Khoa Sinh học ứng dụng trường Đại học Tây Đô đã nhận ra điều này và tiến hành cho sinh viên thực tập chuyên môn nước lợ; mà trong đó chủ yếu là thựchành sản xuất giống tôm, với hai loại
Trang 2CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU1.1 Giới thiệu
Nuôi trồng thủy sản ở nước ta đã trở thành nghề phổ biến và phát triển hết sứcnhanh chóng, đang góp phần phát triển nền kinh tế đồng thời cải thiện đời sống vànâng cao thu nhập cho người dân Các đối tượng thủy sản chủ yếu là: tôm sú, tôm thẻchân trắng, tôm càng xanh, cá tra,…( Thu Hiền, “Xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu nămtăng 5,2%”- Tổng cục thủy sản Việt Nam, 2016)
Ở Việt Nam, tiềm năng nuôi tôm là rất lớn Nước ta có 3260 km bờ biển, 12đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông rạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển là nhữngnơi rất thuận lợi cho việc nuôi trồng các loại thủy sản lợ mặn
Tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) và tôm càng xanh(Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879) là một trong những đối tượng thủy sảnquan trọng nhất trong nghề thủy sản thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Tuy nhiên, nghề nuôi thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm nói riêng đang gặpnhiều khó khăn đáng kể Đó là tình hình dịch bệnh và nguồn con giống không đáp ứng
cả về số lượng lẫn chất lượng Đặt biệt là tình trạng thiếu hụt nguồn giống và chấtlượng giống không đảm bảo, giống trôi nổi ồ ạt trên thị trường là vấn đề nan giải nhất;trong khi đó nguồn giống đã quyết định đến 45% tỷ lệ thành công của vụ nuôi Do đó,việc tiến hành thực tập sản xuất giống tôm sú và tôm càng xanh là điều hết sức có ýnghĩa và thực tế Khoa Sinh học ứng dụng trường Đại học Tây Đô đã nhận ra điều này
và tiến hành cho sinh viên thực tập chuyên môn nước lợ; mà trong đó chủ yếu là thựchành sản xuất giống tôm, với hai loại chính là tôm sú giống và tôm càng xanh Việcnày góp phần giúp sinh viên ngành thủy sản có thể phần nào nắm được quy trình sảnxuất tôm giống, củng cố thêm kiến thức đã học và tạo sự tự tin khi ra trường cho sinhviên, nhằm giúp sinh viên dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm; đây làmôn học rất đáng được chú trọng và phát triển rộng hơn nữa
Bài bái cáo này được viết nhằm thống kê lại và nắm chắc hơn các bước thực
hiện khi sản xuất giống đồng thời rèn luyện kỹ năng viết báo cáo khoa học và tinhthần làm việc tập thể trước khi ra trường
1.2 Mục tiêu thực tập
Rèn luyện kỹ năng thực tập, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất giốngtôm sú và tcx; trong đó giúp sinh viên nắm được cách lựa chọn tôm bố mẹ và kỹ thuậtcho sinh sản, hiểu và vận hành được hệ thống công trình thiết bị trong một trại sảnxuất giống, nắm được một số qui trình ương nuôi ấu trùng tôm cơ bản và nhận dạngđược các giai đoạn phát triển của ấu trùng đồng thời đáp ứng đúng loại và lượng thức
ăn cho cho sự phát triển của ấu trùng tôm sú Đồng thời còn rèn luyện kỹ năng làmviệc nhóm cho sinh viên, giúp sinh viên tiếp xúc thực tế, tránh bỡ ngỡ khi ra trường
1.3 Nội dung thực tập
Kỹ thuật cắt mắt và cấy tinh cho tôm sú
Chọn tôm bố mẹ và tiến hành cho sinh sản tôm sú và tôm càng xanh
Tiến hành ương tôm sú giống; ương tcx theo qui trình nước trong và nước xanhcải tiến
Trang 3CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU2.1 Tổng quan về đặc điểm sinh học tôm sú
Loài: Penaeus monodon Fabricius, 1798
Hình 2.1 Hình thái tôm sú Penaeus monodon
Theo Nguyễn Văn Thường (2009), tôm sú có chủy phát triển, chủy kéo dài đếnrìa của cuống râu A1, gờ sau chủy có 3 răng và kéo dài đến hết bờ sau của Carapace.Carapace có gai râu và gai gan nhưng không có gai hốc mắt, rãnh bên chủy sâu dừng
ở trước hoặc ngay sau gai thượng vị Sợi râu trên và dưới của râu A1 dài gần bằngnhau và dài bằng cuống râu Gờ gan thẳng, song song với mặt lưng của Carapace,không có gờ dạ dày - trán Chân ngực V không có nhánh ngoài
Cơ thể tôm sú có màu xanh đậm, có những vân sắc tố trắng đen ở các đốt bụng,phần còn lại của thân biến đổi từ màu nâu sang màu xanh hoặc đỏ Rìa chân hàm III
và chân bụng có màu tím nâu hoặc hơi đỏ, phần nữa của chân đuôi có màu đỏ, xanh
và nâu đen Rìa của chân đuôi có lông tơ màu đỏ tía (Trương Quốc Phú, 2009)
2.1.2 Phân bố
Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, từ Ấn Độ Dương qua hướng Nhật Bản,Đài Loan, phía Đông Tahiti, phía Nam châu Úc và phía Tây châu Phi (Racek - 1955,
Trang 4Holthuis và Rosa - 1965, Motoh - 1981, 1985) (trích dẫn bởi Trương Quốc Phú,2009) Nhìn chung, tôm sú phân bố từ kinh độ 300E đến 1550E từ vĩ độ 350N tới 350Sxung quanh các nước vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaixia, Philippines vàViệt Nam (Phạm Văn Tình, 2000).
Tôm bột (PL), tôm giống (Juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sốnggần bờ biển và rừng ngập mặn ven bờ Khi tôm trưởng thành di chuyển xa bờ vìchúng thích sống vùng nước sâu, có độ trong cao và độ mặn ổn định (Nguyễn VănThường, 2009)
2.1.3 Vòng đời của tôm sú
Theo Nguyễn Thanh Phương (2009), tôm sú đạt 8 - 10 tháng tuổi có thể thamgia sinh sản Vòng đời của tôm sú gồm các giai đoạn: phôi, ấu trùng (Nauplius, Zoea,Mysis), hậu ấu trùng (Postlarvae), tôm giống và tôm trưởng thành
Theo FAO vòng đời tôm sú có thể tóm tắt như hình 2.2
Nguồn: tepbac.com
Hình 2.2 Vòng đời tôm sú
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Phạm Văn Tình (2000), các giai đoạn biến thái và tốc độ sinh trưởng củatôm sú phải trải qua các chu kỳ lột xác Quá trình lột xác của tôm được điều khiển nhờhormone lột xác được tiết ra từ cơ quan Y và hormone ức chế lột xác được tiết ra từ
cơ quan X Chu kỳ lột xác là thời gian giữa hai lần lột xác liên tiếp nhau, chu kỳ nàymang tính đặc trưng riêng biệt cho loài và giai đoạn sinh trưởng của tôm Chu kỳ lột
Trang 5xác sẽ ngắn ở giai đoạn tôm con và kéo dài khi tôm càng lớn Ngoài ra, quá trình lộtxác và tốc độ tăng trưởng của tôm còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi rất nhiều yếu tố nhưdinh dưỡng, độ mặn.
Thời kỳ biến thái của ấu thể sau khi nở là Nauplius trải qua 6 lần lột xác, Zoeatrải qua 3 lần lột xác, Mysis trải qua 3 lần lột xác Đến giai đoạn Postlarvae một ngàylột xác một lần, từ Postlarvae 5 trở đi thì sau 1 - 2 ngày tôm lột xác một lần (phụ thuộcvào nhiệt độ và nồng độ muối) Ở giai đoạn này cơ thể gần giống tôm trưởng thành,kích thước cơ thể đầu giai đoạn Postlarvae đạt 4,9 - 5,0mm Đến cuối giai đoạn kíchthước cơ thể đạt 2 - 3cm (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009)
Theo Phạm Văn Tình (2000), thời kì tôm con lớn lên phải trãi qua quá trình lộtxác, mỗi lần lột xác tôm tăng trưởng về trọng lượng từ 10 - 15% so với lúc ban đầu Ởthời kì tôm con cứ sau 2 - 3 ngày tôm lột xác một lần Thời kì tôm trưởng thành quátrình lột xác ít hơn, thời gian giữa hai lần lột xác phụ thuộc rất lớn vào nồng độ muối.Nồng độ muối thích hợp cho tôm sú là 15 - 20‰
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Phạm Văn Tình (2000), tôm sú là loài ăn tạp, đặc biệt ưa ăn giáp xác nhỏ,thực vật dưới nước, mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, hai mảnh vỏ, côn trùng Trong tựnhiên, tôm sú bắt mồi mạnh khi thủy triều rút Khi nuôi trong ao, tôm bắt mồi nhiềuvào sáng sớm và chiều tối
Tuy nhiên, tính ăn của tôm cũng thay đổi theo giai đoạn Giai đoạn Naupliustôm dinh dưỡng bằng noãn hoàng
Giai đoạn Zoae tôm ăn được thức ăn có kích thước <50 µm Dinh dưỡng chủ
yếu bằng tảo khuê (Sketonema, Cheatoceros sp ) Trong sản xuất giống nếu thiếu tảo
tươi có thể bổ sung thêm tảo khô, thức ăn công nghiệp như: Lansy, Frippack 1, Giaiđoạn Mysis: tôm ăn được thức ăn có kích thước 50 - 90 µm, ăn chủ yếu phiêu sinh
động vật, ấu trùng Artermia, luân trùng (Brachionus plicatilis) Trong sản xuất giống
nhân tạo thức ăn bổ sung như: Lansy, Frippack 2,…
Giai đoạn tôm bột (Postlarvae): tôm ăn được thức ăn có kích thước 90 - 250
µm Trong tự nhiên tôm ăn các giáp xác nhỏ, nhuyễn thể nhỏ, giun nhiều tơ Khi ươngtôm giống có thể cho ăn thức ăn chế biến từ lòng đỏ trứng gà, thịt tép, cá, hay thức
ăn công nghiệp như Frippack 2, Frippack 150, N1, N2 Postlarvae giai đoạn đầu cóchiều dài khoảng 4,5mm, các chân bụng có nhiều lông tơ và vẫn còn tập tính bơi trongcột nước nhưng phần lớn bắt đầu sống đáy Từ giai đoạn Postlarvae 6 (khoảng 6 ngày
từ khi tôm chuyển từ Mysis sang Postlarvae) thì tôm hoàn toàn sống đáy
Giai đoạn trưởng thành tôm sú ăn thiên về động vật đáy như giáp xác đáy, haimảnh vỏ, giun nhiều tơ, các loại ấu trùng của động vật đáy (Nguyễn Thanh Phương vàTrần Ngọc Hải, 2009)
Hiện tượng tôm ăn lẫn nhau xảy ra khi tôm thiếu thức ăn, thức ăn thiếu chấtdinh dưỡng hay mất cân bằng trong dinh dưỡng, và nuôi với mật độ quá dày Tômkhỏe thường tấn công tôm yếu, tôm lớn ăn tôm nhỏ và tôm vỏ cứng ăn tôm vỏ mềm(Phạm Văn Tình, 2000)
2.1.6 Đặc điểm sinh sản của tôm sú
Phân biệt tôm đực và cái
Trang 6Tất cả các loài tôm họ tôm he đều có các cơ quan sinh dục phụ Ở con đực, cácnhánh trong của chân bụng thứ nhất biến thành cơ quan giao vĩ (Petasma) Khi chưathành thục, các nhánh trong này đơn thuần là những nhánh thon, dẹp, nhưng khi thànhthục, chúng kéo dài và dính lại với nhau nhờ những lông móc nhỏ giữa chúng Cấutrúc của Petasma đặc trưng riêng cho từng loài Ở tôm cái, cơ quan sinh dục phụ làThelycum, nằm ở giữa gốc chân ngực thứ tư và năm Thelycum là biến dạng của đốtngực thứ tư và năm Tùy theo loài mà có cấu trúc Thelycum khác nhau
Hình 2.3 Phân biệt tôm sú đực (male) và cái (female).
Tuổi thành thục
Tuổi thành thục sinh dục của tôm đực và tôm cái từ tháng thứ 8 trở đi Xácđịnh sự thành thục của tôm cái dễ hơn tôm đực, quan sát con cái có túi tinh ở cơ quansinh dục phụ Phương pháp xác định thành thục ở con đực khó hơn, chỉ khi tìm thấyđược tinh trùng ở cuối ống dẫn tinh Ngoài ra có thể dựa vào trọng lượng để xác định,khi con đực nặng từ 50g trở lên thì đạt trọng lượng thành thục
Hormone điều khiển sự thành thục sinh dục (GIH - gonal inhibiting hormone)
được sản xuất bởi tế bào thần kinh trong cơ quan X của cuống mắt, vận chuyển tớituyến giáp và được sinap đưa vào kho dự trữ và khi cần thì tiết ra Sự thành thục sinh
Trang 7dục của tôm sú thông qua tác động của tuyến nội tiết, khi cắt mắt tức là thúc đẩy sựthành thục diễn ra nhanh chóng hơn Số lượng trứng của tôm cái đẻ nhiều hay ít là phụthuộc vào chất lượng buồng trứng và trọng lượng cá thể, trọng lượng lớn cho trứngnhiều hơn Khi con cái thành thục ngoài tự nhiên có trọng lượng từ 100 - 300 gam và
có thể cho sinh sản 300.000 - 1.200.000 trứng Nếu cắt mắt nuôi vỗ trong bể xi măng,thành thục và đẻ, cho số lượng trứng từ 200.000 - 600.000 trứng (Phạm Văn Tình,2000)
Phát triển tuyến sinh dục cái:
Ở tôm sú có 5 giai đoạn phát triển của buồng trứng dựa trên sự khác biệt về cỡtrứng, độ rộng tuyến sinh dục và màu sắc
Giai đoạn I ( chưa phát triển): cũng như giai đoạn 5 (giai đoạn thoái hóa sau khi đẻ)
buồng trứng chưa phát triển, mỏng, trong suốt, không nhìn thấy được từ bên ngoài,trứng có kích cỡ 36µm
Giai đoạn II (giai đoạn phát triển): buồng trứng mềm và có màu trắng hay xanh ô
-liu, dạng dãy, kích cỡ trứng trung bình 177µm
Giai đoạn III (giai đoạn gần chín): buồng trứng có màu xanh nhạt, phần trước dày và
nở rộng Có thể thấy buồng trứng dễ dàng qua lớp vỏ đặc biệt ở đốt bụng thứ nhất,kích cỡ trứng 215µm
Giai đoạn IV (giai đoạn chín): buồng trứng có màu xám nâu, nở rộng khắp đốt bụng
thứ nhất, phủ đầy khoang hay một phần lưng của cơ thể Trứng có kích thước 235µm
Hình 2.4 Các giai đoạn phát triển của buồng trứng tôm sú
2.1.7 Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm sú
Các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm sú có một số đặc điểm nhận dạng nhất định.Theo Motoh (1981), cho rằng sự phát triển của ấu trùng tôm sú trải qua các giai đoạnnauplii (6 giai đoạn), zoae (3 giai đoạn) và mysis (3 giai đoạn) (trích dẫn bởi TăngMinh Khoa, 2012)
Trang 8Giai đoạn Nauplius: Ấu trùng nauplius mới nở có chiều dài khoảng 0,3 mm, có 3 đôi
phụ bộ và một điểm mắt ở giữa trước Ấu trùng có tập tính trôi nổi, hướng quang,dinh dưỡng bằng noãn hoàng
Giai đoạn Zoae: bao gồm 3 giai đoạn phụ, zoea 1 phân biệt với nauplius qua một số
đặc điểm như có carapace tròn, các phụ bộ và gai đuôi phát triển Ở giai đoạn zoae 2
ấu trùng xuất hiện 2 mắt có cuống, chủy có răng, bụng phát triển dài ra Đôi râu thứnhất hướng ra phía trước Ấu trùng zoae 3 có các gai lưng và gai bụng trên các đốtbụng Râu thứ nhất to hơn và có nhiều lông tơ Các mầm chân ngực xuất hiện phía saucác phụ bộ miệng Đặc điểm rõ nhất là chân bụng (uropod) xuất hiện trước đuôi Ấutrùng zoae có tính ăn lọc, thụ động, thức ăn chính là tảo, có kích cỡ 3 - 30µm Tuy
Trang 9nhiên zoae 1 vẫn còn sử dụng noãn hoàn trong khi bắt đầu ăn ngoài Zoae có tínhhướng quang mạnh
Giai đoạn Mysis: có 3 giai đoạn phụ, giai đoạn mysis 1 có cơ thể kéo dài, chân ngực
phát triển, telson xuất hiện, chưa có chân bụng Mysis 2 có mầm chân bụng nhưngchưa phân đốt Mysis 3 có chân bụng phát triển dài gấp đôi so với giai đoạn mysis 2,chân bụng có 2 đốt Ấu trùng Mysis dần dần chuyển sang ăn động vật phiêu sinh, bơingửa và giật về phía sau
Sau giai đoạn mysis chuyển sang giai đoạn hậu ấu trùng (postlarvae) có hình dạngtương tự như tôm trưởng thành chiều dài đầu tiên khoảng 4,5mm có tập tính bơi trongcột nước, phần lớn sống đáy Từ Postlarvae 6, tôm chủ yếu sống đáy
2.2 Sơ lược về đặc điểm sinh học của TCX
2.2.1 Phân loại và phân bố
TCX có tên khoa học là Macrobrachium rosenbergii được De Man đặt tên vào năm
1897, có vị trí phân loại như sau:
Loài: Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1897)
Trong tự nhiên, TCX phân bố rộng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, tập trung ởkhu vực Ấn Độ Dương và tây nam Thái Bình Dương Ở Việt Nam, TCX phân bố tựnhiên chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long Ở cácthủy vực độ mặn 18‰ hay đôi khi cả 25‰ vẫn có thể thấy tôm xuất hiện (Nguyễn
Trang 10thành chúng lại di cư ra vùng nước lợ nơi có độ mặn thích hợp để sinh sản và tiếp tục
vòng đời (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003).
Hình 2.7 Vòng đời TCX
2.2.3 Tập tính ăn và bắt mồi
TCX là loài ăn tạp nghiêng về động vật, trong tự nhiên khi kiểm tra dạ dàythức ăn gồm có nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể,các loài tảo và mùn bã hữu cơ Trong thời gian ấp trứng tôm có thể nhịn ăn vài bangày Tôm thường bắt mồi vào sáng sớm và chiều tối (Phạm Văn Tình, 2004)
TCX ăn các loại thức ăn khác nhau ở từng giai đoạn phát triển Ở giai đoạn ấutrùng, tôm ăn chủ yếu là phiêu sinh thực vật và ấu trùng của các động vật khôngxương sống khác (Trương Quan Trí, 1990)
Hình dạng và mùi vị thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tôm đếnbắt mồi Đây là vấn đề quan trọng trong chế biến thức ăn cho ấu trùng tôm
Đặc tính của TCX nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lộtxác, đây là đặc tính của loài Vì vậy, trong ương giống cần lưu ý vấn đề này nhằmnâng cao tỷ lệ sống Khi nuôi tôm thương phẩm cũng cần lưu ý đến hiện tượng này và
Trang 11cần có các biện pháp kỹ thuật hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của tôm (Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 2003).
2.2.4 Sự phân đàn
Giai đoạn ấu trùng đến Postlarvae tỷ lệ sống của ấu trùng TCX phụ thuộc rấtnhiều vào nguồn tôm mẹ, trong quá trình phát triển đó thì sự phân đàn là không tránhkhỏi Sự phân đàn lớn hay nhỏ tùy thuộc vào điều kiện như mật độ, nhiệt độ, dinh
dưỡng (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003).
2.2.5 Đặc điểm về sinh trưởng
TCX phải trải qua 11 lần lột xác và biến thái để phát triển thành hậu ấu trùng.Thời gian giữa hai lần lột xác của tôm phụ thuộc vào nhiệt độ, kích cỡ, giới tính, thức
ăn và điều kiện sinh lý của chúng (Nguyễn Việt Thắng, 1995)
Bảng 2.1 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của TCX
VIII 13 – 20 Các chân bụng có các tơ cứng
IX 15 – 22 Nhánh chân trong của chân bụng xuấthiện
PL 23 – 35 Có tập tính giống tôm trưởng thành
(Nguồn: Uno và Soo, 1969, trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)
2.2.6 Đặc điểm về sinh sản
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003), TCX thành thục và giao vĩ xảy ra
hầu như quanh năm Ở đồng bằng sông Cửu Long tôm sinh sản vào tháng 4 – 6 vàtháng 8 – 10 Tôm cái thành thục lần đầu ở khoảng 3 – 3,5 tháng kể từ khi PL10- 15 Tùyvào kích cỡ và trọng lượng tôm mà sức sinh sản thay đổi từ 7.000 – 503.000 trứng,thông thường 20.000 – 80.000 trứng Sau khi giao vĩ từ 2 – 5 giờ, có khi 6 – 24 giờ,thì tôm cái sẽ đẻ trứng Tùy theo nhiệt độ ấp mà thời gian ấp trứng có thể từ 15 – 23ngày
2.3 Các qui trình sản xuất giống TCX hiện nay
2.3.1 Hệ thống nước trong hở
Qui trình được khởi xướng đầu tiên bởi Ling cào năm 1969 và được hoàn thiệnbởi Aquacop từ năm 1980 Đặc điểm của qui trình này là nước trong, sạch, không cótảo, mật độ ương cao (100 – 150 con/lít) Ưu điểm của qui trình này là thường đạtnăng suất cao, qui trình tương đối đơn giản, không cần kĩ thuật cao Tuy nhiên, quitrình này lại đòi hỏi tốn nhiều công lao động và chi phí khác
Trang 12kĩ thuật cao, đầu tư cao, thiết bị đồng bộ, phức tạp khi lắp đặt, khó xử lý khi có sự cố.
2.3.3 Hệ thống nước xanh
Bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1966 do Fujumura khởi xướng và hoàn thiện
vào năm 1974 Đặc điểm của qui trình này là dùng tảo Chlorella cho vào bể ưởng để
duy trì màu nước xanh liên tục Qui trình có ưu điểm nổi bật là hạn chế thay nước.Tuy nhiên hạn chế chính của qui trình là mật độ ương thấp, đòi hỏi kĩ thuật nuôi tảo
2.3.4 Hệ thống nước xanh cải tiến
Qui trình được đề xướng bởi Ang từ năm 1986 trên cơ sở cải tiến mô hìnhnước xanh trước đó Nguyên tắc hoạt động của qui trình là cho phép vi sinh vật và tảo
phát triển trong bể ương để tự ổn định môi trường nước Vỏ Artemia được cho trực
tiếp vào bể để làm giá thể cho các vi sinh vật phát triển Hệ thống này có nhiều ưuđiểm quan trọng là không phải thay nước, không vệ sinh bể và không bổ sung thêmtảo trong suốt quá trình ương (tảo chỉ cho vào bể ương một lần đầu trước khi thả ấutrùng) hệ thống rất đơn giản, chi phí thấp, dễ áp dụng cho nhiều đối tượng và nhiềunơi, cả những vùng xa biển
2.4 Tình hình sản xuất giống tôm sú trên thế giới và trong nước
2.4.1 Tình hình sản xuất giống tôm sú trên thế giới
Nghề sản xuất tôm biển (trong đó có tôm sú) trên thế giới (Trần Ngọc Hải,2009) có những bước tiến quan trọng có thể tóm lược như sau (trích dẫn bởi NguyễnTiến Diệt, 2011)
Năm 1933: Hudinaga lần đầu tiên sản xuất giống thành công tôm biển
(P.japonicus), mô hình bể lớn
Năm 1966: Cook và Murphy thành công trong sản xuất giống tôm P setiferus
và P aztecus với mô hình Galveston ở Texas
Thập kỷ 60 - 70, mô hình Galveston được ứng dụng rộng rãi ở các nước Châu
Á, với P monodon, P merguiensis, P indicus, P orientus; nguồn tôm mẹ tự nhiên
Thập kỷ 70 và 80, nhiều loài tôm được nuôi vỗ và cho sinh sản thành côngtrong trại sản xuất giống
Chương trình sản xuất giống phi bệnh tật và miễn bệnh đã được bắt đầu tại Mỹ
(P vannamei) (1989) và Pháp (1987)
Năm 1995: Chương trình gia hoá tôm mẹ được tiến hành ở Úc (P japonicus)
Chương trình ương ấu trùng theo mô hình tuần hoàn được tiến hành ở Tahiti vàPolynesia (Pháp) từ thập kỷ 80
Ở Úc, có nhiều nghiên cứu trong viêc gia hóa và sản xuất giống tôm biển TheoPreston (2000), cho rằng việc sản xuất giống tôm sú sạch bệnh được hoàn thiện hoàn
Trang 13toàn trong các hệ thống lọc sinh học tuần hoàn Chính chất lượng nước trong hệ thốngtuần hoàn ổn định và tốt hơn trong ao, cách ly được các nguồn nhiễm bệnh nên chokết quả giống tốt và chất lượng cao (trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương, 2005).
Hiện nay, có trên 24 loài tôm thuộc Penaeus và 7 loài thuộc Metapenaeus đã
được nghiên cứu sinh sản, trong đó tổng cộng có 11 loài được sản xuất đại trà
2.4.2 Tình hình sản xuất giống tôm sú ở Việt Nam
Theo Nguyễn Tiến Diệt (2011), Việt Nam là một trong các quốc gia có nghề
sản xuất tôm sú (Penaeus monodon) phát triển so với các quốc gia Châu Á và trên thế
giới
Năm 2004, sản lượng tôm sú của Việt Nam là 290.000 tấn, trong đó ĐBSCLđóng góp là 200.000 tấn Cả nước sản xuất được 26,1 tỉ tôm giống, nhưng trong đóĐBSCL chỉ sản xuất được 7 tỉ con vào năm 2004 (Bộ Thủy sản, 2005)
Năm 2005 lượng tôm sú giống cả nước sản xuất được 28,805 tỉ Postlarvae vớikhoảng 4.281 trại SXG (Bộ Thủy sản, 2006) Theo số liệu của Cục NTTS, hiện cảnước có 3.377 trại tôm giống đang hoạt động, bao gồm 2.887 trại tôm sú, 490 trại tôm
he chân (Cổng thông tin điện tử, Bộ Nông Nghiệp, 2010)
Theo Trần Ngọc Hải, 2009 Nghề sản xuất tôm biển (trong đó có tôm sú) ởViệt Nam có những bước tiến quan trọng và có thể tóm lược như sau:
Đầu năm 1970, nghiên cứu sinh sản nhân tạo tôm biển đầu tiên, với loài P merguiensis, P penicillatus, P japonicus
Trại nghiên cứu sản xuất giống đầu tiên được thành lập vào 1982, tại QuiNhơn, do FAO tài trợ
Đến năm 1985: sản xuất thành công tôm sú (P monodon) tại Nha Trang, và
tôm sú trở thành đối tượng chủ yếu trong sản xuất giống ở Miền trung
Năm 1994 cả nước có 800 trại sản xuất giống
Đến năm 1999 cả nước có 2.125 trại sản xuất giống
Năm 2002 cả nước có khoảng 3.000 trại sản xuất giống
Riêng tôm thẻ chân trắng năm 2002 được nhập từ Mỹ và thử nghiệm sản xuấtgiống thành công, đến năm 2009 có khoảng 490 trại tôm thẻ trong tổng số 3.377 trạisản xuất giống tôm
2.4.3 Tại Đồng bằng sông Cửu Long
Sản xuất tôm sú giống ở ĐBSCL đã có những tiến triển khả quan Mạng lướiương nuôi cung cấp con giống cho nghề nuôi phát triển mạnh mẽ về số lượng và chấtlượng giống cũng được cải thiện rất nhiều so với thời kỳ mới chuyển đổi (2000)
Tính năng động và linh hoạt của hệ thống cung ứng giống tôm sú ở ĐBSCL đãgóp phần đáng kể vào kết quả nuôi tôm ở địa phương Số lượng trại và sản lượng tômgiống sản xuất ở các tỉnh liên tục tăng (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009)
Năm 2001, toàn vùng chỉ có 862 trại với sản lượng 3.952 triệu tôm giống.Đến năm 2005 đã lên đến 1.280 trại với sản lượng 12.000 triệu giống tươngứng, chiếm 29,2% số trại và chỉ mới đáp ứng 42,05% lượng tôm giống sản xuất so với
Trang 14cả nước (4.300 trại và 29.000 triệu con PL15) và chỉ đáp ứng được 40,5% nhu cầu chonghề nuôi trong vùng (28.740 triệu con) (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009)
Năm 2009, ĐBSCL có 1.105 trại sản xuất giống tôm nước lợ đang hoạt động,trong đó có 1.100 trại sản xuất giống tôm sú và 5 trại sản xuất giống tôm chân trắng.Toàn vùng đã sản xuất hơn 9 tỷ con giống tôm sú và hơn 250 triệu con giống tômchân trắng (Cục Nuôi trồng thủy sản, 2009)
Năm 2010 ĐBSCLcó 1.220 trại sản xuất giống sản xuất được 20,915 tỷ tômgiống đáp ứng 50,77% lượng giống thả nuôi
Thành phố Cần Thơ, từ năm 2001 Khoa Thủy Sản - Trường Đại học Cần Thơbắt đầu chuyển giao công nghệ sản xuất tôm sú giống ứng dụng qui trình tuần hoàncho một số trại và sau đó số trại tăng dần
Năm 2003 các trại tôm tại thành phố Cần Thơ đã cung cấp được 40 triệu tômgiống và đến năm 2004 thì tăng lên 70 triệu con giống cho các tỉnh ĐBSCL (Chi cụcThủy sản Cần Thơ, 2005)
Năm 2005 Cần Thơ có 13 trại sản xuất tôm sú công nghệ sản xuất tôm sú giốngứng dụng qui trình tuần hoàn, lọc sinh học, đem lại hiệu quả cao cung cấp giống sạchcủa vùng ĐBSCL (Nguyễn Thanh Phương, 2006)
Năm 2010 số trại sản xuất giống tôm sú tăng lên 20 trại (Chi cục Thủy sản CầnThơ, 2010)
2.5 Tình hình sản xuất giống TCX trên thế giới và Việt Nam
2.5.1 Tình hình sản xuất TCX trên thế giới
Nghề sản xuất giống tôm càng xanh xuất hiện và phát triển từ những năm
1959, khi Ling đã tìm ra đặc điểm đặc điểm sinh thái và sinh sản vủa tôm càng xanh
Trong suốt những năm 1960 đến năm 1990, tôm càng xanh giống được sảnxuất ở Hawaii và Đông Nam Á sau đó lan ra nhiều nước trên thế giới Hiện nay, cácnước Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Philippine, Indonesia, Việt Nam lànhững nước có nguồn sản xuất giống tôm càng xanh lớn
2.5.2 Tình hình nuôi TCX ở Việt Nam
Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và PTNT), năm 2014,
cả nước có khoảng 21 tỉnh/thành nuôi tôm càng xanh với tổng diện tích là 12.851 ha(tăng 552 ha so với năm 2013), sản lượng nuôi đạt 6.695 tấn; trong đó tập trung nuôichủ yếu tại các tỉnh ĐBSCL là 12.692 ha (chiếm 98,8% so với diện tích nuôi tôm càngxanh cả nước) Các tỉnh có diện tích nuôi lớn như Bến Tre 2.300 ha, sản lượng đạt1.969 tấn; Đồng Tháp 1.123 ha, sản lượng đạt 1.500 tấn; Bạc Liêu 5.841 ha, sản lượngđạt 584 tấn và Trà Vinh 1.050 ha, sản lượng đạt 670 tấn
Diện tích tiềm năng phát triển nuôi tôm càng xanh của Việt Nam rất lớn và tậptrung chủ yếu tại các tỉnh vùng ĐBSCL Theo quy hoạch phát triển nuôi trồng thủysản vùng ĐBSCL đến năm 2015, diện tích nuôi tôm càng xanh là 26.900 ha, chiếm3,24% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của vùng; đến năm 2020 là 35.100 ha, chiếm3,24% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của vùng
Trang 15CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Thời gian: Từ ngày 20/08/2014 đến ngày 20/09/2016
Địa điểm: Trại thực nghiệm Khoa Sinh học Ứng dụng Trường Đại học Tây Đô
Đối tượng nghiên cứu: tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) và tôm
càng xanh (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879)
3.2 Vật liệu nghiên cứu
a Vật liệu
- Bể composite gồm các loại có thể tích: 4m3, 500 lít
- Thau, xô, vợt (thu ấu trùng, nghiền thức ăn), nhiệt kế, khúc xạ kế, túi lọcnước
- Kính hiển vi, cân đồng hồ, đèn pin
- Hệ thống cấp thoát nước, hệ thống thổi khí, máy bơm nước, máy phát điện
- Và một số dụng cụ khác cần thiết cho môn học
b Thức ăn, thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học
Trang 16Thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học
Hóa chất xử lý nước: Chlorine, Thiosunfat Natri, EDTA, Sodium bicacbonat,Formol
Hóa chất nuôi cấy tảo: dung dịch dinh dưỡng Key Bloom
Hóa chất dùng trong ương ấu trùng tôm sú: Antibio, Mycogynas, Megyna,Vitamin C, Nutroplex
3.3.3 Phương pháp ấp Artemia
Artemia sử dụng là loại sấy khô đóng hộp và có nguồn gốc từ Vĩnh Châu nênkhông cần xử lý vỏ Cân Art theo nhu cầu của từng giai đoạn phát triển của ấu trùngsau đó ngâm trong nước ngọt 30 phút rồi tiếp tục ngâm trong Chlorine 5 phút sau đórửa sạch rồi cho vào dụng cụ ấp có sục khí mạnh, nước dùng để ấp có độ mặn từ 20‰
- 25‰ Sau 12 - 18 giờ tiến hành thu bằng vợt có mắc lưới phù hợp, trình tự thu nhưsau:
Tắt sục khí khoảng 15 phút cho vỏ Art nổi lên mặt nước tiến hành loại bỏ vỏ Cho Art vào vợt và rửa bằng nước ngọt