Kết quả của nghiên cứu này được thể hiện dựa trên hai mô hình hồi quy: Mô hình 1 gồm tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu ROE là biến phụ thuộc, tỉ lệ thu nhập từ hoạt động tín
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG THỊ NHUNG
TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU THU NHẬP ĐẾN LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi
nhuận và rủi ro của ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu của
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn Cô PGS.TS Lê Phan Thị Diệu Thảo, giảng viên hướng dẫn của tôi Sự nghiêm túc và tận tâm của cô đã giúp tôi có thể hoàn thành được nội dung luận văn theo đúng kế hoạch thực hiện đã
đề ra Với chuyên môn cao trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, cô đã hướng dẫn tôi thực hiện công việc viết luận văn đảm bảo các yêu cầu đề ra, đạt được chất lượng tốt nhất trong khả năng của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các giảng viên trong chương trình giảng dạy thạc
sĩ Tài chính – Ngân hàng của Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức chuyên môn quý giá trong suốt quá trình học tập Xin cảm ơn cô Trần Thị Việt Hà đã luôn cung cấp thông tin giáo vụ đầy đủ và kịp thời cho tôi trong suốt quá trình học tập và viết luận văn
Sau cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người ủng hộ và bên cạnh tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Trang 4TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Kết quả của nghiên cứu này được thể hiện dựa trên hai mô hình hồi quy: Mô hình 1 gồm tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) là biến phụ thuộc, tỉ lệ thu nhập
từ hoạt động tín dụng, hoạt động dịch vụ, hoạt động khác trên tổng thu nhập là các biến độc lập chính cần nghiên cứu; Mô hình 2 gồm giá trị rủi ro của ngân hàng là biến phụ thuộc, tỉ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng, hoạt động dịch vụ, hoạt động khác trên tổng thu nhập là các biến độc lập chính Ngoài ra, còn có các biến kiếm soát khác để tăng tính giải thích cho các mô hình
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu tài chính của 18 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến 2014 Dữ liệu dạng bảng bao gồm 96 quan sát, đảm bảo thu thập đầy đủ dữ liệu cho các biến trong mô hình Nghiên cứu sử dụng các phương pháp hồi quy thường được sử dụng cho dữ liệu bảng gồm Pool OLS, FEM (Fixed Effect Method), REM (Random Effect Method) và GLS (Generalize Least Square)
Kết quả cho thấy thu nhập từ hoạt động tín dụng có tác động cùng chiều đến lợi nhuận ngân hàng, trong khi tác động của thu nhập từ hoạt động dịch vụ và thu nhập khác lại không có ý nghĩa thống kê Đối với rủi ro ngân hàng, thu nhập từ hoạt động tín dụng và dịch vụ đều có tác động làm gia tăng rủi ro, trong khi hoạt động khác lại không có ý nghĩa thống kê
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm ý rằng thị trường ngân hàng Việt Nam có
sự không đồng nhất về chiến lược kinh doanh cũng như nguồn lực của các ngân hàng Có những ngân hàng có đủ nguồn lực để thực hiện đa dạng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn từ các hoạt động phi truyền thống, trong khi các ngân hàng nhỏ có vẻ chỉ tập trung vào một hoạt động kinh doanh duy nhất, điều đó dẫn đến việc một số hoạt động kinh doanh có tác động không có ý nghĩa thống kê đến lợi nhuận Hơn nữa, đối với người điều hành ngân hàng, có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách đa dạng hóa kinh doanh, tập trung vào các hoạt động mang tính chất phi truyền thống
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN….……….….i
LỜI CẢM ƠN………ii
TÓM TẮT……….iii
MỤC LỤC……… ………… iv
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU……… vii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU……….1
1.1 Lý do nghiên cứu……….1
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu……….………3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu………4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu……….………….4
1.5 Phạm vi nghiên cứu……… ………4
1.6 Phương pháp nghiên cứu……… 4
1.7 Kết cấu đề tài nghiên cứu……… …….5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT………7
2.1 Cơ sở lý thuyết……….……7
2.1.1 Các khái niệm về cơ cấu thu nhập của ngân hàng thương mại ……… 7
2.1.2 Lợi nhuận của ngân hàng thương mại……… 9
2.1.3 Rủi ro của ngân hàng thương mại……… 9
2.1.4 Tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng ………… 10
2.1.5 Tác động của cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng .12
Trang 62.2 Các nghiên cứu đã công bố.……… …….14
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….……….19
3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất……… 19
3.2 Phương pháp nghiên cứu……….… ….20
3.2.1 Dữ liệu nghiên cứu……….……….20
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu……… …21
3.3 Mô hình hồi quy ………21
3.3.1 Mô hình 1 về tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng 21
3.3.2 Mô hình 2 về tác động của cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng…… 22
3.4 Đo lường các biến trong mô hình……….….22
3.4.1 Biến phụ thuộc………22
3.4.2 Biến độc lập……… 23
3.4.3 Biến kiểm soát……… ……… 25
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… 30
4.1 Thống kê mô tả……….…….30
4.2 Phân tích tương quan……… …… 32
4.3 Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy………34
4.4 Kết quả hồi quy với phương pháp GLS……… ……… 43
4.5 Thảo luận kết quả……… 47
4.5.1 Tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng.……… 48
4.5.2 Tác động của cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng.……… 50
4.5.3 Các yếu tố khác……… ….52
CHƯƠNG 5
Trang 7KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………55
5.1 Kết luận……… 55
5.1.1 Tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng……… 55
5.1.2 Tác động của cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng……… 56
5.2 Ý nghĩa nghiên cứu và khuyến nghị……… 56
5.2.1 Ý nghĩa nghiên cứu ………… 56
5.2.2 Khuyến nghị……… 57
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo……….…57
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu……… 57
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo………58
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 60
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất……….….19
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm……….……16
Bảng 3.1 Tóm tắt các biến trong mô hình……….27
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến quan sát………… ……… …30
Bảng 4.2 Bảng ma trận hệ số tương quan giữa các biến……… …33
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy Mô hình 1 theo phương pháp Pool OLS 34
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy Mô hình 2 theo phương pháp Pool OLS 35
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy Mô hình 1 theo phương pháp FEM 36
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy Mô hình 2 theo phương pháp FEM 38
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy Mô hình 1 theo phương pháp REM 39
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy Mô hình 2 theo phương pháp REM 40
Bảng 4.9 Kết quả lựa chọn phương pháp hồi quy dựa trên kiểm định Hausman….41 Bảng 4.10 Kết luận giá trị mô hình hồi quy theo REM dựa trên kiểm định Breusch & Pagan Lagrange Multiplier……… … 42
Bảng 4.11 Kết quả hồi quy mô hình 1……… ……44
Bảng 4.12 Kết quả hồi quy mô hình 2……… … 45
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Trong chương giới thiệu sẽ trình bày vấn đề nghiên cứu mà đề tài quan tâm,
cũng như sự cần thiết của việc nghiên cứu vấn đề này Từ vấn đề nghiên cứu, sẽ dẫn
đến mục tiêu nghiên cứu và để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cũng đặt ra
những câu hỏi nghiên cứu
1.1 Lý do nghiên cứu
Ngân hàng là một tổ chức tài chính và dịch vụ của nó đóng vai trò trong việc
tạo ra của cải cho xã hội Do đó ngân hàng có một vị thế đặc biệt trong nền kinh tế
Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ
tài chính mà xã hội có nhu cầu từ đó thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả
và bán chúng ở một mức giá cạnh tranh Vì vậy, các ngân hàng không ngừng cố
gắng thực hiện các chính sách phù hợp với nhu cầu thị trường và đa dạng hóa dịch
vụ của mình
Lợi nhuận từ hoạt động huy động vốn, cho vay ngày càng giảm và một điều
dễ thấy là thu nhập từ dịch vụ của ngân hàng ngày càng tăng để bù đắp sự sụt giảm
đó Điều đó dẫn đến cơ cấu các khoản thu nhập trong báo cáo kết quả kinh doanh
của các ngân hàng cũng thay đổi theo hướng là các khoản thu nhập từ hoạt động
dịch vụ sẽ gia tăng cả về mặt số lượng và tỷ trọng Theo thống kê của Ủy ban Giám
so với năm 2014 nhưng thu nhập lãi thuần của ngân hàng lại giảm gần 4% so với
cùng kỳ năm 2014, dẫn tới lợi nhuận sau thuế của Vietinbank giảm 1,4% so với
năm 2014 và chỉ đạt 5.727 tỷ đồng Tương tự Sacombank, tín dụng tăng trưởng
khoảng 16% năm 2014 nhưng thu nhập lãi ròng giảm 1% và lợi nhuận sau thuế
giảm 0,8%, lợi nhuận giảm chủ yếu do thu nhập lãi thuần giảm mạnh Vietcombank
có mức tăng trưởng tín dụng cao nhưng thu nhập từ lãi của ngân hàng này chỉ chiếm
68% trong tổng thu nhập
Mỗi sản phẩm ra đời dựa trên sự mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng
và kéo theo sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ mới Phát triển các loại hình
Trang 10dịch vụ mới là hướng đi bền vững của ngân hàng Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống đã được các ngân hàng khai thác một cách triệt để, ngược lại hoạt động đầu tư lại có nhiều rủi ro, nhất
là khi thị trường biến động Còn hoạt động dịch vụ thì mang lại khoản thu nhập đáng kể với rủi ro có thể kiểm soát được Do đó hoạt động dịch vụ của ngân hàng cần được khai thác Mặt khác có thể nhận thấy khi hoạt động tín dụng gặp khó khăn, không thể tiếp tục phát triển, lúc đó cơ cấu của ngân hàng sẽ thay đổi theo hướng tiêu cực Đặc biệt, đối với ngân hàng có mảng hoạt động dịch vụ chưa được đầu tư và phát triển đáng kể thì sẽ không đủ sức để có thể đảm bảo cân bằng tài chính của ngân hàng mình Do đó, tất yếu đòi hỏi ngân hàng cần có tầm nhìn xa hơn trong việc định hướng nghiên cứu và phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ Theo thông kê của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia trong 6 tháng đầu năm 2015 nhiều ngân hàng cho thấy có sự đóng góp đáng kể của mảng dịch vụ trong tỷ trọng lợi nhuận của ngân hàng, nhờ đó giúp ngân hàng bù đắp một phần sự sụt giảm từ mảng tín dụng cụ thể như BIDV, doanh thu thuần từ dịch vụ ngân hàng đã tăng gấp 3 lần cùng kỳ năm trước, đạt 1.212 tỷ đồng Tương tự, thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Vietcombank cũng tăng 17%, Vietinbank tăng 8%
Tóm lại việc ngân hàng thay đổi tỷ trọng các sản phẩm hay dịch vụ nào đó đều có thể đem lại một lợi nhuận cao hơn so với cơ cấu sản phẩm và dịch vụ mà trước đây họ nắm giữ Tương ứng với hành động này, các ngân hàng sẽ phải đối mặt với những rủi ro kèm theo
Tác động những thay đổi trong cơ cấu thu nhập đến khả năng sinh lời và rủi
ro của ngân hàng đã được nghiên cứu sâu rộng Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện tại Mỹ như nghiên cứu của De Young và cộng sự (2004); Rogers và cộng sự (1999) cho rằng hoạt động kinh doanh ngoài lãi của ngân hàng có thể đem lại rủi ro hệ thống một cách đáng kể Tại Châu Âu nghiên cứu của Lepetit và cộng
sự (2008) phát hiện đa dạng hóa thu nhập cũng dẫn đến sự gia tăng rủi ro, rủi ro chủ yếu là các ngân hàng có quy mô nhỏ và sự gia tăng rủi ro này là do các hoạt động tạo ra từ phí và hoa hồng, chứ không phải là do các hoạt động thu nhập kinh doanh mua, bán Tại các Quốc Gia đang phát triển nghiên cứu của Sanya và Wolfe (2011)
Trang 11Tại Việt Nam, nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã được thực hiện Nguyễn Thị Cành và cộng
sự (2015) Tuy nhiên, vẫn chưa có một kết luận đồng nhất về tác động của cơ cấu thu nhập của ngân hàng đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng Với sự gia tăng nói trên của các khoản thu nhập không từ lãi và những hạn chế của các nghiên cứu trước, cần có một nghiên cứu đánh giá mức độ rủi ro của các khoản thu nhập lên kết quả hoạt động kinh doanh để xem xét hiệu quả của việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như tác động của nó đến lợi nhuận Đề tài nghiên cứu tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Việc nghiên cứu đề tài này đem lại một góc nhìn cho ngân hàng về lợi nhuận đạt được từ một cấu trúc doanh thu của các dịch vụ và sản phẩm mà ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng, tương ứng với nó là một lượng rủi ro mắc phải mà ngân hàng cần cân nhắc khi lựa chọn trong cấu trúc thu nhập của mình
Trang 12dụng sẽ giúp ngân hàng gia tăng thu nhập và phân tán rủi ro
Với những yếu tố vừa nêu trên cho thấy các ngân hàng đều tìm kiếm các nguồn lợi nhuận khác ngoài lãi từ hoạt động cho vay Vậy vấn đề đặt ra là đa dạng hóa hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng hay không?
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đa dạng hóa danh mục đầu tư sẽ làm giảm rủi ro và có tác động đến lợi nhuận của nhà đầu tư Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, các ngân hàng phải
đa dạng hóa sản phẩm để cạnh tranh tồn tại và phát triển Xuất phát từ tầm quan trọng của việc phải đẩy mạnh khả năng cạnh tranh, nâng cao khả năng sinh lời và giảm thiểu rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Đề tài hướng tới mục tiêu cần đạt được trong quá trình nghiên là xác định tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng thương mại Việt
Nam
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu kể trên, đề tài cần giải quyết các câu hỏi sau: (i) Cơ cấu thu nhập của ngân hàng tác động đến lợi nhuận của ngân hàng như thế nào? (ii) Cơ cấu thu nhập của ngân hàng tác động đến rủi ro của ngân hàng như thế nào?
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiến hành tổng kết các lý thuyết, các nghiên cứu trước của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu Từ đó đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp hồi quy Pool OLS,
Trang 13FEM, REM và GLS để kiểm định tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận và rủi
ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Kết quả thực nghiệm của mô hình được sử dụng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu cũng như giải thích quan hệ giữa
cơ cấu thu nhập – lợi nhuận và cơ cấu thu nhập – rủi ro
1.7 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được trình bày theo năm chương Các chương được bố cục như sau:
Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu Nội dung của chương nêu lên lý do cần phải nghiên cứu đề tài, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như mô tả dữ liệu, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương 2 là chương lý thuyết nền tảng để xây dựng nên mô hình nghiên cứu, chọn lọc các biến Vì nghiên cứu về tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận và rủi ro trong hoạt động ngân hàng mang tính mới và phức tạp nên nội dung chương 2 được xây dựng một cách kỹ lưỡng để tìm ra mô hình nghiên cứu phù hợp Các kết luận khoa học về tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận, cơ cấu thu nhập đến rủi ro được phân tích kỹ lưỡng và cặn kẽ nhằm xác định các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất một mô hình nghiên cứu đúng đắn
Chương 3 là chương phương pháp nghiên cứu, thể hiện hai mô hình kinh tế lượng để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra Nội dung chương trình bày 2 mô hình nghiên cứu đã đặt ra ở Chương 1 và 2 Tiếp theo là trình bày cụ thể các mô hình hồi quy, cách thức đo lường và lấy dữ liệu cho các biến trong mô hình cũng như cơ sở chọn lọc các biến này
Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và đưa ra các phân tích, nhận định dựa trên kết quả hồi quy Trước hết là các giá trị thống kê sẽ đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình cơ cấu thu nhập, lợi nhuận cũng như mức rủi ro của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu Tiếp đó, dựa vào các giá trị kiểm định, các giả thuyết đặt ra trong Chương 2 sẽ được chấp nhận hay bị bác bỏ
Chương 5 tóm tắt các kết quả nghiên cứu đạt được Trên cơ sở đó, đưa ra các khuyến nghị giúp nhà hoạch định chính sách hoặc nhà quản trị ngân hàng có những nhận định tốt hơn về lợi nhuận và rủi ro của hoạt động ngân hàng thông qua cơ cấu
Trang 14thu nhập của các ngân hàng đó Cuối cùng, nội dung chương trình bày các đóng góp
của đề tài, chỉ ra hạn chế trong nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 tập trung xây dựng khung lý thuyết cho đề tài, các lý thuyết liên
quan đến cơ cấu thu nhập, rủi ro, lợi nhuận, mối tương quan giữa cơ cấu thu nhập
với lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng Chương được bố cục thành các phần sau
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Các khái niệm về cơ cấu thu nhập trong ngân hàng thương mại
Thu nhập của ngân hàng thương mại bắt nguồn từ nhiều khoản thu do các
sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang lại Nhìn chung, thường chia thu nhập ngân hàng
ra làm hai phần chính, đó là thu nhập từ hoạt động tín dụng và thu nhập từ hoạt
động phi tín dụng
2.1.1.1 Thu nhập từ hoạt động tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với thị trường tài chính còn đang phát
triển như Việt Nam, các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc luân chuyển
vốn giữa nơi thừa vốn và nơi thiếu vốn Với vai trò là một định chế trung gian tài
chính, các ngân hàng huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi các loại hoặc vay từ
công chúng và từ các ngân hàng khác, sau đó sử dụng khoản vốn để cho vay hoặc
đầu tư
Theo Lepetit và cộng sự (2008) ngân hàng trả lãi suất tiền gửi cho người gửi
tiền, đồng thời ấn định mức lãi suất cho vay đối với các đối tượng vay tiền từ ngân
hàng Chênh lệch giữa thu nhập lãi cho vay khách hàng và chi phí phải trả lãi tiền
gửi là thu nhập thuần từ hoạt động tín dụng Đây là một nhân tố quyết định đối với
khả năng sinh lời của ngân hàn Thu nhập từ hoạt động tín dụng giảm thường báo
hiệu một sự sụt giảm trong kết quả hoạt động của ngân hàng Theo Sitiroh (2006)
thu nhập thuần là sự chênh lệch giữa các khoản cho vay với khoản phải trả cho
người gửi tiền Đây là một khoản quan trọng đối với khả năng sinh lời của ngân
hàng Hempel, Coleman và Simonson (1986) cho rằng thu nhập thuần từ hoạt động
tín dụng là khoản thu nhập quan trọng trong việc đo lường những thay đổi và xu
hướng biên độ lãi suất so với thu nhập lãi của các ngân hàng Tỷ lệ thu nhập lãi
thuần là chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi phải trả chia cho tổng tài sản
Trang 16Một số lý thuyết về hoạt động tín dụng của ngân hàng như Saunders (2000), Gorton
và cộng sự (1990), Rose và cộng sự (2000)
2.1.1.2 Thu nhập từ hoạt động phi tín dụng
Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, hệ thống ngân hàng phải đối mặt với nhiều vấn đề, trong đó là vấn đề tập trung và tái cơ cấu Để giải quyết những thay đổi đó các ngân hàng đã mở rộng các sản phẩm của mình dưới nhiều hình thức như dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh, môi giới, ủy thác, tư vấn, cho thuê két, quản lý tiền mặt, trung gian thanh toán, … Đặc biệt gần đây, các ngân hàng mở rộng các hoạt động như hoạt động kinh doanh ngoại hối, vàng, mua bán chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư …nhằm đa dạng hóa nguồn thu để tìm kiếm một cơ hội mới Những thay đổi đó làm gia tăng thu nhập của các ngân hàng từ các hoạt động phi tín dụng để tạo ra thu nhập thuần ngoài lãi
Deng và cộng sự (2007) cho rằng hoạt động phi tín dụng là các hoạt động có thu nhập ngoài lãi tín dụng Theo Lâm Chí Dũng (2014) thu nhập từ hoạt động phi tín dụng bao gồm thu nhập thuần từ các dịch vụ thu phí và thu nhập thuần từ các hoạt động kinh doanh bao gồm hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, mua bán chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư Theo De Young và Rice (2004) cho rằng khoản thu nhập ngoài lãi đó là khoản thu phí từ tiền gửi, hoa hồng, phí phải thu về hoạt động kinh doanh
Ủng hộ xu hướng đa dạng hóa thông qua mở rộng sang các hoạt động phi tín dụng Landskroner (2005) cho rằng đa dạng hóa thông qua mở rộng sang các hoạt động phi tín dụng được xem như một cơ chế thúc đẩy khả năng tạo ra lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, đặc biệt trong điều kiện quy mô và phạm vi hoạt động của các ngân hàng tăng nhanh Mester (2010) cũng cho rằng các ngân hàng được hưởng lợi ích do lợi thế quy mô, khi mở rộng danh mục hoạt động kinh doanh của mình sang các hoạt động phi tín dụng
Một số nghiên cứu khác nhìn nhận dưới góc độ cạnh tranh là việc đa dạng hóa thu nhập sẽ tạo áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng Điều này thúc đẩy cải tiến công nghệ và hiệu quả cung ứng dịch vụ của các ngân hàng Đó là kết luận của Landskroner (2005) Leptit (2008), Meslies (2014) cũng kết luận rằng đa dạng hóa thu nhập ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và rủi ro của ngân hàng
Trang 172.1.2 Lợi nhuận của ngân hàng thương mại
Hoạt động của các ngân hàng ngày càng phát triển nhưng mục đích vẫn là duy trì lợi nhuận Theo European Central Bank (2010) lợi nhuận là chỉ tiêu đầu tiên bảo vệ ngân hàng khỏi thiệt hại vì nó củng cố lại vốn và cải thiện khả năng sinh lời thông qua lợi nhuận được giữ lại Chỉ tiêu quan trọng để đo khả năng sinh lời của ngân hàng gồm tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ
sở hữu (ROE): (i) ROA thể hiện hiệu quả của từng đồng vốn đầu tư vào tài sản và
nó cũng chỉ ra khả năng của nhà quản trị trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng (Hassan và cộng sự, 2003), (ii) ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ
lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng (Rose và cộng sự , 2010) Thu nhập cho các cổ đông là phần lợi nhuận có được sau khi đã hoàn tất nghĩa vụ thuế thu nhập của ngân hàng cho nhà nước Ngoài ra, các nghiên của De Young (2004), Pennathur (2009) cũng sử dụng ROE để đo lợi nhuận của ngân hàng Theo đó, nghiên cứu này
áp dụng chỉ tiêu ROE (Lợi nhuận sau thuế trên tổng thu nhập) để đo lường lợi nhuận của ngân hàng
2.1.3 Rủi ro của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trung gian tài chính, vì vậy ngân hàng có thể gánh chịu rủi
ro trong quá trình hoạt động Rủi ro có thể phát sinh từ sự hình thành các nguồn vốn
mà ngân hàng sử dụng và do những biến động bất lợi của các yếu tố trên thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán Ngân hàng không thể tác động làm thay đổi các yếu tố này mà chỉ có thể dự báo xu hướng, tính toán mức độ ảnh hưởng để từ đó đưa ra các biện pháp chủ động điều chỉnh qui mô, cơ cấu tài sản, sao cho hạn chế thấp nhất tổn thất có thể xảy ra thông qua việc kết hợp mô hình hiện đại trong việc ước lượng rủi ro lãi suất và sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính phát sinh Rủi ro
là những tổn thất, thiệt hại gây ra cho con người và rủi ro có thể đo lường được
(Nguyễn Minh Kiều, 2012)
Rủi ro là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Theo Harry Markowits (1950) cho rằng
đa dạng hóa danh mục sẽ làm giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhấp Tuy nhiên, khi các nguồn rủi ro phổ biến xảy ra và ảnh hưởng đến tất cả các công ty, thì chiến lực
đa dạng hóa danh mục không thể loại bỏ rủi ro Độ lệch chuẩn của danh mục giảm khi số lượng chứng khoán tăng, nhưng nó không giảm xuống không được
Trang 18Rủi ro vẫn tồn tại khi đa dạng hóa danh mục đầu tư được gọi là rủi ro thị trường Lepetit và cộng sự (2008) sử dụng chỉ số Z- Score = (100 + average ROE)/SDROE để thể hiện được tương tác giữa rủi ro danh mục ngân hàng và vốn chủ sở hữu, đồng thời cho rằng rủi ro phụ thuộc vào hai yếu tố này Z- Score thể hiện việc giảm thu nhập sẽ làm thâm hụt vốn, từ đó khiến ngân hàng đướng trước nguy cơ phá sản Cho đến nay chỉ số Z- Scose vẫn được áp dụng rộng rãi cho các nghiên cứu về mức độ an toàn của ngân hàng và rủi ro phá sản của ngân hàng
2.1.4 Tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng
Dòng tài chính căn bản để duy trì các hoạt động ngân hàng chính là các khoải lãi phải trả cho ngừi gửi tiền và khoản lãi thu được từ người đi vay tiền Xu Fengju (2013) kết luận rằng thu nhập từ hoạt động tín dụng là một phần quan trọng cấu thành nên tổng thu nhập, do đó khi thu nhập từ hoạt động tín dụng tăng lên đồng nghĩa với tổng thu nhập gia tăng Điều này cũng đồng nghĩa là thu nhập từ lãi thuần gia tăng Khi các khoản doanh thu gia tăng thì điều tất yếu là sẽ làm gia tăng lợi nhuận của ngân hàng
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng cũng tìm cách gia tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng vì nó có đặc điểm khác hơn so với thu nhập từ hoạt động phi tín dụng, từ đó tạo ra nguồn thu nhập đa dạng hơn cho ngân hàng Feldman và cộng
sự (1999) Xu Fengju (2013) kết luận rằng bản thân thu nhập từ hoạt động dịch vụ
là một phần cấu thành nên thu nhập, do đó khi thu nhập từ hoạt động này gia tăng sẽ làm tăng tổng thu nhập của ngân hàng Vì thu nhập của ngân hàng gia tăng dẫn đến việc gia tăng lợi nhuận sau thuế do đó kết luận trên đồng nghĩa với việc thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng sẽ kéo theo lợi nhuận của ngân hàng tăng Tương tự như vậy, các hoạt động khác, ngoài hoạt động tín dụng và hoạt động dịch vụ là yếu tố còn lại cấu thành nên thu nhập của ngân hàng Do đó khi thu nhập từ các hoạt động này gia tăng cũng sẽ dẫn đến việc gia tăng lợi nhuận của các ngân hàng Tức là thu nhập từ các hoạt động khác có tác động cùng chiều đến lợi nhuận ngân hàng (Xu Fengju, 2013)
Tuy nhiên, theo De Young và cộng sự (2001) cho rằng, thu nhập từ hoạt động phí tín dụng có thể làm gia tăng sự biến động của tổng thu nhập ngân hàng Ba
lý do làm biến động tổng thu nhập của ngân hàng Lý do thứ nhất, hầu hết các khoản vay ngân hàng đều có thể dễ tạo ra được những khoản lợi nhuận lớn, trong
Trang 19khi các hoạt động thu phí dịch vụ góp nhặt lợi nhuận từ những khoản phỉ nhỏ và không ổn định do khách hàng có thể dễ dàng chuyển sang sử dụng dịch vụ của ngân hàng khác Do đó, mặc dù có rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất thì thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn mang tính ổn định hơn thu nhập từ hoạt động phi tín dụng Thứ hai, việc mở rộng hoạt động thu phí dịch vụ sẽ làm tăng chí phí cố định Thứ ba, đa
số các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng đều chứa đựng ứng dụng công nghệ Khi công nghệ có sự cải tiến, các ngân hàng buộc phải cập nhật, thay đổi theo để làm mới sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, từ đó phát sinh thêm chi phí ngoài dự tính Vì thế, hoạt động phi tín dụng có thể đòi hỏi đòn bẩy hoạt động lớn hơn hoạt động tín dụng, làm cho tổng thu nhập của ngân hàng ảnh hưởng
Việc ngân hàng đa dạng hóa các hoạt động sẽ thu hút được nhiều đối tượng khách hàng Từ đó đem lại lợi thế vượt trội đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng Từ đó dẫn đến lợi nhuận ngân hàng được cải thiện đáng kể do tăng thu nhập từ hoạt động kinh doanh mới và đa dạng hóa các lĩnh vực mới Khi ngân hàng mở rộng chiến lược kinh doanh thì hoạt động tín dụng và hoạt động phi tin dụng có tương quan với nhau, đa dạng hóa thu nhập làm giảm thu nhập từ lãi (Striroh và Rumble, 2000) Cũng một nghiên cứu khác Stiroh và Rumble (2006) cho rằng khi khách hàng nhận được khoản vay của ngân hàng, khách hàng lo lắng làm thế nào để trả nợ cho ngân hàng và một dịch vụ thanh toán nợ dễ dàng sẽ thu hút thêm nhiều khách hàng, điều đó dẫn đến thu nhập từ hoạt động tín dụng giảm và thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng Theo một nghiên khác của De Young và Roland (1999) về việc nghiên cứu đòn bẩy tổng hợp đã phát hiện ra rằng việc cung cấp các sản phẩm ngân hàng hỗn hợp gồm các sản phẩm tín dụng và các dịch vụ tài chính mới, có liên quan tới độ lệch chuẩn của doanh thu của các ngân hàng thương mại Nghiên cứu thực nghiệm của họ chỉ ra rằng các hoạt động ngoại bảng có thể làm tăng đa dạng hóa thông qua việc mở rộng sang các hoạt động phi tín dụng
Các nghiên cứu khác cũng thể hiện sự tích cực về tác động của cơ cấu thu nhập lên lợi nhuận của ngân hàng Landskroner và cộng sự (2005) cho rằng đa dạng hóa hoạt động ngân hàng được xem như một cơ chế thúc đẩy khả năng tạo ra lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, đặc biệt trong điều kiện quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng đang tăng nhanh Mestes (2010) cũng cho rằng các ngân hàng được hưởng lợi ích do lợi thế kinh tế về quy
mô khi mở rộng danh mục hoạt động kinh doanh sang các hoạt động kinh doanh
Trang 20khác, và bất kì nỗ lực hay hạn chế nào của việc mở rộng quy mô cũng đem đến kết quả bất lợi
Trong bối cảnh hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay còn nhiều khó khăn Vì vậy, các ngân hàng có xu hướng thực hiện chiến lược đa dạng hóa nguồn thu bằng cách chuyển qua các hoạt động khác nhằm tìm kiếm cơ hội mới Do vậy, chiến lược đa dạng hóa về cơ cấu thu nhập có thể mang lại lợi nhuận cao hơn cho các ngân hàng
2.1.5 Tác động của cơ cấu thu nhập đến rủi ro của ngân hàng
Trong các ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu và khác biệt
so với hoạt động phi tín dụng Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng Đồng thời, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào hoạt động tín
cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng Halling (2006) cho rằng tỉ lệ lợi nhuận từ hoạt động tin dụng trên tổng tài sản đồng biến với rủi ro ngân hàng Trong nghiên cứu của Logan (2001); Montgomery (2004) đòn bẩy là tổng dư nợ huy động trên vốn chủ sở hữu và có quan hệ cùng chiều với rủi ro phá sản ngân hàng Đòn bẩy càng cao do huy động tiền gửi nhiều thì rủi ro càng cao Tỉ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng doanh thu có quan hệ cùng chiều với rủi ro phá sản của ngân hàng Sự phụ thuộc vào thu nhập lãi thuần làm tăng rủi ro của ngân hàng Quan điểm ngược lại theo Jordan (2011) cho rằng đòn bẩy bằng tỉ lệ vốn cấp 1 trên tổng tài sản là quan
hệ ngược chiều với rủi ro, có nghĩa là đòn bẩy càng cao thì rủi ro phá sản giảm Các nghiên cứu của Lepetit (2008) và Xu Fengju (2010) cũng đưa ra các kết luận về tác động từ thu nhập của các hoạt động kinh doanh ngân hàng đến rủi ro của chính các ngân hàng đó Theo đó, thu nhập từ hoạt động tín dụng có quan hệ cùng chiều với rủi ro ngân hàng Điều này được lý giải là mức lãi cho vay mà ngân hàng thu được thường được đánh giá dựa trên rủi ro của việc cho vay hay đầu tư mà ngân hàng thực hiện Một mức lãi cho vay cao hơn sẽ áp dụng cho một dự án hay một khách hàng có rủi ro tín dụng cao hơn
Việc phát triển sản phẩm dịch vụ trong hoạt động của ngân hàng, góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng Nếu hoạt động tín dụng chứa nhiều rủi ro thì hoạt động dịch vụ dụng chứa ít rủi ro cho ngân hàng Chiorazzo (2008) Cùng quan điểm
Trang 21trên De Young và công sự (2001) trong hoạt động của ngân hàng thì thu nhập từ hoạt động dịch vụ có tính ổn đỉnh hơn thu nhập từ hoạt động tín dụng, dẫn tới rủi ro của ngân hàng giảm Ngược với quan điểm trên Lepetit (2008) và Xu Fengju (2010)
có kết luận là thu nhập từ hoạt động dịch vụ có tác động cùng chiều đến rủi ro Lý giải cho điều này là đối với việc mở rộng hoạt động dịch vụ sẽ phải đầu tư nhiều về
cơ sở hạ tầng, công nghệ do đó sẽ làm tăng rủi ro về tài sản, điều này làm tăng rủi
ro ngân hàng
Tuy nhiên, đối với các hoạt động khác, ngoài hai hoạt động kinh doanh nêu trên, thì Lepetit (2008) kết luận là có tác động không rõ ràng đến rủi ro, trong khi kết quả nghiên cứu của Xu Fengju (2013) cho thấy nó các tác động ngược chiều đến rủi ro Điều này được Xu Fengju lý giải là các hoạt động khác mang lại thu nhập cho ngân hàng như kinh doanh ngoại hối, mua bán công cụ phái sinh…thường được ngân hàng chủ động thực hiện và ngân hàng có được thông tin về các thị trường này tốt hơn các chủ thể khác, do đó loại trừ được các rủi ro
Với quan điểm đa dạng hóa làm giảm thiểu ro, nhiều nghiên cứu khác lại cho thấy mức độ đa dạng hóa trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng càng cao thì rủi ro càng được giảm thiểu Theo Wall, Riechert và Mohanty (1993) cho rằng trong thời gian 1981- 1989 các ngân hàng đa dạng hóa các hoạt động bất động sản, quỹ môi
giới chứng khoán có thể gia tăng lợi nhuận nhiều hơn và giảm thiểu rủi ro.Quan
điểm ngược lại theo kết quả của Jordan (2001) cho rằng tỉ lệ thu nhập từ hoạt động phi tín dụng có quan hệ cùng chiều với rủi ro, có nghĩa là việc đa dạng hóa thu nhập mà giảm thu nhập từ lãi có thể tăng nguy cơ phá sản ngân hàng do không dữ được thị phần và khách hàng truyền thống
Các ngân hàng thương mại Việt Nam đa phần kinh doanh theo cách truyền thống, doanh thu chủ yếu từ hoạt động tín dụng Với điều kiện thị trường ngày càng phức tạp, hoạt động tín dụng có nhiều rủi ro, nếu chỉ dựa vào nguồn thu từ tín dụng
sẽ rất bấp bênh Chính vì vậy ngân hàng thương mại Việt Nam đẩy mạnh phát triển dịch vụ phi tín dụng để gia tăng nguồn thu trong cơ cấu thu nhập của mình Khi đẩy mạnh hoạt động phi tín dụng thì ngân hàng sẽ phải chịu một khoản chi phí đầu tư lớn, điều đó dẫn đễn là tăng rủi ro về tài sản Mặt khác hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thường lại làm giảm thiều rủi ro vì ngân hàng đóng vai trò chủ thể trong việc quyết định về giá, số lượng tỷ giá
Trang 222.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
Trong bài nghiên cứu của Lepetit và cộng sự (2008) đưa ra nghiên cứu thực nghiệm để đo lường tương quan giữa rủi ro và cấu trúc thu nhập của các ngân hàng tại châu Âu Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Pooled OLS với dữ liệu của 734 ngân hàng châu Âu trong thời gian từ 1996 tới 2002 để phân tích cấu trúc thu nhập tác động như thế nào đến rủi ro của hệ thống ngân hàng
Theo tác giả ba lý do chính khiến rủi ro tăng: (i) Thứ nhất là thu nhập từ hoạt động cho vay; (ii) Thứ hai là mở rộng hoạt động ngân hàng và mở rộng các hoạt động cung cấp dịch vụ khác dẫn đến chi phí cố định tăng, làm tăng đòn bẩy; (iii) Thứ ba là đối với hoạt động phi tín dụng, ngân hàng không bị rằng buộc bởi yêu cầu trích lập dự phòng, do đó không có khả năng bù đắp các rủi ro có thể xảy ra Tác giả đưa ra các biến tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động tín dụng, tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ, tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh khác, logarit tổng tài sản, tỷ lệ cho vay/tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi/ tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản, tổn thất cho vay/ cho vay, tỷ lệ chi phí lương/ tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản, suất sinh lời/ vốn chủ sở hữu, các biến này tác động đến rủi
ro của ngân hàng
Kết quả cho thấy: (i) Thu nhập từ hoạt động tín dụng, thu nhập phi tín dụng
có quan hệ cùng chiều với rủi ro; (ii) Khoản thu từ phí dịch vụ ngân hàng thường mang lại rủi ro cao hơn là các hoạt động kinh doanh khác Đối với các ngân hàng nhỏ thì các hoạt động kinh doanh khác lại góp phần giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng
Xu Fengju và cộng sự (2013) đã đưa ra nghiên cứu nhằm chứng minh rằng các yếu tố gồm thu nhập từ lãi và thu nhập không từ lãi có tác động đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng Phương pháp phân tích hồi quy Pooled OLS với dữ liệu 17 ngân hàng ở Iranian, giai đoạn 5 năm từ 2006 - 2011 Để có được các thông tin chính xác, các báo cáo tài chính của ngân hàng được sử dụng làm nguồn dữ liệu cho nghiên cứu Mô hình của tác giả bao gồm 2 phương trình
Trang 23Phương trình 1 mối quan hệ giữa cấu trúc thu nhập và rủi ro của ngân hàng Các biến độc lập mà tác giả đưa ra là tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động cho vay, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ, thu nhập thuần từ hoạt động khác, biến phụ thuộc
là rủi ro
Phương trình 2 xác định mối quan hệ giữa cấu trúc thu nhập với lợi nhuận của ngân hàng Các biến độc lập là tỷ lệ thu nhập thuần từ tín dụng, tỷ lệ thu nhập thuần từ dịch vụ, tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động khác tác động đến lợi nhuận của
ngân hàng
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: (i) Thu nhập từ hoạt động tín dụng, thu nhập
từ hoạt động dịch vụ có tương quan cùng chiều với rủi ro, thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác có tương quan ngược chiều với rủi ro; (ii) Thu nhập từ hoạt động tín dụng, thu nhập thuần từ họat động dịch vụ, thu nhập thuần từ hoạt động khác có tương quan cùng chiều với lợi nhuận
Theo Trujillo, Ponce (2013) các yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời của ngân các ngân hàng Tây Ban Nha Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy SGMM với dữ liệu của 89 ngân hàng Tây Ban Nha giai đoạn 1999-2011
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dư nợ cho vay/ tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dự phòng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi khách hàng/ tổng nợ phải trả,
tỷ lệ chi phí/ thu nhập; logarit tổng tài sản, chỉ số đa dạng hóa thu nhập, tốc độ tăng trưởng, lạm phát tác động đến khả năng sinh lời
Kết quả cho thấy tỷ lệ dư nợ cho vay/ tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi khách hàng
tỷ lệ thuận với khả năng sinh lời, việc dịch chuyển sang các hoạt động ngoài lãi làm gia tăng cả lợi nhuận và GDP, lạm phát không có ý nghĩa thống kê
Theo Royfaizali, Razali (2008) các yếu tố quyết định đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng khu vực Philippines Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Pooled OLS với với dữ liệu của 39 ngân hàng Philippines
Mô hình tác giả đưa ra là logalit tổng tài sản, tỷ lệ tổn thất cho vay/ tổng số vốn vay, thu nhập phi tín dụng, tỷ lệ tổng chi phí chung/tổng tài sản, tốc độ GDP
Trang 24Kết quả cho thấy tỷ lệ tổn thất/tổng vốn vay, logarit tổng tài sản, tỷ lệ tổng chi phí/ tổng tài sản tương quan nghịch, thu nhập phi tín dụng tương quan thuận với lợi nhuận và tương quan nghịch với rủi ro, còn biến GDP không tìm thấy mối tương quan
Suất sinh lời được Syafri (2010) nghiên cứu tại các ngân hàng Indonesia Tác
giả sử dụng phương pháp hồi quy FEM với dữ liệu của 32 ngân hàng trong khoảng thời gian 2002-2011
Mô hình tác giả đưa ra là logatit tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ cho vay/ tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu / tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi/ tổng tài sản, tỷ lệ chi phí/ thu nhập, tốc độ GDP hàng năm
Kết quả cho thấy tỷ lệ dự nợ cho vay, tỷ lệ vốn chủ sở hữu / tổng tài sản, tỷ
lệ thu nhập ngoài lãi/ tổng thu nhập tương quan thuận trong khi lạm phát, quy mô và
tỷ lệ chi phí/thu nhập tương quan nghịch với khả năng sinh lời
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm
Tác giả Dữ liệu Biến phụ
SDROE
Các biến tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động tín dụng, tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ,
tỷ lệ thu nhập thuần
từ hoạt động kinh doanh khác, logarit tổng tài sản, tỷ lệ cho vay/tổng tài sản,
tỷ lệ tiền gửi/ tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ
sở hữu/ tổng tài sản, tổn thất cho vay/ cho vay, tỷ lệ chi phí lương/ tổng tài sản,
tỷ lệ vốn chủ sở hữu/
tổng tài sản, suất
sinh lời/ vốn chủ sở
Thu nhập từ hoạt động tín dụng có quan hệ cùng chiều với rủi ro; Khoản thu từ phí dịch vụ ngân hàng thường mang lại rủi ro cao hơn là các hoạt động kinh doanh
khác
Trang 25SDROE
Tỷ lệ thu nhập thuần
từ hoạt động cho vay, thu nhập thuần
từ hoạt động dịch
vụ, thu nhập thuần
từ hoạt động khác
Thu nhập từ hoạt động tín dụng cùng chiều với lợi nhuận
và rủi ro; thu nhập
từ hoạt động dịch
vụ có tương quan cùng chiều với lợi nhuận và rủi ro; thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác có tương quan ngược chiều với rủi ro và cùng chiều với lợi nhuận
ROA = Tỷ suất sinh lời / Tổng tài sản
Tỷ lệ dư nợ cho vay/
tổng tài sản; tỷ lệ nợ xấu; tỷ lệ dự phòng;
tỷ lệ vốn chủ sở hữu/
tổng tài sản; tỷ lệ tiền gửi khách hàng/
tổng nợ phải trả; tỷ
lệ chi phí/ thu nhập;
logarit tổng tài sản;
chỉ số đa dạng hóa thu nhập; tốc độ tăng trưởng
Tỷ lệ dư nợ cho vay/ tổng tài sản, tỷ
lệ tiền gửi khách hàng tỷ lệ thuận với khả năng sinh lời việc dịch chuyển sang các hoạt động ngoài lãi làm gia tăng cả lợi nhuận
và GDP, lạm phát không có ý nghĩa thống kê
ROA = Tỷ suất sinh lời / Tổng tài sản
sản, tốc độ GDP
Tỷ lệ tổn thất/tổng vốn vay, logarit tổng tài sản, tỷ lệ tổng chi phí/ tổng tài sản tương quan nghịch, thu nhập phi tín dụng tương quan thuận với lợi nhuận và tương quan nghịch với rủi
ro, còn biến GDP không tìm thấy mối tương quan
NIM là thu
Logatit tổng tài sản,
tỷ lệ dư nợ cho vay/
tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu / tổng tài sản, tỷ lệ thu
Tỷ lệ dự nợ cho vay, tỷ lệ vốn chủ
sở hữu / tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi/ tổng thu
Trang 2632 ngân
hàng
nhập lãi cận biên
nhập ngoài lãi/ tổng tài sản, tỷ lệ chi phí/
thu nhập, tốc độ GDP hàng năm
nhập tươn quan thuận trong khi lạm phát, quy mô và tỷ
lệ chi phí/thu nhập tương quan nghịch với khả năng sinh lời
Từ khung phân tích ở trên và qua một số nghiên cứu trước về cơ cấu thu nhập tác động đến lợi nhuận, tác giả xây dựng giả thuyết:
đến lợi nhuận của ngân hàng
đến lợi nhuận của ngân hàng
lợi nhuận của ngân hàng
chiều đến lợi nhuận của ngân hàng
đến rủi ro của ngân hàng
rủi ro của ngân hàng
rủi ro của ngân hàng
đến thu rủi ro của ngân hàng
Trang 27CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, nghiên cứu này sử dụng
phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng 2 phương trình hồi quy dựa trên mô
hình nghiên cứu đề xuất trong Chương 2 và sử dụng dữ liệu trích từ các báo cáo tài
chính của các ngân hàng
3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Các nghiên cứu của Lepetit (2008), Xu Fengju (2013) đều đã đưa ra các biến
phụ thuộc và độc lập điển hình để phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu thu nhập – lợi
nhuận và cơ cấu thu nhập – rủi ro của các ngân hàng thương mại Dựa trên cơ sở
này kết hợp với mức độ phù hợp của các biến này đối với dữ liệu tài chính của các
ngân hàng thương mại tại Việt Nam, mô hình được đề xuất:
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dựa trên dữ
liệu bảng đã được thu thập và mô hình hồi quy được xây dựng Tiếp theo, nghiên
cứu sử dụng phần mềm Stata để xử lý các các yêu cầu về kết quả thống kê, tương
quan, kiểm định và hồi quy
Lợi nhuận
Rủi ro
Biến kiểm soát
- Dư nợ cho vay trên tổng tài sản
- Tiền gửi khách hàng trên tổng tài sản
- Tiền lương nhân viên
- Tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
- Quy mô ngân hàng
- Tăng trưởng kinh tế
Trang 283.2.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp bao gồm số liệu trích từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phẩn tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 đến
2014 Việc chọn lọc dữ liệu phải đảm bảo tính cân bằng của dữ liệu bảng Vì vậy, chỉ có các ngân hàng có đầy đủ thông tin tài chính trong giai đoạn 2008 đến 2014 được đưa vào nghiên cứu
Tóm lại, quá trình chọn lọc dữ liệu cho ra 18 ngân hàng đảm bảo đầy đủ và đúng đắn thông tin báo cáo tài chính qua các năm trong thời gian từ 2008 đến 2014,
dữ liệu bảng mang tính cân bằng và đầy đủ Như vậy sẽ có 108 quan sát cho 18 ngân hàng Dữ liệu này đảm bảo giá trị về mặt thống kê cho việc áp dụng mô hình hồi quy vào nghiên cứu Các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu gồm:
- Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
- Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình
- Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
- Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam
- Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển nhà Tp Hồ Chí Minh
- Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long
- Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt
- Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam
- Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á
- Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương
- Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
- Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
- Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
- Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam
- Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
Trang 29- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
- Ngân hàng Quốc tế của Việt Nam
- Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc dân
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được thu thập và trình bày trên phần mềm Excel, sau đó được xử
lý thống kê và phân tích hồi quy bằng phần mềm Stata Số liệu được xử lý theo trình
2, tùy vào giá trị kiểm định (kiểm định Breusch, kiểm định Hausman) mà chọn phương pháp ước lượng hồi quy phù hợp: Pool OLS, FEM (Fixed effect method) hay REM (Random effect method) Sau khi xác định được phương pháp hồi quy nào hiệu quả hơn sẽ tiếp tục (iii) kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của mô hình Nếu có hiện tượng này xảy ra, nghiên cứu sẽ áp dụng phương pháp hồi quy GLS (Generalized least square) để giải quyết lỗi này; và cuối cùng là (iv) phân tích kết quả hồi quy các mô hình
3.3 Mô hình nghiên cứu
Để có hướng nhìn tổng quát về tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận
và rủi ro của ngân hàng, đề tài xây dựng phương trình hồi quy để tiến hành kiểm định mô hình nghiên cứu có được ở chương 2 Nghiên cứu này dựa vào các yếu tố được sử dụng trong mô hình nghiên cứu của Lepetit và cộng sự (2008); Xu Fengju
và cộng sự (2013); Trujilo, Ponce (2013)….để làm nền tảng; đồng thời thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam
Dựa trên các phân tích nêu trên, hai mô hình hồi quy được xây dựng để lần lượt giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra:
3.3.1 Mô hình 1 về tác động của cơ cấu thu nhập đến lợi nhuận ngân hàng
+ β7DEP + β8TA + β9EQUITY + β10GDP
Trong đó, NII, COM, TRA, HHIR, EXPENSS, LOANS, DEP, TA, EQUITY, GDP lần lượt biểu thị cho tác động riêng biệt của thu nhập thuần từ hoạt
Trang 30động tín dụng trên tổng thu nhập, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập, thu nhập thuần từ hoạt động khác trên tổng thu nhập, đa dạng hóa thu nhập, tiền lương, dư nợ cho vay trên tổng tài sản, quy mô, vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tăng trưởng kinh tế đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
3.3.2 Mô hình 2 về tác động của cơ cấu thu nhập đến rủi ro ngân hàng
RISK = β0 + β1NII + β2COM + β3TRA + β4HHIR+ β5EXPENSS +
Trong đó, NII, COM, TRA, HHIR, EXPENSS, LOANS, DEP, TA, EQUITY, GDP lần lượt biểu thị cho tác động riêng biệt của thu nhập thuần từ hoạt động tín dụng trên tổng thu nhập, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập, thu nhập thuần từ hoạt động khác trên tổng thu nhập, đa dạng hóa thu nhập, tiền lương, dư nợ cho vay trên tổng tài sản, quy mô, vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tăng trưởng kinh tế đến rủi ro của ngân hàng
3.4 Đo lường các biến trong mô hình
3.4.1.Biến phụ thuộc
Có nhiều tác giả sử dụng ROE đo lường khả năng sinh lời như trên như Deyoung và Rice (2004), Canals (1993)
ROE là phản ánh năng lực sử dụng đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
để sinh lời nhuận thế nào Tỷ số này cho thấy tỷ suất sinh lời mà cổ đông thu được trên đồng vốn mình bỏ ra
ROE =
RISK là thước đo rủi ro của ngân hàng Lepetit và cộng sự (2008) kết luận rằng tương quan giữa rủi ro danh mục ngân hàng và vốn chủ sở hữu, đồng thời cho rằng rủi ro phụ thuộc vào các yếu tố này Thu nhập giảm làm thâm hụt vốn, từ đó khiến ngân hàng rơi vào tình trạng có nguy cơ phá sản Do đó chỉ số này được áp dụng để đo rủi ro của ngân hàng
Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu
năm
Trang 31RISK được đo như sau:
RISK = trong đó average ROE là trung bình lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu; SDROE
là độ lệch chuẩn ROE
3.4.2 Biến độc lập
Biến này được xây dựng bằng cách lấy thu nhập lãi thuần chia cho tổng thu nhập của ngân hàng Biến này cho thấy tỷ trọng thu nhập lãi thuần đạt được trong tổng thu nhập Tỉ số này càng nhỏ có nghĩa là nguồn thu nhập của ngân hàng không phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động tín dụng này
NII =
Logan (2001), tỉ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập quan hệ đồng biến với rủi ro Theo Xu Fengju (2013) tỉ lệ thu nhập lãi thuần/ tổng thu nhập cùng chiều với lợi nhuận và cùng chiều với rủi ro
đến lợi nhuận của ngân hàng
đến rủi ro của ngân hàng
Biến thu nhập từ hoạt động dịch vụ phản ánh thu nhập tạo từ phí dịch vụ đạt được trong tổng thu nhập thuần
COM =
Theo Xu Fengju (2013) cho rằng thu nhập từ hoạt động dịch vụ có tác động
Trang 32cùng chiều với lợi nhuận và rủi ro Theo Lepetit và cộng sự (2008) thu nhập từ hoạt động dịch vụ có rủi ro nhiều hơn các hoạt động kinh doanh khác Các ngân hàng thương mại Việt Nam đã thực hiện chiến lược mở rộng nhiều hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, chất lượng dịch vụ ngày càng nâng cao và lợi nhuận từ hoạt động phi tín dụng tăng qua các năm
đến lợi nhuận của ngân hàng
rủi ro của ngân hàng
Biến thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh khác bao gồm: Lãi/ lỗ thuần
từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, lãi/ lỗ thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh, lãi/ lỗ thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư, lãi/ lỗ thuần từ nghiệp vụ mua, bán nợ, công cụ phái sinh TRA được tính như sau:
Các ngân hàng thương mại đa dạng hóa nguồn thu thông qua hoạt động đầu
tư có nhiều rủi ro như đầu tư cổ phiếu, đầu tư bất động sản
lợi nhuận của ngân hàng
rủi ro của ngân hàng
Nghiên cứu sử dụng chỉ số điều chỉnh Herfindahl, chỉ số được tính giống với nghiên cứu của Stiroh và cộng sự (2006)
Trang 33hoạt động kinh doanh khác Nghiên cứu của Tarazi (2014) và Elass (2010) cho rằng
đa dạng hóa thu nhập tăng khả năng sinh lời và làm giảm rủi ro
chiều đến lợi nhuận của ngân hàng
đến thu rủi ro của ngân hàng
3.4.3 Biến kiểm soát
LOANS: Dư nợ cho vay trên tổng tài sản
Biến này phản ánh hoạt động chính của ngân hàng Biến này xác định bằng cách lấy cho vay khách hàng của từng năm chia cho tổng tài sản
LOANS =
Theo Montgomery (2004) cho rằng khi ngân hàng gặp khó khăn thì ngân hàng thường tập trung tăng trưởng tín dụng để tìm kiếm lợi nhuận và thường cho vay với lãi suất cao, đối tượng cho vay là đối tượng có rủi ro cao
DEP: Tiền gửi khách hàng trên tổng tài sản
Biến này xác định bằng cách lấy tiền gửi của khách hàng và vay của các tổ chức tín dụng chia cho tổng tài sản
DEP =
Một trong những hoạt động chính đem lại nguồn thu cho các ngân hàng là huy động vốn nhàn rỗi từ khách hàng Trong tổng nguồn vốn thì nguồn vốn huy động là rất quan trong trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Khi vốn huy động tăng lên ngân hàng tăng việc kiểm soát đối với các nguồn vốn này để đảm bảo quyền lợi của khách hàng đồng thời cũng làm tăng lợi nhuận của ngân hàng Montgomery (2004) khẳng định gia tăng tiền gửi làm tăng rủi ro hoạt động ngân hàng do các vấn đề về biến động lãi suất, bảo quản tài sản, quản lý tài khoản…
EXPENSS: Tiền lương
Trang 34Biến này xác định bằng cách lấy tiền lương nhân viên chia cho tổng thu nhập
EXPENSS =
Quản trị chi phí nhân viên là một việc quan trọng và thể hiện tài năng của nhà quản trị Nếu ngân hàng quản lý tốt được chi phí thì ngân hàng đó sẽ quản lý tốt được chi phí nhân viên Dựa trên nghiên cứu của Lepetit và cộng sự (2008) đã tiến hành kiểm tra chi phí nhân viên có tác động đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng
EQUITY: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
Biến này xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản được dùng để đánh giá mức độ phù hợp của vốn
EQUITY =
Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn được hình thành từ vốn góp của các cổ đông
và lợi nhuận sau thuế được giữ lại Những ngân hàng có vốn chủ sở hữu cao thì ngân hàng sẽ chủ động, linh hoạt trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay từ đó tạo lợi thế cạnh tranh so với ngân hàng khác Khi ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao thì ngân hàng đó tạo được niềm tin với khách hàng và tránh được rủi ro thanh khoản hơn những ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sỡ hữu thấp Trong nghiên cứu của Trujllo (2013); Syafri( 2012); Lepetit và cộng sự (2008) cho rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có tương quan với lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng
TA: Qui mô
Qui mô hoạt động của ngân hàng được thể hiện qua vốn tự có và đây là yếu
tố quan trọng quyết định đến khả năng huy động cũng như cho vay của ngân hàng Qui mô ngân hàng có nhiều cách đo ở đây tác giả sử dụng logarit tự nhiên của tổng tài sản để đo lường qui mô ngân hàng
TA = Logarit (Tổng tài sản) Theo Lepetit (2008); Dharmendra (2010) cho rằng ngân hàng lớn luôn mong muốn mức rủi ro thấp và nó có đủ khả năng để nắm giữa một khoản cho vay tốt nhất với rủi ro thấp nhất có thể Qui mô lớn sẽ mang lại tính kinh tế nhờ phạm vi do
Trang 35việc cung cấp chung các dịch vụ có liên quan Theo Elass (2010) thì các ngân hàng
có quy mô càng lớn sẽ càng làm gia tăng lợi nhuận Tác giả cũng cho rằng sự gia tăng giá trị tài sản khiến ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản cũng như chi phí phát sinh quản lý tài sản, điều này dẫn đến nhiều sai lệch cho lợi nhuận kì vọng của ngân hàng, làm gia tăng rủi ro
GDP: Tăng trưởng kinh tế
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng cao làm cho nền kinh tế phát triển tạo ra nhiều cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp, làm tăng nhu cầu về vốn Sự phát triển của nền kinh tế góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng ngân hàng Tăng trưởng kinh tế có thể dùng để đo khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế Sự tăng trưởng kinh tế phản ánh tổng cầu tăng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, dẫn đễn tăng nhu cầu sử dụng vốn Từ đó, ngân hàng có chức năng
là chu chuyển vốn trong nền kinh tế Tốc độ tăng hàng năm của GDP thực được dùng để tìm tương quan giữa tình hình kinh tế và khả năng sinh lời Tình hình không tốt sẽ làm chất lượng các khoản cho vay giảm, lúc đó sẽ tăng dự phòng tín dụng và giảm khả năng sinh lời
Tóm tắt về các biến trong mô hình 1 và mô hình 2, cách đo lường và kì vọng dấu được trình bày trong bảng 3.1 sau đây
Bảng 3.1 Tóm tắt các biến trong mô hình
Các biến trong Mô hình 1
chủ sở hữu
Deyoung & Rice ( 2004);
Canals (1993), Xu Fengju (2013)
động tín dụng/ Tổng thu