1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận quy hoạch du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

31 1,5K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 84,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lực sản xuất mới hình thành và mở ra tương lai gần sẽ có bước tăng trưởng đột phá: Phía Bắc có các khu công nghiệp Phong Điền, Tứ Hạ, xi măng Đồng Lâm; phía Nam có khu công nghiệp P

Trang 1

I. ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH

THỪA THIÊN HUẾ

1. Vị trí địa lý:

- Khái quát chung:

+ Diện tích: 83,30 km2, chiếm 1.5% tổng diện tích Việt Nam

+ Dân số (năm 2010): 338.994, xấp xỉ 1.5% tổng dân số Việt Nam

+ Mật độ: 4.048 người/km2

+ Tỉnh Thừa Thiên – Huế

+ Được công nhận đô thị loại I vào ngày 24 tháng 8 năm 2005

+ Phân chia hành chính: 27 phường.

Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông Phần đất liền Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lý như sau:

+ Điểm cực Bắc: 16044'30'' vĩ Bắc và 107023'48'' kinh Đông tại thôn Giáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền.

+ Điểm cực Nam: 15059'30'' vĩ Bắc và 107041'52'' kinh Đông ở đỉnh núi cực nam, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông.

+ Điểm cực Tây: 16022'45'' vĩ Bắc và 107000'56'' kinh Đông tại bản Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Lưới.

+ Điểm cực Đông: 16013'18'' vĩ Bắc và 108012'57'' kinh Đông tại bờ phía Đông đảo Sơn Chà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc.

Thừa Thiên-Huế là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền trung Nền kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng khá với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm thời kỳ 2001 - 2008 đạt 11% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp (năm

2008, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 36,5%, ngành dịch vụ 45,3%, ngành nông nghiệp giảm còn 18,2%) Thu ngân sách tăng bình quân đạt 18,3%/năm Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP đạt trên 12%, xếp thứ 20/63 tỉnh, thành cả Việt Nam Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nằm trong nhóm 20 tỉnh, thành dẫn đầu toàn quốc Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ vị thứ 15 (năm 2007) đã vươn lên đứng thứ 10 toàn quốc trong năm 2008 GDP bình quân đầu người năm 2009 vượt qua 1.000 USD/năm.

Thừa Thiên Huế quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá Thành phố Huế vừa mang dáng dấp hiện đại, vừa mang nét đẹp cổ kính với di sản văn hoá thế giới, đóng vai trò hạt nhân đô thị hoá lan toả và kết nối với các đô thị vệ tinh Môi trường thu hút đầu tư lành mạnh và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu

tư có năng lực Hạ tầng giao thông ngày càng hiện đại, chống được chia cắt vùng miền, tạo ra động lực phát triển giữa nông thôn và thành thị.

Trang 2

Năng lực sản xuất mới hình thành và mở ra tương lai gần sẽ có bước tăng trưởng đột phá: Phía Bắc có các khu công nghiệp Phong Điền, Tứ Hạ, xi măng Đồng Lâm; phía Nam có khu công nghiệp Phú Bài, khu kinh tế-đô thị Chân Mây-Lăng Cô sôi động; phía Tây đã hình thành mạng lưới công nghiệp thuỷ điện Tả Trạch, Hương Điền, Bình Điền, A Lưới, xi măng Nam Đông; phía Đông phát triển mạnh khai thác và nuôi trồng thuỷ sản và Khu kinh tế tổng hợp Tam Giang-Cầu Hai.

Thừa Thiên Huế được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá X ra Kết luận số 48-KL/TW về "Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020, trong đó xây dựng Thừa Thiên Huế sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới"

- Giao thông:

+ Đường bộ

Toàn tỉnh có hơn 2.500 km đường bộ, Quốc lộ 1A chạy xuyên qua tỉnh từ Bắc xuống Nam cùng với các tuyến tỉnh lộ chạy song song và cắt ngang như tỉnh lộ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8A, 8B, 10A, 10B, 10C, 11A, 11B, 15 và các tỉnh lộ khác.

Ngoài ra còn có tuyến quốc lộ 49 chạy ngang qua từ tây sang đông nối tiếp vùng núi với biển Khu vực ven biển, đầm phá có quốc lộ 49B và một số tuyến ven biển khác Khu vực gò đồi trung du và vùng núi rộng lớn phía tây thuộc các huyện A Lưới, Nam Đông có quốc lộ 14, tỉnh lộ 14B, 14C, quốc lộ 49 đi sang Lào.

Đến nay toàn tỉnh đã nhựa hóa được 80% đường tỉnh, bê tông hóa 70% đường giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã), 100% xã có đường ô tô đến trung tâm.

+ Đường biển và đường thủy

Tổng chiều dài 563km sông, đầm phá Tỉnh có cảng biển là cảng nước sâu Chân Mây và cảng Thuận An Cảng Thuận An nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 13 km về phía đông bắc Trong nhiều năm tỉnh đã tập trung đầu tư cho cảng Thuận An 5 cầu tầu dài 150m, có khả năng tiếp nhận tầu 1.000 tấn, được nhà nước công nhận là cảng biển quốc gia Cảng nước sâu Chân Mây cách thành phố Huế 49 km về phía Nam đang được triển khai xây dựng một số hạng mục hạ tầng kỹ thuật đầu tiên nhằm khai thác lợi thế trục giao thông Bắc - Nam và tuyến hành lang Đông - Tây, tạo động lực phát triển kinh tế những năm sau.

+ Đường sắt

Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua tỉnh Thừa Thiên Huế dài 101,2km đóng một vai trò quan trọng trong giao thông của tỉnh.

+ Đường hàng không

Trang 3

Thừa Thiên Huế có sân bay quốc tế Phú Bài nằm trên quốc lộ I, cách phía Nam thành phố Huế khoảng 15 km Những năm qua, bộ mặt và

cơ sở hạ tầng của sân bay Phú Bài đã có những thay đổi đáng kể; đảm bảo cho máy bay Airbus A320, Boeing 747 cất hạ cánh an toàn.

- Vận tải, bưu chính, viễn thông

+ Khối lượng hàng hóa vận chuyển trên địa bàn: 8.398 nghìn tấn

+ Khối lượng hàng hóa luân chuyển trên địa bàn: 702.691 nghìn tấn/km + Số thuê bao điện thoại: 1.126.030

+ Số thuê bao internet: 87.825

+ 100% xã có điểm giao dịch Bưu Điện.

+ Mạng lưới Viễn thông đã được hoàn toàn số hoá, mạng truyền dẫn từ Huế đi các huyện đã được quang hoá 100%; có kèm viba số hỗ trợ, 100 xã

có điện thoại và được kết nối Internet.

- Du lịch

+ Doanh thu của các cơ sở lưu trú: 1.339.313 triệu đồng

+ Số lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ:

Khách trong nước: 1.014.622 lượt người

Khách quốc tế: 735.450 lượt người

Số ngày khách lưu trú: 3.201.251 ngày

+ Vùng đồi núi: Hệ thống núi của Thừa Thiên Huế chiếm khoảng 75% diện tích của tỉnh, từ biên giới Việt Lào và kéo dài đến thành phố Đà Nẵng, là

bộ phận phía nam của dải Trường Sơn Bắc Dãy núi phía tây chạy theo hướng tây bắc-đông nam càng về phía nam càng cao dần và bẻ quặt theo hướng tây - đông (dãy Bạch Mã) Độ cao trung bình từ 500m – 600m, độ cao này tăng dần về phía tây, phía nam và đông nam.

+ Vùng đồng bằng duyên hải:Đồng bằng Thừa Thiên Huế điển hình cho kiểu đồng bằng mài mòn, tích tụ, có cồn cát, đầm phá Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 1.400 km2.

+ Vùng đầm phá:Là một hệ cảnh quan độc đáo của Thừa Thiên Huế, vùng đầm phá có diện tích 22.040 ha, dài 68 km, bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu phía bắc chạy song song với bờ biển đến cửa Tư Hiền, chiều rộng từ 1 đến 6

km Độ sâu tăng dần từ Tây sang Đông Hiện nay sự lắng tụ phù sa, làm độ sâu của đầm phá đang có chiều hướng cạn dần.

Ảnh hưởng của địa hình đến phát triển du lịch:Do ảnh hưởng của địa hình, đại bộ phận dân cư của tỉnh Thừa Thiên Huế phân bố không đều Miền núi là địa bàn cư trú của đồng bào thiểu số Sự phân bố dân cư này làm cho

Trang 4

du lịch tập trung phát triển hơn ở một số vùng trọng điểm nhất định và hướng tới hình thức du lịch văn hóa, tìm hiểu các nền văn hóa của các dân tộc Việt Nam.

Sự phân hóa của địa hình đã tạo nên nhiều vùng tự nhiên khá thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng…

Tuy nhiên địa hình vùng trung du nhỏ hẹp làm độ dốc giảm, gây ra hiện tượng xói mòn mạnh, nhất là trong mùa mưa lũ Điều này cực kỳ nguy hiểm đối với phát triển du lịch và việc xây dựng các cơ sở vật chất mang tính lâu dài, thu hút đầu tư quy mô lớn nhằm phục vụ du lịch.

2.1.2. Khí hậu

Đặc điểm chung của khí hậu Thừa Thiên Huế là nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, mưa theo mùa Do vị trí địa lý và sự kéo dài của lãnh thổ theo vĩ tuyến, kết hợp với hướng địa hình và hoàn lưu khí quyển đã tác động sâu sắc đến việc hình thành một kiểu khí hậu đặc trưng và tạo nên những hệ quả phức tạp trong chế độ mưa, chế độ nhiệt và các yếu tố khí hậu khác.

Nhiệt độ trung bình hàng năm của Thừa Thiên Huế khoảng 25oC Tổng lượng bức xạ nhiệt trung bình năm tăng dần từ Bắc vào Nam của tỉnh

và dao động trong khoảng từ 110 đến 140 kcal/cm2, ứng với hai lần mặt trời qua thiên đỉnh tổng lượng bức xạ có hai cực đại: lần thứ nhất vào tháng V và lần thứ hai vào tháng VII, lượng bức xạ thấp nhất vào tháng 12 Cán cân bức

xạ nhiệt trung bình từ 75 đến 85 kcal/cm2, ngay cả tháng lạnh nhất vẫn mang trị số dương Do tác động của vị trí, địa hình và hình dạng lãnh thổ, nhiệt độ có sự thay đổi theo không gian và thời gian :

+ Phân bố theo không gian: theo chiều Đông - Tây nhiệt độ vùng núi (Nam Đông và A Lưới) trung bình năm thường chênh lệch với vùng đồng bằng từ 0o5C đến 3oC Riêng trong mùa lạnh, sự phân hoá nhiệt sâu sắc hơn.

+ Phân bố theo thời gian: do sự tác động của gió mùa nên đã hình thành hai mùa với sự khác biệt về chế độ nhiệt rõ rệt

Mùa lạnh: là khoảng thời gian nhiệt độ trung bình trong ngày ổn định dưới 20oC Thời gian lạnh của Thừa Thiên Huế tuỳ theo vùng có thể kéo dài

từ 30 đến 60 ngày.

Mùa nóng: là thời kỳ nhiệt độ trung bình ổn định trên 25oC Mùa nóng bắt đầu từ tháng IV đền hết tháng IX Những tháng đầu mùa nhiệt độ tăng khá đều trên các vùng, nhiệt độ cực đại vào tháng VII và giảm dần cho đến tháng I năm sau.Từ tháng V đến tháng IX, hiệu ứng phơn Tây Nam đã làm nhiệt độ tăng cao, độ ẩm giảm thấp gây ra những đợt nóng kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và các hoạt động sản xuất nông nghiệp

Biên độ nhiệt: Thừa Thiên Huế có biên độ nhiệt trung bình hàng năm gần 10oC Đây là một điểm rất đặc biệt vì tính cách khắc nghiệt của khí hậu

Trang 5

gần giống với những vùng lãnh thổ có vĩ độ cao hay của những lãnh thổ nằm sâu trong lục địa.

Do sự tác động phối hợp giữa địa hình và hướng dịch chuyển của các khối khí theo mùa, Thừa Thiên Huế có thời kỳ khô và ẩm bị lệch pha so với cả nước.

+ Từ tháng IX đến tháng III : độ ẩm không khí cao trên 90% trùng với mùa mưa và thời gian hoạt động của khối không khí lạnh biến tính từ biển Đông tràn vào lãnh thổ.

+ Từ tháng IV đến tháng VIII : độ ẩm dưới 90% Tuỳ theo cường độ hoạt động của gió mùa Tây Nam mà độ ẩm có thể giảm xuống có khi dưới 45% Sự hạ thấp độ ẩm cùng với nhiệt độ tăng cao kéo dài ngày làm cho hoạt động của sinh vật bị ức chế, đất kiệt nước, bốc phèn và nhiễm mặn gây tác hại nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp.

Gió mùa:

+ Gió mùa Đông Bắc : từ tháng X đến tháng IV, thổi từ cao áp lục địa châu Á, mang theo không khí lạnh và tăng ẩm khi qua biển, đập vào bức chắn địa hình làm nhiệt độ hạ thấp và gây mưa cho Thừa Thiên Huế vào mùa đông Lượng mưa tập trung lớn ở các vùng phía nam.

+ Gió mùa Tây Nam: Từ tháng V đến tháng IX, gió Tây Nam khi vượt qua dãy Trường Sơn đã tạo ra hiệu ứng phơn làm tăng nhiệt độ và hạ thấp

độ ẩm tại Thừa Thiên Huế

Mưa:

+ Hàng năm Thừa Thiên Huế nhận được một lượng mưa lớn, trung bình trên 3000mm, song phân bố không đều Mưa phần lớn tập trung vào tháng X và XI, trong khoảng thời gian này bão thường xuất hiện gây nên những cơn lũ lớn Năm 1953 (4937mm); năm 1975 (3278mm) lụt vượt mức báo động 3 với đỉnh lũ là 5,08m ; năm 1999 mưa lớn dài ngày đã gây lụt lớn với đỉnh lũ là 6m (Kim Long).

Ảnh hưởng của khí hậu đến du lịch:

Khí hậu của tỉnh Thừa Thiên Huế có sự thuận lợi nhất định cho việc phát triển du lịch Tuy nhiên, khí hậu có nhiều biến động khá phức tạp, hiện tượng lệch pha so với khí hậu cả nước đòi hỏi Thừa Thiên Huế phải có kế hoạch tổ chức các hoạt động du lịch phù hợp Thời gian mưa kéo dài khiến du lịch theo thời vụ ở Huế là rất rõ nét Bên cạnh đó, theo thống kê mỗi năm có ít nhất một cơn bão đổ bộ trực tiếp vào lãnh thổ gây thiệt hại và khó khăn rất lớn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịc

2.1.3. Nước

Thừa Thiên - Huế có hệ thống sông ngòi khá dày đặc nhưng các sông đều nhỏ, độ dốc lớn Phần lớn bắt nguồn từ phía Đông của Trường Sơn,

Trang 6

chảy theo hướng Tây – Đông, cửa sông hẹp Tổng chiều dài các sông chính chảy trên lãnh thổ của tỉnh là khoảng 300 km trong đó hệ thống sông Hương chiếm đến 60% Nhìn chung, sông ngòi ở Huế ngắn và dốc, ít có sông lớn Các sông có sự chênh lệch rất lớn về dòng chảy trong năm Tổng lượng nước trong ba tháng mùa lũ lớn gấp 2 lần tổng lượng nước trong 9 tháng mùa cạn Diện tích các lưu vực sông không lớn, lớn nhất là sông Hương với diện tích lưu vực khoảng 1626 km2.

S.Ô Lâu

Bắt nguồn từ phía bắc huyện Phong Điền với hai nhánh chảy song song Quá Mỹ Chánh, hai sông gặp nhau ở cầu Phước Tích rồi chảy vào Vân Trình để đổ vào phá Tam Giang.

S.Bồ

Bắt nguồn từ vùng núi Đông Nam A Lưới chảy về phía Bắc, dọc đường tiếp nhận thêm nhiều nguồn nước của các sông : Rào Nhỏ, Rào La, Rào Tràng , khi về đồng bằng hội với sông Hương ở ngã ba Sình.(sông Bồ được xem là phụ lưu của sông Hương)

S.Truồi Bắt nguồn từ vùng núi Bạch Mã, sông đào lòng mạnh ở vùng thượng nguồn, chảy theo hướng bắc rồi chuyển sang

đông bắc đổ vào đồng bằng và thoát nước ra đầm Cầu Hai.

Đánh giá:Với mạng lưới sông ngòi và đầm phá, Thừa Thiên Huế có thể nối liền các huyện và thành phố rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, phục

vụ du lịch Các cảng biển Thuận An, Chân Mây thuận lợi cho việc đón các du khách quốc tế Sông Hương với những nết văn hóa đậm chất Huế đã và đang thu hút một lượng khách không nhỏ mỗi năm.

2.1.4. Sinh vật

Thừa Thiên Huế có vị trí chuyển tiếp của 2 miền khí hậu Bắc và Nam

đã hình thành thảm thực vật rừng nhiệt đới đa dạng, hội tụ nhiều loại cây : cây bản địa như lim, gõ, kiền, chò…(cây họ đậu phương Bắc) cây di cư như

dẻ, re, thông, bàng và các cây họ dầu phương Nam Diện tích rừng chiến khoảng 57% đất tự nhiên, độ che phủ 55% (2008).

Trang 7

Động vật thiên nhiên của Thừa Thiên Huế khá phong phú, có giá trị kinh tế cao.

+ Động vật rừng: ngoài những động vật phổ biến trong rừng như: khỉ, hươu, nai, công, gà rừng nhiều động vật quý hiếm đã được phát hiện ở Nam Đông, Phú Lộc, A Lưới như: voi, hổ, trĩ, sao, gà lôi, chồn bay, gấu chó + Thuỷ sản: Với gần 126 km đường bờ biển, 22.000 ha đầm phá và một

hệ sông ngòi phong phú, Thừa Thiên Huế có lượng thuỷ sản đa dạng với nhiều loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao: sò huyết, mực, tôm, rau câu

Đánh giá:Hệ thống sinh vật phong phú góp phần tạo nên cảnh quan môi trường sinh thái và cảnh quan du lịch của vùng Vường quốc gia Bạch Mã có khí hậu mát mẻ cùng sự đa dạng sinh vật đã trở thành một trung tâm du lịch sinh thái rất hấp dẫn.

2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn của Thừa Thiên Huế có nhiều loại hình phong phú và đa dạng rất khác nhau Hệ thống kiến trúc thành quách, cung điện, chùa, di sản văn hóa (được công nhận là di sản văn hóa thế giới) Tài nguyên phi vật thể: lễ hội, ẩm thực, làng nghề, nhã nhạc cung đình Huế (di sản văn hóa phi vật thể) Các tài nguyên đó đã tạo cho Thừa Thiên Huế có tiềm năng to lớn để trở thành trung tâm du lịch của cả nước.

Nét đặc sắc là sự kết hợp hài hoà giữa văn hoá dân gian và văn hoá cung đình Thừa Thiên - Huế là một trong những trung tâm du lịch văn hoá của Việt Nam, là nơi duy nhất còn giữ lại được một kho tàng sử liệu vật chất

đồ sộ, một di sản văn hoá vô cùng phong phú với hàng trăm công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng Huế là "một kiệt tác về thơ - kiến trúc đô thị” Vì lẽ đó mà cuối năm 1993, UNESCO đã chính thức công nhận Huế là một di sản văn hoá thế giới.

2.2.1. Di tích văn hóa lịch sử

Xứ Huế vốn nổi tiếng bởi những công trình lăng tẩm, đền đài, cung điện nổi tiếng và là kinh đô xưa của triều đại Nguyễn kéo dài gần hai thế kỷ Trải qua thời gian Huế vẫn phần nào giữ được những nét cổ kính và trầm mặc Và chính cái vẻ trầm mặc ấy đã tạo cho Huế một dấu ấn riêng rất dễ nhận ra, đó là dáng vẻ trầm lắng và vô cùng quyển rũ Hiện theo thống kê chưa đầy đủ, ở Thừa Thiên Huế có 902 di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, với hình hài còn khá nguyên vẹn, nằm hầu hết khắp cả tỉnh, nhưng nhiều nhất là ở thành phố Huế (373 di tích); Trong số đó đã có 84 di tích cấp quốc gia; 34 di tích cấp tỉnh Đặc biệt, quần thể kiến trúc Cung đình Huế bao gồm

51 di tích lớn đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới và Nhã nhạc cung đình Huế là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại Thừa Thiên Huế đã từng là trung tâm của tiểu quốc Indrapura ở cực bắc vương quốc Chămpa trong nhiều thế kỷ Nên tại đây tập trung một số lượng đồ sộ các di chỉ và di vật về nền văn hóa Chămpa Cũng chưa có một vùng đất nào trên đất nước Việt nam lại có mật độ chùa chiền cao như Huế với nét riêng của nó.

Trang 8

Cũng chỉ ở Huế mới có hệ thồng vườn xưa, nhà cổ, điển hình cho mô hình cư trú của người Việt ở vùng Bắc Trung Bộ Thừa Thiên Huế cũng là nơi “sở hữu” một kho tàng khá đa dạng các chứng tích vật chất xác thực,phản ánh sinh động về lịch sử lâu đời và truyền thống cách mạng của nhân dân Việt nam.

Đánh giá: Các địa điểm di tích lịch sử, văn hóa nêu trên là những di tích nổi bật thu hút đông đảo du khách đến tham quan, vãn cảnh Đa số các di tích lịch sử, văn hóa tập trung ở thành phố Huế Các di tích còn tồn tại cho tới ngày nay đều là những di tích, danh thắng nổi tiếng, những công trình có giá trịi phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, học tập của các đối tượng khách trong và ngoài nước Đây là một điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình

du lịch văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh.

2.2.2. Lễ hội

Thừa Thiên Huế là một vùng đất có truyền thống văn hóa, tuy không lâu đời như ở miền Bắc, nhưng cũng có hơn 700 năm lịch sử Từ khi chúa Nguyễn đặt thủ phủ tại đây cho đến khi nhà Nguyễn cáo chung (1945), có thể nói Huế là nơi hội tụ những con người hoạt động văn hóa có tầm cỡ, là nơi gặp gỡ của các luồng tư tưởng Đông Tây kim cổ Văn hóa Huế có truyền thống từ Bắc tràn vào, theo những lưu dân lập nghiệp trên vùng đất mới Tại đây còn tồn tại dân tộc Chăm với nền văn hóa Ấn Độ Và sau này văn hóa phương Tây cũng có cơ hội thâm nhập vào từ thời các chúa Nguyễn Các lễ hội truyền thống được duy trì, phát triển cũng từ những nguồn văn hóa ấy.

Lễ hội các loại là một nhu cầu sinh hoạt văn hóa của con người Thừa Thiên Huế đã trở thành truyền thống Nhìn tổng quát về lễ hội và sự tham gia

lễ hội của cư dân vùng này, ta sẽ thấy lễ hội ở Thừa Thiên Huế tuy không phong phú như miền Bắc, nhưng cũng khá đa dạng, có hai loại lễ hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chỉ chú trọng về "lễ" hơn "hội" Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, có thể kể đến một số lễ hội tiêu biểu như sau: lễ hội Huệ Nam (điện Hòn Chén) hay còn gọi là lễ rước sắc nữ thần Thiên Y A Na theo tín ngưỡng của người Chămpa xưa Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích như đua thuyền, kéo co, đấu vật còn được tổ chức và thu hút rất đông người xem.

1 Hội đua

ghe truyền

thống

Hội được tổ chức trong một ngày nhằm ngày

lễ Quốc khánh 2- 9(dương lịch)

Ðịa điểm đua là

bờ Nam sông Hương trước trường Quốc học

Hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên nam nữ có

cơ hội thi tài trên sông nước, qua đó rèn luyện tăng cường bảo

vệ sức khỏe và tạo không khí vui tươi lành mạnh cho nhân

Trang 9

dân Đây cũng là dịp

để biểu lộ lòng vui mừng của nhân dân vào ngày Quốc Khánh Quy mô hội có tính chất rộng rãi liên phường xã và các huyện trong tỉnh Hội

tổ chức theo định kỳ, mỗi năm một lần theo phong tục.

2 Hội vật

làng Sình Được tổ chức vào

ngày 10 tháng Giêng

âm lịch hàng năm

Được tổ chức tại khu vực đình làng Lại Ân (còn gọi là làng Sình),

xã Phú Mậu, huyện Phú Vang (TT-Huế).

Hội vật này khác hẳn với hội vật ở một làng quê khác, bởi người dân tổ chức hội vật như một hình thức giải trí đơn thuần sau những ngày tết chứ không vì mục đích tuyển chọn võ sĩ cho triều đình phong kiến lúc bấy giờ “Lệ” làng cũng quy định, các đô vật dự đấu không nhất thiết phải là người địa phương, và bất kỳ khán giả nào cũng có thể được lên sới đấu vật Ngoài giải Cạn dành cho chức vô địch, làng còn dành riêng một khoản tiền để thưởng cho tất cả những đô tham gia hội vật Có thể do điều kiện dự hội khá đơn giản, nên ngày xưa, cứ đến trước ngày làng mở hội vật, trai tráng khắp nơi theo nhau về làng Sình.

Xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chợ họp từ sáng mùng 1 Tết tại Gia Lạc cách trung tâm thành phố Huế 3km,

về phía Vĩ Dạ Hàng

Trang 10

hóa phong phú, thay đổi theo từng năm, từ

đồ gia dụng như chén bát, cơi trầu, ấm chén, hoa quả bánh trái đến đồ chơi trẻ

em Một số quán ăn đặc sản như heo quay,

bê thui cũng có mặt Trong ngày hội còn diễn ra nhiều hoạt động vui chơi, ca hát như hát bài chòi, bài

vè, hò giã gạo, hát đối nam nữ Khách đến hội chợ xuân Gia Lạc

để vui chơi, cầu may

và cũng là thói quen, một tập tục lâu đời.

âm lịch hằng năm

Hội của nhân dân làng Thai Dương

hạ, huyện Phú Quang

Để tưởng nhớ vị Thành Hoàng của làng là Trương Quý Công (Trương Thiều), người gốc Thanh Hóa, có công dạy cho dân nghề đánh cá và buôn bán ghe mành.

5 Festival

Huế Festival Huế được tổ

chức 2 năm một lần Tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000

Được tổ chức khấp các địa bàn của TP Huế

Festival Huế với nhiều chương trình lễ hội cộng đồng được tái dựng với một không gian rộng lớn cả trong và ngoài thành phố, góp phần làm sống lại các giá trị văn hóa của Huế Đây

là sự kiện văn hóa lớn

có quy mô quốc gia và tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người dân Huế Là điều kiện quan trọng

để xây dựng Huế thành thành phố Festival của Việt Nam Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 11

Đánh giá: Thừa thiên Huế có khá nhiều lễ hội lớn với các loại hình khác nhau:

lễ hội vui chơi giải trí, lệ hội cầu ngưu, lễ hội đua thuyền… Những lễ hội này nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa vùng miền, và chúng góp phần thu hút đông đảo các khách du lịch từ các địa phương khác trong cả nước cũng như khách

du lịch nước ngoài.

2.2.3. Văn hóa, ẩm thực

Văn hóa vật thể: quần thể di tích Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Ngoài ra, Huế còn là quê hương của nhiều công trình kiến trúc tôn giáo độc đáo.

Văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế cũng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới

Ngoài ra, Huế còn bảo tồn được rất nhiều phong tục tập quá thông qua các lễ hội dân gian được tổ chức hàng năm như: lễ hộ điện Hòn Chén, hội

võ làng Sình…

Ẩm thực đặc sắc: Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế,

có cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn Bản thực đơn ngự thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ Các món ăn dân dã rất phổ biến trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế biến khéo léo, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn, coi trọng phần chất hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế.

2.2.4. Làng nghề truyền thống

- Nhóm làng nghề sản xuất công cụ - khí dụng, như nghề rèn sắt ở Hiền Lương, Mậu Tài, nghề đúc đồng ở Võng Trì, Dương Xuân (Sơn Điền, Phường Đúc), nghề kéo dây (thau, thép) ở Mậu Tài, nghề mài khí giới ở An Lưu, nghề làm đinh sắt, đinh đồng ở Hà Thanh, nghề đan lát (tre, mây) ở Bao La, nghề thắt gióng mây ở An Vân, An Cựu, nghề đan gót và làm mui đò ở Dã Lê, nghề làm guốc mộc ở An Ninh, nghề làm đăng nò (để đánh cá) ở Bác Vọng, nghề đan lưới (đánh cá) ở Thủ Lễ, Thụy Lôi (Phú Xuân), Uất Mậu, nghề gốm ở Dũng Cảm (Mỹ Xuyên), Cảm Quyết (Phước Tích), Nguyệt Biều (Long Thọ), nghề làm

đồ sành sứ ở Ngư Võng, nghề làm nón lá ở Triều Sơn, Đồng Di, Tây Hồ, Phủ Cam, nghề làm tơi lá (áo mưa) ở Ô Sa, nghề đóng hòm (quan tài) ở Kim Long, Bao Vinh, nghề xẻ ván đóng thuyền ở Diêm Trường, Phụng Chánh, nghề làm chiếu đệm ở Bằng Lẵng, Phò Trạch, nghề làm mũ ở Hiền Lương, nghề làm trống ở Phổ Nam…

- Nhóm làng nghề sản xuất vật liệu – trang trí, như nghề thếp vàng, sơn mài ở Tân Nộn (Tiên Nộn), nghề kim hoàn ở Kế Môn, nghề chạm khắc gỗ ở Mỹ Xuyên, nghề khảm cẩn xà cừ ở Bao Vinh, nghề vẽ tranh thờ ở Lại Ân (Sình), nghề làm hoa giấy ở Thanh Tiên, nghề làm giấy ở Lương Cổ, Đốc Sơ, Thanh Lam, nghề làm mực ở Hoài Tài (Mậu Tài), nghề làm trướng liễn ở An Truyền (Chuồn), nghề làm tóc giả ở Quảng Xuyên, nghề vẽ tranh kính ở Huế…

- Nhóm làng nghề sản xuất vật liệu – may mặc, như nghề dệt (nhiều loại) ở An Lưu, Sơn Điều, Dương Xuân, Vạn Xuân, Kim Long, Phủ Cam, nghề dệt tơ ở Phủ Cam (Trường Cởi), nghề dệt gấm, dệt nhiễu đổ ở Phú Xuân, nghề dệt lụa

Trang 12

trắng ở An Lưu, nghề dệt mũ ở Quảng Yên, nghề dệt lụa ở Lãng Châu, Phò Nam, nghề dệt gấm cải hoa ở Vĩnh Cố (Vĩnh Xương), nghề dệt vải mặt nhỏ ở Đồng Di, Dương Nỗ, Địa Linh, nghề dệt vải thao đủi ở Mỹ Toàn (Mỹ Lợi), nghề

xe chỉ, nhuộm chỉ ở Chợ Cống, nghề thêu ở Huế (phố Cẩm Tú)…

- Nhóm làng nghề sản xuất vật liệu – xây dựng, như nghề làm vôi hàu ở Nghi Giang, Vinh Hiền, nghề làm gạch ngói ở Xóm Ngõa – Địa Linh, Long Thọ, Nam Thanh, Triều Sơn Tây, nghề nung vôi đá ở Nguyệt Biều – Long Thọ (nghề làm giấy cũng có thể thuộc nhóm này, vì ngày xưa người ta dùng giấy như một thành tố như vôi vữa, nhất là để xây cung điện, thành đài…)

- Nhóm làm nghề sản xuất ẩm thực phẩm, như nghề đánh cá ở Dương Xuân, Thủy Bạn (Lưu Bạn), An Bằng và các làng ven sông, đầm, biển, nghề kéo mật mía ở Tân Quán, Long Hồ, Thượng An, nghề làm men rượu ở Việt Dương, Tây Thành, nghề nấu rượu ở Tân Lai, An Thành, Phù Lai, Vu Lai, Hà Thanh, nghề làm bột, bột bán ở La Khê, An Thuận, Truồi, nghề làm bánh ở Lý Khê (Lễ Khê), Tri Lễ, nghề làm bánh tráng ở Tráng Lực, Lựu Bảo, nghề làm bún ở Hương Cần, Vân Cù, nghề làm muối ở Khánh Mỹ, Diêm Trường, Phụng Chánh,

Mỹ Toàn….

- Nghề kim hoàn làm đồ trang sức, chỉ có một làng Kế Môn (nay thuộc xã Điền Môn, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế) Về sau, nghề này được phổ biến và phát triển ở thành phố Huế và một số nơi khác Người ta thờ hai cha con ông Cao Đình Độ, Cao Đình Hương làm Tổ nghề Cao Đình Độ gốc ở vùng Cẩm Tú, tỉnh Hà Tĩnh, di cư vào Nam làm con nuôi họ Trần Duy làng Kế Môn Ông giỏi nghề luyện vàng bạc, bịt khảm và làm đồ nữ trang Vua Gia Long nghe tiếng, trưng tập vào Nội Kim tượng cục (cuộc thợ vàng trong cung) Về già, ông truyền nghề cho con là Cao Đình Hương và dân làng Kế Môn để đền ơn bảo dưỡng Ông mất ngày 7-2-1810 Ông Hương nối nghiệp cha làm nghề kim hoàn, và được xem là “đệ nhị tổ” (tổ thứ hai) của nghề này Khu mộ Tổ Kim Hoàn đã được Nhà Nước công nhận là di tích văn hóa theo Quyết định ngày 22-3-1990 của Bộ Văn hóa Thông Tin.

2.2.5. Dân tộc, tôn giáo

Tỉnh Thừa Thiên Huế với dân số 1.123.800 người có các dân tộc đó là:

Trang 13

Toàn tỉnh có hơn 2.500 km đường bộ, Quốc lộ 1A chạy xuyên qua tỉnh từ

Bắc xuống Nam cùng với các tuyến tỉnh lộ chạy song song và cắt ngang như

tỉnh lộ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8A, 8B, 10A, 10B, 10C, 11A, 11B, 15 và các tỉnh lộ khác.

Ngoài ra còn có tuyến quốc lộ 49 chạy ngang qua từ tây sang đông nối

tiếp vùng núi với biển Khu vực ven biển, đầm phá có quốc lộ 49B và một số

tuyến ven biển khác Khu vực gò đồi trung du và vùng núi rộng lớn phía tây

thuộc các huyện A Lưới, Nam Đông có quốc lộ 14, tỉnh lộ 14B, 14C, quốc lộ 49

đi sang Lào.

Đến nay toàn tỉnh đã nhựa hóa được 80% đường tỉnh, bê tông hóa 70%

đường giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã), 100% xã có đường ô

tô đến trung tâm.

+ Đường biển và đường thủy

Tổng chiều dài 563km sông, đầm phá Tỉnh có cảng biển là cảng nước

sâu Chân Mây và cảng Thuận An Cảng Thuận An nằm cách trung tâm thành

phố Huế khoảng 13 km về phía đông bắc Trong nhiều năm tỉnh đã tập trung

đầu tư cho cảng Thuận An 5 cầu tầu dài 150m, có khả năng tiếp nhận tầu

1.000 tấn, được nhà nước công nhận là cảng biển quốc gia Cảng nước sâu

Chân Mây cách thành phố Huế 49 km về phía Nam đang được triển khai xây

dựng một số hạng mục hạ tầng kỹ thuật đầu tiên nhằm khai thác lợi thế

trục giao thông Bắc - Nam và tuyến hành lang Đông - Tây, tạo động lực phát

triển kinh tế những năm sau.

+ Đường sắt

Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua tỉnh Thừa Thiên Huế dài 101,2km

đóng một vai trò quan trọng trong giao thông của tỉnh.

+ Đường hàng không

Thừa Thiên Huế có sân bay quốc tế Phú Bài nằm trên quốc lộ I, cách

phía Nam thành phố Huế khoảng 15 km Những năm qua, bộ mặt và cơ sở hạ

tầng của sân bay Phú Bài đã có những thay đổi đáng kể; đảm bảo cho máy

bay Airbus A320, Boeing 747 cất hạ cánh an toàn.

3.2. Mạng lưới cung cấp điện - nước sạch

Điện -Mạng lưới truyền tải điện với đường dây

110kV, 220kV và 500kV thông qua hệ thống thuỷ điện quốc gia cùng với hệ thống nhà máy thuỷ điện đang được xây dựng nhằm đảm bảo cung cấp ổn định và chất lượng tốt, đáp ứng mọi nhu cầu về điện cho các nhà đầu tư.

- Các nhà máy điện:

Nước -Hệ thống cung cấp nước sạch của thành

phố và các thị trấn trên toàn tỉnh gồm 6 nhà máy với tổng công suất là 95.500m3/ngày đêm, đến năm 2010 công suất sẽ đạt 162.000m3/ngày đêm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp, dịch

vụ, du lịch và đời sống nhân dân.

- Các nhà máy thủy điện: Nhà máy Thủy

Trang 14

điện A Lưới, Hương Điền, Bình Điền, Tả Trạch

3.3. Hệ thống thông tin liên lạc

Bưu chính viễn thông đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng

kinh tế Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 100% thôn có máy điện

thoại, 100% UBND, HĐND xã đã được kết nối Internet, mật độ điện thoại đạt

85,93 máy/100 dân (phấn đấu đến cuối năm 2009 đạt 100 máy/100 dân); có 4

doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực Bưu chính: Bưu điện Thừa Thiên Huế,

Bưu chính Viettel, Công ty chuyển phát nhanh EPS, Sai Gon Postel; các đơn vị

tham gia dịch vụ Bưu chính viễn thông không ngừng phát triển, mở rộng vùng

phủ sóng và phạm vi hoạt động đáp ứng được như cầu cũng như bảo đảm tốt

Nguồn khách quốc tế đến với tỉnh Thừa Thiên Huế chủ yếu từ các nước

như Trung Quốc, Thái Lan, Italy, Tây Ban Nha, Anh, Mĩ, Canada,

Australia… Đối với nguồn khách nội địa chủ yếu từ khu vực Bắc Bộ đặc

biệt là Hà Nội và các đô thị lớn khu vực miền Trung và miền Nam.

Bảng: Số liệu thống kê nguồn khách giai đoạn 1990 - 2015

Đơn vị tín: Ngìn người

Nguồn: Sở văn hóa thể thao du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

Bảng: Số liệu thống kê nguồn khách giai đoạn 2006 - 2012

Chỉ

tiêu Đơn vị

tính

Năm 2006 Năm 2007 Năm

2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Trang 15

Nguồn: Cơ sở dữ liệu Duyên hải miền Trung

Sơ đồ trên cho ta thấy lượng khách đến với tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 – 2012 Theo đó ta thấy lượng khách du lịch nội địa là rất lớn Lượng khách quốc

tế cũng đang thu hút được nhiều sự quan tâm hơn Năm 2009 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nên lượng khách bị giảm sút Tuy nhiên lượng khách nội địa chỉ bị giảm nhẹ Con số này có thể tiếp tục tăng trong thời gian tới với sự phục hồi của nền kinh tế và sự chuyên nghiệp hơn trong cách làm du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế, kinh nghiệm tổ chức festival để thu hút khách du lịch.

1.2. Cơ sở vật chất – kĩ thuật

1.2.1. Số cơ sở lưu trú và số phòng

Theo thống kê gần nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế, cho đến nay tỉnh đã có

4 khách sạn 5 sao, 9 khách sạn 4 sao, 11 khách sạn 3 sao, 29 khách sạn 2 sao, 46 khách sạn 1 sao và rất nhiều cơ sở phục vụ lưu trú khác như nhà khách, nhà nghỉ, homestay… Điều này cho thấy sự đa dạng cho việc lựa chọn các cơ sở lưu trú khi khách đến Huế, các loại hình cơ sở lưu trú ở đây phân chia đồng đều tạo

sự thoải mái, phù hợp với mức chi tiêu của nhiều loại khách du lịch Điều này góp phần giải quyết các tình trạng như “cháy phòng” vào các dịp festival Huế đầu tiên Một điều rất đáng mừng là các cơ sở lưu trú cao cấp để phục vụ khách

du lịch quốc tế như các khách sạn 3, 4 hay 5 sao cũng có mặt rất nhiều tại Huế.

Bảng: Số liêu thống kê cơ sở lưu trú giai đoạn 2006 - 2012

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm

2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Tổng số khách

Nguồn: Cơ sở dữ liệu Duyên hải miền Trung

1.2.3. Các cơ sở vui chơi giải trí

1 Nhà hát Duyệt

Thị Đường Nằm về phía đông điện Quang Minh trong Tử Cấm Thành, Tp Duyệt Thị Đường là nhà hát trong cung đình, được xây dựng năm 1826 thời Minh

Ngày đăng: 25/11/2016, 19:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w