TTHC đã được điều chỉnh theo hướng đơn giản hơn, thuận lợi hơn, công khai và minh bạch hơn, tạo ra cách thức thực hiện công việc một cách khoa học, cải thiện một bước đáng kể mối quan hệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==========================
NGUYỄN THỊ CHÍN
XÂY DỰNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==========================
NGUYỄN THỊ CHÍN
XÂY DỰNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
MÃ SỐ: THÍ ĐIỂM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Ngọc Dinh
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của Tôi, các số liệu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực, khách quan, khoa học, nội dung Luận văn không trùng lặp với những công trình nghiên cứu trước đó
Các số liệu, kết quả do trực tiếp tác giả thu thập, thống kê và xử lý Các nguồn dữ liệu khác được tác giả sử dụng trong luận văn đều có ghi nguồn trích dẫn và xuất xứ
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Chín
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, từ khi hoàn thành đề cương đến giai đoạn viết và thực hiện Luận văn, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp Những sự giúp đỡ nhiệt tình đó đã tạo điều kiện thuận lợi và là động lực để tôi hoàn thành Luận văn theo kế hoạch Cho đến thời điểm này, Luận văn thạc sĩ với đề
tài: “Xây dựng chỉ số đánh giá hiệu quả cải cách Thủ tục hành chính tại
Ủy ban nhân dân cấp xã (nghiên cứu trường hợp các xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương)” của tôi đã hoàn thành Với tất cả sự biết ơn
sâu sắc và tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn của mình đối với PGS.TS Đặng Ngọc Dinh, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả các thầy cô giáo, giảng viên tại Khoa Khoa học quản lý, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cùng các đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua Kính chúc các thầy cô mạnh khỏe, công tác tốt
Cùng với đó, tôi cũng trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ và phối hợp của lãnh đạo huyện Kim Thành, lãnh đạo Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương để quá trình khảo sát tại địa phương được thực hiện thuận lợi và hiệu quả Đặc biệt cám ơn 100 cán bộ, công chức xã và hơn 200 người dân được lựa chọn ngẫu nhiên từ mọi tầng lớp dân cư đã tham gia vào quá trình trả lời phỏng vấn, điều tra khảo sát trong quá trình thực hiện đề tài luận văn và chia sẻ những kinh nghiệm thực
tế của mình trong quá trình tương tác giải quyết thủ tục hành chính với bộ
Trang 5máy hành chính nhà nước tại địa phương, đồng thời nêu lên những ý kiến
để công tác cải cách thủ tục hành chính tại địa phương được tốt hơn
Luận văn của tôi có những hạn chế nhất định, vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp, các bạn cùng khóa cao học và những người quan tâm đến vấn đề được đề cập trong Luận văn
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Chín
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CBCC
Ủy ban nhân dân Hành chính Nhà nước Quản lý Nhà nước Doanh nghiệp vừa và nhỏ Công nghệ thông tin
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.3a: Biểu đồ so sánh sự đánh giá hiệu quả CCTTHC của người dân xã Bình Dân với hiệu quả hoàn hảo 71 Biểu đồ 3.3b: Biểu đồ so sánh sự đánh giá hiệu quả CCTTHC của CBCC
xã Bình Dân với hiệu quả hoàn hảo 72 Biểu đồ 3.3c: Biểu đồ thể hiện sự đánh giá của người dân 73 Biểu đồ 3.3d: Biểu đồ thể hiện sự đánh giácủa CBCC về CCTTHC tại UBND xã trên địa bàn huyện Kim Thành 75 Biểu đồ 3.3e: Biểu đồ xếp hạng hiệu quả CCTTHC theo đánh giá của người dân các xã huyện Kim Thành 78 Biểu đồ 3.3g: Biểu đồ xếp hạng hiệu quả CCTTHC theo đánh giá của CBCC các xã huyện Kim Thành 79 Biểu đồ 3.3h: Biểu đồ xếp hạng tổng hợp chỉ số hiệu quả CCTTHC 79 các xã huyện Kim Thành 79
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu: 10
4 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Mẫu khảo sát : 10
6 Câu hỏi nghiên cứu: 11
7 Giả thuyết khoa học 11
8 Phương pháp nghiên cứu 12
9 Kết cấu của luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI UBND CẤP XÃ 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 13
1.1.1 Khái niệm đánh giá và chỉ số đánh giá 13
1.1.2 Ủy ban nhân dân cấp xã 15
1.2 Thủ tục hành chính 17
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục hành chính 17
1.2.2 Phân loại thủ tục hành chính 22
1.2.3 Các nguyên tắc của thủ tục hành chính 25
1.3 Cải cách thủ tục hành chính 28
1.3.1 Mục tiêu cải cách thủ tục hành chính 28
1.3.2 Yêu cầu đối với cải cách thủ tục hành chính 29
1.3.3 Ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính 31
Tiểu kết Chương 35
Trang 9CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI UBND CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG 36 2.1 Khái quát chung về huyện Kim Thành 36
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 36 2.1.2 Thành tựu nổi bật và những định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2020 37
2.2 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính tại UBND cấp xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh hải Dương 41 2.3 Thực trạng công tác đánh giá hiệu quả cải cách thủ tục hành chính tại UBND cấp xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương 47 2.4 Những khó khăn, vướng mắc của người dân khi làm thủ tục hành chính tại UBND xã 50 2.5 Sự cần thiết của việc xây dựng chỉ số đánh giá hiệu quả cải cách TTHC tại UBND xã trên địa bàn huyện Kim Thành, Hải Dương 53
2.5.1 Các bộ chỉ số đánh giá liên quan đến TTHC áp dụng ở huyện Kim Thành, Hải Dương 53 2.5.2 Sự cần thiết xây dựng chỉ số đánh giá hiệu quả cải cách TTHC cấp xã trên địa bàn huyện Kim Thành, Hải Dương 54
Tiểu kết Chương 2 57 CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI UBND CẤP
XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG 58 3.1 Tổng quan lý thuyết về xây dựng chỉ số đánh giá 58
3.1.1 Mục tiêu và phương thức đánh giá theo chỉ số 58
Trang 103.1.2 Tổng quan về các bộ chỉ số đánh giá liên quan đến TTHC ở
Việt Nam 58
3.2 Chỉ số đánh giá hiệu quả cải cách TTHC cấp xã, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương 64
3.2.1 Mục tiêu và phương thức đánh giá 64
3.2.2 Nội dung của chỉ số đánh giá 66
3.2.3 Chọn mẫu khảo sát 68
3.2.4 Lượng hóa và xử lý kết quả 68
3.3 Áp dụng bộ chỉ số trường hợp các xã thuộc huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương 69
3.3.1 Kết quả cụ thể xã Bình Dân 69
3.3.2 Tổng hợp kết quả của 10 xã thuộc huyện Kim Thành, tỉnh
Hải Dương 72
3.3.3 Xếp hạng các xã theo hiệu quả tổng hợp về CCTTHC 78
3.4 Ý nghĩa của bộ chỉ số đánh giá hiệu quả CCTTHC cấp xã 80
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 89
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới
ở nước ta Lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm Việc chuyển đổi từ nền kinh
tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu cần phải có một nền hành chính hiện đại, đủ sức đảm nhiệm công tác quản lý trong điều kiện mới của đất nước
Cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính (TTHC) nói riêng đã được thực hiện trên phạm vi toàn cầu nhằm mục đích giảm thiểu tính phức tạp của cơ chế điều tiết kế hoạch hóa tập trung và những gánh nặng không cần thiết của bộ máy hành chính, tăng cường khả năng cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế Những yêu cầu của hội nhập, những thách thức của cạnh tranh và các biến động kinh tế - xã hội trên quy
mô toàn cầu đòi hỏi Việt Nam phải tập trung đẩy mạnh cải cách TTHC, nâng cao chất lượng hệ thống thể chế để giải phóng nguồn lực xã hội, phát huy tính sáng tạo, thu hút đầu tư, tạo việc làm và phát triển bền vững Đây
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đã được xác định tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI
Trước yêu cầu đó, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước tiến hành cải cách hành chính và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính, trong đó cải cách thủ tục hành chính là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách
Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã chủ trương tập trung đẩy mạnh thực hiện cải cách TTHC hướng tới tăng cường tính công khai,
Trang 12minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình công vụ trong CBCC và cơ quan nhà nước, đồng thời đây được xem như là một biện pháp phòng chống tham nhũng hiệu quả nhất TTHC đã được điều chỉnh theo hướng đơn giản hơn, thuận lợi hơn, công khai và minh bạch hơn, tạo ra cách thức thực hiện công việc một cách khoa học, cải thiện một bước đáng kể mối quan hệ giữa
cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) với người dân và doanh nghiệp Bên cạnh những kết quả và chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực quản lý, TTHC trên một số lĩnh vực vẫn còn là rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân Nhiều quy định TTHC không phù hợp với thực tế nhưng chậm được phát hiện để điều chỉnh, sửa đổi kịp thời Ý tưởng “phục vụ nhân dân”, cung cấp phúc lợi cho người dân, đã và đang có nguy cơ trở thành “nhân dân phục vụ” trong tâm trí một số cán bộ quan liêu1 Thực trạng này đã gây phiền hà, khó khăn cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp, tạo cơ hội cho nhũng nhiễu, tiêu cực phát sinh, phát triển
Cam kết của Chính phủ trong việc cải thiện TTHC đã được tăng cường mạnh từ năm 2007 vào thời điểm ban hành Đề án đơn giản hoá TTHC trên các lĩnh vực quản lý nhà nước (QLNN) giai đoạn 2007-2010, được phê duyệt kèm theo Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của
Thủ tướng Chính phủ, với thông điệp là: “Xây dựng nền hành chính, công
vụ hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, thông suốt, nhạy bén, đáp ứng yêu cầu thực hiện Đẩy mạnh cải cách hành chính (CCHC), hoàn thiện thể chế và coi trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện Phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại và phản biện chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi Tập trung thực hiện đơn giản hoá TTHC, kiểm soát chặt chẽ và ban hành mới TTHC theo hướng tăng cường tính minh bạch, công khai,
1
“Có những chính sách đúng bị biến dạng qua nhiều tầng nấc của hành chính quan liêu”, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 8: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu
Trang 13sát thực tế”
Chủ trương cải cách TTHC của Chính phủ đã được triển khai đồng
bộ ở cả 3 cấp theo đúng hướng, đạt được những kết quả quan trọng Ngày 03/12/2012, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 1294/QĐ-
BNV phê duyệt Đề án “Xác định Chỉ số cải cách hành chính của các bộ,
cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” Mục tiêu cụ thể của đề án nhằm xác định được các lĩnh vực, tiêu
chí, tiêu chí thành phần của Chỉ số CCHC cấp bộ, cấp tỉnh theo đặc điểm, tính chất quản lý nhà nước của các bộ, các tỉnh; Xác định được thang điểm, phương pháp đánh giá cho các tiêu chí, tiêu chí thành phần, từ đó xác định được Chỉ số CCHC của từng bộ, từng tỉnh Đồng thời, xây dựng được bộ câu hỏi điều tra xã hội học theo từng nhóm đối tượng điều tra, khảo sát và hàng năm công bố Chỉ số CCHC của các bộ, các tỉnh Đối tượng áp dụng đối với Quyết định này là tất cả các Bộ, cơ quan ngang Bộ (trừ Văn phòng chính phủ), UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Nhìn chung, công cuộc cải cách TTHC trong những năm qua đã đạt được nhiều thành công nhưng cũng còn nhiều khiếm khuyết cần khắc phục
Để đánh giá được chất lượng cải cách TTHC cần có các chỉ số cụ thể Tuy nhiên, hiện nay, bộ công cụ này vẫn chưa được xác lập một cách cụ thể và chính xác Cải cách TTHC là một trong những nội dung quan trọng nhất của CCHC, TTHC vẫn còn gây nhiều phiền hà cho các tổ chức và người dân UBND cấp xã là cơ quan hành chính gần dân nhất, trực tiếp giải quyết các TTHC cần thiết cho người dân Tuy nhiên, công tác đánh giá hiệu quả thực hiện cải cách TTHC tại UBND cấp xã đến nay chưa có phương thức đánh giá thống nhất
Vì vậy, là một học viên được đào tạo và nghiên cứu về quản lý hành
chính nhà nước, tác giả chọn đề tài “Xây dựng chỉ số đánh giá hiệu quả
Trang 14thực hiện cải cách TTHC tại ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã (nghiên cứu trường hợp các xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương)”, nhằm đề xuất chỉ số dựa trên các tiêu chí và nhằm đánh giá một
cách cụ thể, chính xác về hiệu quả thực hiện cải cách TTHC tại UBND cấp
xã nói chung, UBND cấp xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương nói riêng
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cải cách thủ tục hành chính là đề tài đã được các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà quản lý nghiên cứu, thảo luận Các nghiên cứu về thủ tục hành chính được thực hiện dưới nhiều hình thức như: đề tài khoa học cấp Nhà nước, đề tài khoa học cấp Bộ, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các giáo trình môn học, các bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, các sách chuyên khảo Cho tới nay đã có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài luận văn Điển hình là các công trình nghiên cứu của các tác giả:
- PGS TSKH - Nguyễn Văn Thâm (chủ biên) – TS Võ Kim Sơn
(2002), Thủ tục hành chính – Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội: nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục hành chính; giới thiệu kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính của một số nước trên thế giới
- Trần Thanh Hương (2005), “Thủ tục hành chính và hoạt động của
cơ quan hành chính với việc bảo đảm quyền của công dân”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, tháng 10/2005: nghiên cứu vai trò và ý nghĩa của thủ
tục hành chính trong việc bảo đảm quyền của công dân
- GS TS Lê Hồng Hạnh (2007), “Cải cách hành chính và sự phát
triển của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO”, Tạp chí
Tổ chức Nhà nước, số 4/2007: nghiên cứu mối quan hệ giữa cải cách hành
Trang 15chính (CCHC) và sự phát triển của doanh nghiệp tiếp cận từ thủ tục hành chính; nhận diện những trở ngại của thủ tục hành chính đối với quyền của doanh nghiệp trong gia nhập thị trường, và những trở ngại của doanh nghiệp khi thực hiện quyền tự chủ của mình trong kinh doanh; từ đó đưa ra
tư duy cần được nhân rộng là tư duy hướng tới thủ tục hành chính vì doanh nghiệp
- Nguyễn Kim Cương (2007), Cải cách TTHC tại Ủy ban nhân dân xã
trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công,
Học viện Hành chính quốc gia: nghiên cứu việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội; chỉ ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm cải tiến quy trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực cụ thể
- Phan Thị Tố Oanh (2007), Cải cách thủ tục hành chính đối với việc
nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện
Hành chính quốc gia: nghiên cứu, đối chiếu thực trạng cải cách thủ tục hành chính với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp cải cách thủ tục hành chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của đất nước
- Lương Thị Phương Thúy (2010), Cải cách thủ tục hành chính theo
cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính Nhà nước địa phương (qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang), Luận văn thạc sĩ ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước
và pháp luật, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội: đưa ra cái nhìn tổng quan về cải cách hành chính trên thế giới; hệ thống các quan điểm và đánh giá quá trình thực hiện cải cách hành chính ở Việt Nam nói chung; chỉ ra
Trang 16những ưu điểm, thành tựu cũng như những tồn tại, hạn chế của quá trình cải cách thủ tục hành chính qua kinh nghiệm thực tiễn tỉnh Bắc Giang; từ
đó đề xuất những giải pháp để tăng cường hiệu quả cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta
- Nguyễn Thị Thanh (2011), Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa” tại một số Ủy ban nhân dân huyện tỉnh Quảng Ninh, Luận văn
thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia: đánh giá thực trạng cải cách TTHC, chỉ ra những vấn đề tồn tại trong cải cách TTHC, nguyên nhân của những tồn tại đó và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện công tác cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” tại một
số UBND huyện, thị xã tỉnh Quảng Ninh
- Võ Nguyên Khanh (2011), Đánh giá sự hài lòng của người dân đối
với dịch vụ hành chính công khi ứng dụng tiêu chuẩn ISO tại UBND Quận
1 Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, trường Đại học kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh: Đưa ra cơ sở lý thuyết về dịch vụ hành chính, đánh giá thực trạng cải cách hành chính và sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công tại Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh và từ đó đưa ra gợi ý chính sách nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận các vấn đề
lý luận và thực tiễn về cải cách TTHC, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy cải cách TTHC Đây là những kết quả quan trọng
để tác giả nghiên cứu, tiếp thu trong việc xây dựng những cơ sở lý luận cho
đề tài luận văn của mình Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ tiếp cận các vấn đề về lý luận và CCHC nói chung, mô tả thực trạng và giải
Trang 17pháp cho các vấn đề liên quan đến CCHC hay hành chính công, chưa đưa
ra được kết quả đánh giá cụ thể về hiệu quả của CCHC và cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc đánh giá hiệu quả cải cách TTHC tại UBND cấp xã Luận văn đã giải đáp được khoảng trống của những nghiên cứu trên, đưa ra được sự đánh giá định tính về hiệu quả của cải cách TTHC tại UBND cấp xã
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Xây dựng Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả cải cách TTHC tại UBND cấp
xã, nghiên cứu trường hợp các xã thuộc huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, nhằm đề xuất một phương pháp định lượng đo lường sự hài lòng của người dân và đánh giá của CBCC về hiệu quả của công tác CCTTHC tại UBND cấp xã
Trang 186 Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi chủ đạo: Bộ chỉ số gồm các tiêu chí nào để đánh giá hiệu quả
thực hiện Cải cách TTHC tại UBND cấp Xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương?
- Câu hỏi cụ thể:
cách TTHC tại UBND cấp Xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương ?
+ Việc áp dụng bộ chỉ số đó có đánh giá được hiệu quả thực hiện Cải cách TTHC tại UBND cấp Xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương không?
+ Áp dụng bộ chỉ số đó như thế nào để có thể đánh giá hiệu quả thực hiện Cải cách TTHC tại UBND cấp Xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương ?
7 Giả thuyết khoa học
- Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thực hiện cải cách TTHC được xây dựng theo
- Việc triển khai áp dụng bộ chỉ số đánh giá được phân tích chi tiết bằng những tiêu chí cụ thể và lượng hóa bằng số điểm
Trang 198 Phương pháp nghiên cứu
các tài liệu, lý luận khác nhau thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng
tượng trên diện rộng để phát hiện các quy luật phân bố và các đặc điểm của đối tượng
cách có hệ thống để thu thập thông tin đối tượng Có 2 loại quan sát khoa học là quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp
- Phương pháp thu thập thông tin: là phương pháp dựa trên nguồn thông tin
sơ cấp và thứ cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ để chứng minh giả thuyết
- Phương pháp chuyên gia, điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp: + Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với lãnh đạo xã, các trưởng ban chuyên môn, một số công chức xã nhiều kinh nghiêm
+ Phỏng vấn người dân (theo bảng hỏi)
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày với 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng Chỉ số đánh giá hiệu quả cải cách thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân cấp xã
Chương 2: Thực trạng đánh giá cải cách thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
Chương 3: Đề xuất xây dựng Chỉ số đánh giá hiệu quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
Trang 20PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI
UBND CẤP XÃ 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm đánh giá và chỉ số đánh giá
a) Khái niệm về Đánh giá
Khái niệm về đánh giá đã tồn tại cách đây rất lâu, ở Trung Quốc đã
có hệ thống đánh giá chức năng 2000 năm trước công nguyên Đánh giá có thể đồng nghĩa với các trắc nghiệm, mô tả các tài liệu hoặc thậm chí là quá trình quản lý, nhiều định nghĩa về đánh giá đã được đưa ra, song định nghĩa
toàn diện nhất chỉ ra rằng đánh giá là “những điều tra hệ thống về giá trị
hoặc giới hạn của một đối tượng” Đây là định nghĩa của Ủy ban hợp tác
về các tiêu chuẩn đánh giá giáo dục (1994) Định nghĩa này chú trọng vào mục đích của sự đánh giá Theo đó, đánh giá cần được tiến hành theo các lý
do liên quan đến hoạt động và thông tin thu được phải hỗ trợ quyết định hoạt động hoặc quá trình hoạt động
Đánh giá là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có kết quả
Đánh giá thường xuyên cung cấp cái nhìn mới hoặc những thông tin mới mà trước đây chưa được dự tính Nó là quá trình mà qua đó ta quy cho đối tượng một giá trị nào đó
Quan điểm hiện nay về đánh giá (Evaluation) là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đo lường được qua các kỳ kiểm tra/lượng giá (assessement) trong quá trình và kết thúc bằng cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trước đó trong các mục tiêu
Trang 21Như vậy, có thể hiểu đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định,
xác nhận giá trị thực trạng về: mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển, những kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại đang xét so với mục tiêu hay những chuẩn mực
đã được xác lập
Mặt khác, có thể nói đánh giá là việc xem xét một hoạt động bên trong hoặc bên ngoài để đánh giá hiệu quả, hiệu suất hoặc quá trình can thiệp thông qua việc sử dụng có hệ thống các quy trình nghiên cứu xã hội Nếu can thiệp không tạo được thay đổi mong đợi, đánh giá thường sẽ xác định những rào cản tác động đến năng lực thực hiện và sử dụng các bài học rút ra được cho các can thiệp tiếp theo
Có 5 tiêu chí phổ biến được sử dụng trong đánh giá bao gồm (1) tính phù hợp; (2) hiệu suất; (3) hiệu quả; (4) tác động; và (5) tính bền vững Chỉ số là linh hồn của đánh giá Vậy chỉ số và chỉ số đánh giá là gì?
b) Khái niệm về Chỉ số đánh giá
Để hiểu rõ khái niệm về chỉ số, trước tiên cần hiểu khái niệm về tiêu
chí (criterion) là các yêu cầu, chuẩn mực được đề ra để kiểm định hay đánh
giá một đối tượng Các yêu cầu thường về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng, tuân thủ các qui tắc và qui định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó
Tiêu chí còn có thể là các tính chất, dấu hiệu mang tính đặc trưng để nhận biết, xem xét hay đánh giá một đối tượng Đặc điểm khi xây dựng tiêu chí là phản ánh quan điểm của chủ thể Vì vậy nó cần mang tính khách quan, khoa học và thúc đẩy phát triển bền vững
Chỉ số là một biến định lượng hoặc định tính cung cấp một phương
tiện đơn giản và đáng tin cậy để đo lường phản ánh những thay đổi liên
quan đến một sự can thiệp Theo Cẩm nang theo dõi và đánh giá - Mođun
Trang 22thực hành theo dõi (tài liệu của Chính phủ VIệt Nam do Vụ Kinh tế đối
ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo năm 2006): Chỉ số có thể được gọi
đơn giản hơn là Thước đo sự thay đổi Có 2 loại chỉ số thường được đề cập
đến và ít nhiều còn gây gây tranh cãi: (1) Chỉ số thông thường (indicator) -
là loại chỉ số đúng như định nghĩa nêu trên, đơn giản và đo lường trực tiếp Chỉ số này thường được yêu cầu phải: đơn giản; đo lường được; có thể quy chiếu; phù hợp; và kịp thời (SMART - Simple; Measurable; Attributable; Relevant; Timely); (2) Chỉ số tổng hợp: (Index) - là các chỉ số được tổng hợp theo những công thức nhất định từ các chỉ số thành phần (ví dụ như PCI - chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; PAPI – chỉ số hiệu quả quản trị
và hành chính công cấp tỉnh)
Như vậy, có thể hiểu Chỉ số đánh giá là tổng hợp các tiêu chí thành phần Các tiêu chí thành phần được đánh giá theo cách tổng hợp lại theo định lượng có điểm số Sự định lượng có thể do hội đồng đánh giá cho điểm, hoặc người được hỏi cho điểm,
1.1.2 Ủy ban nhân dân cấp xã
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “UBND là cơ quan chính quyền
nhân dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được lập ra ở các cấp xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện; huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”
Theo từ điển luật học: “UBND là tên gọi của các cơ quan chấp hành
của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”
phương do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.”
Điều 2 Luật tổ chức của HĐND và UBND năm 2003 quy định: “Uỷ
Trang 23ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên”
Theo đó, UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do HĐND cấp xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước HĐND cấp xã và
cơ quan nhà nước cấp trên về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Như vậy, UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có thẩm quyền chung, hoạt động với tư cách:
Cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp;
Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương;
Là cơ quan chấp hành của HĐND cấp xã: UBND cấp xã chịu sự giám sát của HĐND cấp xã, chịu trách nhiệm và báo cáo các hoạt động của mình trước HĐND cấp xã
Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: UBND cấp xã có nhiệm vụ triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội
và dân cư trên địa bàn
UBND cấp xã chính là đầu mối giải quyết các công việc thường ngày của nhân dân và có quan hệ trực tiếp và gắn bó mật thiết với nhân dân, là cầu nối để chuyển tải mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Vì vậy mà hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã có ảnh hưởng rất lớn tới sự thành công của các chủ trương, chính sách được hoạch định từ cấp trên và quyền, lợi ích của nhân dân trên địa bàn
Trang 241.2 Thủ tục hành chính
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục hành chính
1.2.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính
(procedure) là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình
thủ tục được hiểu là những việc phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức Một thủ tục là một loạt các hành động hoặc hoạt động đã được thực thi trong cùng một cách thức để
khoa học pháp lý, khái niệm “thủ tục” thường được áp dụng ở khía cạnh thực hiện quy phạm của luật vật chất Theo cách nói của Mác, thủ tục là hình thức sống của đạo luật và luật vật chất có hình thức thủ tục riêng của nó Chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau trong cặp phạm trù nội dung - hình thức Vì vậy, thủ tục ở đây được hiểu là trình tự thực hiện hành động
Có thể xem xét TTHC dưới những góc độ khác nhau, Khoa học Luật Hành chính hiện nay chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm TTHC Một trong những vấn đề về TTHC gây nhiều tranh luận trong khoa học luật hành chính là việc xác định phạm vi của TTHC
Trong quan hệ với pháp luật, TTHC là một bộ phận cấu thành của thể chế hành chính TTHC là những quy phạm hình thức, có chức năng làm cho các quy phạm nội dung của luật pháp được thực hiện Trong hoạt động HCNN, TTHC là cách thức thực hiện thẩm quyền của cơ quan HCNN
2
PGS.TSKH Nguyễn Văn Thâm, TS Võ Kim Sơn (2002), Thủ tục hành chính – Lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
3
Nguyễn Như Ý (1999), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội
4
Trang 25Trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, TTHC là cách thức được áp dụng để xử lý các mối quan hệ khi Nhà nước thực hiện trách nhiệm và thẩm quyền theo luật định giải quyết yêu cầu của người dân, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân
TTHC là sự thiết lập các thao tác QLNN theo những trình tự, quy trình nhất định của cơ quan HCNN đáp ứng những loại dịch vụ hành chính khác nhau mà người dân cần tới sự cung cấp một cách tốt nhất (dễ dàng, đơn giản và đem lại sự hài lòng của người dân) Nói cách khác, TTHC là cách mà cơ quan công quyền phục vụ người dân từ trách nhiệm nhân dân giao cho họ5
đưa ra khái niệm: TTHC là trình tự, cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ hành chính và mối quan hệ giữa cơ quan HCNN với tổ chức, công dân
Theo Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về Kiểm soát thủ tục hành chính, TTHC là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ
và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định
để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức
Mặc dù khái niệm TTHC không hoàn toàn giống nhau, nhưng giữa chúng không có sự khác nhau về bản chất
Tóm lại, TTHC là trình tự các bước tiến hành công việc thuộc chức năng QLNN của một cơ quan HCNN Trong đó, trình tự về thời gian, không gian, cách thức và các bước tiến hành công việc giữa cơ quan HCNN với công dân, tổ chức gọi là TTHC giữa nhà nước với tổ chức, công
5
GS.TS Nguyễn Hữu Khiển (2006), Luận về thủ tụ hành chính hiện nay, Tạp chí Quản lý Nhà nước, Học
viện Hành chính quốc gia, số 2/2006
Trang 26dân Thông qua đó, cá nhân, tổ chức được thực hiện và được đảm bảo các quyền tự do hiến định và luật định TTHC vừa là công cụ thực hiện chức năng QLNN của cơ quan HCNN, vừa là điều kiện để công dân, tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
1.2.1.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính
* Đặc điểm chung của thủ tục hành chính
TTHC là một bộ phận cấu thành của ngành luật hành chính, là một thành tố của nền HCNN được thực hiện trên mọi lĩnh vực QLNN nhằm thiết lập trật tự quản lý TTHC được coi là một công cụ đắc lực trong quản
lý HCNN, giúp các cơ quan nhà nước thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ quản
lý Các TTHC nói chung có những đặc điểm sau đây:
Một là,, TTHC được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật
TTHC do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng các văn bản QPPL thống nhất trên phạm vi toàn quốc TTHC là một nhân tố bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi và đúng chức năng quản lý của cơ quan nhà nước, vì nó là những quy định chuẩn mực cho công dân và công chức nhà nước để họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước Mọi hoạt động QLHC đều phải được trật tự hóa, tức là phải được tiến hành bằng những trình tự thủ tục nhất định
TTHC là hình thức của quy phạm vật chất; phát sinh từ quy phạm
vật chất, là phương tiện bảo đảm thực hiện quy phạm vật chất
Hai là, TTHC là trình tự thực hiện thẩm quyền trong quản lý HCNN
TTHC được phân biệt với thủ tục của tòa án và phần lớn nằm ngoài thẩm quyền của tòa án TTHC do cơ quan HCNN áp dụng trong quá trình giải quyết công việc thuộc chức năng, thẩm quyền của các cơ quan đó và cũng chỉ khi giải quyết các công việc nhất định tại các cơ quan hành chính mới phát sinh TTHC TTHC diễn ra theo trật tự, theo các bước nhất định,
Trang 27nó chính là trình tự thực hiện thẩm quyền trong QLNN So với thủ tục tố tụng, TTHC do nhiều cơ quan và công chức nhà nước thực hiện và do tính chất hoạt động quản lý nên ngoài những khuôn mẫu ổn định tương đối, TTHC phải chứa đựng biện pháp tùy nghi Ngược lại, thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm tính đúng đắn của các quyết định xét xử nên nó phải rất chặt chẽ
Ba là, TTHC rất đa dạng, phức tạp
Tính chất đa dạng, phức tạp của TTHC thể hiện ở chỗ hoạt động QLNN là hoạt động diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội Bộ máy hành chính lại bao gồm nhiều cơ quan từ trung ương đến địa phương
và mỗi cơ quan khi thực hiện hoạt động quản lý trong thẩm quyền của mình đều phải tuân theo những thủ tục nhất định Mặt khác, TTHC giải quyết các công việc của Nhà nước và công việc có liên quan đến quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân, do vậy, đối tượng công việc cần thực hiện TTHC để giải quyết thường không giống nhau và rất phức tạp
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, đối tượng quản lý của nó là đời sống dân sự muôn hình, muôn vẻ, và không chỉ giới hạn trong phạm vi nội bộ công dân trong nước mà còn liên quan đến yếu tố nước ngoài TTHC ở các nước có sự tác động qua lại lẫn nhau, nhất là trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, đầu tư, thương mại dịch vụ…
Bốn là, TTHC có tính năng động
So với quy phạm nội dung của Luật hành chính, TTHC có tính năng động hơn, và đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn khi thực tế có những yêu cầu mới Các TTHC thường không ổn định Đó là sự vận động tất yếu của xã hội do các thay đổi thường xuyên diến ra trong đời sống xã hội Lấy một ví
dụ với các tiêu chuẩn ISO, việc rà soát, xem xét lại các quy trình sau một thời gian vận hành còn là một yêu cầu bắt buộc để đánh giá xem các quy trình đã hợp lý chưa, có cần phải thay đổi gì không Đó là quy luật của sự
Trang 28vận động
* TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý của UBND cấp xã
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp xã, bộ TTHC của UBND cấp xã đăng tải trên Website Thủ tục hành chính Hải Dương gồm các lĩnh vực sau:
1) vực giáo dục và đào tạo
2) Lĩnh vực xây dựng
3) Lĩnh vực văn hóa thể thao và du lịch
4) Lĩnh vực nội vụ
5) Lĩnh vực tài nguyên môi trường
6) Lĩnh vực lao động thương binh và xã hội
7) Lĩnh vực giải quyết khiếu nại tố cáo
cơ quan QLNN sử dụng để thực hiện chức năng quản lý của mình
TTHC là cơ sở pháp lý hình thành trật tự trong hoạt động QLNN Nó chính là chất keo kết dính mọi yếu tố và sự vận hành của các yếu tố cấu thành nền hành chính, là chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan nhà nước với người dân và các tổ chức, có khả năng làm bền chặt các mối quan hệ trong quá trình quản lý, làm cho nhà nước ta thực sự là “Nhà nước của dân,
do dân, vì dân”
TTHC là cơ sở vững chắc để các chủ thể tiến hành thực hiện hoạt động giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng của mình, là chuẩn mực để đánh giá và đồng thời đảm bảo tính hợp pháp của quá trình thực
Trang 29hiện các nhiệm vụ công vụ Nhờ đó mà hoạt động QLNN được đảm bảo theo tinh thần công khai, minh bạch và tuân thủ nguyên tắc pháp chế
TTHC có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện các lợi ích xã hội khác nhau đảm bảo sự kết hợp hài hòa và quyền ưu tiên các lợi ích của Nhà nước
và công dân trong khuôn khổ pháp luật quy định TTHC chuyên chở các quy định của pháp luật vào thực tế, nếu các quy định về quyền, lợi ích của người dân là chiếc xe, thì TTHC là con đường cho chiếc xe đó Thông qua TTHC, cá nhân, tổ chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của mình, đồng thời các cơ quan HCNN thực hiện chức năng QLNN Chính vì thế, cải cách TTHC không chỉ là vấn đề đến pháp luật, pháp chế mà còn có tác động quan trọng đến các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập và phát triển đất nước hiện nay; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nâng cao hình ảnh và vị thế của quốc gia trên trường quốc tế
TTHC còn có ý nghĩa góp phần làm tăng năng lực của hệ thống hành chính và sức mạnh của hệ thống chính trị Giá trị của TTHC thể hiện với tư cách là một bộ phận trong hệ thống hành chính công, giúp xã hội vận hành tốt hơn để đạt được tiến bộ Dưới giác độ chức năng, TTHC còn thể hiện tính nhân đạo, tính nhân dân sâu sắc của QLNN Về bản chất, giá trị TTHC
tỷ lệ thuận với giá trị văn hóa trong đời sống: thủ tục càng đơn giản, công khai, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện thì văn minh hành chính, văn hóa công sở càng cao, và ngược lại
1.2.2 Phân loại thủ tục hành chính
Phân loại TTHC là một hoạt động khoa học nhằm phân chia các loại thủ tục theo từng nhóm theo những tiêu chí nhất định Việc phân loại TTHC trước hết phục vụ các hoạt động nghiên cứu và đào tạo trong khoa học hành chính, nhất là ngành Luật hành chính Ngoài ra, phân loại TTHC còn có ý nghĩa trong hoạt động quản lý hành chính, giúp cho người quản lý
Trang 30xác định được tính đặc thù của lĩnh vực mình phụ trách, từ đó đề ra những yêu cầu xây dựng và hoàn thiện các TTHC nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN
Theo các tiêu chí khác nhau, và tùy thuộc vào phạm vi đối tượng nghiên cứu, TTHC được phân chia thành nhiều nhóm Tiêu chí của việc phân loại TTHC có thể là mục đích của thủ tục; hoặc theo tính chất, nội dung công việc cụ thể của từng cơ quan nhà nước; theo đối tượng quản lý HCNN; theo chức năng cung cấp dịch vụ trong QLNN; theo quan hệ công tác…
Tuy nhiên, việc phân loại, xác định cụ thể các loại TTHC cũng không đơn giản Có khá nhiều cách phân loại TTHC khác nhau
* Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước: Nghị quyết
38-CP của Chính phủ ngày 04/5/1994 về cải cách một bước TTHC là cơ sở
để thực hiện cách phân loại này Theo cách này, các TTHC được xác định cho từng lĩnh vực QLNN và được phân chia theo cơ cấu chức năng của bộ máy quản lý hiện hành Ví dụ, thủ tục trong xây dựng cơ bản, thủ tục trước
bạ, thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục hải quan, thủ tục vay vốn, v.v…
* Phân loại theo công việc cụ thể của từng cơ quan nhà nước: Đặc
điểm của các loại thủ tục này là gắn liền với hoạt động cụ thể của các cơ quan, phản ánh tính đặc thù trong quá trình vận hành các thủ tục đó vào thực tiễn Ví dụ: Thủ tục thông qua và ban hành văn bản trong các cơ quan; thủ tục xét và quyết định về thi đua, khen thưởng; thủ tục tuyển dụng cán bộ, công chức, thủ tục chuyển ngạch; thủ tục kiểm tra công việc được giao, v.v…
* Phân loại theo chức năng cung cấp dịch vụ trong quản lý nhà nước: Thuộc loại này bao gồm các thủ tục cung cấp dịch vụ công như: thủ
tục cung cấp các dịch vụ thông tin; thủ tục cho phép xuất khẩu các nguyên liệu hiếm; thủ tục kiểm tra mức độ an toàn trong lao động, v.v…
* Phân loại dựa trên quan hệ công tác: Cách phân loại này thường
Trang 31được gọi là phân loại theo tính chất quan hệ TTHC Theo tiêu chí này, TTHC được chia thành ba nhóm, đó là: TTHC nội bộ, TTHC thực hiện thẩm quyền (TTHC liên hệ), và TTHC văn thư
TTHC thuộc phạm vi chức năng QLNN của UBND cấp xã là loại TTHC thực hiện thẩm quyền
TTHC thực hiện thẩm quyền: Là thủ tục tiến hành giải quyết các
công việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; phòng ngừa, ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính; trưng thu, trưng mua các động sản và bất động sản của tổ chức và công dân khi nhà nước có yêu cầu giải quyết nhiệm vụ nhất định vì lợi ích cộng đồng Việc xây dựng
và thực hiện các thủ tục này phụ thuộc vào quan niệm về mối quan hệ giữa nhà nước và người dân, về vai trò của nhà nước trong quản lý TTHC liên
hệ ảnh hưởng rõ rệt tới hiệu quả quản lý, và người dân đánh giá thái độ, năng lực hoạt động của chính quyền chủ yếu thông qua việc thực hiện các thủ tục này
TTHC thực hiện thẩm quyền gồm: thủ tục cho phép, thủ tục ngăn cấm hay cưỡng chế thi hành, thủ tục trưng thu, trưng mua, trưng dụng
- Thủ tục cho phép: đây là loại thủ tục giải quyết các yêu cầu, đề nghị của công dân hoặc tổ chức Trong trường hợp công dân muốn thực hiện các hành vi phải xin phép nhà nước Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành xem xét và giải quyết các đơn xin đó bằng cách ra một quyết định hành chính cá biệt cho phép Quá trình giải quyết này luôn phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định
- Thủ tục ngăn cấm hay cưỡng chế thi hành: đây là loại thủ tục khi công dân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính hay cố tình không thi hành các quyết định hành chính thì các cơ quan hành chính hoặc công chức có thẩm quyền được thực hiện các biện pháp ngăn chặn, xử phạt hay
Trang 32cưỡng chế thi hành bằng quyết định hành chính Quá trình này phải theo các điều kiện, thủ tục do pháp luật quy định
- Thủ tục trưng thu, trưng dụng: trong một số trường hợp theo luật định, cơ quan hành chính có thẩm quyền được thực hiện quyền trưng thu, trưng dụng (trong tình thế cấp bách), trưng mua (trong trường hợp cần ưu tiên vì lợi ích công cộng) Việc thực hiện này cũng phải theo một trình tự
đã được pháp luật quy định Các thủ tục thuộc nhóm này gồm: thủ tục xem xét kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo của công dân; thủ tục giải quyết các yêu cầu của các cơ quan, tổ chức khác của nhà nước; thủ tục áp dụng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành chính; thủ tục xử phạt vi phạm hành chính; thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính…
1.2.3 Các nguyên tắc của thủ tục hành chính
Xây dựng TTHC là nghiên cứu để đề ra những cách thức giải quyết công việc nhằm thực hiện các quy định nội dung của luật pháp và đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế Muốn quản lý hành chính nhà nước có hiệu quả, các cơ quan quản lý nhà nước cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu mang tính nguyên tắc về xây dựng, thực hiện và giám sát TTHC Những nguyên tắc này có thể trực tiếp liên quan đến việc xây dựng văn bản QPPL (ví dụ như quy định về các loại văn bản QPPL và thẩm quyền trình tự ban hành chúng), nhưng cũng có thể chỉ được quy định trên những nguyên tắc chung
và đòi hỏi phải được cụ thể hóa bằng các văn bản QPPL luật khác Sau đây
là một số nguyên tắc chủ yếu cần được áp dụng thống nhất trong việc thực hiện thủ tục hành chính:
- Nguyên tắc thẩm quyền
Chỉ có cơ quan nhà nước, công chức nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định mới được thực hiện các TTHC nhất định và phải thực hiện đúng trình tự với những phương tiện, biện pháp và hình thức được
Trang 33pháp luật cho phép: TTHC được thực hiện bằng phương tiện vật chất của Nhà nước là chủ yếu và trên cơ sở tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
Các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ thực hiện đúng đắn các quy tắc và TTHC: chính các cơ quan nhà nước đề ra các thủ tục để giải quyết công việc trên nguyên tắc phù hợp với chức năng quản lý được giao và theo thẩm quyền do pháp luật quy định, do đó cũng có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục đã được ban bổ
Nghĩa vụ thực hiện TTHC đòi hỏi có những quy định rõ ràng về chế
độ công vụ và quy chế làm việc để tránh tình trạng vô trách nhiệm trong công tác, nhằm giảm bớt phiền hà cho nhân dân trong quá trình giải quyết công việc có liên quan đến công dân nhà nước phải quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, công chức trong việc tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu kiện của công dân để đảm bảo yêu cầu không đùn đẩy trách nhiệm từ
cơ quan, đơn vị, cá nhân này sang cơ quan, đơn vị, cá nhân khác
Nguyên tắc thẩm quyền còn liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền: các quyết định ban hành không đúng thủ tục phải bị đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ và cơ quan, người ban hành các quyết định đó có thể bị truy cứu trách nhiệm
- Nguyên tắc chính xác, khách quan, công minh
Tính chính xác, khách quan khi thực hiện thủ tục hành chính thể hiện
ở việccác chủ thể thực hiện thủ tục phải có đủ tài liệu, chứng cứ và có thẩm quyền đòi hỏi việc giải trình, cung cấp thông tin áp dụng các biện pháp cần thiết Các cá nhân, tổ chức hữu quan trong tham gia TTHC phải
có trách nhiệm cung cấp thông tin, tư liệu cần thiết để các chủ thể thực hiện tiến hành TTHC giải quyết công việc được thuận lợi
Trang 34- Nguyên tắc công khai hóa TTHC
Các TTHC phải được công khai hóa để nhân dân biết và được tiến hành công khai theo luật định, trừ những trường hợp pháp luật quy định phải bí mật theo quy định phải bí mật theo quy định chung hoặc theo đề nghị của các bên tham gia thủ tục Bên cạnh đó TTHC phải rõ ràng Đây là một nguyên tắc quan trọng vì sự thiếu rõ ràng của hệ thống TTHC trong việc giải quyết các nhu cầu, đề nghị của công dân, tổ chức gây nhiều khó khăn cho công dân, tổ chức khi đến cơ quan quản lý nhà nước để xin giải quyết một vấn đề nào đó Sự không rõ ràng của thủ tục hành chính cũng nảy sinh tiêu cực trong thực hiện TTHC Bởi vì người dân không biết mình phải thực hiện những quy định gì, các quy định đó được giải quyết ở đâu?
Do sự không rõ ràng này mà trong quá trình tiến hành thẩm định các dự án, các nhà quản lý đã lợi dụng làm ăn không hợp pháp hoặc gây ra sự chậm trễ trong quá trình phê duyệt TTHC rõ ràng đòi hỏi TTHC phải được xây dựng một cách khoa học, hợp lý, dễ hiểu và dễ thực hiện
- Nguyên tắc các chủ thể quan hệ TTHC bình đẳng trước pháp luật
Các bên tham gia TTHC bình đẳng trước pháp luật là yêu cầu đối với các cơ quan nhà nước phải quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện do luật định và phải
ra lệnh đối với các bên hữu quan để đảm bảo quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia được thực hiện đầy đủ Cần giải quyết nhanh chóng
và gọn các yêu cầu của công dân và tổ chức, đồng thời tăng cường sự quản
lý của các cơ quan nhà nước để tránh sơ hở và sự lợi dụng TTHC từ phía
cơ quan nhà nước và công chức có thẩm quyền gây phiền hà cho dân
- Nguyên tắc đơn giản, tiết kiệm
TTHC được thực hiện đơn giản, tiết kiệm Trước hết các TTHC cần giảm bớt các cấp, các cửa, các giai đoạn, tăng quyền, đồng thời với trách
Trang 35nhiệm cơ quan thực hiện thủ tục Theo đó giảm tới mức tối thiểu và trong nhiều thủ tục bỏ hẳn các loại phí, lệ phí đối với công dân và tổ chức
- Học hỏi các quốc gia khác: cải cách TTHC cần tăng cường học hỏi
kinh nghiệm từ các nước khác Ai Cập học tập Ấn Độ về các kinh nghiệm
áp dụng CNTT, Columbia học tập Ailen Ả Rập Xê Út học hỏi mô hình luật công ty của Pháp, v.v…
Cải cách TTHC nhằm rà soát nhiều quy định một cách nhanh chóng trên các tiêu chí về tính hợp pháp, tính hợp lý, sự cần thiết và thân thiện với người dân và doanh nghiệp; bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của TTHC; tạo sự thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện TTHC; nâng cao tính chuyên nghiệp của bộ máy; nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần phòng, chống tham nhũng và lãng phí
Các mục tiêu tĩnh: cải cách TTHC đạt được kết quả thực hiện tốt hơn
với chi phí thấp hơn; giảm rào cản gia nhập thị trường trong nước; các quy
Trang 36định của quốc gia phù hợp với các quy định quốc tế; giảm chi phí kinh doanh; giảm các rủi ro về quy định TTHC
Các mục tiêu trung gian: cải cách TTHC tạo lập môi trường pháp lý
minh bạch và ổn định hơn; đầu tư nước ngoài tăng hơn; tạo nhiều việc làm hơn; mức đổi mới cao hơn; nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế
Các mục tiêu mang tính bền vững: cải cách TTHC góp phần tạo nền
kinh tế ổn định hơn, linh hoạt hơn; năng suất tăng hơn và thu nhập thực tế cao hơn, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao phúc lợi người dân, phát triển công bằng xã hội; thích nghi nhanh hơn với các thị trường thay đổi (rủi ro của việc mở cửa các thị trường thấp hơn); tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN, giúp các hoạt động của chính phủ có hiệu quả hơn, tạo ra các dịch vụ công tốt hơn; xu hướng tăng trưởng GDP cao hơn
Cải cách TTHC nhằm hướng tới việc hoàn thiện TTHC Các TTHC sau khi đơn giản hóa sẽ đạt được năm tiêu chí sau đây:
(1) Có mục tiêu: Tập trung vào vấn đề chính sách cần giải quyết và giảm thiểu các tác động không mong muốn
(2) Cân xứng: Chỉ áp dụng khi cần và khi lợi ích cân xứng với rủi ro
từ vấn đề chính sách
(3) Giải trình rõ ràng: CBCC chịu trách nhiệm trước đối tượng chịu
sự điều chỉnh của TTHC và người có thẩm quyền trao quyền thực hiện TTHC
(4) Minh bạch: Dựa trên việc lấy ý kiến và phản hồi của các bên liên (5) Thống nhất: Phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành
1.3.2 Yêu cầu đối với cải cách thủ tục hành chính
Tính linh hoạt và điều chỉnh nhanh hơn: Cải cách TTHC nhằm
hướng tới giải quyết sự thiếu tính linh hoạt và đổi mới về mặt cung của nền kinh tế - những yếu tố góp một phần vào hạn chế đối với sự tăng trưởng,
Trang 37làm giảm năng lực cạnh tranh Những ảnh hưởng tích cực của đơn giản hóa TTHC sẽ cho phép các nền kinh tế điều chỉnh nhanh hơn với những thay đổi về mặt công nghệ, và cải thiện sự cân bằng giữa các yếu tố về lạm phát,
tăng trưởng và tỷ lệ thất nghiệp
Đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế mở: Nền kinh tế mở, đổi mới
và cạnh tranh cần có một hệ thống quy định TTHC với chi phí thấp và cải thiện môi trường kinh doanh, đảm bảo khả năng tiếp cận và thực hiện TTHC của doanh nghiệp và người dân một cách đơn giản, thuận lợi
Giảm rủi ro về quy định thủ tục hành chính: Rủi ro về quy định
TTHC làm giảm cả số lượng và giá trị đầu tư, hạn chế đầu tư của các doanh nghiệp trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài Môi trường hành chính/pháp luật của các hoạt động kinh tế càng bất ổn và rủi ro, thì các khoản đầu tư tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn sẽ thay thế các khoản đầu tư dài hạn trong một môi trường cạnh tranh Vì vậy, TTHC cần được đơn giản theo hướng giảm rủi ro cho các đối tượng thực hiện Xu hướng chính về đơn giản hóa TTHC hiện nay là giúp các thị trường mang lại sự giàu có cho
xã hội, giúp các chính phủ tạo ra các dịch vụ công (sự điều hành tốt)
Hướng tới thủ tục hành chính hiện đại: Hệ thống TTHC hiện đại thể
hiện ở năm đặc điểm sau đây:
(1) Tính bảo đảm: tính bảo đảm về mặt pháp lý, tính trung lập trên thị trường, sự nhất quán về các giải pháp cho thị trường, việc thực thi luật
Trang 38(4) Tính hiệu quả: Chi phí thấp, quyết định kịp thời, có trật tự, linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của thị trường
(5) Tính tinh thông: Các kỹ năng lập quy tốt và sự hiểu biết về công nghệ và các thị trường phức tạp
1.3.3 Ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính
1.3.3.1 Thúc đẩy cải cách thể chế hành chính
Nền hành chính nhà nước bao gồm bốn yếu tố (nội dung) là: thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính, đội ngũ CBCC, và tài chính công, thì TTHC trước hết thuộc về yếu tố thể chế, tức là yếu tố pháp luật trong quản lý HCNN
Mặc dù TTHC có tính độc lập tương đối, có sự tách biệt nhất định so với pháp luật nội dung, nhưng trên thực tế, nếu các TTHC phù hợp sẽ tạo điều kiện cho các pháp luật nội dung (các thể chế) phát huy tác dụng, điều chỉnh có hiệu quả các mối quan hệ xã hội; ngược lại nếu các TTHC không phù hợp sẽ cản trở việc thực hiện pháp luật trong đời sống
Cải cách TTHC được xác định là bước khởi đầu của cải cách thể chế,
là một bộ phận của việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và là công
cụ hữu hiệu trong việc thúc đẩy quá trình chuyển đổi và phát triển nền kinh
tế thị trường Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng đơn giản hóa TTHC của Việt Nam như một điểm sáng về cải cách trong khu vực
và mở ra cơ hội hợp tác giữa OECD và các nước ASEAN trong lĩnh vực cải cách thể chế
Như vậy, một phương hướng quan trọng để hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay, trong đó đặc biệt là ngành Luật hành chính, chính là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHC Điều đó cũng có nghĩa là muốn cải cách qui phạm thủ tục (TTHC) thì phải cải cách qui phạm nội dung (thể chế) - căn cứ làm phát sinh TTHC Thực tế cho thấy, nếu không cải cách
Trang 39TTHC thì dù hệ thống pháp luật có hoàn thiện đến đâu, vai trò của Nhà nước vẫn không thể nâng cao theo kịp với yêu cầu của tình hình mới Đơn giản hóa TTHC góp phần phát triển thể chế, là một bước tiến nâng cao từ quy định và biện pháp kém hiệu quả đến những quy định và biện pháp có hiệu quả hơn, được phản ánh và đo bằng sự giảm bớt các chi phí giao dịch
1.3.3.2 Thúc đẩy cải cách bộ máy hành chính
TTHC không thể tách rời khỏi hoạt động của các cơ quan HCNN Thể chế và thủ tục lạc hậu sẽ cản trở các hoạt động của bộ máy nhà nước Tuy nhiên, thể chế điều hành cũng như TTHC tự mình không thể phát huy tác dụng nếu không có một bộ máy tổ chức được xây dựng khoa học và một chế độ công vụ kiểu mẫu Chỉ khi bộ máy quản lý tổ chức khoa học, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng thì các TTHC mới được thực hiện đúng đắn
Cải cách TTHC là việc loại bỏ, sửa đổi những thủ tục bất hợp lý, bất hợp pháp, không cần thiết và không phù hợp Với yêu cầu này, các bộ, ngành, địa phương cần chủ động, tích cực vào cuộc Đi liền với đó là việc
rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương; các cơ quan phải xác định lại một cách căn bản chức năng hay quy trình công việc của mình; xây dựng hệ thống hành chính từ Trung ương đến cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, minh bạch, có sự phân công, phân cấp, phân quyền hợp lý; điều chỉnh cơ cấu theo những nguyên tắc hiệu quả hơn, hợp lý hóa các chức năng và trách nhiệm Bởi chính con người và sự vận hành lưu loát của cơ cấu tổ chức bộ máy là nhân tố quyết định để cải cách TTHC
Việc xác định lại chức năng và cơ cấu lại quy trình làm việc trong hệ thống cơ quan nhà nước là cơ sở nền tảng cho việc đơn giản hóa thủ tục cung cấp dịch vụ cho người dân với tư cách là “khách hàng”, cũng như thay đổi tư duy quản lý của cơ quan hành chính với tư cách là người tạo điều kiện cho phát triển Về lâu dài, mối quan hệ giữa cải cách TTHC và cải cách tổ chức giúp làm
Trang 40rõ hơn vai trò của Nhà nước và của bộ máy hành chính công
1.3.3.3 Hoàn thiện đội ngũ cán bộ công chức
Thông qua việc cải cách TTHC, chúng ta có thể xác định các công việc của cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó, chúng ta
có thể xây dựng bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ CBCC hợp lý, đáp ứng yêu cầu công việc Cụ thể là đối với cán bộ lãnh đạo, đây
là cơ sở cho công tác chỉ đạo, điều hành thông qua việc nắm bắt rõ hiện trạng thực hiện các TTHC tại đơn vị; đối với mỗi CBCC, thực hiện cải cách TTHC góp phần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các CBCC tham gia vào việc thống kê và rà soát TTHC
1.3.3.4 Thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế
Trong số các mục tiêu cụ thể của Chương trình tổng thể CCHC cần đạt được, có một kết quả đầu ra trực tiếp liên hệ tới phát triển kinh tế, đó là: xóa bỏ các TTHC quan liêu, rườm rà và không thuận tiện cho các doanh nghiệp và công dân; hoàn thiện các TTHC theo các nguyên tắc minh bạch, đơn giản vả tạo thuận lợi Cải cách TTHC có ý nghĩa chính trị và kinh tế to lớn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện quan hệ giữa các cơ quan HCNN với người dân, doanh nghiệp
Mối liên hệ giữa hành chính công và phát triển kinh tế chỉ thể hiện thông qua các nhiệm vụ được nêu trong Nghị quyết số 53/2007/NQ-CP7 Đơn giản hóa TTHC là hoạt động mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân,
của nhân dân, làm cắt giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực thi TTHC, góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam nói