1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn

45 2,2K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 22,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là địa đầu của tổ quốc, Lạng Sơn là tỉnh có nhiều danh lam thắng cảnh, non nướchữu tình, có nhiều di tích lịch sử với nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, nơi có ditích văn hoá Bắc Sơn, v

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH NUỒN NHÂN LỰC PHÁT TRIỂN DU

LỊCH 1

1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 1

1.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1

1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 1

1.2.1.1 Địa hình 1

1.2.1.2 Khí hậu 3

1.2.1.3 Nguồn nước 5

1.2.1.4 Sinh vật 6

1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 7

1.2.2.1 Di sản văn hóa thế giới-di tích văn hóa lịch sử 7

Bảng 1.1: Số lượng và mật độ di tích tỉnh Lạng Sơn 8

1.2.2.2 Lễ hội 9

Bảng 1.2: Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch) 9

1.2.2.3 Dân tộc 11

Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP 11

Hình 1.1: Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013 11

1.2.2.4 Các tài nguyên du lịch nhân văn khác 13

1.3 CƠ SỞ HẠ TẦNG 15

1.3.1 Mạng lưới và phương tiện giao thông 15

1.3.2 Hệ thống cung cấp điện-nước 16

1.3.2.1 Hệ thống điện 16

1.3.2.2 Hệ thống cấp thoát nước 17

1.3.3 Hệ thống thông tin-liên lạc 18

1.3.4 Các công trình phục vụ công cộng khác 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA LẠNG SƠN 20

2.1 HOẠT ĐỘNG THEO NGÀNH 20

2.1.1 Nguồn khách 20

2.1.1.1 Tổng nguồn khách 20

Hình 2.1: Hiện trạng khách du lịch đến với Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014 20

Hình 2.2: So sánh tình hình khách du lịch đến Lạng Sơn với các tỉnh trong khu vực trung du miền núi phía bắc năm 2014 21

2.1.1.2 Đặc điểm nguồn khách 21

2.1.2 Cơ sở vật chất-kỹ thuật 22

2.1.2.1 Số cơ sở lưu trú và ăn uống 22

Bảng 2.1: Hiện trạng về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2013 23

Bảng 2.2: Công suất buồng phòng trung bình của các khách sạn ở Lạng Sơn giai đoạn 2005-2013 24

2.1.2.2 Số khách sạn được xếp sao 24

2.1.2.3 Các cơ sở vui chơi, giải trí 25

2.1.3 Doanh thu 25

2.1.3.1 Tổng doanh thu qua các năm 25

Hình 2.3: Doanh thu du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014 26

2.1.3.2 Cơ cấu nguồn thu 26

Hình 2.4: Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Lạng Sơn năm 2013 27

Trang 2

2.1.4 Lao động 27

2.1.4.1 Số lượng lao động 27

Hình 2.5: Hiện trạng lao động du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2013 28

2.1.4.2 Chất lượng nguồn lao động 28

2.2 THEO LÃNH THỔ 29

2.2.1 Các điểm, tuyến, cụm du lịch quốc gia 29

2.2.1.1 Các điểm du lịch 29

2.2.1.2 Tuyến du lịch 30

2.2.1.3 Cụm du lịch 30

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH LẠNG SƠN 32

3.1 ĐỊNH HƯỚNG 32

3.1.1 Định hướng chung 32

3.1.1.1 Quan điểm, mục tiêu 32

3.1.1.2 Căn cứ của định hướng 33

3.1.2 Định hướng cụ thể 33

3.1.2.1 Theo ngành 33

3.1.2.2 Theo lãnh thổ 34

3.2 GIẢI PHÁP 35

3.2.1 Giải pháp về công tác quy hoạch và tổ chức quản lý, thực hiện quy hoạch Công tác quy hoạch và tổ chức quản lý 35

3.2.2 Giải pháp về cơ chế chính sách 36

3.2.3 Giải pháp về đầu tư và huy động vốn đầu tư 36

3.2.4 Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 37

3.2.5 Giải pháp về thị trường, xúc tiến quảng bá du dịch 38

3.2.6 Nhóm giải pháp về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch 39

3.2.7 Giải pháp về hợp tác quốc tế phát triển du lịch 39

3.2.8 Nhóm giải pháp về bảo đảm an ninh quốc phòng 40

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH NUỒN NHÂN LỰC PHÁT TRIỂN DU

LỊCH 1

Bảng 1.1: Số lượng và mật độ di tích tỉnh Lạng Sơn 8

Bảng 1.2: Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch) 9

Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP 11

Hình 1.1: Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013 11

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA LẠNG SƠN 20

Hình 2.1: Hiện trạng khách du lịch đến với Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014 20

Hình 2.2: So sánh tình hình khách du lịch đến Lạng Sơn với các tỉnh trong khu vực trung du miền núi phía bắc năm 2014 21

Bảng 2.1: Hiện trạng về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2013 23

Bảng 2.2: Công suất buồng phòng trung bình của các khách sạn ở Lạng Sơn giai đoạn 2005-2013 24

Hình 2.3: Doanh thu du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014 26

Hình 2.4: Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Lạng Sơn năm 2013 27

Hình 2.5: Hiện trạng lao động du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2013 28

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH LẠNG SƠN 32

Trang 5

CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH NUỒN NHÂN LỰC PHÁT TRIỂN

DU LỊCH1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Lạng Sơn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc, có diện tích 8.320,76 km² (năm2013), nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút của sự giaolưu kinh tế với các tỉnh Có tọa độ 20°27'-22°19' vĩ Bắc và 106°06'-107°21' kinhĐông

Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng: 55 km

Phía đông bắc giáp Sùng Tả (Quảng Tây, Trung Quốc): 253 km

Phía nam giáp tỉnh Bắc Giang: 148 km

Phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh: 49 km

Phía tây giáp tỉnh Bắc Kạn: 73 km

Phía tây nam giáp tỉnh Thái Nguyên: 60 km

Lạng Sơn có 2 cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu Ga đường sắt Đồng Đăng huyện CaoLộc và cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị, có 2 cửa khẩu quốc gia: Chi Ma (Huyện LộcBình) và Bình Nghi, 10 lối mở biên giới với Trung Quốc và 7 cặp chợ biên giới vớiTrung Quốc Bên cạnh đó có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất thuận lợi choviệc giao lưu kinh tế, khoa học – công nghệ với các tỉnh phía Nam trong cả nước, vớiTrung Quốc và qua đó sang các nước vùng Trung Á, châu Âu và các nước khác

Tỉnh Lạng Sơn có 10 huyện và 01 Thành phố: 226 xã phường, thị trấn bao gồm:thành phố Lạng Sơn và các huyện: Hữu Lũng, Chi Lăng, Cao Lộc, Lộc Bình, ĐìnhLập, Văn Lãng, Tràng Định, Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn Thành phố Lạng Sơn làtrung tâm chính trị - kinh tế xã hội của tỉnh

Là địa đầu của tổ quốc, Lạng Sơn là tỉnh có nhiều danh lam thắng cảnh, non nướchữu tình, có nhiều di tích lịch sử với nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, nơi có ditích văn hoá Bắc Sơn, văn hoá Mai Pha Các danh lam thắng cảnh cùng nhiều di tíchlịch sử, văn hoá là những tiềm năng to lớn cho việc phát triển du lịch của tỉnh LạngSơn, làm cho Lạng Sơn có sức cuốn hút lạ kỳ với du khách

Trang 6

cao 20m, cao nhất là đỉnh Phia Mè thuộc núi Mẫu Sơn cao 1.541m Độ cao trung bình

so với mực nước biển khoảng 252m

Có thể nhận thấy, địa hình tỉnh Lạng Sơn ngoài những vùng núi đá vôi cao nhấtcũng chỉ 780m, còn phổ biến là núi thấp với đỉnh vòm và sườn tương đối thoải, cùngvới các vùng đồi dạng bát úp, không có núi cao với sườn dốc và các đỉnh nhọn hìnhrăng cưa

Hướng địa hình Lạng Sơn rất phức tạp Nửa phía đông địa hình thấp dần từ ĐôngNam sang Tây Bắc (theo hướng chảy của sông Kỳ Cùng), nửa phía tây hướng dốc củađịa hình là Tây Bắc-Đông Nam

Địa hình được chia thành 3 vùng với những đặc trưng khác nhau cho phát triển

du lịch:

- Vùng núi đá vôi cánh cung Bắc Sơn, chiếm khoảng 25% diện tích lãnh thổ,được chia thành hai tiểu vùng: tiểu vùng Bắc Sơn, Bình Gia, Chi Lăng, Văn Quan vàtiểu vùng Hữu Lũng Độ cao trung bình toàn vùng là 400-500m, cao về phía Tây Bắc(độ cao 500-600m) và thấp dần về phía Đông Nam (độ cao 300m) Trong vùng đá vôirộng lớn này đang diễn ra quá trình karst hóa với mức độ khác nhau, tạo thành cácdạng địa hình đá tai mèo, phễu karst, thung lũng karst, hang động karst Trong khuvực vùng đá vôi Bắc Sơn có nhiều hang động karst không chỉ đẹp mà còn là di chỉkhảo cổ của nền văn hóa tiền sử Bắc Sơn, có giá trị phục vụ du lịch và thăm quannghiên cứu, ví dụ như hang Cả (dài 3.342m), hang Dơi (có cửa hang dài tới 110m).Các hang có phong cảnh đẹp là hang Canh Tẻo, hang Gió ở huyện Chi Lăng, hangThẩm Khuyên, Thẩm Hai ở huyện Bình Gia

- Vùng đồi núi tả ngạn sông Kỳ Cùng và dọc thung lũng sông Thương, chiếm40% diện tích lãnh thổ của tỉnh Bao gồm bốn tiểu vùng: tiểu vùng đồi núi huyện BìnhGia và phía tây các huyện Tràng Định, Bắc Sơn; tiểu vùng đồi núi phía đông huyệnChi Lăng và phía nam các huyện Cao Lộc, Lộc Bình và Đình Lập; tiểu vùng đồi núihuyện Văn Quan; tiểu vùng đồi núi dọc thung lũng sông Thương Địa hình ở đây chủyếu là núi thấp và đồi, cấu tạo chủ yếu bằng đá trầm tích lục nguyên, có xen một ít đámagma Hướng dốc của địa hình là từ Tây Bắc (giáp Cao Bằng, Bắc Cạn) xuống ĐôngNam (Bắc Giang) Độ cao trung bình ở phần Tây Bắc là 700-800m và phần phía nam

là 200-300m Vùng này do điều kiện địa hình cộng với khí hậu đặc trưng đã tạo nênnhững sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới (như khoai, lạc ) cùng với các loại cây ăn quảnổi tiếng như na Chi Lăng, quýt Bắc Sơn đã tạo nên vùng nông sản phục vụ khách

du lịch

- Vùng máng trũng Thất Khê-Lộc Bình và đồi núi dọc biên giới Việt-Trung,chiếm khoảng 35% diện tích lãnh thổ, gồm 8 tiểu vùng: tiểu vùng bồn địa Thất Khê;tiểu vùng

bồn địa Na Dương-Lộc Bình; tiểu vùng bồn địa Bản Ngà-thành phố Lạng Sơn;

Trang 7

tiểu vùng Tri Phương và tiểu vùng đồi núi dọc biên giới Việt Trung Các tiểu vùng tạothành một dải đất trũng chạy suốt từ ranh giới với Cao Bằng qua Thất Khê, Lộc Bình

và đến sát Tiên Yên (Quảng Ninh), dọc theo sông Kỳ Cùng với hướng dốc chung làĐông Nam-Tây Bắc Vùng này được gọi là “ống máng Cao Lạng” với nhiều địa danhnổi tiếng đã đi vào lịch sử dân tộc: đường số 4, Đông Khê, Thất Khê, Na Sầm Ngoài

ra nơi đây cũng có một số khối núi cao với cảnh quan hùng vĩ, khí hậu mát mẻ vàtrong lành về mùa hạ như Mẫu Sơn, hay những bồn địa còn tồn tại những khối đá vôisót với các hang động đẹp như Tam Thanh, Nhị Thanh rất có giá trị về du lịch vànghỉ dưỡng

Các dạng địa hình đặc biệt, gồm:

- Kiểu địa hình karst phát triển trên núi đá vôi tuổi Cổ thượng sinh, phổ biến ởcác huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Chi Lăng và Hữu Lũng, ngoài ra còn rải rác

ở các huyện Tràng Định, Văn Lãng và thành phố Lạng Sơn

- Kiểu địa hình núi trung bình (cao từ 1.000-1.500m) cấu tạo bởi các đá trầm tíchtuổi Trias trung-thượng, nâng Tân kiến tạo mạnh Đó là kiểu địa hình ở khối núi MẫuSơn

- Kiểu địa hình núi thấp (cao 500-1.000m) cấu tạo bằng các magma tuổi Jura, nâng Tân kiến tạo vừa phải Đó là kiểu địa hình từ phía bắc thị trấn Thất Khê đếnthị trấn Bình Gia và một giải phía đông của tỉnh

Trias Kiểu địa hình núi thấp (cao 500Trias 1.000m) cấu tạo bằng đá trầm tích tuổi từ Cổsinh hạ đến Trung sinh, nâng Tân kiến tạo vừa phải, phân bố ở các huyện Tràng Định,Cao Lộc, Lộc Bình và phía tây Bình Gia

- Kiểu địa hình núi thấp xen lẫn đồi (cao từ 300-500m) cấu tạo bởi đá trầm tíchtuổi Trung sinh, nâng Tân kiến tạo yếu, phân bố ở huyện Lộc Bình

- Kiểu địa hình đồi cấu tạo bởi đá trầm tích Nêogen chịu hạ lún kiến tạo tươngđối, ở thị trấn Thất Khê

- Kiểu địa hình đồng bằng bồi tụ trên máng trũng và đáy thung lũng, được cấutạo bởi các trầm tích Đệ Tứ dọc theo đứt gãy hoặc máng trũng, chịu sự hạ lún tươngđối, phân bố ở thị trấn Thất Khê, thị trấn Na Dương, thành phố LạngSơn

Địa hình là một tài nguyên du lịch độc đáo và phong phú của Lạng Sơn, đã vàđang được khai thác để phục vụ du lịch Tuy nhiên hiện trạng khai thác còn chưaxứng với tiềm năng, cần đầu tư và quy hoạch chi tiết để khai thác có hiệu quả hơn

1.2.1.2 Khí hậu

Lạng Sơn nằm hoàn toàn trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Song do độcao trung bình toàn tỉnh là 252m, lại chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc nênkhí hậu toàn tỉnh mang tính chất á nhiệt đới

Trang 8

- Nhiệt độ: tổng nhiệt hàng năm trên 8.000ºC với số giờ nắng từ 1.400-1.600 giờ.Bức xạ tổng cộng 110-120 kcal/cm²/năm, lượng bức xạ cực đại vào tháng VII (12-13kcal/cm²) và cực tiểu vào tháng I (6 kcal/cm²).

+ Nhiệt độ trung bình năm 21,2ºC, thấp hơn các nơi khác ở miền Bắc Nhưngnhiệt độ cao nhất có thể đạt là 40,1ºC và nhiệt độ thấp nhất xuống mức âm độ như ởvùng núi Mẫu Sơn Khí hậu phân hóa thành hai mùa: mùa đông nhiệt độ trung bình8,6ºC, thấp hơn các nơi khác từ 1-3ºC, do vị trí địa lý và địa hình tạo nên cửa ngõ đóngió lạnh và duy trì những khối lạnh này lâu Mùa hè ngắn hơn các nơi khác, không khímát mẻ, ôn hòa hơn

- Lượng mưa: Lạng Sơn nằm trong khu vực ít mưa Lượng mưa trung bình năm

là 1.450mm với số ngày mưa là 135 ngày Nơi có lượng mưa trên 1.600mm là vùngnúi Mẫu Sơn (2.589mm) Ngoài Mẫu Sơn, các huyện Bắc Sơn, Hữu Lũng, Đình Lập

và Tràng Định cũng có lượng mưa trên 1.400mm Vùng giữa các tỉnh với phần đấtrộng lớn lại là nơi nhận được ít mưa nhất như Na Sầm (1.118mm), Đồng Đăng(1.100mm) Chế độ mưa phân hóa thành hai mùa: mùa mưa tương ứng với mùa hè vàmùa khô là mùa đông, mưa trong hè chiếm đến 80% lượng mưa, nhưng mùa khô lạikhông sâu sắc do có mưa phùn trong mùa đông

- Độ ẩm: tương đối trung bình năm ở Lạng Sơn phổ biến từ 80 đến 85%, thấphơn so với nhiều vùng khác ở nước ta Ít có sự chênh lệch về độ ẩm giữa các vùng vàtheo độ cao Tháng VIII có độ ẩm cực đại đạt 85%, còn tháng XI, XII và tháng I, độ

ẩm có giá trị cực tiểu 78%

Do ảnh hưởng của vị tri địa lý và địa hình mà khí hậu có sự phân hóa tạo nên tínhchất riêng biệt so với các nơi khác và chia Lạng Sơn thành ba tiểu vùng khí hậu: tiểuvùng khí hậu núi cao Mẫu Sơn, tiểu vùng khí hậu núi trung bình và đồi núi thấp phíabắc và phía đông, tiểu vùng khí hậu núi thấp phía nam

Đặc điểm khí hậu mang tính chất quá độ giữa nhiều khu vực khác nhau Sự phânhóa khí hậu như trên đã cho phép Lạng Sơn có thể phát triển đa dạng, phong phú cáccây trồng ôn đới, á nhiệt đới và nhiệt đới Đặc biệt là các loại cây trồng dài ngày nhưhồi, trám, quýt, lê, thông Sự phân hóa theo mùa của khí hậu còn còn tạo nên nhữngrau quả, hương liệu ôn đới đặc trưng như: hồi, đào, mận, na

Lạng Sơn là vùng chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, trung bình mỗinăm có 20-25 đợt gió mùa Đông Bắc Ngoài ra vùng cũng là vùng chịu ảnh hưởng củabão, tập trung từ tháng 6 đến tháng 9 Những ngày bị ảnh hưởng của gió mùa ĐôngBắc và bão thời tiết chuyển xấu, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch

Ở Lạng Sơn hàng năm xảy ra các hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương muối,sương mù, mưa phùn và đặc biệt là băng tuyết Về mùa đông ở khu vực núi Mẫu Sơnhay có tuyết rơi Đây là hiện tượng thời tiết lý thú ở nước ta, là nét độc đáo của yếu tốkhí hậu, hấp dẫn khách du lịch

Trang 9

Sử dụng giản đồ tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm tuyệt đối trung bình để tínhkhả năng thích ứng của con người với khí hậu cho hoạt động du lịch nghỉ dưỡng chothấy điều kiện thời tiết, khí hậu thích hợp nhất có nhiệt độ trung bình hàng tháng từ13-15ºC và độ ẩm từ 80-85% Lạng Sơn là lãnh thổ trong một năm trung bình cókhoảng năm tháng rất thuận lợi cho hoạt động du lịch, đó là các tháng 2-3-10-11-12.Tuy nhiên các tháng không thuận lợi là vào mùa hè Nét đặc trưng của khí hậu còn tạonên những mùa du lịch của Lạng Sơn Và với khu nghỉ dưỡng Mẫu Sơn thì mùa hè làmùa nghỉ mát trên núi cao, còn mùa đông lại là lúc chiêm ngưỡng những hiện tượngthời tiết hiếm thấy Nhìn chung đặc điểm khí hậu, thời tiết Lạng Sơn thuận lợi cho cáchoạt động du lịch Chính đặc điểm này đã tạo nên sự đa dạng về các giá trị tự nhiên,cảnh quan lãnh thổ, làm tăng tính hấp dẫn của du lịch.

Thủy chế sông ngòi Lạng Sơn chia làm hai mùa chính: mùa lũ và mùa cạn, tươngứng với hai mùa của khí hậu là mùa mưa và mùa khô Mùa lũ tập trung từ 66-88%tổng lưu lượng nước trong năm Mùa cạn tuy thời gian kéo dài tới 8 tháng song chỉchiếm từ 20-34% tổng lượng dòng chảy của năm Chênh lệch dòng chảy năm củaLạng Sơn dao động khá lớn, giữa tháng lớn nhất và tháng thấp nhất chênh lệch từ 10,8đến 25,6 lần

Trên địa phận có 7 con sông chính chảy qua là: sông Kỳ Cùng, sông Bắc Giang,sông Bắc Khê, sông Ba Thín, sông Thương, sông Trung và sông Hóa

- Trong đó sông Kỳ Cùng là con sông dài nhất, đẹp và gắn với đời sống cũng nhưphong tục tập quán của người dân Lạng Sơn Sông Kỳ Cùng dài 243km, diện tích lưuvực 6.660 km² Sông được bắt nguồn từ vùng núi cao Bắc Xa cao 1.166m thuộc huyệnĐình Lập Sông Kỳ Cùng thuộc lưu vực sông Tây Giang, Trung Quốc Đây là consông duy nhất ở miền bắc Việt Nam chảy theo hướng Đông Nam-Tây Bắc, vì vậy xứLạng còn được gọi là “nơi dòng sông chảy ngược” Sông Kỳ Cùng là con sông đẹp,ven sông có nhiều chùa chiền, nhiều cảnh đẹp tự nhiên có thể khai thác phục vụ dulịch: du lịch mạo hiểm, du lịch ngắm cảnh Hàng năm trên sông còn có lễ hội hoađăng thu hút rất đông khách du lịch, đây là một trong những lễ hội hoa đăng đượcđánh giá là có số lượng người tham gia đông nhất nước ta

- Sông Thương là con sông lớn thứ hai của Lạng Sơn Sông có chiều dài 157km,đoạn chảy qua Lạng Sơn dài 70km ở phần thượng lưu và trung lưu Sông bắt nguồn từdãy núi Na Pa Phước, ở độ cao 600m, thuộc huyện Chi Lăng, chảy theo hướng Đông

Trang 10

Bắc-Tây Nam, rồi chảy vào tỉnh Bắc Giang tại xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng Cácphụ lưu của sông Thương là sông Trung và sông Hóa.

- Sông Lục Nam ở thượng nguồn gọi là Lục Ngạn, bắt nguồn từ núi Kham cao 700m,thuộc huyện Đình Lập Sông chảy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam rồi chảy vào tỉnhBắc Giang Chiều dài của sông trên địa phận tỉnh Lạng Sơn là 28km; diện tích lưu vực

642 km²; ở phần thượng nguồn, lòng sông hẹp, uốn khúc, nhiều thác ghềnh, độ dốclớn

Ngoài ra Lạng Sơn còn có một vài sông ngắn khác như sông Nà Lang, sông Phố Cũ,sông Đồng Quy và nhiều suối nhỏ khác

Các sông này có tiềm năng lớn về cung cấp nước, làm thủy lợi và thủy sản Về mặt

du lịch các sông ở Lạng Sơn cũng có thể khai thác để phục vụ mục đích du lịch như dulịch mạo hiểm, lễ hội

Tổng lượng dòng chảy năm trung bình của Lạng Sơn là 6.073 km³ tương đương192m³/s Dòng chảy chủ yếu được cung cấp bởi mùa mưa, mùa lũ là thời kỳ nước sôngdâng cao Thông thường ở Lạng Sơn có khoảng 3-5 trận lũ, có năm lên đến 7-8 trận.Chất lượng nước mặt ở Lạng Sơn còn khá tốt, đảm bảo tiêu chuẩn cấp nước cho sinhhoạt và sản xuất Tuy vậy, nước sông mùa hè có hàm lượng cát bùn khá lớn vì vậymuốn sử dụng trực tiếp cho sản xuất hay sinh hoạt cần thiết phải xử lý

Ở Lạng Sơn còn có một số hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, diện tích nhỏ phục

vụ thủy lợi như các hồ Phai Gianh (Bình Gia), Chiến Thắng (Hữu Lũng), Nà Cáy (LộcBình), Pác Làng (Đình Lập) Đáng chú ý là một số hồ chứa nước tuy nhỏ nhưng cảnhquan đẹp, khí hậu tốt có thể khai thác phục vụ du lịch như hồ Nà Tâm (thành phố LạngSơn)

Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn còn có nhiều con suối, nhiều thác nhỏ như thác LongĐầu, Khuôn Van (Lộc Bình), Đăng Mò (Bình Gia) các thác có vẻ đẹp nguyên sơ,nước trong xanh, dòng nước từ thác chảy xuống bọt tung trắng xóa Tuy nhiên cácđiểm thác chưa được đưa vào khai thác cụ thể, cần được quy hoạch trong tương lai

+ Diện tích đất lâm nghiệp của Lạng Sơn là 569.741,68ha (2013), bao gồm baloại rừng: rừng sản xuất (449.574,16ha), rừng phòng hộ (111.875,34ha) và rừng đặcdụng (8.292,18ha) Rừng là một trong những thế mạnh của Lạng Sơn Rừng không chỉ

Trang 11

có tác dụng cân bằng sinh thái, bảo vệ đất, chắn gió, cung cấp lâm sản, dược liệu vànguyên liệu cho các ngành kinh tế và đời sống, mà còn có vai trò quan trọng trong việcbảo vệ an ninh và phát triển du lịch.

+ Rừng Lạng Sơn có 65 họ với 279 loài thực vật Rừng được chia ra: rừng tựnhiên và rừng trồng Rừng tự nhiên ở Lạng Sơn có các loại rừng gỗ trên núi đất và núi

đá, rừng tre nứa và rừng hỗn giao Rừng trồng các loại cây như hồi, thông, bạch đàn,

sa mộc phát triển mạnh trong thời gian gần đây

+ Do điều kiện sinh thái khác nhau giữa các vùng (đặc biệt là điều kiện nhiệt ẩm)

ở Lạng Sơn đã hình thành bốn kiểu rừng chính: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩmnhiệt đới, kiểu rừng nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, kiểu rừng rụng lá hơi ẩm nhiệt đới, kiểurừng thường xanh cận nhiệt đới núi thấp

+ Lạng Sơn còn có nhiều cây trồng nổi tiếng như: hồi, thuốc lá, mận Tam Hoa,hồng và quýt Bảo Lâm, đào Mẫu Sơn Chính những cây quả này đã trở thành đặc sảngây ấn tượng khó quên cho du khách

- Động vật: với sự biến động mạnh về lớp phủ thực vật và tác động của conngười, giới động vật của tỉnh có suy giảm về thành phần và số lượng cá thể, tuy nhiênmức độ suy giảm không nhiều so với các khu vực khác

+ Lớp thú ở Lạng Sơn có 8 bộ, 24 họ với 56 loài Lớp chim có 14 bộ, 46 họ, 200loài Lớp bò sát lưỡng cư có 3 bộ, 17 họ, 50 loài

+ Giới động vật ở Lạng Sơn có những loài bản địa đặc hữu của khu hệ động vậtĐông Bắc như cá anh vũ, cá chép gốc, cá lộ lớn, cá sạo, cá măng giả, ếch gai Cónhững loài thân thuộc với khu vực Hoa Nam như cáo, lửng chó, gấu ngựa, hươu xạ,sóc bụng đỏ, chép đuôi trắng Có những loài thân thuộc với khu hệ Ấn Độ-Miến Điệnnhư hổ, báo lửa, báo gấm, khỉ mốc, dê núi, tê tê, rắn

Nhìn chung hệ động, thực vật ở Lạng Sơn khá phong phú, nếu biết khai thác cóthể phục vụ cho các hoạt động du lịch

Hệ sinh vật phong phú, đa dạng nên đã hình thành các giá trị sinh thái được lưugiữ trong các khu bảo tồn thiên nhiên như: Mỏ Lẹ (Bắc Sơn), Hữu Liên (Hữu Lũng) có

đa dạng sinh học với giá trị phục vụ du lịch cao, có điều kiện thuận lợi để khai thácphục vụ du lịch Các khu bảo tồn này là nơi lưu giữ nhiều diện tích rừng nguyên sinhvới nhiều loài thực, động vật nhiệt đới điển hình, nhiều nguồn gen động thực vật, bảotồn sinh thái và đa dạng sinh học Vì thế chúng có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học, vềkinh tế và giáo dục Nếu biết kết hợp tốt các hoạt động du lịch thì chắc chắn sẽ làmtăng thêm giá trị và hiệu quả nhiều mặt của các khu bảo tồn này

1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

1.2.2.1 Di sản văn hóa thế giới-di tích văn hóa lịch sử

Lạng Sơn là nơi tập trung khá nhiều di tích văn hóa, di tích lịch sử Hiện nay trên

Trang 12

toàn tỉnh có khoảng 111 di tích được xếp hạng, gồm 9 di tích danh thắng, 56 di tíchlịch sử, 24 di tích kiến trúc nghệ thuật và 22 di tích khảo cổ Trong số 111 di tích đượcxếp hạng có 23 di tích quốc gia.

Bảng 1.1: Số lượng và mật độ di tích tỉnh Lạng Sơn

Số

TT Tỉnh (huyện)

Diện tích (km²)

Tổng số di tích

Số di tích được xếp hạng quốc gia

Số di tích được xếp hạng tỉnh

Mức

độ tập trung

Ditích

Mậtđộ(100km²)

Ditích

Mậtđộ(100km²)

(Chú thích về mức độ tập trung: :Dày; : Trung bình; Thưa)

Trong số các di tích xếp hạng cấp quốc gia, có nhiều di tích rất quan trọng, có giátrị cao đối với du lịch như hệ thống di tích Nhất, Nhị, Tam Thanh thuộc TP Lạng Sơn;cụm di tích ải Chi Lăng (huyện Chi Lăng); cụm di tích Bắc Sơn (huyện Bắc Sơn); khu

di tích Hoàng Văn Thụ (huyện Văn Lãng); cụm di tích gắn với chiến thắng đường số 4

ở huyện Tràng Định; cụm di tích khảo cổ Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Kéo Lèng ởhuyện Bình Gia…

Ngoài ra Lạng Sơn còn có ba bảo tàng, trong số đó có hai bảo tàng lịch sử và mộtbảo tàng văn hóa tổng hợp Hệ thống di tích tập trung theo từng cụm, nhiều nhất là ởkhu vực TP Lạng Sơn, các huyện Bắc Sơn, Văn Quan, Bình Gia Hệ thống các di tíchnày có giá trị tham quan nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử về mảnh đất Lạng Sơn

Trang 13

Tuy nhiên nhiều di tích hiện nay còn chưa được khai thác tốt, do điều kiện cơ sở

hạ tầng yếu kém, điều kiện tiếp cận các di tích còn rất khó khăn Bên cạnh đó, tìnhtrạng các di tích hiện nay cũng không được tốt Ngoại trừ những di tích lớn đã có tiếngcòn lại đa số các di tích chưa được quan tâm đúng mức Tình trạng xâm phạm di tíchvẫn tiếp diễn Hầu như chưa có nơi nào thực hiện đúng chỉ giới bảo vệ di tích theoLuật Di sản văn hóa

1.2.2.2 Lễ hội

Lễ hội Lạng Sơn nhiều về số lượng, phong phú về nội dung, loại hình Đặc biệt, lễhội Lạng Sơn vừa mang những đặc trưng của lễ hội cổ truyền Việt Nam và vùng ViệtBắc vừa mang sắc thái riêng của vùng văn hóa Xứ Lạng Theo số liệu khảo sát của SởVăn hóa-Thông tin Lạng Sơn, đến năm 2003, Lạng Sơn có trên 365 lễ hội dân gian vớitính chất, quy mô lớn, nhỏ khác nhau Các lễ hội thường được tổ chức vào mùa xuân,

từ tháng riêng đến tháng tư âm lịch hàng năm Các lễ hội đều mang nội dung xây dựng

và bảo vệ cuộc sống ấm no, hạnh phúc Ngoài các giá trị về tinh thần, văn hóa, lịch sử,các lễ hội Lạng Sơn còn chứa đựng giá trị văn hóa-du lịch sâu sắc

Bảng 1.2: Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch) STT Tên lễ hội Thời gian Địa điểm Nội dung

Khả năng khai thác du lịch

Phố KỳLừa,Thành phốLạng Sơn

Thờ Tả đô đốc Hánquận công Thân CôngTài, người khai mở phố

và chợ Kỳ Lừa vào thế

kỷ 17 Có trò thi cướpđầu pháo

hạnh phúc Có các tròchơi dân gian như cờngười, múa lân…

ngày hội người ta thắphương ở chùa cầu trời,phật ban phước lànhđược sống bình an, làm

ăn được tài, được lộc

Thành phốLạng Sơn

Hoạt động quan trọngnhất là rước kiệu Trong

lễ hội còn diễn ra các tròchơi dân gian như múa

sư tử, múa lân…Đặc



Trang 14

biệt cờ người rất hấpdẫn du khách.

5 Lễ hội Lồng

Tồng

Ngày 18thángGiêng

Các huyệntrong tỉnh

Hội xuống đồng của cácdân tộc miền núi phíaBắc để cầu mưa thuậngió hòa, cuộc sống ấmno…Tại lễ hội có cáctrò chơi dân gian và cácmón ăn làng quê

hoạt động văn hóa cổtruyền như múa sư tử,

võ dân tộc, thi đấu thểdục thể thao



7 Lễ hội Bắc

Nga

Ngày 15thángGiêng

HuyệnCao Lộc

Ngày hội có cúng tếtrong chùa mời Tiên,mời Phật về phù hộ chodân làng được bình an,hạnh phúc

8 Lễ hội đền

Bắc Lệ

Từ ngày 2đến 15thángGiêng

HuyệnHữu Lũng

Là lễ đầu năm mới, cầuthần linh phù hộ chomột năm mới bình anhạnh phúc

11 Lễ hội Chi

Lăng Ngày 10tháng 10 HuyệnChi Lăng Kỉ niệm chiến thắngQuân Minh



(Chú thích vềkhả năng khai thác du lịch: :Cao; : Trung bình; Thấp)

Có hai đặc trưng quan trọng của lễ hội, đó là:

- Lễ hội phản ánh khá sinh động truyền thống dân tộc: Đến với các lễ hội này dukhách có thể hình dung được quá khứ hào hùng của dân tộc Việt Nam trong suốt quátrình đấu tranh dựng nước và giữ nước, tiêu biểu là lễ hội Bắc Sơn, Chi Lăng…

- Lễ hội mang tính khái quát cao: Các lễ hội này phản ánh khá đầy đủ đời sốngtâm linh, tư tưởng triết học và mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, văn hóa các dântộc ít người vùng Đông Bắc Đây chính là một trong những điểm chủ yếu hấp dẫn dukhách đến với Lạng Sơn như các lễ hội Lồng Tồng, Kỳ Cùng…

Tuy nhiên cần thiết phải nghiên cứu chọn lọc, có kế hoạch khôi phục hay pháttriển một số hình thức lễ hội có giá trị phục vụ du lịch

Trang 15

1.2.2.3 Dân tộc

Theo số liệu thống kê năm 2013, dân số của tỉnh Lạng Sơn là 751.191 người, mật

độ dân số 90,28 người/km² Dân cư phân bố không đều, thành phố Lạng Sơn đôngnhất là 1.170,87 người/km², các huyện có mật độ dân số thấp nhất là huyện Đình Lập(22,57 người/km²) và huyện Bình Gia (48,73 người/km²)

Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP

Lạng Sơn có bốn dân tộc anh em cùng sinh sống trong cộng đồng hòa thuận, đa

số là dân tộc Nùng (chiếm 43,86%), tiếp theo là dân tộc Tày (35,92%), Kinh (15,26%),

và một số dân tộc khác như Dao, Hoa, Sán Chay

Hình 1.1: Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013

Trang 16

Theo lịch sử phát triển, các dân tộc ở Lạng Sơn ngày càng xích lại gần nhau, hòađồng với nhau, tạo thành một khối đoàn kết cùng nhau xây dựng quê hương Mối liên

hệ giữa thành viên các dân tộc ngày xưa chỉ được giới hạn trong phạm vi các bản, chợphiên, hội hè thì ngày nay càng được mở rộng, thể hiện trong sự đoàn kết cùng nhauchống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước Mối quan hệ đó còn được thểhiện rõ hơn trong hoạt động kinh tế, các dân tộc đã đồng sức đồng lòng khắc phục khókhăn, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh

- Sự phân bố các dân tộc: Đặc điểm chung của các tỉnh miền núi phía Bắc là cácdân tộc phân bố rất không đồng đều giữa các địa phương, trong khi có huyện chỉ có 4-

5 dân tộc thì có huyện lên tới 15-16 dân tộc cùng sinh sống Đối với Lạng Sơn, là tỉnh

có ít dân tộc (7 dân tộc chính) nên sự chênh lệch không nhiều Các huyện có ít dân tộcsinh sống nhất là Văn Quan, Văn Lãng, Chi Lăng số lượng dân tộc không dưới 4 dântộc, trong khi đó các huyện Tràng Định, Lộc Bình, Hữu Lũng, Bắc Sơn và thành phốLạng Sơn có đủ các thành phần dân tộc

+ Người Nùng và người Tày là hai dân tộc đông nhất ở Lạng Sơn, có mặt khắptoàn tỉnh, tuy nhiên tập trung nhiều ở thành phố Lạng Sơn

+ Người Kinh cư trú hầu khắp các huyện của tỉnh, trong đó có rất nhiều cư dânmiền xuôi lên từ những năm 1960 theo Chương trình phát triển kinh tế miền núi.+ Người Dao chủ yếu tập trung ở một số xã của các huyện Tràng Định, ĐìnhLập, Bình Gia, Bắc Sơn, Cao Lộc, Hữu Lũng

+ Người Hoa tuy không nhiều nhưng có mặt hầu hết ở các huyện của tỉnh, trừhuyện Đình Lập

+ Người Sán Chay chủ yếu ở một số xã của huyện Lộc Bình, Hữu Lũng NgườiH’mông sống chủ yếu ở các vùng sâu vùng xa, đặc biệt khó khăn của các huyện TràngĐịnh, Bắc Sơn và Hữu Lũng

Các dân tộc ở Lạng Sơn đều có bản sắc văn hóa với phong tục tập quán riêng.Đây là nguồn tài nguyên hấp dẫn để khách du lịch tham quan, tìm hiểu

- Hệ thống quần cư: Dân cư Lạng Sơn được phân bố trong hơn 2.415 điểm dân

cư thành thị và nông thôn, mật độ xấp xỉ 0,28 điểm/km², quy mô dân số trung bình mỗiđiểm dân cư xấp xỉ 400 người, khoảng cách các điểm dân cư dao động xung quanh2km, khoảng cách này thuộc diện trung bình đối với tỉnh miền núi

+ Thành phố Lạng Sơn là nơi tập trung nhiều điểm dân cư nhất, huyện có điểmdân cư ít nhất là Tràng Định (xấp xỉ 200 điểm)

+ Các kiểu quần cư ở Lạng Sơn gồm quần cư nông thôn và quần cư đô thị Quần

cư nông thôn có những dạng phân bố: ở thung lũng giữa núi, ở vùng địa mạo sa phiếnthạch núi cao trung bình, ở thung lũng thềm thấp, ở vùng địa mạo núi cao Công Sơn-Mẫu Sơn Quần cư đô thị ở các thành phố, thị xã , thị trấn và thị tứ Hiện nay ở Lạng

Trang 17

Sơn có một thành phố đô thị loại III (thành phố Lạng Sơn) và 14 thị trấn thuộc 10huyện, trong đó có 10 thị trấn huyện lị.

Các kiểu quần cư ở các tỉnh miền núi nói chung và Lạng Sơn nói riêng là cơ sởcho việc xác định không gian văn hóa trong khai thác phát triển du lịch

Cũng như di tích lịch sử văn hóa, Lạng Sơn là tỉnh có nhiều dân tộc ít người sinhsống nên có nhiều hoạt động lễ hội trong năm với những bản sắc khác nhau Tuỳ vàonội dung hoạt động có thể phân ra các loại hình lễ hội lịch sử, lễ hội tín ngưỡng, tôngiáo và lễ hội dân gian

Người Nùng, người Tày ở Lạng Sơn có nhiều nét gần gũi với người Kinh trongsinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng nên có nhiều lễ hội gần gũi người Kinh như múa sư tử,

cờ người nhưng cũng có những hoạt động lễ hội mang bản sắc riêng như hát then, hátsli, hát lượn, hội Lồng Tồng Đặc biệt các chợ phiên của đồng bào các dân tộc như làmột hình thức hội hè mang bản sắc vùng cao Các chợ phiên nổi tiếng ở Lạng Sơn như

Kỳ Lừa, Đồng Đăng, Đồng Mỏ, Thất Khê là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc trưngcho các dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam, hấp dẫn du khách gần xa

1.2.2.4 Các tài nguyên du lịch nhân văn khác

a Nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và kiến trúc

Mỗi dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đều có phong cách kiến trúc nhà ở, trangphục, nhà thờ mang dáng dấp riêng Trong cùng một tỉnh có sự khác biệt về kiến trúcnhà ở phía tây và phía đông Các huyện phía đông như: Lộc Bình, Đình Lập, Cao Lộcnhà ở thường là nhà đất Nhà này có ưu điểm là mùa hè mát và mùa đông ấm Nhà đấtcủa các đại gia đình thường có hai tầng, tầng trên là khu vực để bàn thờ tổ tiên và cácnông sản như thóc, ngô tầng dưới là khu vực sinh hoạt của cả nhà Còn nhà bên cáchuyện Tràng Định, Bắc Sơn là nhà sàn, nhà rộng thoáng, kiến trúc nhà sàn gần giốngvới kiến trúc nhà sàn ở khu vực Tây Bắc của nước ta

Lạng Sơn là mảnh đất có nhiều dân tộc ít người nên trang phục có những nét độcđáo riêng, trở thành bản sắc văn hóa của vùng Dân tộc Tày có áo dài Tày, ngườiH’Mông có những bộ trang phục sặc sỡ được thêu bằng tay từ những cuộn chỉ nhiềusắc màu

Nghệ thuật kiến trúc nhà ở, trang phục của các dân tộc trên đất Lạng Sơn đã trởthành tài nguyên du lịch để khách đến thăm quan, nghiên cứu, tìm hiểu

b Ca múa nhạc dân tộc

Đối với phát triển du lịch, ca múa nhạc dân tộc cũng là một sản phẩm du lịchđang được chú ý phát triển Ở Lạng Sơn tiêu biểu là hát then, hát sli lượn của các dântộc miền núi phía Bắc

- Hát then: Hát then ở Lạng Sơn được phổ biến trên diện rộng và có nhiều vẻphong phú, khác nhau ở các miền, hoặc mỗi huyện Đặc điểm nổi bật là tính quần

Trang 18

chúng Người ta hát trong dịp lễ, trong sinh hoạt, nam cũng như nữ, rất nhiều ngườibiết đàn và biết hát Hát then đã trở thành một nhu cầu quan trọng đối với đời sốngtinh thần của các dân tộc Tày, Nùng ở vùng này Hát then sử dụng đàn tính làm nhạc

cụ đệm Đàn tính là một loại nhạc cụ dân gian độc đáo của người Tày có âm thanhngọt ngào, mượt mà và ấm áp, có sức hấp dẫn kỳ diệu bởi nó gắn chặt với đời sốngtinh thần của một dân tộc đã bao đời như một phương tiện giao tiếp đậm đà bản sắc

- Hát sli - lượn: Đặc điểm cơ bản giống nhau nhưng sli - lượn của mỗi nhánhNùng lại có những nét độc đáo riêng Mỗi hình thức, mỗi làn điệu đều có cách thể hiệnthế giới tâm hồn riêng, có những khả năng chuyển tải và gợi cảm riêng thông quanhững lời sli - lượn, độ trầm bổng luyến láy của nhạc điệu và tiết tấu riêng Sli - lượnđược thể hiện trong văn tế, hát mừng đám cưới, mừng nhà mới, hát ru, mừng sinhnhật

Nhìn chung ca múa nhạc dân tộc thường gắn với lễ hội truyền thống và các ditích lịch sử văn hóa Tất cả đã gắn bó với nhau tạo nên sắc thái văn hóa phóng phú và

đa dạng

c Chợ phiên

Từ xưa do nhu cầu trao đổi hàng hóa nhưng đường xá đi lại còn khó khăn nênđồng bào dân tộc tỉnh Lạng Sơn có chợ phiên Chợ phiên có ở tất cả các huyện, các thịtrấn, cũng có khi là các xã Chợ phiên cứ 5 ngày lại họp một lần ở một nơi và đều đặnqua các tháng, các năm và dùng âm lịch để tính ngày họp Nhưng thường trong mộtkhu vực gần nhau về vị trí thì các chợ phiên sẽ không họp ngày trùng nhau, để đảmbảo hàng hóa được lưu thông nhiều nhất Ví dụ như chợ phiên Kỳ Lừa họp vào mùng

2, 7, 12, 17, 22, 27 của tháng thì các nơi khác gần sẽ họp chợ khác ngày hơn (chợ BảnNgà: mùng 5, 10, 15, 20, 25, 30; chợ phiên Lộc Bình: 1, 6, 11, 16, 21, 26) Các chợphiên nổi tiếng ở Lạng Sơn như: Kỳ Lừa, Đồng Đăng, Đồng Mỏ, Lộc Bình Chợphiên cũng là nơi trao đổi hàng hóa, trao đổi những sản vật nên hấp dẫn khách gần xa.Chợ phiên là một nét đẹp trong văn hóa của đồng bào các dân tộc miền núi Đó lànơi trao đổi hàng hóa, cũng là nơi gặp gỡ của những người quen cũng như nơi hẹn hòcủa các đôi trai gái Chợ phiên được duy trì đến ngày nay, đi chợ phiên trở thành thóiquen của nhiều người, vào ngày đó hàng hóa trao đổi nhiều nhất, chợ chật cứng lối đi

Du khách đến chợ phiên được hòa mình vào không gian mua bán của đồng bàodân tộc với những nông sản, đặc sản lạ mắt Qua đó thỏa trí tò mò và hiếu kì Do đóchợ phiên hấp dẫn du khách

Ngoài chợ phiên, thì không thể không nhắc tới các chợ có sức hút lớn ở thànhphố như: chợ Đông Kinh, Kỳ Lừa hay các chợ cửa khẩu: Đồng Đăng, Tân Thanh vừa phục vụ nhu cầu tham quan cũng như nhu cầu mua sắm cho du khách, đặc biệt làcác dịp cuối tuần Có người nói các chợ ở đây là nơi rút tiền dần dần của du khách, vìcác món hàng nhiều khi rất rẻ, trong khi đó có rất nhiều mặt hàng mà khách hàng

Trang 19

e Nghề thủ công truyền thống

Nghề thủ công truyền thống ở Bắc Bộ nói chung, ở Lạng Sơn nói riêng, có lịch

sử phát triển từ lâu đời Nhiều phường nghề, làng nghề nổi tiếng, trải qua thăng trầmcủa thời gian vẫn còn phát triển cho tới ngày nay và có giá trị phục vụ du lịch như:

- Nghề trồng hồi và chế biến hồi của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng

1.3.1 Mạng lưới và phương tiện giao thông

Hệ thống giao thông ở Lạng Sơn hiện nay chủ yếu là đường bộ và đường sắt.Mặc dù có sông, song giao thông đường thủy không có điều kiện phát triển mạnh do

có nhiều ghềnh thác và mực nước không đủ sâu

Tuy Lạng Sơn không có sân bay có thể khai thác dân dụng nhưng khoảng cáchkhông quá xa tới sân bay Nội Bài, lại được kết nối thuận tiện bằng tuyến quốc lộ nênkhách du lịch có thể tiếp cận tỉnh một cách thuận tiện, trực tiếp

- Mạng lưới đường bộ: Hệ thống giao thông đường bộ bao gồm các tuyến đườngquốc lộ, tuyến tỉnh lộ, huyện lộ và các tuyến đường xã với tổng chiều dài 3.657km, đạt

tỷ lệ 4,95km/1000 dân và 0,45km/km², cao hơn mức trung bình cả nước (0,33km/km²).+ Đường quốc lộ: Có 7 tuyến hoặc đoạn tuyến với tổng chiều dài 616,2km (baogồm: 94,7km quốc lộ 1A mới, 66km quốc lộ 1A cũ; 100,5km quốc lộ 1B; 66km quốc

lộ 4A; 80km quốc lộ 4B; 61km quốc lộ 31; 86km quốc lộ 279 và 62km quốc lộ 3B).Các tuyến quốc lộ đều là cơ sở hình thành tuyến du lịch liên vùng, tuyến du lịch quốcgia, trong đó tuyến quốc lộ 1A và quốc lộ 4A, 4B giữ vai trò quan trọng đối với pháttriển du lịch Lạng Sơn

Trang 20

+ Đường tỉnh: Có 34 tuyến với tổng chiều dài 774,6km, với nhiều cấp đườngkhác nhau, từ đường đạt tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn loại B đến đường cấp

Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống đường bộ, trong những năm gầnđây loại đường này đã không ngừng được nâng cấp và xây mới Đặc biệt là các câycầu như cầu vượt sông Kỳ Cùng, cầu Tằm Cát, cầu Bản Chu tạo điều kiện đi lạithuận tiện và tổ chức các tuyến du lịch trong tỉnh dễ dàng Ngoài ra, hệ thống đường

bộ được nâng cấp hiện đại, đẹp tạo mỹ quan cho cảnh quan du lịch

Nhưng bên cạnh đó còn có nhiều tuyến đường, đặc biệt là các tuyến đường ởvùng sâu vùng xa vẫn chưa được đầu tư xây dựng và nâng cấp gây khó khăn trong lưuthông đi lại Cộng thêm sự xuống cấp của nhiều tuyến đường ảnh hưởng không nhỏcho việc đi lại cũng như sự phát triển của du lịch

- Đường sắt: trên địa phận tỉnh Lạng Sơn có hai tuyến đường sắt: tuyến đường sắtliên vận quốc tế Hà Nội- Đồng Đăngdài 162km và tuyến Mai Pha-Na Dương dài31km Các tuyến đường này đều do ngành đường sắt quản lý và khai thác Hàng hoávận chuyển của đường sắt chủ yếu là hàng xuất nhập khẩu và vận chuyển than, vật liệuxây dựng trong vùng

Tuyến đường sắt Hà Nội-Đồng Đăng giữ vị trí hết sức quan trọng đối với hoạtđộng du lịch Lạng Sơn, đây là một phần của tuyến du lịch xuyên Việt và cùng là mộtphần của tuyến du lịch xuyên Á

Trang 21

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 2 trạm 110KV là: trạm Đồng Mỏ (Chi Lăng)110/35/10KV-25MVA và trạm thành phố Lạng Sơn 110/35/22KV-25MVA, có 71kmđường dây 110KV; 641,94km đường dây 35KV; 154,25km đường dây 10KV;70,58km đường dây 6KV và 976,17km đường dây 0,4KV.

Ngoài ra, đối với một số xã ở vùng xa, nơi gần sông, suối, nhân dân sử dụng thuỷđiện nhỏ phục vụ đời sống (khoảng 8.700 hộ)

Hệ thống điện hoàn toàn đủ cung cấp và phân phối cho nhu cầu của người dântrong sản xuất, trong sinh hoạt cũng như phục vụ du lịch về các nhu cầu của khách dulịch

1.3.2.2 Hệ thống cấp thoát nước

Hệ thống cấp nước: Tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch ở nông thôn là 50%,thành thị là 90%, tỉnh sẽ cải tạo nâng cấp hiện đại hoá hệ thống cấp nước, đảm bảocung cấp đủ nước cho người dân trong tỉnh Các cửa khẩu, thị trấn, khu vực dân cư tậptrung, trung tâm các nông-lâm trường cũng đang được đầu tư cải tạo và đang được đầu

tư cải tạo và xây dựng mới hệ thống cung cấp nước sạch

Hệ thống các công trình cấp nước ở khu vực thành phố, các thị trấn đã được quantâm đầu tư mở rộng hệ thống cấp nước trên địa bàn thành phố Lạng Sơn (lên10.000m³/ngày-đêm), đầu tư hệ thống nước sạch các thị trấn Lộc Bình, Đình Lập,Bình Gia, Văn Quan, Bắc Sơn, Hữu Lũng, đầu tư hệ thống nước sinh hoạt nông thôn Đến nay, có 75% dân số thành thị và 55% dân số nông thôn được dùng nước sạch, sảnlượng nước máy đạt 3,27 triệu m³

Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống cấp nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sảnxuất và đời sống, hầu hết công suất công trình cấp nước còn thấp, chưa đáp ứng nhucầu phát triển dân số ở khu vực đô thị, các công trình nước sạch nông thôn còn ít.Nguồn nước chủ yếu hiện nay:

- Nhà máy nước thành phố Lạng Sơn: cung cấp nước cho 180 nghìn hộ dân

- Giếng đào, cáp nước tự chảy, giếng khoan: tại các trung tâm huyện Chi Lăng,Văn Lãng, Đình Lập, Bắc Sơn, Bình Gia

Toàn tỉnh có 44 giếng khoan, trong đó 25 giếng có chất lượng tốt do thườngxuyên được bảo dưỡng và vận hành đúng quy trình Ngoài ra tỉnh có trên 38 nghìngiếng đào, gần 1/2 có chất lượng tốt Hiện nay loại hình cấp nước chủ yếu cho nhu cầusản xuất, dịch vụ và sinh hoạt của các thị trấn, khu dân cư tập trung là các hệ thống tựchảy (292 hệ thống), trong đó chỉ có 135 hệ thống được đánh giá là có chất lượng tốt.Toàn tỉnh còn có 1.242 bể chứa nước mưa, chủ yếu được xây dựng ven sườn núi Toàntỉnh còn trên 18 nghìn hệ thống máng lần cấp nước cho người dân, phổ biến ở cáchuyện Tràng Định, Bình Gia, Văn Lãng

Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường: Trong những năm qua đã hoàn thành

Trang 22

đưa vào sử dụng một số công trình thuỷ lợi (gồm cả công trình đầu mối, hệ thống kênhmương) như: An Rinh-Lệ Minh, huyện Cao Lộc; Văn An, Xuân Mai huyện Văn Quan;Hội Hoan, huyện Văn Lãng; Bản Nằm, huyện Tràng Định đảm bảo cung cấp nướctúới tiêu phục vụ sản xuất và sinh hoạt; chuẩn bị các điều kiện để đầu tư xây dựng cáccông trình thuỷ lợi Thất Khê, huyện Tràng Định; Thiện Kỵ, huyện Hữu Lũng; TânLập, huyện Bắc Sơn Đến nay, phần lớn các công trình hồ đập đầu mối đã được củng

cố, nâng cấp, xây dựng mới, kiên cố hoá, đảm bảo nước tưới cho 56% diện tích câylương thực-thực phẩm

Hệ thống các công trình thoát nớc ở khu vực thành phố, thị trấn tuy đã được đầu

tư, nhưng chưa đồng bộ, nhiều nơi hệ thống cống, vỉa hè, rãnh thoát nước chưa cóhoặc đã xuống cấp, nhất là hệ thống thoát nước thải chưa được đầu tư bao nhiêu.Hầu như trên toàn tỉnh không phân loại rác thải: rác sinh hoạt, công nghiệp, rácđộc hại và rác thải y tế Tại thành phố Lạng Sơn, tỷ lệ rác thải được thu gom cũngchưa đạt 70% tổng khối lượng Nhiều thị trấn, thị tứ còn chưa tổ chức được công tácthu gom, xử lí tập trung chất thải rắn

Đây là một thách thức lớn với địa phương trong công tác bảo vệ môi trường,nâng cao chất lượng đời sống người dân và hoạt động du lịch

1.3.3 Hệ thống thông tin-liên lạc

Mạng lưới bưu chính-viễn thông được đầu tư đồng bộ và ngày càng mở rộng là

cơ sở để triển khai cung cấp các loại hình dịch vụ đa dạng, tiện ích tới người dân, đặcbiệt là đồng bào các xã vùng xa, vùng biên giới Hiện nay đã phủ cập sóng điện thoạiđến từng thôn bản Năm 2013, tỉnh Lạng Sơn đạt được 736.921 thuê bao điện thoại,chỉ tiêu này cao hơn nhiều so với các tỉnh trong khu vực miền núi và trung du phía Bắcnhư Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lai Châu, Hòa Bình Trong đó, số thuê bao

di động là 682.434 thuê bao Trong thời gian qua, nhiều dịch vụ mới được triển khai

có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh như: dịch vụ điện thoại IP, dịch vụ điện thoại diđộng, dịch vụ Mega VNN, dịch vụ chuyển phát nhanh Đặc biệt sự phát triển mạnhcủa mạng Internet là một bước tiến lớn trong thông tin liên lạc, giúp nối gần mọikhoảng cách Năm 2013, số thuê bao Internet của tỉnh Lạng Sơn là 57.347 thuê bao,góp phần đáp ứng nhu cầu cập nhật thông tin thường xuyên

Chất lượng dịch vụ viễn thông nông thôn được nâng cao thông qua việc cáp quanghoá các tuyến truyền dẫn xuống xã và cụm xã, thay thế dần phương thức truyền dẫnhiện có như phương thức máy kéo dài với chất lượng liên lạc thấp

Hiện nay, nhu cầu liên lạc giữa Lạng Sơn với các vùng trong cả nước và quốc tếđược đáp ứng một cách dễ dàng và nhanh chóng, đặc biệt phục vụ cho hoạt động dulịch, thông tin liên lạc giữa các điểm, tuyến và khu du lịch không còn gì trở ngại Đây

là tiền đề quan trọng trong liên lạc, trao đổi, cung cấp và tìm kiếm thông tin du lịch

Ngày đăng: 25/11/2016, 19:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Số lượng và mật độ di tích tỉnh Lạng Sơn - Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn
Bảng 1.1 Số lượng và mật độ di tích tỉnh Lạng Sơn (Trang 12)
Bảng 1.2: Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch) - Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn
Bảng 1.2 Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch) (Trang 13)
Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP - Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn
Bảng 1.3 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP (Trang 15)
Hình 1.1: Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013 - Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn
Hình 1.1 Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013 (Trang 15)
Hình 2.1: Hiện trạng khách du lịch đến với Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014 - Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn
Hình 2.1 Hiện trạng khách du lịch đến với Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014 (Trang 24)
Hình 2.2: So sánh tình hình khách du lịch đến Lạng Sơn với các tỉnh trong khu - Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn
Hình 2.2 So sánh tình hình khách du lịch đến Lạng Sơn với các tỉnh trong khu (Trang 25)
Bảng 2.1: Hiện trạng về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai - Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn
Bảng 2.1 Hiện trạng về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai (Trang 27)
Hình 2.3: Doanh thu du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014 - Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn
Hình 2.3 Doanh thu du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014 (Trang 30)
Hình 2.5: Hiện trạng lao động du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2013 - Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn
Hình 2.5 Hiện trạng lao động du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2013 (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w