Nước ta có nhiều loại hình du lịch khác nhau: nghỉ dưỡng, tâm linh, khám phá,homestay,…Nhưng với những làng nghề thủ công truyền thống nước ta nói chung và huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang n
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI 1§
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2§
1.2.1 Mục tiêu chung 2§
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2§
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu 2§
1.2.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 2§
1.2.3.2 Cách thức tiến hành 2§
1.2.3.3 Phương pháp phân tích 2§
1.2.4 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu 2§
1.2.5 Ý nghĩa đề tài 3§
1.2.6 Bố cục nội dung nghiên cứu 3§
CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU 4
2.1 KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ 4§
2.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁI BÈ - TIỀN GIANG 5§
2.2.1 Sơ lược về tỉnh Tiền Giang 5§
2.2.1.1 Vị trí địa lí 5§
2.2.1.2 Dân số 6§
2.2.1.3 Khí hậu 6§
2.2.2 Sơ lượt về huyện Cái Bè 6§
2.2.3 Các điểm du lịch ở Cái Bè 8§
2.2.3.1 Chợ nổi Cái Bè 8§
2.2.3.2 Miệt vườn Cái Bè 9§
2.2.3.3 Làng cổ Đông Hòa Hiệp 9§
2.2.4 Các nghề ở làng nghề Cái Bè 11§
2.2.4.1 Nghề làm cốm 11§
2.2.4.2 Nghề làm kẹo dừa 12§
2.2.4.3 Nghề làm bánh phồng 13§
2.2.4.4 Nghề làm bánh tráng 14§
2.2.4.5 Nghề làm gạch 15§
Trang 22.2.4.6 Nghề chằm lá 15§
2.3 NHỮNG THUẬN LỢI – KHÓ KHĂN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA LÀNG NGHỀ 16§
2.3.1 Thuận lợi 16§
2.3.2 Khó khăn 16§
2.4 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 17§
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN - MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 19
3.1 CÁC KHÁI NIỆM 19§
3.1.1 Khái niệm về làng nghề truyền thống 19§
3.1.1.1 Tiêu chí công nhận làng nghề 19§
3.1.1.2 Đặc điểm làng nghề 19§
3.1.2 Khái niệm về Du lịch 21§
3.1.3 Khái niệm về Du lịch văn hóa 22§
3.1.4 Khái niệm Khách Du lịch 22§
3.1.5 Phân loại Khách du lịch 23§
3.1.5.1 Khách du lịch nội địa 23§
3.1.5.2 Khách du lịch quốc tế 23§
3.1.6 Khái niệm về sản phẩm Du lịch 23§
3.2 VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ 24§
3.2.1 Về Kinh tế 25§
3.2.2 Văn hóa - xã hội 26§
3.2.3 Mối quan hệ giữa Du lịch và làng nghề 27§
3.3 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ VÀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ 28§
3.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 29§
3.4.1 Mô hình 29§
3.4.2 Diễn giải mô hình 29§
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ BÁNH TRÁNG CÁI BÈ .31
4.1 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CHUNG CỦA CÁC LÀNG NGHỀ VIỆT NAM 31§
4.1.1 Thực trạng chung 31§
Trang 34.1.2 Giải pháp phát triển 31§
4.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG 32§
4.3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ BÁNH TRÁNG CÁI BÈ 34§
4.3.1 Thực trạng Du lịch làng nghề bánh tráng 34§
4.3.2 Khách du lịch 35§
4.3.3 Ma trận SWOT 42§
4.3.4 Giải pháp phát triển du lịch làng nghề bánh tráng 43§
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 45
5.1 KẾT LUẬN 45§
5.2 KIẾN NGHỊ 46§
5.2.1 Đối với các cơ quan chính quyền 46§
5.2.2 Đối với làng nghề 46§
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 4DANH MỤC BẢNGBảng 4.1: Sự hài lòng của du khách đối với điều kiện du lịch làng nghề bánh tráng 38
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Chợ nổi Cái Bè 8
Hình 2.2 Du khách tham gia các hoạt động 9
Hình 2.3 Nhà cổ 9
Hình 2.4 Nghề làm cốm 11
Hình 2.5 Nghề làm kẹo dừa 12
Hình 2.6 Nghề làm bánh phồng 13
Hình 2.7 Nghề làm bánh tráng 14
Hình 2.8 Nghề làm gạch 15
Hình 4.1 Độ tuổi du khách 35
Hình 4.3 Nguồn thông tin du khách biết đến 36
Hình 4.4 Các điểm du lịch khi đến với Tiền Giang 37
Bảng 4.1: Sự hài lòng của du khách đối với điều kiện làng nghề bánh tráng 38
Hình 4.5 Sự quay lại của du khách 39
Hình 4.6 Những điểm hài lòng của du khách khi đến với làng nghề 40
Hình 4.7 Những điểm không hài lòng của du khách khi đến với làng nghề 40
Hình 4.8 Đề xuất của du khách đối với du lịch làng nghề bánh tráng 41
Trang 6UBND Uỷ ban nhân dân
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
VHTT&DL Văn hóa thể thao và du lịch
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Ngày nay Đất nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu con người cũng càng tăng cao Saunhững tháng ngày làm việc vất vã, thì việc nghỉ ngơi, thư giản là lựa chọn hàng đầu của mọingười Du lịch cũng được mọi người nghĩ đến để thỏa mãn nhu cầu về tinh thần
Ngành “công nghiệp không khói” ở nước ta đến nay đã trãi qua hơn 56 năm(09/07/1960 – 09/07/2016) tồn tại, đem lại nguồn thu nhập GDP cao cho sự phát triển kinh tếnước nhà, giải quyết được vấn nạn thất nghiệp cho nhiều người Không chỉ thế, ngành “côngnghiệp không khói” còn đem lại lợi ích cho việc quảng bá hình ảnh, đất nước, con người ViệtNam với các nước trên thế giới Đem đất nước hình chữ “S” lại gần hơn, tiến xa hơn trên toànthế giới Được đánh giá là nền kinh tế mũi nhọn, đang trên đà phát triển Nước ta có tiềm năng
du lịch đa dạng và phong phú
Kể từ chỗ chỉ có 250.000 lượt khách quốc tế đến Việt Nam vào năm 1990, ngành Du lịch
đã đón 1,3 triệu lượt khách vào năm 1995; 2,1 triệu lượt vào năm 2000; 3,4 triệu lượt vào năm
2005 và đến năm 2010 đã vượt qua cột mốc 5 triệu lượt khách Chỉ một năm sau, lượng kháchquốc tế đã tăng thêm 1 triệu lượt, đưa tổng số khách lên trên 6 triệu lượt Mặc dù năm 2012gặp nhiều khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, lượng khách quốc tế đến ViệtNam vẫn đạt 6,8 triệu lượt, tăng 13,8% so với năm 2011 Ngành Du lịch được Đảng, Nhà nướcđánh giá là một điểm sáng của nền kinh tế trong bối cảnh khó khăn chung của kinh tế trongnước và thế giới
Năm 2013 đúng như dự báo vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng trực tiếpđến sức tăng trưởng của ngành, nhưng 6 tháng đầu năm, ngành Du lịch tiếp tục phát huy thếmạnh và sức hấp dẫn riêng có, đạt tốc độ tăng trưởng khá, lượng khách quốc tế đạt trên 3,5triệu lượt, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2012; lượng khách nội địa đạt 24 triệu lượt, tăng 12%.Tổng thu từ khách du lịch đạt 105 nghìn tỷ đồng, tăng 23,5%
Năm 2013, số khách quốc tế đến Việt Nam là 7,57 triệu lượt, khách nội địa đạt 35 triệulượt, tốc độ tăng trưởng 25% Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2013 đạt khoảng200.000 tỷ đồng Năm 2014, số khách quốc tế đến Việt Nam là 7,87 triệu lượt, khách nội địa là38,5 triệu lượt, tổng doanh thu đạt khoảng 230.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng giảm còn15% Năm 2015, khách quốc tế là 7,94 triệu lượt, khách nội địa đạt 57 triệu lượt, tổng doanhthu 337.830 tỷ đồng Du lịch đóng góp 5% vào GDP của Việt Nam
Nước ta có nhiều loại hình du lịch khác nhau: nghỉ dưỡng, tâm linh, khám phá,homestay,…Nhưng với những làng nghề thủ công truyền thống nước ta nói chung và huyện Cái
Bè tỉnh Tiền Giang nói riêng đang ngày càng lu mờ trong mắt các nhà kinh doanh, không đượckhai thác một cách toàn diện và chưa đạt hiệu quả cao
Vì sao “Du lịch làng nghề” lại kém phát triển hơn những loại hình du lịch khác, mặc dù đóchính là các nghề thủ công được xem là truyền thống cũng như nét văn hóa đặc trưng ở từngnơi, từng vùng miền khác nhau Vậy làm thế nào để bảo tồn những nét văn hóa, làng nghềtruyền thống cũng như phát triển mạnh về loại hình “Du lịch làng nghề” nói chung và “Du lịchlàng nghề bánh tráng ở Cái Bè” nói riêng Để tìm hiểu rỏ hơn về vấn đề này tôi quyết định chọn
đề tài “ Thực trạng và giải pháp phát triển Du lịch làng nghề bánh tráng ở Cái Bè”.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 91.2.1 Mục tiêu chung
- Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá thực trạng hoạt động và phát triển Du lịch làngnghề ở Cái Bè Qua đó đề xuất các giải pháp để phát triển Du lịch làng nghề bánh tráng ở CáiBè
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Thực trạng hoạt động du lịch của làng nghề bánh tráng
- Thực trạng thu hút khách của làng nghề bánh tráng
- Phân tích nguyên nhân tác động đến kết quả thu hút du khách của làng nghề
- Đề xuất giải pháp phát triển du lịch cho làng nghề bánh tráng ở Cái Bè
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu
1.2.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Số liệu thứ cấp: các số liệu thống kê được lấy từ web Tổng cục Du lịch, web tỉnh Tiền
Giang, web Cái Bè, và các trang báo về Du lịch ở Cái Bè
- Số liệu sơ cấp: thông qua việc phỏng vấn trực tiếp người dân, khách du lịch, hộ kinh
doanh
1.2.3.2 Cách thức tiến hành
- Khảo sát thực tế tình hình hoạt động kinh doanh của làng nghề
- Tham khảo thêm những sách, báo, internet nói về du lịch ở làng nghề
- Lập bảng khảo sát và tiến hành đi khảo sát.
1.2.3.3 Phương pháp phân tích
- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp về dữ liệu sơ cấp, thứ cấp
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả dựa trên bảng khảo sát.
- Phương pháp tổng hợp suy luận logic để đưa ra giải pháp.
1.2.4 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: cán bộ quản lý làng nghề, hộ kinh doanh trong làng, ngườidân, du khách
- Thời gian: 2016
- Giới hạn về nội dung: nghiên cứu về thực trạng hoạt động cũng như đề xuất ra cácgiải pháp để phát triển làng nghề
1.2.5 Ý nghĩa đề tài
“Thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch làng nghề bánh tráng ở Cái Bè” Với
đề tài này ta sẽ tìm hiểu nhiều hơn xoay quanh những vấn đề liên quan đến phát triển du lịchlàng nghề bánh tráng nơi đây Vì sao nó được coi là một nghề truyền thống ở huyện Cái Bè.Nhưng qua nhiều đổi thay của cuộc sống người dân nơi đây đã không còn mặn mà gì với cáinghề “Gia truyền” này nữa
Giới thiệu đến du khách những nét đặc trưng về văn hóa, đời sống bình dị của người dânđịa phương cũng như quảng bá hình ảnh, sản phẩm của làng nghề để nhiều người biết đến.1.2.6 Bố cục nội dung nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 2: Bối cảnh nghiên cứu
Chương 3: Cơ sở lý luận - mô hình nghiên cứu
Chương 4: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch làng nghề bánh tráng ở Cái Bè
Trang 10Chương 5: Kết luận – kiến nghị
CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU2.1 KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí quantrọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc mỗi quốc gia Nhữnglàng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thểthay thế Một cách giới thiệu sinh động về đất, nước và con người của mỗi vùng, miền, địaphương Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiềuquốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch Những lợi ích to lớn của việcphát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ởviệc giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ vàbảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc Đó là những lợi ích lâu dài không thể tính đượctrong ngày một ngày hai
Một địa phương muốn thu hút khách du lịch, tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn đápứng nhu cầu đa dạng của du khách thì phải bắt tay vào việc xây dựng và phát triển các sảnphẩm du lịch gắn liền với việc khai thác có chiều sâu và khai thác đúng tài nguyên du lịch củađịa phương đó
Trong những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ở Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng Đi dọc chiều dài đất nước hình chữ S, du khách gần như có thể dừng chân ở bất cứ địa phương nào để tìm hiểu về làng nghề truyền thống Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng hơn 3000 làng nghề thủ công, thuộc 11 nhóm nghề chính là sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá, kim khí.
Trang 11Lợi thế của phần lớn các làng nghề là nằm trên trục giao thông thuận lợi, cả đường bộlẫn đường sông nên thuận tiện để xây dựng các chương trình du lịch kết hợp Có thể kế đếncác địa phương khá năng động trong việc phát huy lợi thế làng nghề để phát triển du lịch như
Hà Nội, Hà Tây, Hoà Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam
Tuy nhiên, các chuyên gia du lịch cho rằng, mặc dù ở một số làng nghề cụ thể nói riêngnhư lụa Vạn Phúc (Hà Tây cũ), gốm Bát Tràng (Hà Nội), tranh Đông Hồ, mộc Đồng Kỵ (BắcNinh), làng đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng)… và Du lịch làng nghề Việt Nam nói chung trênthực tế đã thu hút một lượng du khách đáng kể nhưng vẫn chỉ là những nỗ lực tự phát, chưahình thành được cách làm chuyên nghiệp Bởi vậy, vấn đề đi tìm các biện pháp để du lịch làngnghề thực sự phát huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày một lớn bền vững hơn cho mụctiêu phát triển du lịch cũng như phát triển kinh tế, xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa… được coi
là nhiệm vụ hết sức cấp thiết, nhất là trong giai đoạn Việt Nam đang từng bước hội nhập toàndiện cùng với châu lục và thế giới
Du lịch làng nghề là loại hình du lịch văn hoá tổng hợp đưa du khách tới tham quan,thẩm nhận các giá trị văn hoá và mua sắm những hàng hoá đặc trưng của các làng nghề truyềnthống trên khắp miền đất nước
2.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁI BÈ - TIỀN GIANG
2.2.1 Sơ lược về tỉnh Tiền Giang
Tiền Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam, với phần lớn diện tích của tỉnh thuộc địa bàn tỉnh Mỹ Tho trước đó Tuy nhiên, cũng có thời kỳ toàn bộ diện tích tỉnh Tiền Giang ngày nay đều thuộc tỉnh Mỹ Tho, bao gồm cả vùng Gò Công Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Tỉnh lỵ của Tiền Giang hiện nay là thành phố Mỹ Tho, nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Bắc và cách Thành phố Cần Thơ 100 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A.
Tiền Giang có đường bờ biển dài 32 km, với địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính, ít chua dọc sông Tiền, chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh, thích hợp cho nhiều loại giống cây trồng và vật nuôi Mạng lưới viễn thông Tiền Giang được hiện đại hóa và triển khai đồng loạt trong toàn tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong nước và quốc tế Ngoài ra Tiền Giang cũng là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch.
2.2.1.1 Vị trí địa lí
Tiền Giang nằm trong tọa độ 105°50’–106°55’ kinh độ Đông và vĩ độ Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Long An, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre và tỉnh Vĩnh Long, phía Đông Bắc giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông Nam giáp Biển Đông Được chính phủ quy hoạch là một trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tiền Giang nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền (một nhánh của sông Mê Kông) với chiều dài 120 km Nhờ vị trí hết sức thuận lợi nên Tiền Giang đã trở thành trung tâm văn hóa chính trị của cả Đồng bằng sông Cửu Long, là địa bàn trung chuyển hết sức quan trọng gắn cả miền Tây Nam Bộ Vị trí như vậy giúp Tiền Giang sớm trở thành một
Trang 12tỉnh có nền kinh tế phát triển hàng đầu trong khu vực miền Tây Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh 250.830,33 ha (chiếm 6,17% DTTN của ĐBSCL), dân số 1.677.986 người (chiếm 10,06%), gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 1 thị xã, 8 huyện) với 169 đơn vị cấp xã (8 thị trấn, 16 phường, 145 xã) Trong đó, thành phố Mỹ Tho (đô thị loại 2), là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa
xã hội của tỉnh, đồng thời cũng là trung tâm, là hội điểm giao lưu văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch từ lâu đời của các tỉnh trong vùng, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km
về hướng Nam và cách thành phố Cần Thơ 90 km về hướng Bắc.
Nhìn chung, với các điều kiện về vị trí địa lý, kinh tế và giao thông thủy bộ, Tiền Giang có nhiều lợi thế trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường khả năng hợp tác, giao lưu kinh tế, văn hóa, du lịch với các tỉnh trong vùng…Đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh
và địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam.
2.2.1.2 Dân số
Dân số Tiền Giang năm 2015 là 1.728.700 người với 11 đơn vị hành chính gồm
1 thành phố (Tp Mỹ Tho), 2 thị xã (Tx Gò Công và Tx Cái Lậy) và 8 huyện (Cái Bè,
Gò Công Đông, Gò Công Tây, Chợ Gạo, Châu Thành, Tân Phước, Cái Lậy, Tân Phú Đông) Trong đó có 173 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 8 thị trấn, 28 phường và 139 xã 2.2.1.3 Khí hậu
Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long với đặc điểm: Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm Khí hậu phân hóa thành hai mùa tương phản rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với mùa gió Đông Bắc 2.2.2 Sơ lượt về huyện Cái Bè
Có 1 thị trấn và 24 xã Cái Bè là huyện nông nghiệp, nằm về phía tây, cách trung tâm thành phố Mỹ Tho 50 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 113 km Phía bắc giáp tỉnh Long An, phía nam giáp tỉnh Vĩnh Long, phía tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía đông giáp huyện Cai Lậy Diện tích tự nhiên là 420, 9km2, chiếm 17,23% diện tích toàn tỉnh Dân số theo thống kê năm 2004 có 287.481 người, trong đó: 139.171 nam, 147.766 nữ Mật độ 683 người/km2 Mật độ dân số cao nhất là thị trấn Cái Bè: 3.696 người / km2 và thấp nhất là xã Mỹ Tân (xã mới thành lập năm 1990): 252 người / km2.
Huyện được chia thành 24 đơn vị hành chính với 1 thị trấn và 24 xã gồm: thị trấn Cái Bè, Đông Hoà Hiệp, Hoà Khánh, Mỹ Lương, An Hữu, Hoà Hưng, Hội Cư, Hậu Thành, Thiện Trí, An Thái Trung, Mỹ Đức Đông, Mỹ Đức Tây, An Thái Đông, Tân Thanh, Tân Hưng, Mỹ Lợi A, Mỹ Lợi B, Mỹ Trung, Thiện Trung, Hậu Mỹ Phú, Hậu
Mỹ Trinh, Hậu Mỹ Bắc A, Hậu Mỹ Bắc B và Mỹ Tân Huyện Cái Bè có đường Quốc lộ 1A chạy dọc từ đông sang tây dài 27 km, Quốc lộ 30 dài 9 km từ ngã ba xã An Thái Trung đi Đồng Tháp, đây là hai tuyến đường bộ huyết mạch Ngoài ra còn có nhiều tỉnh
lộ như các đường 861, 863, 865, 869, 875 với tổng chiều dài gần 60 km Ngoài đường
bộ, ở Cái Bè còn có các kinh rạch quan trọng gồm: rạch Cái Bè, rạch Cái Cối, rạch
Trang 13Bằng Lăng, kênh Nguyễn Văn Tiếp, rạch Cổ Cò, rạch Trà Lọt, kênh 28, rạch Ruộng và hàng chục kinh, rạch lớn nhỏ khác, chằng chịt đan xen với tổng chiều dài trên 500 km Cái Bè là địa phương được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống thủy lợi tự nhiên tốt nhất trong tỉnh.
Là huyện có nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh, diện tích trồng lúa 3 vụ là 59.983 ha, nhưng cao nhất là diện tích trồng cây ăn trái với 140.600 ha Huyện có 3 xã
có diện tích đất nông nghiệp tương đối rộng, đó là xã Hậu Mỹ Trinh: 29.600 ha, Hậu
Mỹ Bắc A: 25.260 ha và Hội Cư: 24.120 ha Ngoài 3 xã nói trên còn có 3 vùng đất bãi bồi có diện tích tương đối rộng như: đất bãi bồi Cổ Lịch (còn gọi là cồn Cổ Lịch) với diện tích trồng cây ăn trái là 70 ha, cồn Hoà Khánh với diện tích hơn 40 ha và cồn Qui với diện tích hơn 80 ha, hiện trở thành một ấp thuộc xã Tân Thanh.
Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Cái Bè đã có hơn 4.000 thương binh, liệt sĩ, gần 100.000 người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương các loại Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho quân dân huyện Cái Bè, 10 xã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang, 216
bà mẹ Việt Nam Anh hùng và các Anh hùng lực lượng vũ trang như: Ngô Văn Nhạc, Nguyễn Văn Mười, Đỗ Hoài Nam, Đoàn Thị Nghiệp, Phạm Thị Thao, Trần Văn Thế… Sau ngày thống nhất đất nước, Đảng bộ và nhân dân Cái Bè đã đoàn kết xây dựng, khôi phục kinh tế Thành tựu lớn nhất là đã tập trung cải tạo đất nông nghiệp từ một vụ thành đất trồng lúa 3 vụ, cải tạo vườn tạp để trở thành vườn chuyên canh Mạng lưới thương nghiệp, dịch vụ phát triển rất mạnh, hầu như xã nào cũng có 1 - 2 chợ, huyện lỵ
có chợ tập trung hàng hoá dồi dào, trái cây cũng nhiều chủng loại, các bến bãi tập kết
xe, trái cây, lúa gạo, cá được khai thác mạnh mẽ Cây ăn trái ở Cái Bè gồm có cam mật, quít đường, bưởi long, ổi, mận, xoài Đặc biệt, xoài cát Hoà Lộc ( Hoà Hưng), bưởi lông Cổ Cò (Mỹ Lương) là hai đặc sản nổi tiếng trên thương trường
2.2.3 Các điểm du lịch ở Cái Bè
Trang 142.2.3.1 Chợ nổi Cái Bè
Hình 2.1 Chợ nổi Cái Bè
Chợ nổi Cái Bè thuộc thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nằm ở đoạn sông Tiền giáp ranh giữa ba tỉnh: Tiền Giang, Vĩnh Long và Bến Tre Chợ diễn ra từ 4h đến 15h hàng ngày, nhưng thời gian lý tưởng nhất để bạn tham quan khu chợ này vào khoảng từ 5h đến 7h.
Chợ nổi Cái Bè là một trong những chợ đầu mối lớn nhất miền Tây Nam Bộ, là nơi trao đổi buôn bán của hơn 400 xuồng ghe mỗi ngày Chính vì vậy mà hàng hóa ở chợ rất phong phú và đa dạng, từ hàng vải, đồ gia dụng cho đến hàng gia cầm, thủy hải sản… cho tới cả đồ ăn, thức uống cũng không thiếu Khu vực buôn bán trái cây nằm ở vàm chợ nổi, dọc theo cù lao Tân Long, dài tới cả cây số Ghe thuyền từ thành phố Hồ Chí Minh, Long An, An Giang, Cần Thơ, Cà Mau, tới để mua hàng Nét độc đáo chung của các chợ nổi là “sào nào, rau củ - trái ấy”, tức là trên ghe thuyền bán loại trái cây, nông phẩm nào thì treo lên sào cho người mua dễ nhận biết, và không phải rao mời Các chiếc ghe tam bản chở đầy trái cây: chôm chôm đỏ rực, xoài màu vàng ửng, sầu riêng thơm nồng, dưa hấu xanh tươi… từ sáng sớm đã được chở đến Khi bình minh vừa lên cũng là lúc khu chợ nổi đã nhộn nhịp như một thành phố nổi trên sông Những chiếc xuồng nhỏ bán hàng rong như cơm, phở, hủ tiếu, đồ tạp hóa chạy luồn lách theo các mạn ghe, mạn tàu để bán hàng Ngồi trên thuyền, du khách có thể thưởng thức ngay
tô hủ tiếu nóng hổi, hay ly cà phê thơm phức vào buổi sáng…
Khi mặt trời khuất sau rặng cây phía xa xa thì cũng là lúc “thành phố nổi” lên đèn Ban đêm chợ nổi đèn đóm sáng trưng trông như sao sa Có những chiếc ghe treo những chiếc đèn lồng nho nhỏ ở trước mũi thuyền trông thật sinh động.
Trang 152.2.3.2 Miệt vườn Cái Bè
Hình 2.2 Du khách tham gia các hoạt động Với vị trí thuận lợi nằm ngay sát bờ bắc của con sông Tiền thuộc huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang Lại được bao bọc bởi hệ thống kênh rạch chằng chịt nên Cái Bè đắm mình tong phù sa màu mỡ Cũng chính những lợi thế này mà Cái Bè đã trở thành vùng đất chuyên canh các loại cây trái lớn ở ĐBSCL và điểm dừng lý tưởng của nhiều du khách muốn trải nghiệm du lịch miệt vườn.
Cũng giống như nhiều khu du lịch sinh thái miệt vườn khác, ở đây trồng rất nhiều loại cây ăn trái như sầu riêng, bưởi, nhãn xoài Ngoài ra còn có mận, táo ,mít, mận, hồng đào.Tham quan những nhà vườn Cái Bè du khách không chỉ được thưởng thức các loại trái cây mà còn hòa mình vào nếp sống sinh hoạt của người dân nơi đây cảm nhận được nét đẹp trong tính cách tâm hôn của những người dân nơi đây rồi khi trở về bạn sẽ mong một lần được trở lại vùng đất thân thương này.
2.2.3.3 Làng cổ Đông Hòa Hiệp
Hình 2.3 Nhà cổ
Làng cổ Đông Hòa Hiệp nay là xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Làng có hơn 3.000 hộ gia đình, sinh sống chủ yếu dựa vào những vườn cây ăn
Trang 16trái các loại: xoài, cam sành, bưởi da xanh, bưởi lông Cổ Cò, nhãn, mít…và các nghề thủ công truyền thống như: làm cốm, tráng bánh tráng, cán bánh phồng sữa…Ấn tượng đầu tiên khi du khách đặt chân đến đây là hình ảnh những ngôi nhà cổ mang đậm nét kiến trúc văn hóa nhà vườn Nam bộ với niên đại trên 100 năm Trong đó, đáng chú ý là nhà cổ của ông Trần Tuấn Kiệt (ấp Phú Hòa) và nhà cổ của ông Phan Văn Đức (ấp An Lợi) Hai ngôi nhà này không những rất độc đáo về kiến trúc mà hiện còn là điểm du lịch Homestay thu hút đông du khách quốc tế.
Nhà cổ của ông Trần Tuấn Kiệt nằm ẩn mình giữa khu vườn cây ăn trái rộng hơn 15.000m² càng tạo thêm vẻ kín đáo, yên tĩnh Được dựng vào năm 1838 trên diện tích 1.000m², bao gồm 5 gian với kiến trúc kiểu chữ Đinh Trên các vì kèo, ô cửa, bao lan… bằng gỗ có chạm khắc tinh xảo các hoa văn như: tùng, cúc, trúc, mai… và nhiều họa tiết mang đặc trưng văn hóa Nam bộ Trong nhà còn lưu giữ nhiều đồ cổ quý như: bộ liễng đối khảm xà cừ, bộ bàn ghế với các hoa văn tinh tế, vật dụng bằng sứ; đặc biệt là 108 cây cột bằng gỗ căm xe quý hiếm, đã được các nhà khảo cổ Nhật Bản xếp vào loại “Cửu đại mỹ gia” ở Việt Nam.
Nằm trong khuôn viên rộng hơn 20.000m² và được bao quanh bởi khu vườn cây
ăn trái quanh năm trĩu quả, nhà cổ của ông Phan Văn Đức mang lối kiến trúc kết hợp hài hòa giữa văn hóa Nam bộ và Pháp Nhà được dựng vào năm 1850, trên nền cao 0,5 mét so với mặt đất, gồm hai nhà - nhà trước và nhà sau Nhà trước là nơi đặt bàn thờ cúng tổ tiên Bên trong nhà còn lưu giữ các cổ vật quý hiếm như: 4 cây cột bằng gỗ căm xe; 3 bộ tủ thờ khảm xà cừ; bộ liễng khảm xà cừ; chiếc hộp gỗ khảm hình rồng, bên trong là bản “Sắc phong thần” do Vua Tự Đức ban vào khoảng thời gian từ năm 1848 đến năm 1860; 9 bức tranh tường tuyệt đẹp phác họa khung cảnh làng quê bình dị nằm bên một dòng sông trong xanh.
2.2.4 Các nghề ở làng nghề Cái Bè
2.2.4.1 Nghề làm cốm
Trang 17Hình 2.4 Nghề làm cốm
Du khách đến Tiền Giang thường vào thăm các lò làm bánh cốm - một loại đặc sản dân
dã nơi đây Nghề làm bánh cốm ở ấp An Ninh, xã Ðông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
đã có từ rất lâu đời
Gọi là cốm, nhưng không phải là thứ cốm dẻo dẻo làm bằng lúa nếp non như hạt cốm ởđồng bằng Bắc bộ Cốm được là từ gạo tẻ, gạo nếp, hay bắp (ngô), rang thành bỏng rồi épthành bánh Ðể làm được bánh cốm phải trải qua nhiều công đoạn Đầu tiên là chọn nguyênliệu Phải là loại thóc đều hạt, không quá dẻo hay quá khô mới cho cốm ngon và đẹp Sau đóđến rang cốm (hay nổ cốm), rồi ngào với đường, cuối cùng là trộn cốm và đóng gói Mỗi lò cốm
có một bí quyết chế biến khác nhau, làm nên những thương hiệu có tiếng mà du khách đếnTiền Giang thường mua về làm quà
Trang 182.2.4.2 Nghề làm kẹo dừa
Hình 2.5 Nghề làm kẹo dừaNghề làm kẹo dừa tại Cái Bè được hình thành muộn hơn so vơi nghề làm bánh phồng vàbánh tráng, nhưng về mặt chất lượng cũng không thua kém gì và đã chinh phục được du khách
và người dân nơi đây
Nguyên liệu chính để làm kẹo dừa gồm: dừa khô, mạch nha, phụ gia như lá dứa, cacao,đậu phộng Quy trình sản xuất kẹo dừa: chuẩn bị nguyên liệu, ngào kẹo, cắt kẹo và được góilại bởi 2 lớp (lớp bánh tráng và giấy) vì thế có thể giữ trong khoảng thời gian dài
2.2.4.3 Nghề làm bánh phồng
Hình 2.6 Nghề làm bánh phồngLàm bánh phồng đòi hỏi nhiều công sức và cực hơn làm bánh tráng Để kịp phơi bánhvào buổi sáng, người ta phải nấu sắn từ lúc nửa đêm Sắn chín được cho vào cối quết để thànhmột thứ bột dẻo; rồi cho đường, muối trộn lẫn vào bột quết tiếp sau đó nhào thêm sữa để
Trang 19bánh thơm và có vị béo Việc nặn bột cũng phải do tay quen, nếu không bột chia không đều sẽảnh hưởng đến kích thước của chiếc bánh Trước đây, làm bánh phồng phải chuẩn bị lá chuối
để cán Lá được rọc từ chiều hôm trước, phơi nắng cho dịu sau đó lau sạch rồi cán bánh Láchuối chỉ dùng một lần rồi bỏ, nên ngày nay người ta thay thế bằng bao nilông, ống nhựa, vừatiện lợi vừa ít tốn kém Sau khi cán, bánh phồng được xếp lên chiếc đệm bàng mang phơi khô
2.2.4.4 Nghề làm bánh tráng
Hình 2.7 Nghề làm bánh trángNghề làm bánh tráng ra đời cách nay trên 40 năm, lúc đầu chỉ vài hộ làm và sau đó pháttriển thành một làng nghề như hiện nay Để làm được một chiếc bánh tráng dẻo, ngon cầnphải trải qua nhiều công đoạn và tốn khá nhiều thời gian
Nguyên liệu và dụng cụ chính gồm: gạo tẻ để xay thành bột, lò nung, nồi lớn dùng đểnấu nước và các thanh tre dài khoảng 3 gang tay người lớn Quy trình làm bánh: đầu tiên ngâmgạo tẻ 01 hoặc 02 ngày rồi đem đi xay thành bột mịn, đợi khi nước trong nồi trên lò nung đãsôi phía trên là một tấm vải căng thẳng dùng làm khuôn bánh, cho một lượng bột vừa đủ vàtráng thật mỏng, đậy nắp được làm bằng lá dừa khoảng 10 giây và dùng thanh tre lấy bánh ragiàng và đem phơi Để có một chiếc bánh ngon khâu quan trọng nhất là chọn gạo ngon và xaybột thật mịn thì chiếc bánh mới dai và dẻo
Trang 202.2.4.5 Nghề làm gạch
Hình 2.8 Nghề làm gạchNhững lò gạch tại Cái Bè nằm rãi rác dọc theo vàm Hòa Khánh và rạch Bà Hợp thuộc làngHòa Khánh, thị trấn Cái Bè Gạch ngói, gạch tàu và gạch xây là mặt hàng chủ lực của những cơ
sở sản xuất gạch nơi đây Nguyên liệu chính để sản xuất gạch là từ đất sét, đất sét được lấy từsông, từ ruộng lúa trong khu vực Ðồng Bằng Sông Cửu Long chất lượng đất sét cũng cần phảiđược xem xét để nhằm đảm bảo chất lượng của gạch
2.2.4.6 Nghề chằm lá
Đến với vùng đất Nam Bộ, được thưởng thức các món đặc sản Nam Bộ và được ở trongnhững ngôi nhà lá đặc trưng của Nam Bộ là cái thú đối với rất nhiều người, đặc biệt là nhữngngười sau nhiều ngày làm việc căng thẳng muốn tìm lại bầu không khí trong lành khoáng đãngcủa vùng làng quê song nước Cửu Long Ngôi nhà lá được người dân địa phương xây dựng từnguyên liệu tre để làm cột kèo, lá từ cây dừa nước dùng để lợp thành mái nhà Các loại nguyênliệu này hầu như có sẵn khắp nơi trong vùng, đầu tiên lá dừa nước được tách ra khỏi bẹ dừa vàđược người dân địa phương lợp lại thành từng tấm dài khoảng 1-1,5m tùy từng vùng Côngđoạn chằm lá được thực hiện rất công phu bởi những bàn tay khéo léo của người thợ, hầu hếtnhững người thợ này đều được truyền nghề từ những thế hệ đi trước trãi qua Trung bìnhmột ngày một người thợ có thể làm ra được khoảng 300 tấm
2.3 NHỮNG THUẬN LỢI – KHÓ KHĂN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA LÀNG NGHỀ2.3.1 Thuận lợi
Hơn 40 năm kinh nghiệm, sản xuất, nguồn nguyên liệu dễ tìm có sẳn tại địa phương đâychính là lợi thế lớn nhất để phát triển làng nghề Giải quyết việc làm cho nhiều người dân ở địaphương Chi phí sản xuất thấp, lợi nhuận ổn định điều kiện sống của người dân được cải thiệntốt hơn Với nghề làng bánh tráng thì trình độ, độ tuổi đã không còn quan trọng nữa nó phùhợp cho vùng nông thôn và người dân trình độ thấp
Trang 21Vì nơi đây tập trung nhiều hộ dân cùng nhau làm bánh tráng nên nhiều thương lái trong
và ngoài vùng đến thu mua dễ dàng Một chiếc bánh ngon, đẹp phải nói đến người đã làm rachúng, đều quan trọng nhất đó là nguyên liệu: gạo Để bột mịn, thơm, bánh tráng dẻo cần gạophải đạt chất lượng tốt
Ngày xưa người dân Hậu Thành qua lại với nhau chỉ bằng ghe, xuồng,…đường bộ chỉ lànhững lối mòn đi lâu dần trở thành con đường đất đơn sơ, nhưng nay xã hội phát triển dầncon đường đất đã trở thành những con đường nhựa được đầu tư cho việc buôn bán nơi đây.Làng nghề tồn tại trên 40 năm danh tiếng có, chất lượng có đó là điều thuận lợi lớn nhất đểphát triển làng nghề
Vì những thuận lợi đó đã thúc đẩy người dân ngày càng phát triển làng nghề mạnh mẻ,góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống kinh tế cho nhiều hộ dân Đồng thời gìn giữnét truyền thống và mở rộng kinh doanh sản xuất bánh tráng trong tương lai
Làng nghề nằm sâu bên trong cách xa lộ lớn, cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông đi lạikhông thuận tiện gây khó khăn cho việc vận chuyển Phạm vi khu vực làng nghề lớn, hộ làmnghề xen lẫn ruộng, vườn và hộ dân không làm nghề dẫn đến tỷ lệ hộ hoạt động nghề kháthấp
Theo thống kê, hiện nay tỷ lệ hộ hoạt động chỉ đạt 18%, chưa đạt tiêu chí thứ nhất củalàng nghề (phải có tối thiểu 30% trong tổng số dân hoạt động trong làng nghề) Các hộ hoạtđộng còn mang tính riêng lẻ, quy mô nhỏ, hình thức sản xuất mang tính tự sản tự tiêu, không
có thương hiệu riêng, không có đại lý thu mua sản phẩm ở thị trường xa Ngoài ra, nguồn điện,nước phục vụ sản xuất không đảm bảo Làng nghề chưa được quy hoạch có hệ thống, chưa cóthị trường tiêu thụ sản lượng lớn Bên cạnh đó, nước thải làng nghề chưa được xử lý cũng làvấn đề đáng quan tâm
Việc khôi phục và phát triển làng nghề trong những năm qua tuy có bước phát triển nhưng chưa mạnh, chưa đồng bộ và trong quá trình phát triển còn nhiều khó khăn, hạn chế Theo Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh, sản xuất ở các làng nghề không ổn định là do thiếu nguyên liệu, nguồn nguyên liệu cung cấp cho các hộ từ chủ đầu mối, doanh nghiệp thu mua sản phẩm nên người dân thường bị động.
Một nguyên nhân khác là do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, giá bán sản phẩm tăng chậm, không đảm bảo hộ sản xuất có lãi nên nhiều hộ gặp khó khăn trong sản xuất Sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, phân tán, gây ảnh hưởng đến môi trường (các cơ sở chế biến bánh bún, chế biến thủy sản, gỗ) Ít ứng dụng công nghệ, thiết bị còn lạc hậu.
Trang 22Nguyên nhân chủ yếu do không đủ vốn đầu tư cải tiến kỹ thuật, trong khi các hộ làm nghề có nhu cầu vay vốn để đầu tư sản xuất nhưng còn thiếu điều kiện vay theo quy định của tổ chức tín dụng Do tình hình suy thoái kinh tế các nước chậm khắc phục, ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ các sản phẩm làng nghề trong tỉnh.
Bên cạnh đó, kiểu dáng, chất lượng nhiều sản phẩm còn hạn chế, mẫu mã bao bì thiếu sức hấp dẫn và không đáp ứng thị hiếu thị trường; việc quảng bá, xúc tiến thương mại chưa thực sự phát huy được hiệu quả và chưa được đầu tư đúng mức.
Công tác quản lý Nhà nước về làng nghề còn nhiều bất cập Chưa có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các sở, ngành tỉnh trong việc triển khai và thực hiện các chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ phát triển làng nghề Các cấp chính quyền huyện, xã chưa chủ động trong việc định hướng và phát triển làng nghề trên địa bàn.
2.4 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Tháo gỡ khó khăn cho làng nghề, giải pháp đặt ra là cần xúc tiến các công trình cơ sở vậtchất theo đề án đã duyệt, hỗ trợ vốn để các cơ sở đầu tư máy móc, trang thiết bị sản xuất, hỗtrợ xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm Cụ thể, để hỗ trợ làng nghề phát triển, mớiđây tại buổi làm việc với làng nghề, UBND tỉnh chỉ đạo, cần đẩy nhanh phát triển cơ sở hạ tầngtrong khu vực làng nghề, nhất là giao thông nông thôn Muốn vậy, trong thực hiện các dự án
hạ tầng cần ưu tiên đầu tư cho khu vực làng nghề; cần thành lập tổ hợp tác khắc phục tìnhtrạng sản xuất tự phát, nhỏ lẻ hiện nay Từ đó, các ngành, các cấp có điều kiện hỗ trợ xây dựngthương hiệu, xúc tiến thương mại Đồng thời, làng nghề cần khai thác thế mạnh truyền thống,nâng cao chất lượng sản phẩm gắn với du lịch
Các làng nghề cần có những phòng trưng bày hoặc những bảo tàng nhỏ của làng xã, giớithiệu về sản phẩm và quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng, xuất xứ của sản phẩm và
sự thay đổi mẫu mã qua các giai đoạn, những câu chuyện xung quanh những sản phẩm
Về phía các hiệp hội, cần giới thiệu, quảng bá những mô hình phát triển du lịch làngnghề có hiệu quả, tổ chức những hoạt động giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và phát hiện tiềmnăng phát triển du lịch tại mỗi làng nghề; thực hiện các hoạt động sự kiện như hội chợ, triểnlãm, thi tay nghề, tôn vinh nghệ nhân, các hoạt động văn hóa, Lễ Hội nhằm tạo nên nhữngdấu ấn vùng miền đặc sắc thu hút khách du lịch Bên cạnh đó, Nhà nước cần đầu tư cơ sở hạtầng phục vụ du lịch bởi hệ thống giao thông liên xã, huyện, tỉnh là những công việc ngoài tầmvới của cộng đồng các làng nghề, nhưng lại có tính quyết định cho việc phát triển du lịch làngnghề Ngoài ra, để bảo vệ môi trường cần có chính sách hạn chế những nghề gây ô nhiễm tạicác làng nghề
Trang 23CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU3.1 CÁC KHÁI NIỆM
3.1.1 Khái niệm về làng nghề truyền thống
“Làng” là danh từ (theo tiếng Nôm), dùng để chỉ đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng chặt chẽ
và hoàn thiện nhất của người Việt Trong buổi đầu được gọi là các Kẻ, Chạ, Chiềng của ngườiViệt cổ, về sau được gọi là Làng, còn ở khu vực miền núi được gọi là Bản, Mường, Buôn, Plei,Plum, Đê,…
“Nghề” là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người
có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào
đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Theo Phạm Côn Sơn (2004, 09): “Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng cónghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theonghĩa rộng Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là nhữngngười cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của cáclàng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cábiệt của địa phương”
Xét về góc độ kinh tế trong cuốn “Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trongquá trình công nghiệp hóa hiện, đại hóa” Ts.Dương Bá Phượng (2001, 13) cho rằng “Làng nghề
là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp vàkinh doanh độc lập Thu thập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong toàn làng”
3.1.1.1 Tiêu chí công nhận làng nghề
Theo thông tư 116/2006/TT-BNN tiêu chí công nhận làng nghề gồm:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghịcông nhận
- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước
3.1.1.2 Đặc điểm làng nghề
Tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ đến nông nghiệp các làng nghề xuất hiện trongtừng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưngkhông rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất- kinh doanh thủ công nghiệp trongcác làng nghề đan xen lẫn nhau người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân
Trang 24Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là làng nghề truyềnthống còn thô sơ lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu Nhiều loại sản phẩm có côngnghệ - kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã
có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số khôngnhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm
Nguyên vật liệu thường là tại chổ Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thànhxuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương, cũng cóthể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉthêu, thuốc nhuộm song không nhiều
Chủ yếu là lao động thủ công Nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vàođầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân Trước kia, do trình độ khoa học
và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủcông, giản đơn Ngày nay, cùng với sự phát triển của KH - CN, việc ứng dụng khoa học - côngnghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao độngthủ công, giản đơn Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trìnhsản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo Việc dạy nghề trước đây chủ yếutheo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lạitrong từng làng
Sản phẩm làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc vănhóa dân tộc Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm
mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà,đền chùa, công sở nhà nước các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinhxảo với sự sáng tạo nghệ thuật Tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnhhưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.Thị trường tiêu thụ mang tính địa phương Bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt làcác làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ củacác địa phương Ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơitrao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Đến nay, thị trường làng nghề về cơbản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh và một phần cho xuất khẩu
Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, một số
đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân
Do đặc tính nông nghiệp và quan hệ làng xã Việt Nam, các ngành nghề thủ công đượclựa chọn và dễ phát triển trong quy mô cá nhân rồi mở rộng thành quy mô gia đình Dần dà,các nghề thủ công được truyền bá giữa các gia đình thợ thủ công, dần được truyền ra lan rộng
ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau theo nguyên tắc truyền nghề Và bởinhững lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phânhóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quảthấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên nhữnglàng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng chiếu, làng lụa, làngchạm gỗ, làng đồ đồng…