Điểm qua các công trình nghiên cứu về trò chơi học tập và trò chơi trong dạy Tiếng Việt, chúng tôi thấy các công trình nghiên cứu chủ yếu đi vào diện rộng, quan tâm giới thiệu các trò chơi và một số ví dụ về cách tổ chức Việc xem xét các biện pháp cụ thể để tổ chức các trò chơi trong giờ học Tiếng Việt cho một đối tượng HS xác định vẫn chưa có công trình nào đi sâu xem xét Đây chính là khoảng trống dành cho đề tài chúng tôi đi tiếp

Trang 13

3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua các trò chơi giúp HS tự mình chiếm lĩnh các tri thức và kĩ năng Tiếng Việt một cách tự nhiên, thoải mái nhất nhằm góp phần nâng cao năng lực giao tiếp cho các em

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài phải thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Tổng hợp các vấn đề lí thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài

- Hệ thống và chọn các trò chơi thích hợp với việc tổ chức rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS lớp hai

- Tổ chức dạy thực nghiệm các trò chơi trong giờ dạy Tiếng Việt

5 Đối tượng nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động dạy học tổ chức trò chơi trong giờ học Tiếng Việt cho HS lớp hai

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra khảo sát: phương pháp này được dùng để khảo sát hoạt động sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học Tiếng Việt của GV và

HS trong nhà trường tiểu học

Trang 14

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thống kê toán học để chứng minh độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

7 Giả thuyết khoa học

Nếu đề tài nghiên cứu thành công nghĩa là hệ thống được các trò chơi phù hợp với nội dung, yêu cầu của từng môn, từng bài học Tiếng Việt, đồng thời đưa ra các chỉ dẫn để giáo viên lựa chọn, sắp xếp và sử dụng trò chơi học tập một cách hợp lí, linh hoạt, sáng tạo thì sẽ kích thích tính tích cực nhận thức, kích thích nhu cầu giao tiếp khi chơi các trò chơi để từ đó rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho HS và góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy học Tiếng Việt

8 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận , luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Tổ chức một số trò chơi học tập trong giờ học Tiếng Việt lớp hai

Chương 3: Thực nghiệm

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

Trò chơi là hoạt động học tập có sự hợp tác, giao lưu, phối hợp cùng nhau Hoạt động giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng trong vui chơi tương tác, cộng tác Nó đặc biệt quan trọng khi được định hướng trong các trò chơi học tập nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng

1.1.1 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

* Giao tiếp và hoạt động giao tiếp trong đời sống xã hội

+ Giao tiếp – nhu cầu thiết yếu của con người

Giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu của con người và là phương thức tồn tại và phát triển của xã hội Giao tiếp trái lại để giữ vững các mối quan hệ đó.Trong hoạt động giao tiếp của con người vừa có thể tiếp nhận thông tin từ người khác đồng thời có thể phản hồi những ý kiến của bản thân Chính sự phản hồi này là điều kiện để người giao tiếp điều chỉnh nội dung giao tiếp cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất

Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng Giao tiếp với tự nhiên và giao tiếp trong xã hội Giao tiếp với các hiện tượng tự nhiên con người nhận ra quy luật của nó giúp con người có ứng xử phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của mình Giao tiếp trong xã hội mang tính chất đa dạng, phong phú, con người có thể giao tiếp trong mọi hoàn cảnh Con người có khả năng giao tiếp với người xưa Con người giao tiếp ở mọi nơi, học tập được nhiều điều nhưng quan trọng nhất là giao tiếp trong trường học – ở đó con người được mở rộng những hiểu biết mang tính lí luận, khoa học

Trang 16

Ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, con người có quyền tự do lựa chọn vốn ngữ riêng cho bản thân mình Cho nên khi nói người ta phải biết lựa chọn những lời nói nào cho phù hợp nhất để không để không những truyền đạt được thông tin mà còn có tác dụng thuyết phục ở người tiếp nhận thông tin

+ Hai phương tiện giao tiếp cơ bản của con người

Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng, phương tiện giao tiếp cũng hết sức đa dạng Theo các nhà kí hiệu học ngôn ngữ thì phương tiện giao tiếp chia thành hai nhóm đó là ngôn ngữ và các yếu tố không bằng ngôn ngữ gọi là các yếu tố phi ngôn ngữ

Nếu yếu tố phi ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp không thể thiếu trong giao tiếp thì ngôn ngữ lại là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Chỉ có giao tiếp bằng ngôn ngữ mới giúp ta hiểu được nội dung một cách chính xác và đầy đủ nhất Vì vậy có thể nói ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người

+ Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

- Khái niệm về hoạt động giao tiếp – giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm giữa người và người Quá trình giao tiếp lại được tiếp tục bằng việc lĩnh hội các yếu tố ngôn ngữ do người nói phát ra,

để hiểu được nội dung mà người nói truyền đạt thì người nghe phải lí giải các yếu tố ngôn ngữ này Kết thúc quá trình này cũng là kết thúc quá trình giao tiếp.Văn bản trong hoạt động giao tiếp được tồn tại ở hai dạng nói và viết

- Giao tiếp, một hiện tượng xã hội

Giao tiếp là hoạt động có tính vĩnh viễn vì ở thời đại nào con người cũng cần phải có giao tiếp Giao tiếp là phương thức giúp con người tồn tại và phát triển Trong tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội thì con người cần phải giao tiếp với nhau Xã hội càng phát triển thì phương tiện giao tiếp của

Trang 17

con người càng hiện đại Giao tiếp được coi là một phương tiện xã hội, giao tiếp là cách thức, hoạt động để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư tưởng, tình cảm giữa người và người trong mọi mặt của đời sống

+ Các nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp

 Nhân vật giao tiếp

Là những người tham gia trực tiếp vào quá trình giao tiếp Quá trình giao tiếp có thể thực hiện bởi hai người hoặc nhiều người Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng, đó là nhân tố để lại dấu ấn đậm nét nhất trong việc lựa chọn nội dung và cách thức trình bày một văn bản Là một người GV phải nắm rõ đặc điểm sinh lí lớp mình để tổ chức ngôn ngữ giảng dạy theo quan điểm giao tiếp cho phù hợp với từng đối tượng Đồng thời phải tạo được vị thế cho bản thân để tăng sức thuyết phục cho lời nói khi truyền đạt đến HS

 Nội dung giao tiếp

Nội dung giao tiếp ở đây là hiện thực được nói đến trong cuộc giao tiếp Để có thể thực hiện hoạt động giao tiếp thì những người tham gia giao tiếp phải nắm rõ về nội dung giao tiếp, cùng hướng về một nội dung giao tiếp nhất định

 Mục đích giao tiếp

Mục đích cơ bản của cuộc giao tiếp là nhằm truyền đạt thông tin, bộc lộ

tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình Qua đó còn phải tác động đến người tiếp nhận một tình cảm nào đó Mục đích giao tiếp là kết quả cuối cùng mà cuộc giao tiếp mong muốn đạt được

 Phương tiện giao tiếp

Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ Đối với người Việt trong những hoạt động giao tiếp thông thường thì ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ thì trình độ ngôn ngữ cũng như vốn hiểu biết về tiếng Việt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp Khi sử dụng tiếng

Trang 18

Việt chúng ta còn cần phải chú ý đến các phong cách sử dụng vì mỗi phong cách

sẽ quyết định việc lựa chọn những phương tiện giao tiếp cho phù hợp

 Hoàn cảnh giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp là không gian, thời gian và những đặc điểm của nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia ra làm hai loại: hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp

+ Hoàn cảnh giao tiếp rộng là hoàn cảnh xã hội, lịch sử, là hoàn cảnh văn hóa mà các nhân vật giao tiếp tồn tại và thực hiện hoạt động giao tiếp

+ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là không gian, thời gian cụ thể… diễn ra cuộc giao tiếp

 Phân loại giao tiếp

Con người có rất nhiều cơ hội giao tiếp với những người khác Giao tiếp có thể phân biệt thành nhiều loại khác nhau

+ Giao tiếp nội tâm

Khi con người trò chuyện với chính bản thân họ, quá trình giao tiếp này diễn ra trong bộ não Nó bao gồm những suy nghĩ, kí ức và nhận thức trong suốt quá trình giao tiếp Hầu hết hành vi phản ứng đối với các cấp độ giao tiếp chủ yếu đều bắt nguồn từ giao tiếp nội tâm Ở cấp độ này, chủ thể đặt ra những quy tắc cho bản thân các kiểu mẫu giao tiếp

Giao tiếp nội tâm bao gồm:

 Giác quan – Ví dụ: các mô hình diễn giải, văn bản, ký hiệu, biểu tượng

 Giao tiếp không bằng lời nói – Ví dụ: các động tác, giao tiếp bằng mắt

 Giao tiếp giữa các bộ phận trên cơ thể

+ Giao tiếp ứng xử

Giao tiếp ứng xử được hiểu là việc giao tiếp giữa hai cá nhân riêng biệt Hình thức giao tiếp này diễn ra khi hai con người giao tiếp với nhau hoặc giao

Trang 19

tiếp theo nhóm Điều này cũng có nghĩa là con người có thể nắm bắt được việc giao tiếp với những con người khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau và làm cho người đó cảm thấy hài lòng Những động tác như giao tiếp bằng mắt, vận động cơ thể, và các động tác tay cũng là một phần của giao tiếp ứng xử Các chức năng phổ biến nhất của việc giao tiếp ứng xử là nghe, nói

và giải quyết mâu thuẫn Phân loại giao tiếp ứng xử đi từ giao tiếp ngôn ngữ đến phi ngôn ngữ và từ tình huống này đến tình huống khác Giao tiếp ứng xử bao gồm việc giao tiếp trực diện có mục đích và thích hợp

+ Giao tiếp theo nhóm nhỏ

Giao tiếp theo nhóm nhỏ là một quá trình tác động lại diễn ra theo nhóm ba người hoặc nhiều hơn để đưa ra được những mục tiêu chung bao gồm giao tiếp qua trung gian Loại giao tiếp này thỉnh thoảng cũng bao gồm giao tiếp ứng xử chỉ có một điểm khác biệt chủ yếu là số lượng người tham gia vào quá trình này Giao tiếp theo nhóm nhỏ có thể là một buổi nói chuyện giữa các thành viên trong gia đình trong bữa ăn tối, hoặc một buổi họp diễn ra bởi một vài thành viên trong tổ chức…

+ Giao tiếp cộng đồng

Khi một người gửi thông điệp cho một bộ phận khán giả, không phân biệt những cá nhân khác nhau Không giống với các cấp độ giao tiếp kể trên, người phát ngôn đóng vai trò chủ yếu trong quá trình giao tiếp này

+ Giao tiếp tập trung

Quá trình giao tiếp tập trung diễn ra khi một nhóm người nhỏ gửi thông điệp cho một bộ phận tiếp nhận lớn thông qua một phương tiện truyền thông

cụ thể Quá trình này biểu hiện sự hình thành và truyền bá một thông điệp đến một bộ phận tiếp nhận lớn thông qua phương tiện truyền thông

+ Giao tiếp phi ngôn ngữ

Trang 20

Trong giao tiếp phi ngôn ngữ, con người truyền những thông điệp cho nhau không sử dụng ngôn ngữ Họ giao tiếp thông qua những biểu hiện trên gương mặt, vị trí đầu, tay và cử động tay, cử động của cơ thể, vị trí của chân

và bàn chân Con người cũng có thể dùng “khoảng cách” để diễn đạt một thông điệp Bằng cách để ý đến giao tiếp phi ngôn ngữ, một người có thể hiểu được những thông điệp từ người khác, và chuyển thông điệp đến người khác

Sự chú ý đến việc giao tiếp phi ngôn ngữ giúp con người:

 Diễn đạt sự tự tin và hiểu biết

 Chứng minh được sức mạnh và tầm ảnh hưởng

 Diễn tả lòng chân thành, sự hứng thú và tinh thần hợp tác

 Tạo dựng lòng tin

 Nhận ra tâm trạng của bản thân và của những người khác

 Khám phá sự khác biệt giữa những gì người khác đang nói và những điều người đó đang nghĩ

- Thay đổi hành vi và không gian giao tiếp để tạo nên những cuộc thảo luận có hiệu quả hơn

 Vai trò của giao tiếp

Để tồn tại và phát triển mỗi người không thể sống một mình, tách khỏi gia đình, người thân, bạn bè, cộng đồng người mà phải gia nhập vào các mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người Thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau và ảnh hưởng tác động qua lại với nhau

Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: tình trạng cô đơn, cô lập, đói giao tiếp không đầy đủ về số lượng, nghèo nàn về nội dung đều dẫn đến những hậu quả nặng nề, đều bị trì trệ rõ rệt trong sự phát triển tâm lý Sự tổn thương về tâm lý đôi khi còn làm cho con người đau khổ hơn, gây cho xã hội nhiều tác hại hơn, nguy hiểm hơn là sự tổn thương về thể xác

Trang 21

Sự giao tiếp giữa con người với con người có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển nhân cách cũng như trong cuộc sống

Giao tiếp là một nhu cầu xã hội cơ bản, xuất hiện sớm nhất trong đời sống của mỗi người Ở mỗi lứa tuổi khác nhau, nhu cầu giao tiếp, đối tượng giao tiếp, phương thức thỏa mãn nhu cầu giao tiếp cũng khác nhau Nhờ giao tiếp, mỗi người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, tổng hòa các quan hệ xã hội tạo thành bản chất con người, lĩnh hội nền văn hóa xã hội tạo thành tâm lí,

ý thức, nhân cách C.Mác đã khẳng định bản chất con người không phải là cái

gì trừu tượng, tồn tại riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Sự đa dạng phong phú của các mối quan hệ xã hội sẽ làm phong phú đời sống tâm lí của con người Dân gian có câu: Đi một ngày đàng học một sàng khôn Càng tích cực tham gia vào các mối quan hệ xã hội, quan hệ giao tiếp phong phú bao nhiêu thì con người càng tiếp thu được những giá trị vật chất, tinh thần to lớn bấy nhiêu

Thông qua giao tiếp, mỗi người không chỉ nhìn nhận, đánh giá được người khác mà còn tự đối chiếu, so sánh mình với người khác, với chuẩn mực

xã hội, từ đó đánh giá chung về bản thân mình Sự tự đánh giá bản thân mình bao giờ cũng khó khăn hơn sự đánh giá người khác Nếu không giao tiếp với người khác thì việc đánh giá bản thân mình có thể mắc sai lầm: Đánh giá quá cao hoặc quá thấp về bản thân mình Khi chủ thể đánh giá quá cao về bản thân mình sẽ hình thành tâm lí tự cao, tự đại, tự mãn, dễ dẫn đến cường điệu hóa bản thân và coi thường người khác Ngược lại, khi chủ thể đánh giá quá thấp

về bản thân mình sẽ hình thành tâm lí tự ti, mặc cảm, không thấy hết khả năng của mình, có biểu hiện chán nản thiếu tích cực, kém nhiệt huyết trong hoạt động Vì vậy, muốn đánh giá đúng ưu điểm,khuyết điểm của bản thân mình thì mỗi người cần phải giao tiếp với người khác

Trang 22

Mặt khác, giao tiếp còn tham gia vào mọi hoạt động của con người: hoạt động học tập lao động, vui chơi và hoạt động xã hội… Giao tiếp định hướng cho các hoạt động, giúp các hoạt động tiến hành đạt hiệu quả Tổ chức các trò chơi học tập cho HS thực chất là tổ chức cho HS biết cách giao tiếp trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể với các mục đích giao tiếp xác định

1.1.2 Lí luận chung về trò chơi học tập

1.1.2.1 Khái niệm về chơi, trò chơi và trò chơi học tập

a) Khái niệm chơi

Chơi là một hoạt động vô tư, trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên – xã hội được mô phỏng lại, nó mang đến cho con người một trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái, dễ chịu

b) Khái niệm trò chơi

Là một kiểu loại phổ biến của chơi: Chơi có luật – tức là chơi mà có luật thì gọi là trò chơi

* Luật chơi của trò chơi học tập

Trò chơi học tập có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện

Ý thức được tác dụng to lớn của trò chơi học tập đối với việc giáo dục trẻ em Các nhà giáo dục học, các nhà tâm lý học đã có những công trình

Trang 23

nghiên cứu bổ ích về lĩnh vực này: A.X,Makarenko – Nhà giáo dục vĩ đại, L.X Xlavina, K.D.Usinxki, N.X.Lukin, N.X.Crupxcala…

Trên tinh thần đó “học mà chơi, chơi mà học” là một quan điểm đúng

đắn trong quá trình hướng dẫn và tổ chức chơi cho các em Trò chơi học tập vừa chú trọng mục đích giải trí nhưng quan trọng hơn là phát triển tư duy cho

HS

1.1.2.2 Trò chơi học tập Tiếng Việt

Trò chơi thì ai cũng thích, bất kể người già hay trẻ nhỏ, ở địa vị xã hội nào Trò chơi mang lại cho con người những phút thư giãn sau những vất vả, bộn bề của cuộc sống, đó là phương tiện giải trí có hiệu quả Đối với trẻ em hoạt động chơi có vai trò hết sức quan trọng, vừa là phương tiện giải trí, vừa

là phương tiện để phát triển tư duy, thể lực

Trò chơi học tập Tiếng Việt là trò chơi có nội dung liên quan tới tiếng Việt, nhằm củng cố kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho việc học Tiếng Việt Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt

 Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt

Theo tác giả Lê Phương Nga: kết hợp sử dụng các hình thức trò chơi

về Tiếng Việt làm phương tiện hỗ trợ cho việc phát triển Tiếng Việt cho HS Thông qua các hoạt động trò chơi học sinh được củng cố về môn Tiếng Việt (Ngữ âm, chữ viết, chính tả, từ ngữ, ngữ pháp và văn bản)

 Loại hình trò chơi học tập Tiếng Việt

Tùy đặc trưng từng phân môn Tiếng Việt mà có các loại hình trò chơi thích hợp Có thể kể tới một số loại hình trò chơi tiêu biểu như sau: từ ngữ, ngữ pháp và văn bản

1) Trò chơi tô chữ trên tranh

2) Trò chơi đi tìm lời thơ

3) Trò chơi đọc thơ truyền diện

Trang 24

4) Trò chơi đi tìm từ hoặc tiếng theo yêu cầu chính tả

- Các hình thức tổ chức trò chơi học tập Tiếng Việt

Đưa trò chơi vào lớp học chủ yếu muốn nói tới việc tổ chức vui chơi ngay trên lớp học hằng ngày Nghĩa là chơi trong không gian chật hẹp (lớp học), thời gian ngắn (3 đến 5 phút), số người tham gia đông (khoảng 30 người) Vì thế mà người GV phải tìm ra cách tổ chức hợp lí

1.1.2.3 Vai trò của trò chơi học tập và trò chơi học tập Tiếng Việt

* Vai trò của trò chơi học tập

Vui chơi chiếm vị trí đang kể trong đời sống của các em, đặc biệt giai đoạn đầu bậc Tiểu học Thông qua trò chơi trẻ dần hoàn thiện các thuộc tính tâm lí, nhân cách, trí tuệ và cả thể lực cũng được nâng lên Có nghĩa là trẻ em

“lớn” lên trong vui chơi

Khi chơi trẻ được hoạt động, được nhận thức hiện thực khách quan một cách cụ thể và để trả lời kích thích biến đổi thực tiễn

Trong lúc chơi: Hình thành cho trẻ các khả năng quan sát, óc phán đoán, suy luận; phối hợp tập thể; hoàn thiện khả năng ngôn ngữ

Mỗi trò chơi có một tác dụng khác nhau, song trò chơi nhìn chung là giúp các em rèn luyện những đức tính quý báu Đồng thời trò chơi còn giúp các em hoàn thiện các kĩ năng ứng dụng học vấn vào cuộc sống hằng ngày

* Vai trò của trò chơi học tập Tiếng Việt

Trang 25

Ở lứa tuổi bậc Tiểu học, hoạt động chơi không còn giữ vai trò chủ đạo nhưng vui chơi vẫn còn chiếm vị trì đáng kể trong đời sống của các em, đặc biệt ở giai đoạn đầu bậc tiểu học Trong dạy học nói chung và trong dạy học Tiếng Việt nói riêng thì trò chơi học tập có vai trò vô cùng quan trọng, vì:

Thứ nhất: Việc sử dụng trò chơi học tập vào dạy học tiếng Việt làm thay đổi hình thức học tập, tạo bầu không khí trong lớp học trở nên sôi nổi, thoải mái hơn HS tiếp thu kiến thức tự giác hơn, tích cực hơn HS thấy vui hơn, dễ chịu và khỏe mạnh hơn

Thứ hai: Trò chơi học tập được sử dụng nhằm vận dụng, củng cố các nội dung kiến thức vừa được hình thành, hình thành kĩ năng cho HS, đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà các em tích lũy được thông qua hoạt động chơi

Thứ ba: Rèn luyện kĩ năng kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ Tạo khả năng phát triển trí tưởng tượng, khả năng linh hoạt, độc lập , sáng tạo cho HS Nhờ sử dụng trò chơi học tập mà quá trình học tập của HS trở thành hoạt động vui và hấp dẫn hơn

Thứ tư: Đối với HS Tiểu học, không có phương tiện nào giúp các em phát triển một cách tự nhiên, có hiệu quả, rèn luyện tính tự chủ cao bằng trò chơi học tập vì qua đó các em biết tự kiềm chế, tích cực trong từng hoạt động

Tóm lại: Trò chơi học tập Tiếng Việt giúp HS phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Loại trò chơi này làm cho HS được phát triển năng lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau từ đó các em tiếp thu kiến thức được dễ dàng

1.2 Cơ sở tâm lí học

Ở lứa tuổi tiểu học, cơ thể trẻ đang trong thời kì phát triển hay nói cụ thể là các hệ cơ quan chưa hoàn thiện, vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệt, nhất là khi hoạt động

Trang 26

quá mạnh và ở môi trường thiếu dưỡng khí.Trò chơi học tập Tiếng Việt, nhất là các hình thức học tập ngoại khóa sẽ góp phần cải thiện đáng kể tình trạng này

HS Tiểu học nghe giảng rất dễ hiểu nhưng cũng sẽ quên ngay khi chúng không tập trung cao độ Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV phải tạo ra hứng thú trong học tập và phải thường xuyên cho HS được luyện tập.Trò chơi học tập Tiếng việt với phương châm vui mà học sẽ tạo sự hào hứng cho trẻ

HS Tiểu học rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện tượng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh Trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới, song các em lại chóng chán Do vậy, trong dạy học, GV phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, đưa học sinh đi tham quan, đi thực tế, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ,… để củng cố, khắc sâu kiến thức

1.3 Cơ sở thực tiễn

Trong thời gian gần đây, trò chơi học tập đã được GV sử dụng Họ đã sáng tạo và áp dụng nhiều hơn trong quá trình dạy học các môn học ở Tiểu học nói chung và phân môn Tiếng Việt (đặc biệt các lớp đầu cấp) nói riêng Tuy còn nhiều bỡ ngỡ và lúng túng, song không thể phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của trò chơi học tập đối với việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS

Muốn HS Tiểu học học tốt thì mỗi người GV không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy móc làm cho HS học tập một cách thụ động Nếu chỉ dạy học như vậy thì việc học tập của HS sẽ diễn

ra đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao Nó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo cac em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với cuốc sống diễn ra hằng ngày

1.3.1 Nội dung các trò chơi trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2

Trang 27

Ở bậc Tiểu học HS được học rất nhiều môn khác nhau như: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên xã hội, Nghệ thuật Chúng có ý nghĩa thiết thực, gần gũi với đời sống hằng ngày, giúp HS phát triển toàn diện Các môn học này được

bố trí, sắp xếp xen kẽ với nhau trong mỗi tuần học tùy theo đặc điểm của HS

ở các lứa tuổi khác nhau

HS khối lớp 2 trên cả nước nói chung thì một năm học có 35 tuần Mỗi tuần học sáu phân môn cơ bản (Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết và Tập làm văn) Việc bố trí, sắp xếp thời khóa biểu trong một tuần học tùy thuộc vào mỗi trường, song phải đảm bảo số lượng tiết do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Trong các môn học thì môn Tiếng Việt là một môn có ý nghĩa quan trọng để giáo dục HS phát triển đầy đủ các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết, tư duy và sáng tạo; qua đó giúp các em có thể hoàn thiện bản thân một cách tốt nhất Bởi vậy, trong một tuần HS được học 9 tiết Tiếng Việt thể hiện qua 6 phân môn, trong đó: Tập đọc 3 tiết/tuần, Chính tả 2 tiết/tuần; còn Tập viết, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn 1 tiết/tuần Mỗi phân môn có nội dung chương trình riêng, được bố trí xen kẽ với nhau theo từng bài học

Về SGK Tiếng Việt lớp 2 có hai tập (tập 1 và tập 2), mỗi tập gồm 15 chủ điểm, mỗi chủ điểm học trong 2 tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học trong

3 tuần) Các chủ điểm có nội dung gần gũi, quen thuộc, gắn bó với đời sống hằng ngày của các em Ví dụ: Chủ điểm Bạn bè, trường học, thầy cô, ông bà, cha mẹ, anh em, sông biển, cây cối…

Tuy nhiên, tâm lí chung của HSTH là lười học bộ môn Tiếng Việt, một phần vì xem nhẹ vai trò của môn học, một phần vì không cảm nhận được cái hay, cái đẹp và những tác dụng to lớn mà môn học mang lại chính vì vậy nên các em sợ, không thích học môn học này mà đây lại là môn có ý nghĩa quan trọng, chiếm rất nhiều tiết trong tuần (9 tiết/tuần) nên người GV cần phải có

Trang 28

biện pháp giúp HS yêu thích, tạo hứng thú học tập, tâm lí thoải mái để các em tiếp thu kiến thức của môn học Tiếng Việt một cách nhẹ nhàng, hiệu quả

1.3.2 Khảo sát thực trạng sử dụng các trò chơi trong giờ học Tiếng Việt lớp 2 ở hai lớp 2A và 2B trường Tiểu học Minh Đức – huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên

* Mục đích khảo sát

Tìm hiểu thực tế dạy học ở trường Tiểu học Minh Đức huyện Phổ Yên – Thái Nguyên nhằm biết thực trạng dạy học môn Tiếng Việt của GV, thực trạng học tập môn Tiếng Việt của HS 2 lớp học (lớp 2A và lớp 2B – Trường Tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) Trên cơ sở đó đề xuất, thiết kế một số trò học tập và cách vận dụng trò chơi đó vào các bài học

cụ thể trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 2

* Nội dung khảo sát

- Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt của GV khối lớp 2 trường Tiểu học Minh Đức huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên

- Thực trạng học tập môn Tiếng Việt của HS khối lớp 2 trường Tiểu học Minh Đức huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên

* Nhận xét chung

Sau khi tiến hành khảo sát tại trường chúng tôi thu được kết quả như sau: + Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt của GV khối lớp 2 trường Tiểu học Minh Đức huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên

Đa số GV có sử dụng trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt bởi các thầy cô đều thấy được vai trò tích cực của trò chơi học tập đối với môn học này Tuy nhiên, mức độ sử dụng trò chơi là không nhiều, vẫn còn có GV không bao giờ sử dụng trò chơi vào dạy học Về mục đích sử dụng trò chơi học tập của các thầy cô là khác nhau: có thầy cô cho rằng trò chơi học tập đưa vào giờ học chỉ có tác dụng làm thay đổi không khí của lớp, nhưng đa số thầy

Trang 29

cô cho rằng đưa trò chơi học tập vào dạy học vừa giúp HS hình thành kiến thức mới, lại vừa giúp HS củng cố kiến thức đã học hay có thể dùng để mở rộng và khắc sâu kiến thức cho HS Thầy cô cũng chia sẻ các hình thức tổ chức trò chơi học tập mà họ thường sử dụng: Đa số thầy cô sử dụng hình thức chia lớp thành nhóm (đội chơi) nhằm phát huy tính đồng đội, tinh thần đoàn kết cho HS Một số thầy cô khác lại sử dụng hình thức chơi cá nhân

Như vậy, đa số GV đều nhận thức được vai trò, ý nghĩa cũng như tác dụng của trò chơi học tập đối với dạy học môn Tiếng Việt Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà GV còn ít sử dụng trò chơi học tập vào dạy học môn học này, cụ thể do một số nguyên nhân sau:

 Số lượng trò chơi để GV tham khảo đưa vào tổ chức trò chơi còn ít, nghèo nàn, chưa phong phú, chưa hay

 GV khó khăn trong việc thiết kế đưa trò chơi vào tiết học cụ thể do trò chơi bị chi phối bởi nội dung bài học

 Nhiều HS còn nhút nhát khi tham gia trò chơi

Các thầy cô cũng chia sẻ một số kinh nghiệm của bản thân khi đưa trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt, như sau:

 Thứ nhất: Muốn sử dụng trò chơi học tập vào dạy học đạt hiệu quả , trước hết GV phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, lựa chọn và xây dựng trò chơi phù hợp với nội dung bài dạy đó

 Thứ hai: Trò chơi học tập được sử dụng phải phù hợp với đối tượng

HS và khả năng nhận thức của các em Các trò chơi học tập cần phải thay đổi hình thức phong phú, đa dạng gây hứng thú học tập cho các em

 Thứ ba: GV cần lên kế hoạch chuẩn bị đồ dùng chu đáo, dự kiến thời gian tổ chức trò chơi phù hợp, lường trước những tình huống có thể xảy ra khi

sử dụng trò chơi học tập

Trang 30

 Thứ tư: Khi sử dụng trò chơi học tập cần động viên những HS yếu kém, nhút nhát cùng tham gia trò chơi

 Thứ năm: Trong khi tổ chức trò chơi học tập GV cần bao quát lớp tốt, tránh làm mất trật tự, ảnh hưởng đến lớp khác

 Thứ sáu: Khi đánh giá kết quả trò chơi phải chính xác, công bằng Trong quá trình tổng kết, đánh giá cần tuyên dương, động viên HS, chủ yếu là tuyên dương, tránh chê bai, trách phạt Trước khi kết thúc trò chơi, GV cho

HS rút ra những bài học thông qua trò chơi đó

+ Thực trạng học tập môn Tiếng Việt của HS khối lớp 2 trường Tiểu học Minh Đức huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên

Hai lớp 2 chúng tôi tiến hành khảo sát có tổng số 60 HS Trong đó, có

30 HS nữ, 30 HS nam, dân tộc là 8 em, lứa tuổi trung bình là 7 tuổi, trình độ nhận thức của các em tương đối đồng đều, ổn định và từng bước được nâng cao Về đạo đức: các em HS ngoan, biết nghe lời thầy cô giáo, không mắc các

tệ nạn xã hội,không vi phạm kỉ luật Về học tập: Đa số các em có ý thức học tập tốt, kết quả đạt được tương đối cao Bên cạnh đó, vẫn còn một số ít HS có kết quả học tập chưa cao Qua tìm hiểu tại trường tôi biết được nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập chưa cao của một số HS lớp 2 như sau:

 Thứ nhất: Do bản thân các em không muốn học, chưa có ý thức học tập, một số HS khác có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chưa có điều kiện tốt để học tập; hay một số HS dân tộc còn nói ngọng, phát âm chưa chuẩn, viết sai lỗi chính tả, câu văn diễn đạt lủng củng

 Thứ hai: Do các em còn căng thẳng trong giờ học, không có hứng thú học tập vì người GV giảng dạy quá gò bó, khuôn mẫu, chưa có hoặc có biện pháp đổi mới nhưng ở mức độ khô khan, không phù hộ với tâm lý của các em

Trang 31

 Chúng tôi có tiến hành dự giờ một số tiết Tiếng Việt ở lớp 2 nhận thấy các thầy cô có đổi mới phương pháp dạy học , vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy môn Tiếng Việt, một trong các phương pháp tích cực đó là phương pháp trò chơi học tập, làm cho giờ học thêm sinh động, tránh được sự nhàm chán, mệt mỏi cho các em, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi

HS tiểu học

Tóm lại: Qua điều tra, khảo sát thực tế tại trường Tiểu học Minh Đức tôi nhận thấy: đa số GV đều thấy vai trò, ý nghĩa, tác dụng của trò chơi học tập rong dạy học ở Tiểu học nói chung và dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 2 nói riêng, nhưng do nhiều nguyên nhân như đã trình bày ở trên mà GV ít sử dụng trò chơi học tập vào giảng dạy Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn để chúng tôi tìm hiểu, thiết kế minh họa một số trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 ở chương sau

Tiểu kết chương 1

HS tuổi Tiểu học rất thích trò chơi học tập bởi lẽ nó phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý của các em: Trò chơi học tập giúp các em có hứng thú học tập với môn học này, rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan và tạo cơ hội cho HSTH giao lưu với bạn bè, nâng cao hiệu quả học tập

Môn Tiếng Việt là môn học khó, được xây dựng theo quan điểm tích hợp với các môn học khác tích hợp trong các phân môn của môn học; là môn học được xây dựng theo hướng đồng tâm; thực hiện theo định hướng đổi mới

từ đó tạo điều kiện tối đa cho GV đổi mới phương pháp dạy học Đây cũng là môn học có nhiều ứng dụng trong đời sống, cần thiết cho tất cả mọi người, góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng tình cảm của con người với con người, với quê hương đất nước

Trang 32

Trò chơi học tập là một phương pháp được áp dụng trong quá trình dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học Sử dụng trò chơi học tập tạo không khí lớp học sôi động (học mà vui), vui vẻ; làm cho việc tiếp nhận các kiến thức của môn Tiếng Việt trở nên nhẹ nhàng, hấp dẫn Để phát huy tối đa vai trò, tác dụng của trò chơi học tập thì người GV phải tìm tòi, sáng tạo trong việc thiết kế, tổ chức trò chơi học tập để gây hứng thú và tránh sự nhàm chán cho HS Đồng thời nắm bắt các yêu cầu cơ bản khi tổ chức trò chơi học tập để đạt được hiệu quả mong muốn Như vậy, việc đưa trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học là việc làm phù hợp và thiết thực đối với việc dạy và học Góp phần vào việc thực hiện nguyên lí giáo dục: “học đi đôi với hành”

Trang 33

Có thể căn cứ vào một số nguyên tắc sau đây để lựa chọn trò chơi học tập

* Căn cứ vào đối tượng HS

- GV phải hiểu được HS Tức là hiểu đối tượng của mình là ai? Có những đặc điểm tâm – sinh lý gì khác biệt so với các lứa tuổi khác?

- GV lựa vào nội dung bài học, đồng thời căn cứ vào điều kiện cụ thể

mà lựa chọn trò chơi phù hợp

Trang 34

* Căn cứ vào mục đích sử dụng trò chơi học tập

- Trò chơi học tập không chỉ nhằm giải trí mà còn góp phần củng cố tri thức, kĩ năng học tập cho HS (giữa hai mục đích trên nên coi trọng mục đích thứ hai hơn)

- Sử dụng trò chơi học tập nhằm làm cho quá trình tiếp thu tri thức, rèn luyện kĩ năng của HS thêm sinh động, hấp dẫn Do đó mà hiệu quả học tập tăng lên

* Căn cứ vào nội dung bài học

Trò chơi học tập phải gắn với các tri thức, kĩ năng của một môn học (lĩnh vực tri thức, kĩ năng nào đó) Nói cách khác, khi sáng tạo và áp dụng các trò học tập, người GV phải dựa vào kiến thức, kĩ năng của Tiếng Việt

GV dựa vào nội dung bài học, đồng thời căn cứ vào điều kiện cụ thể mà chọn trò chơi cho phù hợp

* Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất của lớp học

Không gian của lớp học, kiểu và kích cỡ của bàn ghế HS… là những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tổ chức trò chơi trong giờ học Tiếng Việt

2.2 Cách tổ chức, những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt

* Cách tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt

Khi tổ chức một trò chơi học tập môn Tiếng Việt thường được tiến hành theo 5 bước như sau:

 Bước 1: Giới thiệu trò chơi:

- Nêu tên trò chơi: Tên của trò chơi là yếu tố kích thích trí tò mò, tưởng tượng, hấp dẫn HS; đồng thời tên trò chơi cũng phần nào nói lên được nội dung trò chơi

Trang 35

- Giới hiệu đồ dùng để tham gia chơi: Hầu hết trò chơi học tập Tiếng Việt đều cần sử dụng đồ dùng, thiết bị, dụng cụ chơi

- Hướng dẫn cách chơi (vừa mô tả, vừa thực hành)

- Phân chia nhóm chơi (đội chơi): Số lượng HS tham gia trò chơi tùy thuộc vào nội dung kiến thức cần củng cố, cách thức tổ chức và chủ ý của GV; hình thức tổ chức trò chơi; những HS còn lại làm khán giả cổ vũ, trọng tài (do GV đề cử)

 Bước 2: Chơi thử (nếu cần) đối với những trò chơi mới, phức tạp GV

có thể cho HS chơi thử trước Khi đó GV theo dõi, hướng dẫn thêm cho các đội chơi

 Bước 3: Nhấn mạnh luật chơi (nhất là những lỗi thường gặp ở phần chơi thử) Luật chơi của trò chơi học tập cần rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện Ngoài ra, trò chơi học tập nên diễn ra trong thời gian ngắn, không quá khó, phù hợp với trình độ của HS

 Bước 4: Chơi thật, xử phạt những người phạm luật chơi

Sau khi HS nắm vững trò chơi thì GV(hay người quản lí trò) kết hợp với trọng tài phải theo dõi để phát hiện các HS phạm luật chơi có thể bị trừ điểm, hoặc bị xử thua cuộc

 Bước 5: nhận xét kết quả trò chơi, nhấn mạnh luật chơi, thái độ của người tham dự GV có thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sai lầm cần tránh GV căn cứ vào luật chơi để phân thắng bại sau khi kết thúc trò chơi

 Lưu ý:

+ Thưởng – phạt phải công minh đúng luật, sao cho người chơi chấp nhận thoải mái và tự giác, làm cho trò chơi thêm hấp dẫn, kích thích hứng thú học tập của HS

Trang 36

+ Thưởng những HS, những nhóm tham gia chơi nhiệt tình, đúng luật

và “thắng” trong cuộc chơi Hính thức : khen ngợi, khích lệ bằng tràng pháo tay…

+ Phạt những HS, những nhóm HS bằng những hình thức đơn giản: chào đội thắng cuộc, kể chuyện vui, hát một bài, múa, nhảy lò cò…

* Những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt

- Mỗi trò chơi nói chung được gắn với một phân môn, một bài cụ thể hoặc có những tri thức tổng hợp cho cả một chủ điểm

- Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt tạo cho GV nhiều cơ hội tổ chức phù hợp đối với đối tượng HS của mình

- Các trò chơi thường được tổ chức theo nhóm ở ngay trong lớp học với thời gian từ 5 – 10 phút Việc chuẩn bị các trò chơi đơn giản, dễ làm, dễ kiếm

- GV phải hướng dẫn cụ thể cách rồi sau đó các nhóm tự đánh giá, giám sát lẫn nhau Ngoài ra, GV viên phải có nhận xét, khích lệ, không để thời gian chơi quá nhiều ảnh hưởng đến giờ học

- Khi tổ chức trò chơi Gv phải lưu ý tránh cho HS những phản ánh không tích cực và kịp thời sửa chữa (nếu có); lưu ý khuyến khích, động viên, khen thưởng những HS có phản ứng tích cực

Cụ thể phản ứng tích cực trong HS có thể là:

+ Hăng say chơi hết mình

+ Ý thức trách nhiệm cá nhân cao

+ Dễ bỏ qua sai phạm của người khác

+ Tôn trọng kỉ luật

+ Giúp đỡ, nâng đỡ đồng đội, gắn bó với đồng đội, nhóm của mình

Trang 37

+ Tích cực hoạt động và sẵn sàng “hi sinh” vì danh dự đội, nhóm

GV nên giáo dục HS tránh những tư tưởng, phản ứng không tích cực: + Người mạnh lấn át người yếu

+ Sẵn sàng trừng phạt người thua

+ Chơi gian lận để được thắng

+ Dễ ganh tị, dẫn đến ghét nhau

+ Chơi quá đà, không giới hạn; chia bè, kéo cánh…

- Thời gian tổ chức chơi, địa điểm chơi GV phải có sự chuẩn bị kỹ càng và tạo được sự thu hút cuộc chơi, trong quá trình chơi luôn có không khí bình đẳng, tôn trọng nhau

Vậy, căn cứ để thiết kế, tổ chức một số trò chơi học tập môn Tiếng Việt chính là sự kết hợp giữa các yếu tố cấu thành của một trò chơi phổ biến trong sinh hoạt đời sống của HS với những nội dung kiến thức HS sẽ và đã được học trong từng bài, từng phân môn của môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học

2.3 Hoạt động tổ chức trò chơi trong các phân môn môn Tiếng Việt lớp 2

2.3.1 Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc

2.3.1.1 Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Tập đọc

Trò chơi: “Thi đọc tiếp sức”

Trò chơi: “Bông hoa kì diệu”

Trò chơi: “Điền từ đúng”

Trò chơi: “Biết một câu, đọc cả đoạn”

Trò chơi: “Thả thơ”

Trò chơi: “Đi học”

2.3.1.2 Tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc

Trong quá trình dạy học sinh, dự giờ đồng nghiệp thông qua phân môn Tập đọc, tôi và đồng nghiệp thường tổ chức một số trò chơi học tập nhằm tạo

Trang 38

điều kiện cho HS tích cực tham gia vào hoạt động thực hành rèn luyện kĩ năng đọc đồng thời tiếp thu kiến thức một cách tự giác và hứng thú Thông qua trò chơi học tập, học sinh còn được phát triển cả về trí tuệ, thể lực, nhân cách, giúp cho công việc học Tiếng Việt thêm nhẹ nhàng và hiệu quả Sau đây tôi xin đưa ra một số trò chơi nhằm tạo hứng thú học phân môn Tập đọc cho

HS lớp 2:

1/ Trò chơi: Thi đọc tiếp sức

 Áp dụng khi dạy bài: Phần thưởng (trang 13,14 – Tiếng Việt 2, tập 1)

 Mục đích: Rèn kĩ năng đọc đúng và nhanh bài Tập đọc, luyện tác phong nhanh nhẹn, tập trung chú ý để phối hợp nhịp nhàng giữa các bạn trong nhóm với nhau khi đọc thành tiếng từng vâu nối tiếp

 Thời gian chơi: 5 – 7 phút

 Chuẩn bị: - Một đồng hồ (bấm thời gian chơi)

- SGK Tiếng Việt lớp 2, tập 1

- Chọn một HS làm trọng tài

 Chọn đội chơi: Chọn 3 đội chơi, mỗi đội có 5 em

- Đội 1: Đội Hoa hồng

- Đội 2: Đội Hoa lan

- Đội 3: Đội Hoa mai

 Tổ chức chơi:

- 3 đội chơi lần lượt lên bảng đứng thành hàng ngang, quay mặt về phía các bạn; mỗi thành viên trong đội chơi cầm một quyển SGK đã mở sẵn trang 13 có bài Phần thưởng sẽ thi đọc

- Khi nghe lệnh trọng tài hô “bắt đầu”, người số 1 (đầu hàng bên phải hoặc bên trái) phải đọc câu thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và

nhanh (“Na là một cô bé tốt bụng”) Dứt tiếng cuối cùng của câu thứ nhất, người số 2 (cạnh vị trí của người số 1) mới được đọc tiếp câu thứ 2 (“Ở lớp,

Trang 39

ai cũng mến em”)…cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm; nếu chư

chưa hết bài, câu tiếp theo lại đến người số 1đọc – người số 2 đọc…cho đến hết bài thì dừng lại Trọng tài tính thời gian và ghi số phút đọc xong toàn bài của từng nhóm

- Trọng tài cùng các nhóm theo dõi bạn đọc cùng nhận xét và tính điểm “thi tiếp sức” như sau: mỗi câu văn đọc chính xác, đúng quy định được

1 điểm; không được tính điểm nếu vi phạm một rong các trường hợp sau:

+ Đọc sai, lẫn hay thừa, thiếu tiếng trong câu

+ Đọc tiếp câu sau khi người đọc câu trước chưa xong

+ Đọc liền hai câu trở lên

- Khi các nhóm đã đọc xong, trọng tài công bố kết quả về thời gian đọc và điểm số của từng nhóm Nhóm nào được nhiều điểm nhất (ít hoặc không mắc lỗi) và có thời gian đọc ít nhất là nhóm đó giành phần thắng trong cuộc thi “đọc tiếp sức” theo sách

 Thưởng – phạt:

- Đội thắng: Được GV tuyên dương trước lớp bằng một tràng pháo tay

- Đội thua: Xếp thành hàng, bắt chước tiếng kêu của các loài động vật: mèo, gà, lợn…

 Lưu ý:

- Trong khi chơi, nếu người đọc câu trước lỡ đọc sang câu sau một vài tiếng rồi mới dừng lại thì người tiếp theo vẫn phải đọc lại từ đầu câu mà mình phải đọc, cả nhóm sẽ bị kéo dài thêm về mặt thời gian

- Trò chơi được sử dụng ở tất cả các tiết Tập đọc GV có thể thay đổi các bài Tập đọc khác nhau để tổ chức trò chơi phù hợp với nội dung và đối tượng HS

2/ Trò chơi: Bông hoa kì diệu

 Áp dụng khi dạy bài: Ôn tập giữa học kì I (Trang 70 – 76, Tiếng

Việt 2, tập 1)

Trang 40

 Chuẩn bị: - SGK Tiếng Việt 2

- Một cành cây có gắn các bông hoa bằng giấy Mỗi bông hoa giấy đính một phiếu ghi tên bài Tập đọc ngắn (bài Tập đọc dạy trong một tiết) đã học nếu ôn tập về Tập đọc hoặc đính một phiếu ghi tên bài học thuộc lòng (ghi rõ doạn cần đọc thuộc) nếu ôn về đọc thuộc lòng

Ví dụ:

1 Đọc thuộc lòng một khổ thơ mà em thích nhất trong bài Tập đọc: Ngày hôm qua đâu rồi?

2 Đọc thuộc lòng bài thơ: Gọi bạn

3 Đọc thuộc lòng bài thơ: “Cái trống trường em”

4 Đọc thuộc lòng bài thơ: “Cô giáo lớp em”

5 Đọc diễn cảm đoạn 3 bài Tập đọc: “Phần thương” và trình bày nội dung của bài

GV (hoặc cử 2HS khá, giỏi) làm người điều khiển trò chơi, chọn một nhóm giám khảo (3 – 4 HS đại diện cho các tổ) nhận xét, đánh giá kết quả đọc của từng HS

Ngày đăng: 25/11/2016, 20:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Bộ giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Tiểu học
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
[7]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học ở Tiểu học, lớp 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học ở Tiểu học, lớp 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
[8] Trần Mạnh Hưởng, (2002) Vui học Tiếng Việt, tập I,II, Nxuất bản Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vui học Tiếng Việt
[9] Trần Mạnh Hưởng, Lê Hữu Tỉnh (2008), Giải đáp 188 câu hỏi về giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải đáp 188 câu hỏi về giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng, Lê Hữu Tỉnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
[10] Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga, 2003-2004, Trò chơi học tập Tiếng Việt 2,3 , Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập Tiếng Việt 2,3
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[11]. Lê Phương Nga (2010), Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
[12]. TS. Vũ Thị Lan (2010), “Xây dựng trò chơi học tập Tiếng Việt dựa theo tích truyện dân gian”, Tạp chí Giáo dục Tiểu học, 41, tr 12, xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng trò chơi học tập Tiếng Việt dựa theo tích truyện dân gian”
Tác giả: TS. Vũ Thị Lan
Năm: 2010
[13]. Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Lưu Thu Thủy, (2001), Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh
Tác giả: Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Lưu Thu Thủy
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
[14]. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), (2003), Sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
[15]. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), (2005), Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
[16]. Bùi Sĩ Tụng, Trần Quang Đức, (2005), 150 trò chơi thiếu nhi, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 trò chơi thiếu nhi
Tác giả: Bùi Sĩ Tụng, Trần Quang Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
[17]. Nguyễn Trí (2008), Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới , Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
[1]. Lê A, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1996), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
[2]. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2005), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
[4]. Bùi Văn Duệ, Tâm lí học tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1994 Khác
[5]. Phan Phương Dung, Đặng Kim Nga (2011), Hoạt động giao tiếp với dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1  Bảng 2 - Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học tiếng việt cho học sinh lớp 2
Bảng 1 Bảng 2 (Trang 52)
Bảng phụ dành cho 2 đội chơi. - Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học tiếng việt cho học sinh lớp 2
Bảng ph ụ dành cho 2 đội chơi (Trang 53)
Bảng của mỗi đội chơi (như hình vẽ) - Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học tiếng việt cho học sinh lớp 2
Bảng c ủa mỗi đội chơi (như hình vẽ) (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w