TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SAU ĐẠI HỌC Tiểu luận học phần Phân tích định lượng trong kinh doanh với SPSS & AMOS NĂNG LỰC QUẢN TRỊ KHỞI NGHIỆP, MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SAU ĐẠI HỌC
Tiểu luận học phần Phân tích định lượng trong kinh doanh với SPSS & AMOS
NĂNG LỰC QUẢN TRỊ KHỞI NGHIỆP, MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Giáo viên hướng dẫn Học viên thực hiện
VÕ MINH SANG ĐƯỜNG QUANG NGHĨA
Lớp : Cao học QTKD-3B
Cần Thơ, tháng 11/ 2016
Trang 2TÓM TẮT TIỂU LUẬN
Tiểu luận gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan – Nội dung chương 1 gồm cơ sở hình thành đề
tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng - phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa đề tài
Chương 2: Tổng quan các doanh nghiệp tại Đồng Bằng Sông Cửu Long –Nội dung chương giới thiệu về sơ lược c á c d o a n h n g h i ệ p t ạ i
Đồng Bằng Sông Cửu Long
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Nội dung chương 4 trình bày rõ
hơn về phương pháp thu thập số liệu và phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thu thập số liệu gồm: số liệu thứ cấp lấy từ các nguồn như: Internet, sách, báo, tạp chí, kỷ yếu,… Số liệu sơ cấp tác giả phỏng vấn trực tiếp các doanh nghiệp
Phương pháp phân tích số liệu: Thống kê mô tả; phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm tra sự phù hợp của mô hình đối với đề tài nghiên cứu; phân tích nhân tố khẳng định CFA để khẳng định một lần nữa độ tin cậy của phân tích nhân tố khám phá EFA và cuối cùng là đánh kết quả hoạt động kinh doanh dựa trên kết quả phân tích từ mô hình cấu trúc SEM
Chương 4: Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long - Trong chương này tác giả sẽ trình bày kết quả
khảo sát, đánh giá và kiểm định mô hình nghiên cứu cũng như các giả thuyết
đã đưa ra
Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Nội dung chương cuối nhầm kết
luận lại kết quả nghiên cứu và đề xuất một số kiến nghị
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN 1
1.1 Cơ sở hình thành đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Phương pháp nghiên cứu 4
1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 4
1.3.1 Phương pháp phân tích số liệu 5
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
1.4.1.Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Bố cục nội dung nghiên cứu 6
CHƯƠNG II : TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 7 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1 Tổng quan về DNVVN 7
2.1.1 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam 7
2.1.2 Hình hình hoạt động của nghiệp tại ĐBSCL 8
2.3 Đánh giá thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam 9
2.1.3 Về quy mô và số lượng 9
2.1.4 Về giá cả và yếu tố đầu vào 14
2.1.5 Về chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh 17
2.1.6 Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay 18
2.2 Cơ sở lý luận 21
2.2.1 Khái niệm về DNVVN 21
Trang 42.2.2 Tiêu Chí phân loại DNVVN 23
2.2.3 Đặc trưng của khởi nghiệp 24
2.2.4 Cơ sở lý luận về khởi nghiệp kinh doanh 24
2.2.5 Chọn loại hình doanh nghiệp 25
2.2.6 Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp 26
2.2.7 Đăng ký kinh doanh 27
CHƯƠNG III : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Phương pháp phân tích số liệu 29
3.2 Phương pháp Thống kê mô tả 29
3.2.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA 29
3.2.2 Phân tích nhân tố khẳng định CFA và mô hình SEM 30
CHƯƠNG IV : ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ, MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 32
4.1 Kết quả phân tích đặc điểm các doanh nghiệp khảo sát 32
4.2 Kết quả phân tích thông tin chủ doanh nghiệp khảo sát 39
4.3 Đo lường năng lực cạnh tranh với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở ĐBSCL 41
4.3.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha 41
4.3.2 Phân tích khám phá EFA 48
4.3.3 Phân tích nhân tố khẳng định ( CFA ) 54
4.3.4 Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng từ kết quả của mô hình SEM 54
CHƯƠNG V : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
BẢNG CÂU HỎI Error! Bookmark not defined
Trang 5KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ TẢ TẦN SUẤTError! Bookmark not defined
KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CRONBACH’S ALPHAError! Bookmark not defined
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ EFA Error! Bookmark not defined PHÂN TÍCH CFA Error! Bookmark not defined
MÔ HÌNH SEM Error! Bookmark not defined
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.4.1 Chi phí đầu vào của Việt Nam và một số nước châu Á
(USD/tháng) 16
Bảng 2.1.5.1 So sánh chi phí thực hiện việc tuân thủ pháp luật của các nước và Việt Nam 17
Bảng 4.3.1.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “QCCQ” lần 1 41
Bảng 4.3.1.2 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “QCCQ” lần 5 44
Bảng 4.3.1.3 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “NCTĐ” lần 3 45
Bảng 4.3.1.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “CSHT” lần 1 46
Bảng 4.3.1.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “KQKD” lần 2 48
Bảng 4.3.2.1 Tổng hợp các nhân tố 48
Bảng 4.3.2.2 Kết quả phân tích nhân tố với biến độc lập 49
Bảng 4.3.2.3 Kết quả phân tích biến nhân tố phụ thuộc 53
Bảng 4.3.3.1 Các hệ số chuẩn hóa trong CFA Error! Bookmark not defined Bảng 4.3.3.2 Đánh giá giá trị hội tụ đã chuẩn hóa trong CFAError! Bookmark not defined Bảng 4.3.3.3 Kết quả tổng hợp cho các thang đo Error! Bookmark not defined Bảng 4.3.4.1 Các hệ số của mô hình SEM Error! Bookmark not defined Bảng 4.3.4.2 Kết quả trọng số Regression Weights: (Group number 1 - Default model) 62
Bảng 4.3.4.3 Kết quả trọng số Standardized Regression Weights: (Group number 1 - Default model) 66 Bảng 4.3.4.4 Kết quả Correlations: (Group number 1 - Default model) Error! Bookmark not defined
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1.1 Loại hình doanh nghiệp 32
Hình 4.1.2 Lĩnh vực hoạt động 35
Hình 4.1.3 Tổng số CB-CNV của doanh nghiệp 36
Hình 4.1.4 Thời gian khởi nghiệp của doanh nghiệp đến nay 39
Hình 4.2.1 Giới tính chủ doanh nghiệp 39
Hình 4.2.2 Nghề nghiệp chuyên môn chủ doanh nghiệp 40
Hình 4.2.3 Trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp 40
Hình 4.2.4 Gia đình (cha mẹ hay ông bà) trước đây 41
Hình 4.3.3.1 Kết quả phân tích chuẩn hóa với phân tích CFAError! Bookmark not defined Hình 4.3.4.1 Mô hình cấu trúc SEM 1 60
Hình 4.3.4.2 Mô hình cấu trúc SEM 2 64
Trang 8CHƯƠNG I : TỔNG QUAN 1.1 Cơ sở hình thành đề tài
Trong bối cảnh kinh tế thế giới có những diễn biến phức tạp, sản xuất kinh doanh trong nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng kinh tế nước ta năm 2015 tiếp tục có những chuyển biến tích cực và phục hồi rõ nét ở nhiều lĩnh vực, đạt kết quả tăng trưởng khá cao so với mục tiêu đề ra và so với mức tăng của những năm trước trong giai đoạn 2011-2015 Những điểm sáng trong bức tranh kinh tế nước ta năm 2015 được thể hiện qua các chỉ số vĩ mô tương đối ổn định: Lạm phát được kiểm soát tốt và luôn giữ ở mức thấp; chính sách tiền tệ, tài khóa được điều hành linh hoạt, hiệu quả và phù hợp với diễn biến của thị trường; hệ thống tài chính, ngân hàng đạt được một số thành công ban đầu nhờ thực hiện nhiều biện pháp quan trọng để nâng cao tính ổn định và hiệu quả trong hoạt động; dự trữ ngoại tệ đạt mức cao; tín dụng tăng trưởng khá; môi trường thể chế đang dần được cải thiện; xu hướng kinh doanh của khu vực doanh nghiệp có nhiều tín hiệu khả quan, phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư được củng cố và tăng lên; tái cấu trúc kinh tế bước đầu có chuyển biến; xuất khẩu duy trì mức tăng khá; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao; tổng cầu nội địa mạnh hơn Công tác an sinh xã hội được tăng cường, việc làm của người lao động tăng lên, nhờ đó thu nhập và đời sống dân cư được cải thiện hơn.Sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành, lĩnh vực năm 2015 tăng khá dẫn đến tăng trưởng ở mức cao góp phần quan trọng vào việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 Tuy nhiên do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu từ năm 2008 nên bên cạnh một số chỉ tiêu đạt còn một số chỉ tiêu chưa đạt mục tiêu đề ra: Tăng trưởng kinh tế không đạt; tỷ trọng vốn đầu tư/GDP không đạt; nhập siêu đạt; năng suất lao động không đạt; CPI đạt; tỷ lệ thất nghiệp đạt; tốc độ tăng dân số không đạt; tỷ lệ che phủ rừng không đạt
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế nước ta vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi bước qua cánh cửa hội nhập đang mở ra ngày càng sâu rộng: Kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế các nước, trong đó có Việt Nam vốn đang phụ thuộc rất nhiều vào bên ngoài Giá dầu vẫn có xu hướng giảm
Trang 9và được dự báo giữ ở mức thấp trong trung hạn Lạm phát tuy được kiềm chế
và giữ ổn định ở mức thấp nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng trở lại do ảnh hưởng từ biến động khó lường của thị trường thế giới hoặc việc điều chỉnh tăng giá trong nước đối với một số mặt hàng, dịch vụ Trong bối cảnh hiện tại, khu vực đầu tư nước ngoài tăng nhanh đang đồng nghĩa với sự phát triển yếu của khu vực trong nước, trong đó khu vực Nhà nước vẫn tồn tại nhiều bất cập, lãng phí và kém hiệu quả; vai trò của khu vực tư nhân chưa đủ mạnh do sự trì trệ và thiếu tính chủ động, năng động và sáng tạo Việc xử lý nợ xấu những năm qua tuy đạt được kết quả nhất định nhưng còn nhiều vướng mắc Tiến trình tái cơ cấu chậm làm cho chất lượng tăng trưởng thấp là nguy cơ gây ra rủi ro cho nền kinh tế trong thời gian tới Xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng nhưng chưa bảo đảm chất lượng và thiếu tính bền vững dẫn đến cán cân thương mại chậm được cải thiện, không ổn định với tình trạng nhập siêu trở lại, nhất là nhập siêu của khu vực kinh tế trong nước hiện đang ở mức cao Chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điều lo ngại dẫn đến năng suất lao động thấp làm cho hiệu quả và sức cạnh tranh của toàn nền kinh tế bị hạn chế
Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội nước ta có thuận lợi cơ bản là niềm tin của người dân, của cộng đồng doanh nghiệp vào sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, đúng đắn và kịp thời của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; đồng thời chúng ta có những cơ hội phía trước cần nắm bắt và tận dụng tối đa: Niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế vào Việt Nam đang tăng lên cùng với việc tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng như Cộng đồng kinh tế ASEAN đang giúp cho Việt Nam trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước phát triển nhanh, hướng tới tham gia vào chuỗi cung ứng mang tính toàn cầu đối với một số sản phẩm công nghệ cao
Nhìn chung, triển vọng của kinh tế nước ta trong những năm tới có nhiều yếu tố tích cực nhưng các ngành, các cấp và các địa phương phải nhận thức đúng và đủ những khó khăn, thách thức trên chặng đường phía trước để kịp thời
có giải pháp khắc phục vượt qua, đồng thời chủ động tận dụng cơ hội nhằm thực hiện tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thực hiện tại 140 nước cho thấy, Việt Nam đứng thứ 56 trên bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu giai đoạn
2015 – 2016, tăng 12 bậc so với vị trí 68 trong giai đoạn 2014-2015.Trong đó, chỉ số cạnh tranh của cơ sở hạ tầng giao thông Việt Nam tăng tới 9 bậc, từ vị trí thứ 76 trong giai đoạn 2014 – 2015 lên vị trí 67 Cụ thể, chỉ số cạnh tranh
về chất lượng đường bộ giai đoạn 2015 - 2016 đứng thứ 93, tăng 11 bậc (giai đoạn 2014 - 2015 đứng thứ 104) Chất lượng đường sắt giai đoạn 2015 - 2016 đứng thứ 48, tăng 4 bậc (giai đoạn 2014-2015 đứng thứ 52)
Trang 10Về chất lượng cảng, Việt Nam đứng thứ 76, tăng 12 bậc (giai đoạn
2014-2015 đứng thứ 88), trong khi chất lượng hàng không đứng thứ 75, tăng 12 bậc (giai đoạn 2014-2015 đứng thứ 87)
So với các nước lớn châu Á như Trung Quốc, Singapore và Indonesia chỉ
số cạnh tranh về cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam đã có mức tăng đột phá Trong khi đó, Trung Quốc và Indonesia vẫn giữ nguyên vị trí, Malaysia tăng 1 bậc, còn Singapore bị hạ 1 bậc
Báo cáo về chỉ số cạnh tranh toàn cầu của WEF được thực hiện dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, tập trung vào 7 trụ cột bao gồm: Thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục cơ bản, giáo dục bậc cao và đào tạo, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, mức độ phát triển của thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng công nghệ, quy mô thị trường, mức độ phát triển doanh nghiệp và năng lực sáng tạo
Tuy nhiên, để nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một công việc không đơn giản Thực tế cho thấy, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới chưa được cải thiện đáng kể, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn thấp, độ ổn định chưa cao Đa số các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ, thị phần hạn hẹp, tiềm lực khoa học - công nghệ yếu, chưa có thương hiệu nổi tiếng; sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu làm gia công, nên phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào; chất lượng nhân lực của doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu, tỷ lệ người lao động qua đào tạo thấp…
Trong cuộc hội thảo “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đổi mới, phát triển doanh nghiệp” do Ban Kinh tế Trung ương tổ chức mới đây, Phó thủ tướng-GS, TS Vương Đình Huệ nhắc tới việc văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã nhắc tới vấn đề “khởi nghiệp”, cho thấy tầm quan trọng và sự quan tâm của Đảng ta với vấn đề khởi sự sản xuất-kinh doanh của người dân, doanh nghiệp như thế nào Tạo môi trường kinh doanh công bằng, tích cực hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi cũng như nâng cao năng lực quản trị, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ trong bước đầu khởi nghiệp là kiến nghị của không ít doanh nghiệp nhằm từng bước đảm bảo khởi nghiệp thành công
Xung quanh câu chuyện khởi nghiệp của doanh nghiệp, ông Phạm Đình
Vũ, Phó Chánh văn phòng, Phòng Công tác Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng: Chính phủ cần
có chính sách hỗ trợ để tạo hệ sinh thái tốt cho hoạt động khởi nghiệp Điều quan trọng là chính sách phải cụ thể về nhiều vấn đề như hỗ trợ về thuế như thế nào, bảo hộ ý tưởng, bảo hộ sở hữu trí tuệ,… ra sao Thậm chí, đối với những doanh nghiệp có ý tưởng sáng tạo, khả thi, đặc biệt liên quan tới hoạt động công
Trang 11nghệ cao, Chính phủ có thể đưa ra chính sách ưu đãi về thuế liên tiếp trong 3 năm đầu thành lập
Trên thực tế, ngay tại cuộc gặp gỡ với 100 doanh nhân trẻ khởi nghiệp xuất sắc năm 2016 diễn ra mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ
đã khẳng định: Chính phủ sẽ tạo môi trường kinh doanh thông thoáng nhất, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo nguyên tắc thị trường và không phân biệt đối xử Thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật, chỉ hỗ trợ cho đối tượng doanh nghiệp xứng đáng
Để hiểu rõ các vấn đề trên tôi chọn đề tài “Năng lực quản trị khởi
nghiệp, môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa
và nhỏ” để trả lời câu hỏi làm thế nào để nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh
và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài được hình thành nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
- Đánh giá năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp tại Đồng Bằng Sông Cửu Long ( Đ B S C L )
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp về kết quả hoạt động của doanh nghiệp
- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản trị và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian tới
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Để phục vụ cho nghiên cứu, số liệu thứ cấp đã được thu thập từ các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan trên các nguồn như: Các trang web, sách, báo, tạp chí về hoạt động khởi nghiệp của doanh nghiệp
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Trang 12Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp các doanh nghiệp ở các tỉnh, Tp ĐBSCL thông qua bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi phỏng vấn: Bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên thang đo định danh, thang đo thứ bậc, thang đo khoảng và thang đo Likert 5 mức độ
Phương pháp chọn mẫu: Đề tài đã sử dụng phương pháp chọn mẫu phi
xác xuất theo kiểu thuận tiện
Số mẫu: Theo Hair và ctg (2006 ), cỡ mẫu (kích thước mẫu) tối thiểu: 50
mẫu, tốt hơn: 100 mẫu Vì vậy tác giả sẽ thực hiện phỏng vấn trực tiếp với số lượng 207 mẫu
1.3.1 Phương pháp phân tích số liệu
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả tần số nhằm tính tần số và xác định tỷ lệ phần trăm
Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha là phương pháp tiếp theo được sử dụng để hiệu chỉnh bộ biến đánh giá mức độ hài lòng được đề xuất ban đầu
Phân tích nhân tố khám phá EFA ( Exploratopry Factor Analysis ) nhằm gom nhóm các biến quan sát
Tiếp theo, sử dụng phân tích nhân tố khẳng định CFA ( Confirmatory Factor Analysis ) để khẳng định một lần nữa độ tin cậy của phân tích nhân tố khám phá EFA, sau đó áp dụng kết quả từ mô hình cấu trúc SEM ( Structural Equation Modeding ) để xác định, đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng cũng như chiều ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của nông hộ Cuối cùng,
đo lường mức độ hài lòng của nông hộ dựa trên kết quả phân tích từ mô hình cấu trúc SEM
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng thực hiện nghiên cứu là những doanh nghiệp tại các tỉnh, Tp Đồng Bằng Sông Cửu Long
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên được tác giả thực hiện trên phạm vi ở ĐBSCL
Trang 131.5 Bố cục nội dung nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 2: Tổng quan về doanh nghiệp tại các tỉnh,Tp ĐBSCL
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Đánh giá năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp tác động kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Chương 5: Kết luận-kiến nghị và giải pháp
Trang 14CHƯƠNG II : TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về DNVVN
2.1.1 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam
Trong tháng Mười Hai, cả nước có 7901 doanh nghiệp thành lập mới với
số vốn đăng ký là 62,8 nghìn tỷ đồng, giảm 15,1% về số doanh nghiệp và tăng 19,5% về số vốn đăng ký so với tháng trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 8 tỷ đồng, tăng 40,9% Tổng
số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng là 155,3 nghìn người, giảm 2,6% so với tháng trước
Trong tháng, cả nước có 2860 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 16,8% so với tháng trước; có 8615 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, tăng 80,6%, bao gồm 1170 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký và 7445 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký; có 999 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, tăng 20,8%
Trong năm 2015, cả nước có 94754 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 601,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6% về số doanh nghiệp
và tăng 39,1% về số vốn đăng ký so với năm 2014 (Năm 2014, số doanh nghiệp giảm 2,7%; số vốn tăng 8,4% so với năm 2013) Bên cạnh đó, có 851 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn trong năm 2015 Như vậy, tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm nay là 1452,5 nghìn tỷ đồng Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp năm 2015 đạt 6,3 tỷ đồng, tăng 9,9% so với năm trước Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2015 là 1471,9 nghìn người, tăng 34,9% so với năm 2014
Trong năm nay, cả nước có 21506 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 39,5% so với năm trước Điều này cho thấy hiệu quả các giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và Bộ, ngành, địa phương trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hỗ trợ khu vực doanh nghiệp phát triển
Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm 2015 là 9467 doanh nghiệp, giảm 0,4% so với năm trước, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10
tỷ đồng (chiếm 93,8%) Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 3511 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 37,1%); 2668 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 28,2%); 1907 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 20,1%) và 1381 công ty cổ phần (chiếm 14,6%)
Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong năm
là 71391 doanh nghiệp, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 15649
Trang 15doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 55742 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký Trong tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động, có 26349 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 36,9%); 22889 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 32,1%); 13081 công ty cổ phần (chiếm 18,3%) và 9070 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 12,7%) và 2 công ty hợp danh
2.1.2 Hình hình hoạt động của nghiệp tại ĐBSCL
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Thành phố Cần Thơ
Tính đến 30/4/2015, Cần Thơ có 11.168 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 40,264 tỷ đồng, trong số đó có 7.185 DN đang hoạt động, chiếm 64,3%
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Cà Mau
Tính đến 26/5/2015, Cà Mau có 4.032 doanh nghiệp đang hoạt động, vốn đăng ký 22.500,487 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 39.595 lao động
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Bạc Liêu
Tính đến tháng 6/2015, Bạc Liêu có 1.405 doanh nghiệp đang hoạt động (trong đó 1.393 là DNNVV), vốn đăng ký 9.916 tỷ đồng, trong đó: 589 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ, 527 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và 289 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản Giải quyết việc làm cho 26.539 lao động
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Sóc Trăng
Tính đến tháng 6/2015, Sóc Trăng có 2.001 doanh nghiệp đang hoạt động, 99,2% là DNNVV 18,9% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, 11,26% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, 4,15% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản, 3,68% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ và 3,04% hoạt động trong lĩnh vực lưu trú, dịch vụ ăn uống 77% doanh nghiệp làm ăn có lãi (tăng hơn 15% so với 2012), 22,3% doanh nghiệp làm ăn thu lỗ (giảm 5,7% so với năm 2012)
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Trà Vinh
Tính đến tháng 5/2015, Trà Vinh có 1.497 doanh nghiệp, vốn đăng ký 11.405 tỷ đồng, DNNVV chiếm tỷ lệ 98,86% (1480 DN) Giải quyết 37.150 việc làm cho người lao động
Trang 16Lĩnh vực thương mại – dịch vụ: 53,04% (794 doanh nghiệp), thu hút gần
8500 lao động (22,9%)
Lĩnh vực xây dựng: 27,19% (407 doanh nghiệp), 9300 lao động (25,03%) Lĩnh vực công nghiệp: 14,035% (210 doanh nghiệp), 15000 lao động (chiếm 40,38%)
Lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa….: 86 doanh nghiệp (5,74%), 4350 lao động (11,7%)
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Bến Tre
Hiện, Bến Tre có 2.519 doanh nghiệp đang hoạt động, vốn đăng ký 8.693
tỷ đồng, 62.595 lao động Đa số doanh nghiệp trên địa bàn có quy mô nhỏ, vốn đăng ký bình quân khoảng 2,5 tỷ đồng Tỷ lệ DNNVV chiếm trên 96% Lao động chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề Sản phẩm chủ yếu trong nước, chưa xuất khẩu nhiều Trình độ quản lý doanh nghiệp còn hạn chế.Hoạt động riêng lẻ, chưa tạo sự liên kết, hợp tác
Đa số các doanh nghiệp tập trung sản xuất sản phẩm có thế mạnh của tỉnh như chế biến dừa, thủy sản, sản xuất cây con giống, nuôi trồng thủy sản… Lĩnh vực thương mại - dịch vụ: 40% , lĩnh vực công nghiệp - xây dựng: 25%, lĩnh vực nông lâm thủy sản chiếm 35%
2.3 Đánh giá thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam
2000 thì số lao động đã là 84 và vốn là 26 tỷ đồng Như vậy, xu hướng quy mô nhỏ ngày càng tăng, do 3 năm qua doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh chủ yếu là tư nhân với quy mô nhỏ và siêu nhỏ Doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm hơn 46%, từ 10 đến dưới 50 lao động chiếm 35% Về quy mô vốn, số doanh nghiệp dưới 10 tỷ đồng chiếm 86%, trong đó hơn một nửa là dưới 1 tỷ
Trang 17đồng Những ngành tập trung nhiều doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn là công nghiệp, bình quân 154 lao động và 32 tỷ đồng vốn, tiếp đó là vận tải, thông tin liên lạc rồi đến xây dựng Quy mô nhỏ và phân tán là ngành thương nghiệp, bình quân 18 lao động và 6 tỷ đồng vốn Doanh nghiệp ngành khách sạn, nhà hàng bình quân 27 lao động và 9 tỷ đồng vốn
Do phần lớn doanh nghiệp có mức vốn thấp (dưới 10 tỷ đồng) nên khả năng trang bị máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến là rất hạn chế Mức trang bị tài sản cố định bình quân cho 1 lao động ngoài quốc doanh là 50 triệu đồng, chỉ bằng 20% so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Theo nhận định qua kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê, doanh nghiệp phát triển còn mang tính tự phát chưa có định hướng rõ ràng Số doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 77,5% số doanh nghiệp được thành lập từ năm 2000 trở lại đây, nhưng biến động tới gần 20% hằng năm Nhiều tỉnh có hàng nghìn doanh nghiệp nhưng 70-80% trong số đó chỉ có 1-5 lao động và số vốn không quá 5 tỷ đồng như Long An, Đồng Tháp, Nam Định Doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển ổn định và có định hướng rõ ràng hơn, nhưng rất ít doanh nghiệp có quy mô lớn, đặc biệt Việt Nam chưa có một tập đoàn kinh tế mạnh nào
Trong bối cảnh Việt Nam sắp gia nhập WTO, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp được nhận xét là đáng lo ngại Số doanh nghiệp kinh doanh thua
lỗ tăng từ 19% năm 2000 lên hơn 23% năm 2013 (tổng số lỗ tính đến năm 2013
là 10.825 tỷ đồng), gần bằng 1/4 số vốn hoạt động của các doanh nghiệp này Số doanh nghiệp kinh doanh có lãi, năm cao nhất mới chiếm 73% với mức lãi thấp (tổng lãi năm 2003 là 89.054 tỷ đồng) Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mới khẳng định được ở một số mặt hàng sản phẩm và dịch vụ thông thường
Trong khi đó, quyền lợi của người lao động trong rất nhiều doanh nghiệp đang bị xem nhẹ Số liệu thống kê cũng cho thấy, doanh nghiệp chưa đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động chiếm hơn 70% tổng số doanh nghiệp Việt Nam hiện có
Mặt khác, khá nhiều doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp chỉ đăng ký với số vốn điều lệ mang tính hình thức chứ chưa phải quy mô vốn thực
Trang 18của họ Các doanh nghiệp nhà nước cũng trong tình trạng tương tự như vậy, vì Nhà nước bảo lãnh cho các doanh nghiệp này cho nên quy mô và vốn kinh doanh không phản ánh đúng thực chất doanh nghiệp Trong mọi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động chưa hề có một doanh nghiệp nào của Việt Nam được xếp hạng theo danh mục quốc tế
Hội nhập kinh tế thế giới bắt buộc chúng ta phải đối phó với những tác động của nó Chúng ta có thể hạn chế được những tác động xấu bằng chính năng lực của mình, bao gồm cả sức mạnh kinh tế và sức mạnh về tổ chức thị trường trong nước, chống đầu cơ Cụ thể như việc đối phó với sự tăng giá xăng dầu trong năm 2015 chẳng hạn
Ví dụ như nếu không có khoảng 1 tỷ USD Chính phủ bỏ ra để giảm nhẹ gánh nặng xăng dầu, công nghiệp chắc chắn sẽ khó hơn nhiều vì theo khái niệm
về “độ nở”, giá đầu vào tăng một thì giá đầu ra sẽ tăng gấp rưỡi
Công nghiệp của chúng ta trong thời gian qua có thể tạm gọi là tăng trưởng tốt, nhưng vấn đề chúng ta đang gặp phải vẫn nằm ở khả năng cạnh tranh, giá trị gia tăng tạo được Giá trị sản xuất công nghiệp của chúng ta tăng cao (15-16%), nhưng tốc độ tăng của giá trị tăng thêm chỉ trên 10% một chút, còn chênh lệch nhiều Và ngay cả kết quả xuất khẩu 26 tỷ USD, tăng trưởng trên 20% trong năm 2014 đã là rất tốt Nhưng vấn đề cần được phân tích kỹ khi bàn tới việc phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu là thực tế trong 26 tỷ đó có bao nhiêu tỷ USD giá trị tăng thêm mà chúng ta thu được từ sản xuất
Vấn đề mấu chốt để nâng cao khả năng cạnh tranh vẫn là cải cách, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Có thể thấy rõ ràng rằng qua hơn mười hai năm đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, chúng ta đã sắp xếp, cổ phần hóa được gần 2.300 doanh nghiệp, nhưng tỷ lệ vốn sở hữu nhà nước của các doanh nghiệp này chỉ chiếm khoảng 8,2% tổng vốn sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp Bình quân một doanh nghiệp chỉ có 45 tỷ đồng, trong đó vốn lưu động chưa đến 10 tỷ đồng, có tới 47% DNNN có vốn chưa đầy 5 tỷ đồng Xem xét kỹ thì không ít doanh nghiệp chỉ có vốn trên sổ sách, hoặc trong tài sản không dùng đến, nên vốn thực tế dùng cho sản xuất kinh doanh chỉ còn 50%
Năm 2013, trong số 77% DNNN làm ăn có lãi, chỉ chưa đầy 40% có mức
Trang 19lãi bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại Nếu đưa thêm giá trị quyền sử dụng đất vào chi phí và cắt bỏ các khoản ưu tiên, ưu đãi của Nhà nước, thì số DN có lãi còn ít hơn Số thuế thu nhập DNNN chỉ chiếm 9,2% trên tổng số nộp ngân sách nhà nước
Phần còn lại trong số 210.000 tỷ đồng vốn nhà nước nằm ở đâu? Một nửa trong số này nằm ở dầu khí, điện lực và bưu chính viễn thông, và phần lớn còn lại nằm ở các tổng công ty 91 khác như hàng hải, hàng không Đây chính là vấn đề mấu chốt để chúng ta tính toán kỹ cho bài toán phát triển trong năm 2006
và trong suốt lộ trình hội nhập của kinh tế ViệtNam
Trong Hội nghị toàn quốc đổi mới doanh nghiệp năm 2004, Thủ tướng Phan Văn Khải đã chỉ ra một loạt yếu kém của khối doanh nghiệp nhà nước, trong đó hiệu quả làm ăn thấp đang là một thách thức lớn khi Việt Nam hội nhập quốc tế Thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đạt 8.000 tỷ đồng trong tổng số 87.000
tỷ nộp ngân sách nhà nước; nợ xấu 8,5% trong khi bình quân cả nền kinh tế chỉ 6,1%; tổng số nợ của khối này phải thu, phải trả lên tới khoảng 300.000 tỷ đồng
Nhiều DNNN có trình độ công nghệ dưới mức trung bình của thế giới và khu vực Thiết bị, dây chuyền lạc hậu so với thế giới từ 10-20 năm, trong đó có 38% đang chờ thanh lý Chi phí sản xuất công nghiệp còn rất cao, hạn chế mức tăng giá trị gia tăng Cụ thể là giá trị sản xuất mấy năm gần đây tăng 15 %/năm, nhưng giá trị gia tăng chỉ tăng 10% Tốc độ đổi mới công nghệ chậm, chỉ khoảng 10% trong thời gian qua Các ngành công nghiệp có trình độ công nghệ cao, hiện đại như: điện tử, tin học mới chỉ chiếm vài phần trăm giá trị sản xuất công nghiệp; dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao không nhiều
Chưa hình thành được các ngành công nghiệp phụ trợ, cung cấp những linh kiện, sửa chữa, thiết kế, tiếp thị mà chúng ta có lợi thế cạnh tranh, để giảm giá thành sản phẩm công nghiệp chế tạo, tăng khả năng cạnh tranh, thu hút lao động
Trong vòng 11 năm qua từ 1992-2003, cả nền kinh tế tạo được thêm 9 triệu chỗ làm việc mới, thì khu vực DNNN chỉ tăng thêm có gần 200.000 chỗ, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được nửa triệu, còn lại hơn 8 triệu là của khu vực kinh tế dân doanh Hiện nay, chỉ có khoảng 2 triệu lao động
Trang 20làm việc tại các DNNN
Năng suất lao động của DNNN còn thấp Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động thời kỳ 1996-2001 của DNNN tăng bình quân mỗi năm 4,8%, thấp hơn mức tăng GDP là 7% cùng thời kỳ
Giá bán các sản phẩm của DNNN trong nước còn cao hơn giá nhập khẩu, chẳng hạn với xi măng là 115%, giấy 127%, thép 125%, phân bón 136% Một thực tế đáng lo ngại khác là sức cạnh tranh của DNNN rất yếu Trong khối ASEAN, Việt Nam thuộc nhóm kém phát triển (chỉ khá hơn Lào, Campuchia, Mianma) Khi Việt Nam gia nhập WTO, nếu các DNNN không được hưởng ưu tiên thì khu vực này khó có thể cạnh tranh thắng lợi với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài bởi đội ngũ quản lý doanh nghiệp kém, trình độ công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp Biện pháp để tháo gỡ những bức bách hiện nay là cần phải phát triển nhanh lực lượng sản xuất Một đất nước nhỏ bé như Xingapo, dân số chỉ có 3 triệu người mà mỗi năm làm ra đến 165 tỷ USD Còn Việt Nam, với 80 triệu dân nhưng GDP chỉ đạt 40 tỷ USD/năm Nếu cứ tiếp tục tiến độ đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước chậm chạp như hiện nay, doanh nghiệp nhà nước sẽ bị thua ngay trên sân nhà
Như vậy, còn một khoảng cách lớn về hiệu quả và sức cạnh tranh so với yêu cầu gia nhập WTO khi chúng ta phải tự do hóa thương mại và đầu tư theo các chuẩn mực của tổ chức này Vì vậy, theo đánh giá của Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ về tầm quan trọng và tác động của cải cách DNNN với việc gia nhập WTO, thì nếu không có những bước đi mang tính đột phá để nhanh chóng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh thì nguy cơ đổ vỡ hàng loạt DNNN là điều khó tránh khỏi
Xét về tổng thể thì hơn 90% các doanh nghiệp của Việt Nam là vừa và nhỏ ở hai mặt giá trị tài sản và vốn kinh doanh Nếu xét về mặt quy mô doanh nghiệp thì khả năng cạnh tranh về vốn của doanh nghiệp Việt Nam là thấp Để cạnh tranh tốt và có hiệu quả thì vấn đề đầu tiên và cũng là vấn đề thiết yếu đối với các doanh nghiệp đó là quy mô vốn Nhưng những doanh nghiệp có lượng vốn lớn hiện nay là doanh nghiệp nhà nước thì lại làm ăn không có hiệu quả hoặc có hiệu quả thấp Trong khi lại được sự bảo trợ rất lớn về mọi mặt của nhà nước do đó khu vực doanh nghiệp nhà nước không được đánh giá là khu vực có
Trang 21năng lực cạnh tranh cao Trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân là khu vực luôn luôn được các nước trên thế giới quan tâm và tạo điều kiện phát triển thì ngược lại ở Việt Nam khu vực kinh tế này lại ít được quan tâm, ít được đánh giá cao Và lượng vốn đầu tư của khu vực kinh tế này luôn thấp hơn so với khu vực kinh tế nhà nước Chính vì thế năng lực cạnh tranh của khu vực này không được đánh giá thật sự cao
2.1.4 Về giá cả và yếu tố đầu vào
Giá cả cũng như cơ sở của nó là giá thành của nhiều hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam cao hơn giá cả của hàng hoá và dịch vụ cùng loại của nhiều nước trong khu vực Năm 2015, giá đường trắng trên thế giới là 4.700 đ/kg, trong khi ViệtNam cao hơn từ 1,5 đến 2 lần Giá xi măng nhập khẩu (giá CIF) về đến Việt Nam trong khoảng 35 đến 40 USD/tấn, trong khi đó giá thành xi măng của Việt Nam từ 42 đến 65 USD/tấn Giá thép xây dựng thế giới đầu năm 2005 từ 380 đến 420 USD /tấn, thì tại Việt Nam giá thép có lúc lên đến gần 500 USD/tấn Giá xe máy DREAM ở Thái Lan khoảng 1000 USD/chiếc, trong khi đó giá xe máy cùng loại tại Việt Nam chưa có thuế là 1.280 USD/chiếc Giá gạo của Việt Nam trong siêu thị là 10.000đ/kg, còn giá gạo cùng loại của Thái Lan nếu
bỏ thuế chỉ còn 7.500đ/kg
Trong tương lai, năng lực cạnh tranh về giá của các hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp phụ thuộc vào sự biến động của giá thành hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp sản xuất ra cùng với những biến động về chi phí lưu thông của chúng
Hiện nay, vướng mắc hay trở ngại khiến doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn đó là chi phí các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam quá cao như giá cước điện thoại quốc tế, giá bốc xếp ở cảng, giá của các sản phẩm độc quyền… cao hơn thế giới rõ rệt Ví dụ chi phí vận chuyển một container từ Khu công nghiệp Bình Dương đến cảng Vũng Tàu còn cao hơn cả từ Vũng Tàu
đi Xingapo Tại Việt Nam, doanh nghiệp phải chịu quá nhiều tiêu cực phí: qua các trạm kiểm soát dọc đường, khi xe vào cảng hay khi hàng lên tàu
Hiện tại trong xu thế phát triển hướng về xuất khẩu thì hầu hết các doanh nghiệp có xu thế này đều phải lấy nguyên liệu bằng cách nhập khẩu từ nước ngoài vào Ví dụ như ngành da giày nhập từ 75 đến 80% nguyên vật liệu, ngành
Trang 22nhựa nhập khẩu 100% hạt nhựa… Ngoài ra, trong khi kỹ thuật thông tin đại chúng tạo điều kiện cho cạnh tranh toàn cầu với chi phí gia nhập thị trường ngày càng rẻ thì ở Việt Nam lại có xu hướng ngược lại
Trình độ về công nghệ cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp Việt Namhiện nay hầu hết là lạc hậu, chậm phát triển và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh Điều này dẫn đến vấn đề sản lượng thấp, giá thành cao do đó việc cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài là vô cùng khó khăn Mặt khác, do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm quản lý tiên tiến nên giá thành cao, chất lượng kém
Tính kết nối, phối hợp giữa các ngành, các cơ sở công nghiệp từ khâu cung cấp nguyên liệu đến khâu sản xuất ra thành phẩm rất hạn chế
Thêm vào đó là vấn đề về thuế nhập khẩu Đối với hàng nhập khẩu, ngoài thuế nhập khẩu còn phải chịu thuế giá trị gia tăng VAT (dù chưa có giá trị tăng thêm) Mặc dù sau đó được hoàn thuế nhưng thời gian hoàn thuế VAT chậm, do
đó dẫn tới việc doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn hoạt động kinh doanh
Để giải quyết tình trạng vốn hoạt động trong kinh doanh, doanh nghiệp buộc phải vay ngân hàng và đương nhiên phải chịu một khoản lãi suất mà lẽ ra nếu việc hoàn thuế nhanh và kịp thời hơn thì doanh nghiệp đã không phải chịu khoản lãi suất này Đó cũng là một yếu tố đẩy giá thành lên cao khiến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp giảm xuống
Chi phí về lao động: Lao động Việt Nam thừa về số lượng nhưng thiếu và yếu về chất lượng, năng suất lao động thấp So với các nước trong khu vực, năng suất lao động ngành dệt của Việt Nam chỉ bằng 90-95% năng suất lao động ngành dệt của Trung Quốc, bằng 85% năng suất lao động ngành dệt của Thái Lan Ưu thế về chi phí lao động rẻ của Việt Namđang mất dần Giá nhân công của 2 ngành có năng lực cạnh tranh tốt nhất (dệt may và da giày) hiện đang bằng
và cao hơn so với một số nước trong khu vực Để đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng, trình độ, ý thức nhiệt tình, tinh thần hợp tác, cần có chi phí đầu tư lớn, và như thế, giá thành hàng hoá và dịch vụ trong nước sẽ tiếp tục tăng lên
Chi phí về tài sản cố định của nhiều doanh nghiệp đang và sẽ chiếm tỷ lệ lớn trong giá trị của các hàng hóa và dịch vụ Khu vực đầu tư nước ngoài ở Việt
Trang 23Nam, giá trị tài sản cố định chiếm 76% tổng vốn góp, nhưng trong đó có tới 38% tài sản chờ thanh lý Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của Công ty dệt Phước Long là 62%, của Nhà máy đường Quảng Bình là 27%, của Nhà máy đường Cam Ranh là 15% Tài sản cố định của doanh nghiệp nhà nước chỉ còn 1/2 giá trị, 1/3 trong số đó tuổi sử dụng đã trên 10 năm Bên cạnh đó là những khoản nợ ngân hàng khổng lồ của các doanh nghiệp nhà nước phải trả lợi tức Các khoản nợ đó có thể tính là: nợ phải thu 104.889 tỷ đồng (chiếm 24,7% doanh thu), nợ khó đòi là 2.970 tỷ đồng (chiếm 2,66% số phải thu)… Tính chung, nợ phải trả bằng 140% tổng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Bảng 2.1.4.1 Chi phí đầu vào của Việt Nam và một số nước châu Á (USD/tháng)
Bangko
k
KualaLu mpur
phút đi Nhật Bản) 8,52 8,52 4,3 2,23 3,11 6,21 2,59 3,78 Điện kinh doanh/
Nguồn: CIEM
Các chi phí đầu vào khác trong xu thế đều tăng, tính từ năm 2006 đến nay: giá xăng dầu tăng gần 100%, giá nước tăng 130%, giá điện tăng 37,5%, cước thông tin liên lạc quốc tế sau nhiều lần cắt giảm vẫn còn cao hơn các nước trong khu vực
Những chi phí trên còn đẩy giá thành của nguyên vật liệu trong nước tăng, làm cho giá thành của những hàng hoá, dịch vụ sử dụng tỷ lệ lớn các đầu vào nội địa càng tăng Giá cả các yếu tố đầu vào càng cao thì càng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh về mặt giá cả của doanh nghiệp Việt Nam
Đối với khu vực kinh tế tư nhân, ngoài một số khó khăn do tăng chi phí đầu vào giống như các doanh nghiệp nhà nước, nhìn chung khu vực kinh tế tư nhân còn nhỏ bé, phân tán, trình độ công nghệ ứng dụng trong sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý tay nghề của người lao động còn hạn chế Họ còn có
Trang 24khó khăn hơn về vốn hoạt động, mặt bằng sản xuất kinh doanh, môi trường pháp
lý, môi trường tâm lý, xã hội…
Như vậy, rõ ràng là năng lực cạnh tranh về giá cả của các hàng hóa (dịch vụ) và việc khắc phục hạn chế về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam ngay trên thị trường nội địa cả ngắn hạn lẫn dài hạn còn là điều nan giải Những yếu kém về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn có nguyên nhân xuất phát từ môi trường hoạt động của chúng
2.1.5 Về chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Có một nhận xét chung là chi phí kinh doanh ở nước ta còn quá cao so với các nước khác trong khu vực Các chi phí hoạt động kinh doanh như: chi phí nhân công, chi phí vận chuyển, chi phí nhà xưởng, đất đai, các loại thuế của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực vẫn còn ở mức cao bất hợp lý khiến cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy lợi thế so sánh trên trường quốc tế và không thể chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp cũng như tay nghề cho người lao động
Bảng 2.1.5.1 So sánh chi phí thực hiện việc tuân thủ pháp luật của các nước
và Việt Nam
thấp nhất
Mức chi phí của một nước châu Á
Nước có mức cao nhất
CH Séc) (Malaixia) (Thái Lan)
Thời gian thực thi
một hợp đồng
(ngày)
120 (Tunixia) (Xingapo) (Papua Niu
Ghinê)
Trang 25Thời gian đóng cửa
Nguồn: VCCI
2.1.6 Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay
Chủ các DNNVV thường là kỹ sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập
và vận hành doanh nghiệp, họ vừa là người quản lý, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý DN không cao Ngoài ra, hầu hết những người chủ DNNVV đều không tham gia vào các khóa đào tạo quản lý chính quy, chưa có đủ kiến thức về quản trị DN; chỉ quản lý theo kinh nghiệm
và ý kiến chủ quan
Về hoạch định nguồn nhân lực
Hiện nay, có rất ít DNNVV lập kế hoạch nhân lực trong dài hạn Theo số liệu thống kê, có đến 85% trong tổng số doanh nghiệp thực hiện dự báo nhu cầu dựa trên số lượng lao động cần thay thế, chỉ có khoảng 15% là dựa vào sự thay đổi về khoa học, công nghệ, nhu cầu sản phẩm và dịch vụ, quy mô vốn,… Thêm vào đó, việc xác định thừa hay thiếu lao động cũng chỉ do từng phòng ban xác định dựa vào khối lượng công việc hiện tại chứ không có sự tham gia của phòng nhân sự Phòng nhân sự chỉ có chức năng nhận chỉ tiêu lao động và thực hiện việc tuyển dụng
Nhiều chủ DNNVV Việt Nam cũng xác định được nhu cầu về nguồn nhân lực trong ngắn hạn hoặc thậm chí chỉ căn cứ vào thời điểm hiện tại để ra quyết
Trang 26định Chỉ những DN có quy mô từ 50-300 lao động là còn quan tâm và đề ra chiến lược nguồn nhân lực, nhưng những chiến lược này còn rất sơ sài
Đối với công tác đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch nguồn nhân lực và đưa ra dự kiến cho kế hoạch của năm tiếp theo, hiện nay, các nhà quản lý của Việt Nam nói chung và các DNNVV nói riêng vẫn chưa coi trọng quá trình này,
vì vậy công tác này tại các DN còn rất đơn giản
Về phân tích công việc
Hầu hết các DNNVV Việt Nam đều thực hiện việc xây dựng công tác phân tích công việc, đặc biệt là những DN có quy mô từ 50 lao động trở lên Mỗi DN đều có những mẫu soạn thảo mô tả công việc riêng của mình, gồm những nội dung chính như: Tên công việc; Tên bộ phận chuyên trách công việc; Tên người giám sát; Phần mô tả tóm tắt về công việc; Các tiêu chuẩn hoàn thành công việc
Tuy nhiên, công tác phân tích công việc chỉ được tiến hành chi khi có chỗ trống trong DN Các DNNVV Việt Nam cũng không đưa ra một quy trình , hay một sự đánh giá nào về công tác này mà chủ yếu chỉ do một cá nhân thực hiện sau đó được trưởng phòng của phòng ban đó ký duyệt và gửi xuống phòng nhân
sự
Về tuyển dụng nhân sự
Đối với nguồn tuyển dụng nội bộ: khi công tác tuyển dụng được tiến hành thì phòng tổ chức – hành chính sẽ thông báo đến các đơn vị trong hệ thống và các phòng ban nghiệp vụ khác, từng bộ phận sẽ xem xét thấy cá nhân nào có khả năng đảm nhiệm công việc thì thông báo lại cho phòng tổ chức Tuy nhiên, do nguồn nhân lực tại các DNNVV thường có quy mô nhỏ nên ưu thế dành cho tuyển dụng nội bộ là không nhiều
Đối với tuyển dụng từ bên ngoài: việc tuyển dụng thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm còn rất khiêm tốn Nguồn từ cơ sở đào tạo và thông tin đại chúng là một phần đảm bảo cho các doanh nghiệp tuyển được đúng người đúng việc Hình thức này chủ yếu áp dụng tại các DN có quy mô từ 50 lao động trở lên, trong đó thông báo tuyển dụng qua Internet, báo chí Theo thống kê thì có
Trang 2725% DN tuyển dụng qua các phương tiện thông tin đại chúng này, con số này là rất thấp so với các nước phát triển cũng như một số nước trong khu vực
Mỗi DN đều lựa chọn một cách thức tuyển dụng riêng nhưng hầu hết các DNNVV đều thực hiện các bước của quá trình tuyển chọn như sau: tiếp nhận hồ
sơ và nghiên cứu; lựa chọn những ứng viên đạt yêu cầu để phỏng vấn
Khi tiến hành phỏng vấn, các DN lập hội đồng phỏng vấn gồm giám đốc, trưởng phòng nhân sự và các nhân viên nhân sự tham gia phỏng vấn Ứng viên vượt qua vòng phỏng vấn sẽ được nhận vào thừ việc trong vòng 3-6 tháng, sau
đó DN sẽ ký hợp đồng chính thức
Trên thực tế, nhiều DNNVV do trình độ nhận thức và quản lý còn chưa cao nên sau khi thực hiện quá trình tuyển dụng nhân sự, các DN này thường kết thúc quá trình tuyển dụng mà không cần biết hiệu quả của đợt tuyển dụng này là như thế nào, có đạt được mục tiêu của quá trình tuyển dụng không… Chính vì vậy, công việc đánh giá hiệu quả công tác tuyển chọn cũng chỉ được khoảng 35% các DNNVV tiến hành
Về đánh giá thành tích
Hầu hết các DNNVV sử dụng phương pháp đánh giá bằng thang điểm, tuy nhiên, các tiêu chí đánh giá thường do chủ quan mà không dựa trên bản mô
tả công việc Hiện nay, việc người lao động đánh giá cấp trên là một điều rất ít
DN áp dụng Điều này sẽ làm giảm tính khách quan trong công tác đánh giá, và khiến nhiều nhà quản lý không chịu học hỏi, đổi mới bản thân
Về đào tạo, nâng cao kỹ năng, tay nghề cho người lao động
Đa số các DNNVV không có chiến lược đào tạo và phát triển gắn liền với tầm nhìn và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp Một thực tế khác là nhiều DN Việt Nam chỉ quan tâm đến việc đào tạo cho các cán bộ quản lý, chuyên gia cấp cao Còn với công tác đào tạo chuyên viên kỹ thuật, công nhân lao động thì hình thức đào tạo chủ yếu là tự đào tạo hoặc người lao động phải tự nâng cao tay nghề
Trang 28Bên cạnh những nhược điểm trong quản trị DN nói trên thì rất nhiều các DNNVV hiện nay chưa xây dựng được một quy chế trả lương hoàn thiện cho người lao động
Từ thực trạng nói trên, có thể thấy rằng hiệu quả công tác sử dụng và quản trị nguồn nhân lực trong các DNNVV Việt Nam còn khá thấp, chưa đáp ứng được tình hình phát triển một cách hết sức nhanh chóng của nền kinh tế cũng như yêu cầu về vấn đề sử dụng nguồn nhân lực hiện nay Quản trị nguồn nhân lực tại các DN này không được quan tâm phát triển nên không tận dụng được một các hiệu quả nguồn lao động trong DN
2.2 Cơ sở lý luận
2.2.1 Khái niệm về DNVVN
Ở Việt Nam hiện nay, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là vấn đề được Nhà nước quan tâm đặc biệt Vì sự thành đạt của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các doanh nghiệp Mà trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường thì doanh nhiệp quy mô vừa và nhỏ có ý nghĩa vô cùng quan trọng Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa chung, hoàn chỉnh về doanh nghiệp vừa và nhỏ Để xác định chính xác loại hình doanh nghiệp này người ta thường căn cứ vào hai tiêu chí
Nhóm các tiêu chí định tính bao gồm: chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, không phức tạp Nhóm yếu tố này phản ánh đúng bản chất vấn đề nhưng thường khó xác định bởi vậy mà nó mang tính tham khảo, kiểm chứng, ít được sử dụng trong thực tế
Nhóm tiêu chí định lượng: Có thể bao gồm số lao đông định biên, giá trị tài sản, vốn kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận, nhóm tiêu chí này mỗi nước sử dụng hoàn toàn không giống nhau, có thể căn cứ vào cả lao động, vốn, doanh thu cũng
có thể chỉ căn cứ vào số lao động hoặc vốn kinh doanh
Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên thế giới : Hàn Quốc: Là một nước công nghiệp trẻ, đạt được nhiều thành công chính
là nhờ sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc đã có những đạo luật
cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó xác định rõ những tiêu chuẩn để được công nhận là doanh nghiệp vừa và nhỏ Những tiêu chuẩn đó còn phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động cụ thể như sau
Trang 29Trong lĩnh vực chế tạo, khai thác, xây dựng: doanh nghiệp có dưới 300 lao động thường xuyên và tổng vốn đầu tư dưới 600.000 USD được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong số này doanh nghiệp nào có dưới 20 lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ
Trong lĩnh vực thương mại: doanh nghiệp có dưới 20 lao động thường
xuyên và doanh thu dưới 500.000 USD/năm (nếu là bán lẻ) và dưới 250.000 USD/ năm (nếu là bán buôn) được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong số này doanh nghiệp nào có dưới 5 lao động thưòng xuyên được coi là doanh nghiệp nhỏ các tiêu thức này được xác định từ những năm 70, đến nay tiêu thức về lao
động đã thay đổi từ 2 đến 3 lần và vốn đã tăng hàng chục lần)
Nhật Bản: là một nước đã tạo nên huyền thoại “thần kỳ” trong phát triển
kinh tế vào những năm của thập kỷ 50 đến thập kỷ 70 Từ những năm 60, Nhật Bản có đạo luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau:
Đối với doanh nghiệp sản xuất: doanh nghiệp có dưới 300 lao động và một
khoản tư bản hoá (vốn đầu tư) dưới 100 triệu Yên (tương đương với 1 000 000 USD) được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong số này, doanh nghiệp nào có dưới 20 lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ
Đối với doanh nghiệp bán buôn: doanh nghiệp có dưới 100 lao động hoặc
có một khoản tư bản hoá dưới 30 triệu Yên (tương đương 100.000 USD) được coi là doanh nghiệp nhỏ
Đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ: doanh nghiệp có dưới 50 lao động
hoặc một khoản tư bản hoá dưới 10 triệu yên (tương đương 100 000 USD) được coi là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Trong số này, doanh nghiệp nào có dưới 5 lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ (những tiêu thức này nay được xác định từ những năm 60, hiên nay vốn đã tăng lên hàng chục lần)
Trong khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhật Bản chỉ quan tâm đến hai tiêu thức là vốn và lao động Đối với tiêu thức lao động của loại hình doanh nghiệp nhỏ, Nhật Bản quan niệm gần giống với Hàn Quốc, rất thấp so với khu vực châu á Phải chăng các nước có tiềm lực kinh tế mạnh, nguồn nhân lực có hạn, họ quan tâm đến tiêu thức vốn đầu tư nhiều hơn
Thái Lan: là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, họ
quan niệm doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 200 lao động, doanh nghiệp nhỏ có dưới 50 lao động Như vậy Thái Lan chỉ quan tâm đến tiêu thức lao động và
Trang 30cũng không tính đến tính chất đặc thù của nghành kinh tế (tiêu thức này gần giống với Việt Nam)
Các nước khác như Phi-lip-pin lại lấy tiêu thức chủ yếu là lao động và giá trị tài sản cố định; In-đô-nê-xi-a lấy tiêu thức vốn bình quân cho một lao động; Trung quốc lại lấy tiêu thức sản lượng đầu tư Mỹ lấy tiêu thức lao động, trị số hàng hoá bán ra (doanh thu tiêu thụ) đối với doanh nghiệp bán buôn, dịch vụ, đối với doanh nghiệp sản xuất thì có tính đến yếu tố ngành sản xuất
Ở nước ta, trước đây do chưa có tiêu chí chung thống nhất xác định DNVVN nên một số cơ quan nhà nước, tổ chức hổ trợ DNVVN đã đưa ra tiêu thức riêng để xác định DNVVN phục vụ công tác của mình Theo Công văn số 681/CP-KNT nêu trên, các doanh nghiệp có vốn điều lệ DNV&Nưới 5 tỷ đồng
và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 ngưòi là các DNV&N
Tuy nhiên, các tiêu chí xác định trong cộng văn 681/CP-KTN chỉ là quy ước hành chính để xây dựng cơ chế chính sách hổ trợ DNVVN , là cơ sở để các
cơ quan nhà nước, các tổ chức chính thức của nhà nước thực thi chính sách đối với khu vực DNV&N Việc các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính không có chức năng thực thi các các chính sách Nhà nước đối với DNVVN áp dụng các tiêu chí khác nhau là được, vì các cơ quan đó có mục tiêu, đối tượng
hổ trợ khác nhau Việc đưa ra các tiêu thức xác định DNVVN mới chỉ có tính ước lệ, bản thân các tiêu chí đó chưa đủ xác định thế nào là khu vưc DNVVN ở Việt Nam, bởi vì có rất nhiếu các quan điểm khác nhau về việc các đối tượng, các chủ thể kinh doanh được coi là thuộc về hoặc không thuộc về khu vực DNV&N Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng cần quy định rõ DNVVN ở Việt Nam là
cơ sở sản xuất có đăng ký, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn và/ hoặc lao động thoả mãn qui định của Chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế
2.2.2 Tiêu chí phân loại DNVVN
Một số tiêu chí xác định DN vừa và nhỏ đã đƣợc áp dụng ở Việt Nam
Cơ quan, tổ chức đưa
dưới 20 tỷ đồng/thán
g
Dưới 500 ngưòi
Trang 31Liên Bộ Lao Động &
Tài chính
Vốn pháp định dưới 1
tỷ đồng
dưới 1 tỷ đồng/năm
dưới 100 người
dưới 30 người
Từ 30 dến 500 người
Quỹ hỗ trợ DNVVN
(Chương trình Việt
Nam- EU)
Vốn điều lệ từ 50.000 đến 300.000
Từ 10 đến 500 người
Nguồn: Bộ kế hoạch & Đầu Tư
2.2.3 Đặc trƣng của khởi nghiệp
Các cuộc khảo sát cho thấy những người lập nghiệp tìm kiếm những thời cơ để tạo vận mệnh cho chính mình, Họ luôn cảm thấy hạnh phúc mặc dù làm việc nhiều hơn, trách nhiệm nhiều hơn Khi khởi nghiệp họ có cơ hội để thực hiện những điều mà khi đi làm thuê họ khó có được, đó là:
- Làm chủ trong công việc, có cơ hội thực hiện những sở trường trong kinh doanh
- Cơ hội thu được những khoản lợi nhuận lớn, đầu tư vào những lĩnh vực yêu thích
- Được hưởng trọn vẹn thành quả lao động mà mình tạo ra
Bên cạnh đó, có rất nhiều trở ngại cho các nhà doanh nghiệp, nhất là những người khởi nghiệp, vì không chỉ làm tròn trách nhiệm của mình mà còn liên đới tới nhiều người, chịu nhiều trách nhiệm trước pháp luật, trước người lao động, liên đới với xã hội…và phải lường trước các rủi ro có thể xảy đến
2.2.4 Cơ sở lý luận về khởi nghiệp kinh doanh
Khởi nghiệp một doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là mang hồ sơ đến
cơ quan đăng ký kinh doanh mà còn là một quá trình phức tạp đòi hỏi công
Trang 32sức và thời gian Đó là việc tìm hiểu môi trường mà nơi đó doanh nghiệp của mình sẽ kinh doanh, khi đi vào hoạt động thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp mình đến đâu Để có thể xác định được điều trên, ngoài kinh nghiệm của người khởi nghiệp nhất thiết phải có cơ sở lý thuyết dẫn đường để khởi nghiệp thành công Có rất nhiều lý thuyết liên quan đến khởi dựng và tổ chức quản trị một doanh nghiệp như lý thuyết về marketing, lý thuyết về tổ chức doanh nghiệp, lý thuyết về quản trị tài chính, nhân sự Chi tiết hơn có tài liệu hướng dẫn khởi sự doanh nghiệp của VCCI và tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức GTZ, chương trình đào tạo khởi dựng doanh nghiệp của tổ chức Businessedge và tôi nhận thấy lý thuyết khởi nghiệp của Businessedge là đầy đủ và phù hợp với thực tiễn nên tôi chọn nó làm cơ sở lý thuyết cho đề tài Bên cạnh đó, ứng với mỗi bước của lý thuyết trên, tôi kết hợp với lý thuyết cơ bản về marketing, quản lý dự án, quản trị tài chính, quản trị nhân sự mà trong đó không đề cập để làm rõ hơn những yêu cầu cần làm khi thành lập doanh nghiệp
2.2.5 Chọn loại hình doanh nghiệp
Mỗi nhà lập nghiệp đều phải quyết định 2 vấn đề khi thành lập doanh nghiệp đó là: Thứ nhất là tự mình đứng ra lập doanh nghiệp hay làm với một đối tác
Điều này phải xem xét những cái được và các mất khi đứng ra lập nghiệp một mình hay với một đối tác, những cái được ở đây như:
- Có thể dễ dàng thực hiện hơn và an toàn hơn trong kinh doanh vì hai cái đầu bao giờ cũng hơn một cái đầu trong việc kinh doanh và trách nhiệm gánh vác Việc quản trị thể hiện trên nguyên tắc tập thể, làm việc nhóm sẽ đem lại sự sáng tạo cao trong sản xuất và kinh doanh
- Bạn không phải thường trực ở công ty trong toàn bộ thời gian Sẽ có thêm người để trông coi công việc, chia sẻ việc công sở, chia sẻ những kỹ năng bổ sung
- Có một đồng nghiệp với động lực làm việc và tinh thần cao, không đơn thuần như người hưởng công ăn lương Có người góp vốn và chia sẻ rủi ro, tận dụng được mối quan hệ của người đó nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong kinh doanh
Ngoài những thuận lợi khi lập nghiệp với đối tác thì cũng có nhiều bất lợi như:
- Không được độc lập tự chủ toàn bộ trong các quyết định
Trang 33- Có nguy cơ xung đột về lợi ích khi góp vốn, rút vốn, chia sẻ lợi nhuận, các quyết định quản lý…
Thứ hai là chọn loại hình doanh nghiệp nào?
Tuỳ theo ngành nghề, quy mô mà ta chọn loại hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp tư nhân: Là công ty do duy nhất môt người làm chủ sở hữu Người này chịu trách nhiệm vô hạn với số nợ của công ty, lợi nhuận hay khoản lỗ của công ty sẽ được thể hiện trong bản kê khai thuế thu nhập cá nhân Loại hình này thành lập đơn giản và tránh được những chi phí lớn như công ty hợp danh hay công ty cổ phần Công ty TNHH: Là công ty có một hay nhiều thành viên tham gia nhưng không quá 50 thành viên, đặc điểm là mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phần vốn cam kết đóng góp của mình Điều đó không có nghĩa là chủ doanh nghiệp không chịu trách nhiệm về khoản nợ vượt quá mức vốn của công ty,
vì nếu ký kết các hợp đồng kinh tế vượt qua mức vốn công ty thì người đại diện pháp luật phải chịu trách nhiệm về sai phạm đó
- Công ty cổ phần: Là công ty gồm 3 thành viên trở lên và mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm ở mức hữu hạn Trừ những điều liệt kê dưới đây, không có cổ đông nào trong công ty chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty Các chủ nợ chỉ có thể sử dụng tài sản của công ty cổ phần để thanh toán các khoản nợ Công ty tự khai báo thuế và trả các khoản thuế từ thu nhập của doanh nghiệp Nếu công ty cổ phần dùng một phần thu nhập để trả cổ tức thì công ty sẽ không khấu trừ phần cổ tức đó ra khỏi bản kê khai thuế mà những người nhận cổ tức phải trả thuế cho phần nhận được
- Công ty hợp danh: Trong công ty hợp danh, mỗi thành viên chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty Thu nhập và chi phí được thể hiện trong một bản kê khai thuế riêng nhưng mỗi thành viên đối tác chỉ báo cáo phần lợi nhuận hoặc lỗ của doanh nghiệp tương ứng với phần vốn góp của họ vào công ty trong bản kê khai thuế thu nhập cá nhân của mình
2.2.6 Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp
Cơ cấu loại hình tổ chức doanh nghiệp là hình thức tồn tại của một tổ chức, biểu thị trật tự sắp xếp theo một trật tự nào đó giữa các bộ phận của tổ chức cùng các mối quan hệ giữa chúng Trong đó có cơ cấu quản trị là để phân công lao động trong lĩnh vực quản trị, có tác động đến quá trình hoạt động của hệ thống quản trị Cơ cấu tổ chức, một mặt phản ánh cơ cấu sản xuất, nó có tác động tích cực trở lại việc phát triển sản xuất
Việc xác định ngành nghề, hình thức kinh doanh cũng như loại hình doanh nghiệp, tiềm lực, quy mô của doanh nghiệp để xây dựng mô hình cơ cấu tổ chức cho doanh nghiệp Đó là việc thiết lập chức năng, nhiệm vụ,
Trang 34quyền hạn cho từng cá nhân, từng bộ phận, cùng với nó là những chi tiết và cụ thể hoá công việc của các bộ phận
Các doanh nghiệp mới thành lập rất khó khăn trong việc sắp xếp cơ cấu tổ chức, nhất là doanh nghiệp sản xuất những loại hàng hoá phức tạp Việc xây dựng hoàn thiện cơ cấu tổ chức phải bảo đảm những yêu cầu sau:
- Tính tối ưu: Phối hợp nhịp nhàng giữa các cấp, giữa các khâu (giữa các cấp là cơ cấu theo chiều dọc, giữa các khâu là cơ cấu theo chiều ngang) Làm sao cho tính năng động cao, luôn đi sát phục vụ quản lý sản xuất kinh doanh
- Tính linh hoạt: Cơ cấu tổ chức sao cho có tính linh hoạt cao và có thể thích nghi với môi trường bên ngoài
Mô hình tổ chức quản lý theo dự án rất được chú trọng hiện nay và rất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, thiếu nguồn lực
- Tính tin cậy: Cơ cấu tổ chức phải bảo đảm tính chính xác của tất cả thông tin sử dụng trong doanh nghiệp, nhờ đó bảo đảm sự phối hợp với các hoạt động và nhiệm vụ của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp
- Tính kinh tế: Cơ cấu quản trị phải sử dụng chi phí quản lý đạt hiệu quả cao nhất Tiêu chuẩn xem xét yêu cầu này là mối tương quan giữa chi phí bỏ
ra và dự định khoản thu về
2.2.7 Đăng ký kinh doanh
Cơ sở pháp lý và thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
- Khi khởi nghiệp là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm pháp lý trước nhiều vấn đề như : tài sản nợ, nghĩa vụ với nhà nước, với người lao động, với môi trường, với xã hội Do đó, ít nhiều, người khởi nghiệp cũng phải có hiểu biết pháp luật Mặc dù các công ty tư vấn đầu tư, văn phòng luật xuất hiện ngày một nhiều nhưng chủ doanh nghiệp vẫn cần biết những điều
cơ bản của doanh nghiệp mình về khía cạnh pháp lý
- Sau khi nghiên cứu về các đặc điểm nguồn lực, người khởi nghiệp xác định loại hình doanh nghiệp và xác định thủ tục pháp lý cho dự án kinh doanh theo pháp luật hiện hành
Trình tự thủ tục đăng ký kinh doanh
- Sau khi chuẩn bị hồ sơ, người khởi nghiệp tiến hành nộp hồ sơ lên sở Kế Hoạch và Đầu Tư và đóng lệ phí đăng ký kinh doanh Sau 15 ngày đối với việc thành lập doanh nghiệp, 12 ngày đối với thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện Sở Kế Hoạch và Đầu Tư bắt đầu trả hồ sơ gồm: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện
- Giấy chứng nhận đăng ký thuế
Trang 35- Giấy phép khắc dấu
Trên đây là quy định hiện hành về hồ sơ và thủ tục đăng ký kinh doanh, mỗi thời điểm khác nhau sẽ có những quy định khác nhau nên phải cập nhật văn bản pháp luật tại từng thời điểm
Trang 36CHƯƠNG III : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp phân tích số liệu
- Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả tần số, nhằm tính tần số và xác định tỷ lệ phần trăm
- Kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha là phương pháp tiếp theo được sử dụng để hiệu chỉnh bộ biến đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được
đề xuất ban đầu
- Phân tích nhân tố khám phá EFA ( Exploratory Factor Analysis ) nhằm gom nhóm các biến quan sát
- Bước tiếp theo, sử dụng phân tích nhân tố khẳng định CFA để khẳng định một lần nữa độ tin cậy của phân tích nhân tố khám phá EFA, sau đó áp dụng kết quả từ mô hình cấu trúc SEM để xác định, đo lường và đánh giá mức
độ ảnh hưởng cũng như chiều ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của nông hộ Cuối cùng là đánh giá mức độ hài lòng của nông hộ dựa trên kết quả phân tích từ mô hình cấu trúc SEM
3.2 Phương pháp Thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong đề tài nghiên cứu này là tính tần số và xác định tỷ lệ phần trăm
3.2.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA
Trước tiên, chúng ta phải tiến hành kiểm tra độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s Alpha để có thể đảm bảo rằng bộ biến được đề xuất ban đầu là phù hợp với đề tài nghiên cứu Kiểm tra độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, kiểm định tổng các biến ( quan sát ) có hệ số tương quan thấp so với biến tổng sẽ giúp loại bỏ được những biến rác trước khi tiến hành phân tích nhân tố Một thang đo có độ tin cậy tốt khi hệ số Cronbach’s Alpha thông thường ≥ 0,6 (tốt nhất là ≥ 0,7) mối quan hệ các biến quan sát (item) với biến tổng đạt độ tin cậy
Trang 37Nếu hệ số Cronbach’s Alpha < 0,6 thì bỏ các item để có hệ số Cronbach’s
Alpha ≥ 0,6 và nếu Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên là có thể chấp nhận được
trong trường hợp khái niêm thang đo lường là mới đối với người trả lời
Phân tích nhân tố khám phá EFA là tên chung của một nhóm các thủ tục
được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu Phân tích nhân tố sẽ rút gọn
một số lượng biến nhiều thành một số lượng biến ít hơn mà vẫn không làm mất
đi ý nghĩa của bộ biến nghiên cứu vì bộ biến mới vẫn bao hàm tất cả những biến
ban đầu
Theo Nguyễn Đình Thọ (2011) các chỉ tiêu trong phân tích EFA gồm:
Hệ số tương quan (Factor loading ) là một chỉ tiêu để đảm bảo mức ý
nghĩa thiết thực của EFA, hệ số tương quan > 0,3 được xem là đạt mức mức tối
thiếu, <0, 3 sử dụng EFA không phù hợp (Hair & ctg 2006) Tuy nhiên, dữ liệu
được xem là có ý nghĩa thực tiễn thì hệ số tương quan phải ≥ 0,5
Hệ số KMO là một chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích hợp của EFA, khi 0,5 ≤ KMO ≤ 1 thì phân tích nhân tố là thích hợp Ngoài ra, nếu kiểm định
Bartlett có ý nghĩa thống kê ( sig <0,05 ) thì các biến quan sát có tương quan với
nhau trong tổng thể
Phương sai trích là tổng biến thiên được giải thích bởi các nhân tố, khi
tổng phương sai trích ≥ 50% thì đạt yêu cầu
3.2.2 Phân tích nhân tố khẳng định CFA và mô hình SEM
Phân tích nhân tố khẳng định CFA là một trong các kỹ thuật thống kê của
mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) Trêm mô hình này sẽ thể hiện một cách trực
quan cac mối quan hệ và mức độ tác động của các biến độc lập đến các biến phụ
thuộc
Phương pháp CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM được sử dụng để
kiểm định các thang đo có đạt được yêu cầu của một thang đo tốt không, mức độ
phù hợp của mô hình với thông tin thị trường, thông qua các chỉ tiêu: chỉ số
Chi-square (CMIN); Chi-Chi-square điều chỉnh theo bậc tự do ( CMIN/df ); chỉ số thích
hợp so sánh CFI ( Com parative Fit Index ); chỉ số Turker & Lewis TLI ( Turker
& Lewis Index ); chỉ số RMSEA ( Root Mean Square Error Approximation )
Trang 38Theo Nguyễn Khánh Duy (2009), nếu một mô hình nhận được các giá trị TLI,CFI ≥ 0,9, CMIN/df ≤ 2, một số trường hợp CMIN/df có thể ≤ 3, RMSEA ≤ 0,08 thì mô hình được xem là phù hợp với dữ liệu thị trường
Khi phân tích nhân tố khẳng định CFA, chúng ta nên thực hiện các đánh giá khác như Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua : Độ tin cậy tổng hợp ( pc), tổng phương sai trích ( pvc ) và hệ số Cronbach’s Alpha Các chỉ tiêu pc và pvc phải đạt yêu cầu ≥ 0,5
Tính đơn hướng: Khi mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường và không có tương quan giữa các sai số đo lường của cac nhóm nhân tố với nhau thì mô hình
sẽ đạt tính đơn hướng
Giá trị hội tụ: thang đo đạt giá trị hội tụ khi các trọng số chuẩn hoa đều > 0,5 và các trọng số chưa chuẩn hoa đều có ý nghĩa thống kê
Và cũng theo Nguyễn Khánh Duy (2009), khi các vấn đề trên thỏa mãn thì
mô hình đo lường là tốt Tuy nhiên, rất hiếm mô hình đo lường nào đạt được tất
cả cac vấn đề trên Ví dụ như Mô hình đo lường vẫn có thể được sử dụng khi không đạt được tính đơn hướng
Mục đích sử dụng phân tíchh nhân tố khẳng định CFA là để khẳng định một lần nữa độ tin cậy của phân tích nhân tố khám phá EFA, sau đó áp dụng kết quả từ mô hình cấu trúc SEM để khẳng định, đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng cũng như chiều ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp Cuối cùng, đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên kết quả phân tích từ mô hình cấu trúc SEM
Trang 39CHƯƠNG IV : ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ, MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Để đánh giá được các yếu tố có thể ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát trên 200 doanh nghiệp tại các đị phương khác nhau tại các tỉnh, Tp ĐBSCL Kết quả xử lý dữ liệu thu về được 207 phiếu khỏa sát hợp lệ và dữ liệu thu thập từ 207 phiếu này
sẽ được sử dụng cho các phân tích
4.1.Kết quả phân tích đặc điểm các doanh nghiệp khảo sát
Hình 4.1.1 Loại hình doanh nghiệp
Kết quả điều tra của Tổng Cục thống kê năm 2015 về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp những tháng cuối năm khả quan hơn những tháng đầu năm, trong đó có 42,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV khả quan hơn quý III; 19,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,2% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định Dự kiến quý I năm 2016 so với quý IV năm nay,
có 40,9% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 17,7% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 41,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định
Về khối lượng sản xuất, có 44,8% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản
xuất của doanh nghiệp quý IV năm nay tăng so với quý trước; 20,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 34,8% số doanh nghiệp cho rằng
ổn định Về xu hướng quý I năm 2016 so với quý IV năm nay, có 42,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 17,6% số doanh nghiệp dự báo giảm và 40,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định Có tới 91,6% doanh nghiệp dự báo năm 2016 có khối lượng sản xuất tăng so với năm 2015
Trang 40Về đơn đặt hàng, có 38,6% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng quý IV cao
hơn quý III; 20,8% doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 40,6% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định Xu hướng quý Inăm 2016 so với quý IV năm 2015 tiếp tục khả quan với 38,2% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 18,1% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 43,7% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định Có tới 91,1% số doanh nghiệp lạc quan
về số lượng đơn hàng năm 2016 sẽ tăng và giữ ổn định so với năm 2015
Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý IV so với quý trước, có 30,7% số doanh
nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 21,4% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 47,9% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định Xu hướng quý I năm sau so với quý IV năm nay, có 33% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 19,2% số doanh nghiệp dự kiến giảm
và 47,8% số doanh nghiệp dự kiến ổn định Đối với năm 2016, có 90,8% số doanh nghiệp dự báo đơn hàng xuất khẩu tăng lên và giữ ổn định
Về chi phí sản xuất, có 24,4% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất
trên một đơn vị sản phẩm quýIV tăng so với quý trước; 10,4% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 65,2% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định Xu hướng trong quý I năm 2016, có 22,4% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng so với quý IV năm 2015; 10,9% cho rằng chi phí giảm và 66,7% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định
Về giá bán sản phẩm quý IV so với quý trước, có 15,4% số doanh nghiệp
cho biết có giá bán sản phẩm tăng; 13,6% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 71% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định Dự kiến giá bán sản phẩm quý I năm 2016 so với quý IV năm 2015, có 16,1% số doanh nghiệp
dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 10,5% số doanh nghiệp dự báo giá bán
sẽ thấp hơn và 73,4% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định
Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 20,4% số doanh nghiệp có lượng tồn kho
quý IV năm 2015 tăng so với quý trước; 31,3% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 48,3% số doanh nghiệp giữ ổn định Xu hướng quý I năm 2016
so với quý IV năm nay, có 16,5% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho
sẽ tăng; 29,5% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 54,0% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định
Về tồn kho nguyên vật liệu quý IV so với quý III, có 19,4% số doanh nghiệp
cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,6% số doanh nghiệp cho là giảm và 52,0% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên Dự kiến quý I năm 2016
so với quý IV năm nay, có 15,5% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,1% dự báo lượng tồn kho giảm và 56,4% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên, vật liệu
Về sử dụng lao động quý IV so với quý III, có 17,3% số doanh nghiệp khẳng
định quy mô lao động tăng; 12,7% số doanh nghiệp khẳng định giảm và 70%
số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định Xu hướng biến động lao động có chiều hướng tăng lên ở 6 tháng đầu năm 2016 và cả năm 2016 so với năm 2015, với 90,5% số doanh nghiệp dự kiến số lao động 6 tháng đầu năm 2016 tăng và giữ
ổn định trong so với 6 tháng cuối năm 2015