Sự xuất hiện nợ xấu trong ngân hàng có nguyên nhân xuất phát từ những rủi ro mà ngân hàng gặp phải trong quá trình kinh doanh, trong đó rủi ro tín dụng là loại rủi ro quan trọng nhất vì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH NGÂN HÀNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2006 - 2014
SVTH: PHAN HỮU NGỌC HÂN
MSSV: 1254030107 Ngành: Ngân hàng GVHD: TS Nguyễn Thị Thùy Linh
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, lời đầu tiên, em xin chân thành tri ân quý Thầy
Cô, đặc biệt là quý Thầy Cô Khoa Đào tạo đặc biệt, Trường Đại Học Mở TP Hồ Chí Minh, những người đã trực tiếp giảng dạy, tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong những năm học tập tại trường Những kiến thức đó không chỉ là nền tảng để em thực hiện luận văn mà còn là hành trang quý giá để em tiếp tục học ở bậc học cao hơn nhằm bước vào sự nghiệp trong tương lai một cách vững chắc và tự tin
Đặc biệt, em xin gửi lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Thùy Linh - Người Cô
đã hướng dẫn em một cách rất tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện khóa luận, đóng góp ý kiến để em có thể hoàn thiện luận văn một cách chỉnh chu nhất
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, với những hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất cảm kích khi nhận được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
TP.HCM, ngày tháng năm 2016
Sinh viên thực hiện
PHAN HỮU NGỌC HÂN
Trang 3iii
Tên học viên: Phan Hữu Ngọc Hân
Lớp: TN12DB03
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thuỳ Linh
Tên đề tài: Mối quan hệ giữ rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các
ngân hàng thương mại Việt Nam gian đoạn 2006-2014 Nhận xét của gíao viên hướng dẫn:
Sinh viên Phan Hữu Ngọc Hân là một sinh viên năng động, nhạy bén, thể hiện khả năng nghiên cứu độc lập, có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Sinh viên cũng thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn
Đề tài khóa luận tốt nghiệp của sinh viên về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng trong hệ thống NHTM Việt Nam phù hợp với yêu cầu đối với khóa luận tốt nghiệp, có ý nghĩa về khoa học và thực tiễn
Tp HCM, ngày tháng năm 2016
Giảng viên hướng dẫn
TS NGUYỄN THỊ THÙY LINH
Trang 4iv
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
1.4 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶT GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 4
2.2 TRÌNH TỰ THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 8
2.3 CƠ SỞ CHỌN MẪU CÁC NHTM ĐẠI DIỆN 9
2.4 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 9
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 13
3.1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM 13
3.1.1 TÌNH HÌNH TÀI SẢN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2011- 2014 13
3.1.2 TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2011- 2014 15
3.1.3 TÌNH HÌNH TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 16
3.1.4 TÌNH HÌNH RỦI RO TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 18 3.1.5 TÌNH HÌNH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 20
3.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.2.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ 21
3.2.2 PHÂN TÍCH MA TRẬN HỆ SỐ TƯƠNG QUAN 22
3.2.3 KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG ĐA CỘNG TUYẾN 24
3.2.4 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHÙ HỢP CỦA MÔ HÌNH 24
3.2.5 NHẬN XÉT VÀ ĐỐI CHIẾU KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
CHƯƠNG 4:KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 36
Trang 5v
4.2 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ NÂNG CAO LỢI NHUẬN CỦA
NGÂN HÀNG TRONG THỜI GIAN TỚI 37
4.2.1 Giải pháp đối với NHNN 37
4.2.2 Giải pháp đối với NHTM 38
4.2.3 Giải pháp đối với đội ngũ cán bộ ngân hàng 39
4.2.4 Chấp hành đúng chế độ và quy trình tín dụng 40
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 46
Trang 6vi
1 NH TMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
2 NHNN Ngân hàng nhà nước
3 NHTM Ngân hàng thương mại
4 OLS Ordinary Least Squares
5 RRTD Rủi ro tín dụng
6 VCSH Vốn chủ sở hữu
7 CBTD Cán bộ tín dụng
8 KPI Phương pháp thẻ điểm cân bằng
9 CIC Trung tâm Thông tin tín dụng trực
thuộc Ngân hàng Nhà nước
10 TPP Hiệp định đối tác kinh tế xuyên
Thái Bình Dương
11 AEC Cộng đồng kinh tế ASIAN
12 WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7vii
Bảng 2.1 Tóm tắt chiều hướng tác động của các chỉ tiêu đo lường RRTD đến hiệu quả
hoạt động 11
Bảng 3.1 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu ngành ngân hàng 2007- 2014 13
Bảng 3.2 Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát 15
Bảng 3.3 Ma trận hệ số tương quan 18
Bảng 3.4 Một số thông số từ kết quả ước lượng của mô hình (1) với biến phụ thuộc là ROA 20
Bảng 3.5 Một số thông số từ kết quả ước lượng của mô hình (2) với biến phụ thuộc là ROE 21
Bảng 3.6 Kết quả kiểm định nhân tử phóng đại VIF 22
Bảng 3.7 Kết quả hồi quy cho mô hình (1) với biến phụ thuộc là ROA 23
Bảng 3.8 Kết quả hồi quy cho mô hình (2) với biến phụ thuộc là ROE 25
Bảng 3.9 So sánh chiều hướng tác động theo kỳ vọng với kết quả thực nghiệm theo hệ số tương quan với mô hình (1) có biến phụ thuộc là ROA 26
Bảng 3.10 So sánh chiều hướng tác động theo kỳ vọng với kết quả thực nghiệm theo hệ số tương quan với mô hình (2) có biến phụ thuộc là ROE 27
Bảng 3.11 So sánh chiều hướng tác động theo kỳ vọng với kết quả thực nghiệm theo hệ số hồi quy với mô hình (1) có biến phụ thuộc là ROA 27
Bảng 3.12 So sánh chiều hướng tác động theo kỳ vọng với kết quả thực nghiệm theo hệ số hồi quy với mô hình (2) có biến phụ thuộc là ROE 30
Danh mục các hình: Hình 3.1 Cơ cấu tài sản của các ngân hàng Việt Nam năm 2013- 2014 14
Hình 3.2 Cơ cấu nợ phải trả của các ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2013- 2014 15
Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng tín dụng và quy mô tín dụng/GDP 17
Hình 3.4 Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015 18
Hình 3.5 Tỷ lệ ROA và ROE trung bình ngành ngân hàng năm 2013 và 2014 17
Hình 3.6 Cơ cấu nợ xấu theo khối Ngân hàng năm 2013- 2014P 17
Trang 81
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ khi thực hiện chính sách mở cửa, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc ổn định và phát triển trên cơ sở từng bước hội nhập vào nền kinh tế quốc tế Việc chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á, cam kết thực hiện mậu dịch tự
do Châu Á AFTA và ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ là những mốc sự kiện lịch sử quan trọng trong tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam Theo đà phát triển đó, trong năm
2015, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh quan hệ ngoại giao các nước thông qua ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP; chính thức gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), từ đó Việt Nam ngày càng đẩy mạnh giao thương với các nước, tự do hóa thương mại và dịch vụ tài chính, đặc biệt là dịch vụ tài chính ngân hàng đang là vấn đề có tính thời sự hiện nay Việc hội nhập với nền kinh tế khụ vực và thế giới này đã mở ra nhiều
cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức đối với các ngân hàng Việt Nam
Sự xuất hiện của các trung gian tài chính phi ngân hàng và các ngân hàng nước ngoài đến
từ các quốc gia có nền tài chính phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hồng Kông… đã tạo ra nhiều sức ép cạnh tranh lớn Do đó, để thích nghi và hoạt động hiệu quả trong môi trường cạnh tranh toàn diện, ngành ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, phải đảm bảo được hiệu quả hoạt động của mình
Theo báo cáo thường niên của NHNN năm 2014, ngành ngân hàng đang từng bước phát triển, phục hồi sau cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng vẫn còn rất chậm và gặp nhiều khó khăn Lợi nhuận của các ngân hàng từ năm 2010 đến 2014 nhìn chung vẫn còn giảm và chưa thấy dấu hiệu phục hồi rõ rệt Bên cạnh đó, theo báo cáo của VAMC nợ xấu tăng rất nhanh trong giai đoạn từ 2010 đến 2014 Mặc dù năm 2014 được xem là một năm tích cực
và chủ động xử lý nợ xấu nhưng tổng nợ xấu nội bảng là 162,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,11% tổng dư nợ và tăng 23,73% so với năm 2013 Điều này xuất phát từ tình hình kinh tế vĩ mô chưa có nhiều cải thiện, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn,
… gây tác động tiêu cực mạnh mẽ đến lợi nhuận của ngân hàng Sự xuất hiện nợ xấu trong ngân hàng có nguyên nhân xuất phát từ những rủi ro mà ngân hàng gặp phải trong quá trình kinh doanh, trong đó rủi ro tín dụng là loại rủi ro quan trọng nhất vì hiện nay thu nhập từ tín dụng được thống kê là chiếm chiếm trên 70% thu nhập của ngân hàng (theo Báo cáo ngành ngân hàng của VCBS năm 2014)
Đứng trước tình hình đó, thời gian qua Chính phủ và các NHTM luôn cố gắng phân tích, tìm hiểu sự tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của NHTM, nhằm nâng
Trang 92
thống NHTM năng động, mạnh mẽ, có sức cạnh tranh cao trong thời kỳ quốc tế hội nhập
Xuất phát từ những thực tế trên, tác giả thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Mối quan
hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2014”, đồng thời đề tài đề xuất một số giải pháp tương ứng nhằm góp phần
giúp nhà quản lý có cái nhìn sâu sắc hơn về sự tác động của một số yếu tố thuộc rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của ngân hàng để đưa ra những quyết định hợp lý và đúng đắn trong chính sách quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Đề tài này nhằm đạt được mục tiêu phân tích mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014 đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp giúp các NHTM quản trị rủi ro và đảm bảo khả năng sinh lợi trong hoạt động của mình
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu này, các câu hỏi sau cần được giải quyết:
- Thực trạng lợi nhuận và rủi ro tín dụng của các NHTM như thế nào trong giai đoạn
2006 – 2014?
- Rủi ro tín dụng sẽ có tác động như thế nào đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014?
- Các giải pháp nào để quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp phương pháp phân tích thống kê
mô tả, so sánh và phân tích hồi quy OLS trong các bước nghiên cứu của mình Thu thập, tổng hợp, phân tích thống kê, so sánh và mô tả để phân tích thực trạng trạng hoạt động tín dụng, thực trạng rủi ro tín dụng cũng như tác động của rủi ro đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Sau đó, đề tài sử dụng mô hình hồi quy OLS để xử lý số liệu, đưa ra nhận xét đánh giá dựa trên kết quả chạy mô hình của dữ liệu
Nguồn dữ liệu của đề tàiđược thu thập từ báo cáo thường niên và các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Excel 2010 và Stata.12
1.4 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu này có kết cấu bao gồm 4 chương Trong đó:
CHƯƠNG 1 sẽ giới thiệu tổng quan về bài khóa luận bao gồm các nội dung: lý do chọn đề tài viết khóa luận, mục tiêu cần đạt, phương pháp áp dụng, giới hạn phạm vi và kết cấu của khóa luận
Trang 103
và các bài nghiên cứu đã thực hiện trước đây Từ đó xác định quy trình xây dựng mô hình nghiên cứu, lập giả thiết và tiến hành chạy mô hình, là cơ sở quan trọng để phát triển chương 3
CHƯƠNG 3 tiến hành phân tích về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của NHTM, sử dụng các số liệu, dữ liệu thu thập được từ các báo cáo hằng năm của một
số NHTM đã chọn làm mẫu, tiến hành tìm hiểu, áp dụng phương pháp hồi quy và nhận xét dựa trên kết quả thu được Việc phát triển chương 3 nhằm làm rõ rủi ro tín dụng sẽ tác động như thế nào đến lợi nhuận của các NHTM
CHƯƠNG 4 trình bày kết luận của bài luận và đề xuất những các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện hơn cho hoạt động tín dụng của các NHTM
Trang 112.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶT GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, là chiếc cầu nối điều hòa, lưu chuyển những nguồn vốn trong một quốc gia Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới đều bắt nguồn từ ngành ngân hàng Minh chứng mạnh mẽ cho điều này đó là cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2007-2008 Những năm trước đó, các tổ chức tài chính có xu hướng cho vay mạo hiểm trong môi trường tín dụng dễ dãi, cho vay các khoản không đạt tiêu chuẩn; được thế chấp bằng bất động sản thẩm định sai giá, sai quy cách để đạt được tiêu chuẩn cho vay Đến giữa năm 2007, khi bong bóng thị trường bất động sản bị vỡ, dự án kinh doanh nhà ở không còn tốt, dẫn đến các khoản vay đảm bảo bằng bất động sản đều không còn khả năng trả nợ Hàng loạt khoản nợ không thể thu hồi, nhiều ngân hàng bị thua lỗ Từ đó phát sinh một chuỗi sự kiện khác như suy thoái thị trường vốn, suy giảm tính thanh khoản, thu hẹp tín dụng, … đã làm rung chuyển toàn cầu, lây lan
ra nhiều nước trên thế giới làm kinh tế suy thoái, nhiều tổ chức tài chính bị phá sản
Qua đấy thấy được rằng rủi ro tín dụng có tác động rất lớn, tạo ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến ngân hàng, từ đó hàng loạt các bài nghiên cứu về mối quan hệ của rủi ro đến hoạt động của ngân hàng được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng đều mang lại các kết quả tương tự nhau
Theo nghiên cứu của các tác giả nghiên cứu trong nước như Phạm Thanh Bình (2005), Nguyễn Việt Hùng (2008), tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản ROA (Return On Assets)
là một chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả quản lý Nó chỉ ra rằng khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng, nếu mức ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả của hoạt động hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế
Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên VCSH ROE (Return On Equity) là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp
Trang 12lý) (Nguyễn Việt Hùng, 2008) Chỉ tiêu này cũng được sử khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Đối với rủi ro tín dụng của ngân hàng, theo tài liệu của các nghiên cứu trước đây về các chỉ tiêu có khả năng tác động đến lợi nhuận hoạt động của các ngân hàng thương mại bao gồm chỉ tiêu về rủi ro tín dụng, hiệu quả hoạt động, quy mô hoạt động cho vay, mức trích lập dự phòng và tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư nợ Cụ thể:
a Rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng thông thường được đo lường thông qua Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ NPLR (Non-Performing Loans Ratio) Đây là chỉ tiêu được sử dụng hầu hết trong các bài nghiên cứu về tác động của rủi ro đến lợi nhuận của ngân hàng
ở các nước trên thế giới Theo một bài nghiên cứu của tác giả Ramlall (2009) đã tìm thấy các yếu tố bên trong và bên ngoài, ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Đài Loan trong giai đoạn nghiên cứu từ 2002 đến 2007 Trong đó, rủi ro tín dụng có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lời, cứ 1% tăng lên của rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến việc giảm 94%
tỷ suất sinh lợi Tác giả Afriyie và Akotey (2013) đã tìm hiểu mối quan hệ giữa quản trị rủi
ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng nông thôn vùng Brong Ahafo ở Ghana Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính thường niên của 10 ngân hàng trong vòng 5 năm (2006 – 2010) Biến đại diện cho lợi nhuận được sử dụng là ROA; biến đo lường tác động quản lý rủi ro tín dụng là tỷ lệ nợ xấu Dữ liệu bảng sau khi hồi quy đã cho thấy một kết quả trái ngược với lý thuyết: khi nợ xấu cao thì vẫn có thể đạt được lợi nhuận tốt Điều này cũng đồng nghĩa nếu ro tín dụng tăng, tỷ suất sinh lời chưa chắc sẽ giảm theo từng đặc điểm của các quốc gia khác nhau Tuy nhiên, đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của tín dụng, chỉ số này càng lớn thể hiện chất lượng tín dụng càng thấp theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Việt Hùng năm 2008 Tỷ lệ này tăng lên tức ngân hàng có thêm khoản nợ tới hạn nhưng không thu hồi được, làm phát sinh thêm rủi ro tín dụng, mà rủi ro tín dụng có tác động tiêu cực, làm giảm lợi nhuận ngân hàng
Trên cơ sở những thảo luận này, giả thuyết nghiên cứu thứ nhất của đề tài như sau:
Giả thuyết H1: Tỷ lệ nợ quá hạn có tác động ngược chiều đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại tại Việt Nam
b Hiệu quả hoạt động tín dụng và lợi nhuận ngân hàng
Hiệu quả hoạt động tín dụng trong các nghiên cứu trước đây được xác địnhthông qua tỷ lệ chi phí của hoạt động tín dụng (chi phí lãi và các chi phí tương tự) trên thu nhập của hoạt động tín dụng (thu nhập lãi và các thu nhập tương tự) ETI (Credit’s Expense To Credit’s Income) Theo nghiên cứu của tác giả Ji-Li Hu, Chiang-Ping Chen và Yi-Yuan Su (2009)
áp dụng phương pháp phi tham số để nghiên cứu hiệu quả hoạt động và xem xét một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các 12 ngân hàng Trung Quốc thời kỳ 2000 đến 2007 Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi có tác động trái chiều với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, có nghĩa là tỷ lệ chi phí lãi càng cao thì
Trang 13hoạt động của ngân hàng hiệu quả càng thấp Còn theo tác giả Abbas và các cộng sự (2014)
đã thực nghiệm nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng (ba biến giải thích là tỷ lệ nợ xấu,
tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng) đến lợi nhuận của ngân hàng ngân hàng (ROA) tại Pakistan trong giai đoạn từ 2006 đến 2011 Kết quả quả hồi quy cho thấy rủi ro tín dụng hoàn toàn có tác động tiêu cực lên hiệu quả hoạt động ngân hàng Cụ thể khi tỷ lệ nợ xấu, tổng chi phí lãi/tổng thu nhập lãi và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tăng 1% sẽ làm cho ROA giảm lần tương ứng là 1.6%, 3% và 9% Qua hai nghiên cứu trên cho thấy, tỷ lệ chi phí lãi đều có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của ngân hàng Trong chỉ tiêu này, tử số thể hiện khoản ngân hàng chi ra trong hoạt động tín dụng như trả lãi tiền gửi, trả lãi các khoản ngân hàng đi vay để có được nguồn vốn đầu vào, còn mẫu số là các khoản thu của ngân hàng trong hoạt động tín dụng như thu lãi của các khoản cho vay, thu lãi tiền ngân hàng đi gửi, … thể hiện kết quả của đầu ra Nó cho biết ngân hàng
có đang sử dụng đầu vào để tạo đầu ra một cách có hiệu quả hay không Nếu chỉ tiêu này càng cao, tức khoản thu nhập ở mẫu số bị giảm đi trong khi khoản chi phí là tử số thì không đổi hoặc tăng lên, cũng cho thấy các khoản cho vay của ngân hàng kém chất lượng, dễ bị phát sinh rủi ro tín dụng Do đó chỉ tiêu này có kỳ vọng sẽ tác động ngược chiều với lợi nhuận ngân hàng Như vậy, giả thuyết nghiên cứu thứ hai của đề tài được phát triển như sau
Giả thuyết H2: Hiệu quả hoạt động tín dụng tác động cùng chiều đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
c Quy mô hoạt động cho vay và lợi nhuận ngân hàng
Quy mô hoạt động cho vay được xác định theo tỷ lệ doanh số cho vay trên tổng tài sản LTA Do các khoản vay ngân hàng là tương đối kém thanh khoản và chịu rủi ro vỡ nợ cao hơn so với tài sản của ngân hàng khác, ngụ ý một sự tiềm tàng phát sinh rủi ro tín dụng (U.S Business Reporter, 2015) Bài nghiên cứu của tác giả Fitch Ratings năm 2009 đã chỉ
ra rằng tỷ lệ này càng lớn sẽ có tác động làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên theo nghiên cứu của tác giả Võ Bảo Mai Trâm (2013) đã phân tích yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận tám ngân hàng TMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2007 đến 2012 Từ mô hình hồi quy, Võ Bảo Mai Trâm thu được kết quả là chỉ tiêu tổng dự nợ/tổng tài sản không có ý nghĩa thống kê, đồng nghĩa với việc nó không có tác động đến ROA Tuy nhiên, khi tỷ số này càng cao cho thấy ngân hàng đang thực hiện mở rộng doanh số cho vay, nhưng với doanh số cho vay lớn nếu không được hoàn trả đúng hạn, ngân hàng có khả năng hứng chịu mức độ thiệt hại từ rủi ro tín dụng cao hơn, làm giảm lợi nhuận, hay nói cách khác có tác động ngược chiều đến lợi nhuận của ngân hàng Mặt khác ngân hàng có ít sức đối phó hơn với nguy cơ rút tiền gửi ồ ạt bất ngờ khi rủi ro tín dụng xảy ra Do đó tác gỉa đặt giả thuyết
H3 đối với chỉ tiêu này là:
Giả thuyết H3: Quy mô hoạt động cho vay có tác động ngược chiều với lợi nhuận của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Trang 14d Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ RTL (Non-performing loan’s Reserves To gross Loans) theo một nghiên cứu của tác giả Gizaw và các cộng sự (2015) nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận tại các ngân hàng thương mại ở Ethiopia, dữ liệu nghiên cứu thu thập từ tám ngân hàng thương mại Ethiopia trong 10 năm từ 2003 đến 2012 Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng, còn tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng Theo một bài nghiên cứu khác của Oke và các cộng sự (2012) thực hiện lại nghiên cứu này tại quốc gia Nigeria Họ sử dụng dữ liệu thu thập từ 5 ngân hàng được chọn trong khoảng thời gian 11 năm (từ 2000 đến 2010) Kết quả hồi quy cho thấy khi tỷ lệ nợ xấu và tổng dự nợ/tổng tiền gửi tăng 100% sẽ làm ROA giảm tương ứng là 6.2% và 0.65% Trong khi đó tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng lại tác động tích cực đến ROA khi tỷ lệ này tăng 100% sẽ làm ROA tăng 9.6% Tuy nhiên nghiên cứu của tác giả Norman và các cộng sự (2015) đã tiến hành đo lường tác động của rủi ro tín dụng lên lợi nhuận của 18 ngân hàng
ở Bangladesh từ 2003 đến 2013 Kết quả thu được sau khi hồi quy dữ liệu bằng mô hình tác động ngẫu nhiên REM, GLS và GMM là tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng luôn tác động nghịch chiều với ROA, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Theo Fitch ratings (2009), tỷ lệ này phản ánh chất lượng các khoản vay của ngân hàng, chỉ ra có bao nhiêu phần trăm trong tổng doanh số đã cho vay mà không còn tạo lợi nhuận được nữa Tỷ lệ này càng cao, chất lượng khoản vay càng kém và do đó rủi ro tín dụng càng cao, làm giảm lợi nhuận thu về của tác giả Do đó tác giả đặt giả thuyết là
Giả thuyết H4: Tỷ lệ trích lập dự phòng tín dụng có tác động ngược chiều đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại tại Việt Nam
e Tỷ lệ thu nhập lãi và lợi nhuận ngân hàng
Tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư nợ ITL (Credit’s Income To gross Loans) được nghiên cứu trong mô hình hồi quy của tác giả Ravy (2012) đã nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng ở Nigeria với mẫu dữ liệu được lấy trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2008 từ các báo cáo thường niên Bằng phương pháp hồi quy, kết quả cho thấy tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ; tổng dư nợ trên tổng vốn huy động đều có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng (ROA), còn tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư nợ có tác động cùng chiều với ROA Một nghiên cứu khac của các tác giả Alper và Anbar cũng tiến hành tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của 10 ngân hàng thương mại tại Thổ Nhĩ kỳ trong chín năm từ 2002 đến 2010 thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy tác động cố định FEM Trong số các kết quả thu được sau cùng cũng cho thấy tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư
nợ có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lời của các khoản vay Tỷ lệ này càng cao cho thấy các khoản vay càng có chất lượng tốt, rủi ro tín dụng đối với ngân hàng càng thấp, do đó giả thuyết đặt ra với chỉ tiêu này là
Giả thuyết H5: Tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư nợ có tác động biến động cùng chiều đến lợi
Trang 15nhuận của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
2.2 TRÌNH TỰ THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU
Trình tự thực hiện nghiên cứu của tác giả bao gồm các bước như sau:
Bước 1: Đặt giả thuyết nghiên cứu
Bước 2: Xác định cơ sở chọn mẫu nghiên cứu
Bước 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu
Bước 4: Tiến hành chạy mô hình, thu thập kết quả
Bước 5: Phân tích thống kê mô tả
Bước 6: Phân tích ma trận hệ số tương quan
Ma trận hệ số tương quan được sử dụng để xem xét mối tương quan tuyến tính giữa tất cả các biến cần nghiên cứu, cụ thể ở đây là mối quan hệ giữa tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận sau thuế trên VCSH (ROE), tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi (ETI),
tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng tổng dư nợ (NPLR), tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản (LTA), tỷ
lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ (RTL) và tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư nợ (ITL) Các biến này sẽ được nói đến rõ hơn ở những phần sau
Bước 7: Thực hiện ước lượng hồi quy
Bước 8: Đánh giá độ phù hợp của mô hình
Hệ số xác định R2 đã được chứng minh là hàm không giảm theo số biến độc lập được đưa vào mô hình, càng đưa thêm biến độc lập vào mô hình thì R2 càng tăng Tuy nhiên điều này cũng được chứng minh rằng không phải phương trình càng có nhiều biến sẽ càng phù hợp hơn với dữ liệu Như vậy R-squared có khuynh hướng là một ước lượng lạc quan của thước
đo sự phù hợp của mô hình đối với dữ liệu trong trường hợp có hơn 1 biến giải thích trong
mô hình Tuy nhiên để đánh giá độ phù hợp của mô hình một cách an toàn hơn, ta còn xét đến hệ số R2 điều chỉnh (Adjusted R-squared) từ R2 để phản ảnh sát hơn mức độ phù hợp của mô hình bởi R2 điều chỉnh không nhất thiết tăng lên khi nhiều biến được thêm vào phương trình và không phụ thuộc vào độ lệch phóng đại của R2 do đó tránh không thổi phồng mức độ phù hợp của mô hình
Bước 9: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
Vấn đề đa cộng tuyến xảy ra khi các biến (nhân tố) độc lập có tương quan tuyến tính khá mạnh với nhau Nói cách khác hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra khi có mối tương quan tuyến tính hiện hữu giữa 2 biến độc lập trở lên trong mô hình Khi đó sẽ dẫn đến các vấn đề như hạn chế giá trị của r bình phương; làm sai lệch hoặc đổi dấu các hệ số hồi quy
Việc kiểm định đa cộng tuyến có nhiều cách, tuy nhiên có hai cách phổ biến được tác giả Damodar N Gujarati (2004) đề cập đến đó là dựa vào ma trận các hệ số tương quan từng
Trang 16đôi giữa các biến hồi quy độc lập và kiểm tra nhân tử phóng đại VIF (variance-inflating factor) như sau: hệ số tương quan từng đôi giữa các biến hồi quy độc lập: nếu hệ số tương quan từng đôi giữa hai biến hồi quy độc lập cao hơn 0,8, thì đa cộng tuyến trở thành một vấn đề nghiêm trọng Đối với nhân tử phóng đại VIF, quy tắc là khi VIF vượt quá 10, đó là dấu hiệu của đa cộng tuyến
2.3 CƠ SỞ CHỌN MẪU CÁC NHTM ĐẠI DIỆN
Theo số liệu thống kê của NHNN, hiện nay nước ta có hơn 35 ngân hàng NHTM Dựa trên
số liệu có thể thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng, tác giả chọn ra 33 ngân hàng
để nghiên cứu và phân tích, đây là những NHTM có sự tương đồng về quy mô, đại diện cho các hình thức sở hữu khác nhau, ngày càng chiếm thị phần chủ yếu, có thể đại diện cho hệ thống các NHTM tại Việt Nam Đó là các các NHTM nhà nước có quy mô và thị phần tín dụng lớn, các ngân NHTM tư nhân đã niêm yết và các ngân hàng liên doanh với nước ngoài giai đoạn từ năm 2006 đến 2014
Sau khi đã chọn được mẫu nghiên cứu, ta sẽ xác định các biến cho mô hình nghiên cứu Các biến được chọn là những chỉ tiêu phản ánh, đo lường rủi ro tín dụng cũng như lợi nhuận của các NHTM, đồng thời dự đoán chiều hướng tác động của các biến giải thích lên biến phụ thuộc
2.4 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Mặc dù vấn đề đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở trong nước đã được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu này đều tiếp cận theo phương pháp phân tích định tính truyền thống và phạm vi nghiên cứu chỉ bó hẹp trong phân tích cho một hoặc một vài ngân hàng thương mại nhà nước, hoặc chỉ trong phạm vi các ngân hàng thương mại được niêm yết Trong khi đó các nghiên cứu định lượng còn ít và hạn chế nhiều về phương pháp tiếp cận
Ở nước ngoài, phương pháp phân tích định lượng được sử dụng nhiều trong một số các nghiên cứu như bài nghiên cứu các ngân hàng thuộc quốc gia Nigeria của Hamisu (2014) cũng đã chứng minh được tác động tiêu cực của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận Tác giả sử dụng mô hình hồi quy OLS trên phương trình như sau:
ROA = α0 + α1NPL/LA+ α2LA/TD + е
Trong đó, biến phụ thuộc là tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) và các biến độc lập là các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng gồm tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ (NPL/LA),
tỷ lệ doanh số cho vay trên doanh số tiền gửi (LA/TD) đã có được kết quả như sau:
ROA = 1,634046 - 0,515976 NPL/LA – 2,519801 LA/TD + e Các hệ số gắn với các biến độc lập mang giá trị âm cho thấy tác động nghịch chiều Cụ thể
tỷ lệ NPL/LA tăng 1% thì ROA sẽ giảm đi gần 51,6%, tỷ lệ LA/TD tăng 1% thì ROA sẽ giảm đi khoảng 251,98%
Trong khi đó, cũng nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận, sử dụng các
Trang 17biến về lợi nhuận và rủi ro tín dụng như trên nhưng Olawale (2014) sử dụng mô hình hồi quy đơn, và có được kết quả như sau:
ROA = 0,022 - 0,094LA/TD - 0,463NPL/LA + e
Mặc dù Olawale (2014) tách ra phân tích riêng sự tác động của từng biến rủi ro đến ROA, nhưng các kết quả vẫn đưa đến sự giảm đi của ROA khi có sự tăng lên của LA/TD hoặc NPL/LA
Cũng thực hiện nghiên cứu này nhưng tại các ngân hàng thương mại ở Nepal, Ravi (2012)
sử dụng mô hình với biến độc lập khác hai nghiên cứu trên, cụ thể như sau:
ROA = β 0 + β 1 DR + β 2 CLA+ β 3 CAR+ e
Trong đó, DR (Default rate) là tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ, CLA (Cost per loan asset) là tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng nợ, CAR (Capital Adequacy Ratio) là tỷ lệ an toàn vốn Ravi (2012) tìm thấy kết quả là một sự tăng lên 1% của các chỉ tiêu DR, CLA, CAR sẽ làm giảm chỉ tiêu ROA lần lượt là 56%, 4,8%, 25,2%
Tương tự, các bài nghiên cứu về sự tác động của rủi ro tín dụng lên hiệu quả hoạt động tại một số quốc gia khác như tại Pakistan của Asad Abbas và các tác giả (2014), tại Kenya của Danson và Adano (2011) và tại Ethiopia của Million và các tác giả (2015) cũng đều thể hiện ảnh hưởng tiêu cực mặc dù các mô hình đều có nét khác biệt riêng
Như vậy, tác động của rủi ro tín dụng lên lợi nhuận của các ngân hàng ở Việt Nam liệu rằng
sẽ có cùng kết quả như các quốc gia khác hay không, để làm rõ được vấn đề này tác giả sẽ tiến hành thực hiện nghiên cứu sự tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam
Ở bài nghiên cứu này tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế lượng bao gồm thống kê mô tả, phân tích ma trận hệ số tương quan, phân tích hồi quy để nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động tạo lợi nhuận của các NHTM tại Việt Nam dựa trên một số NHTM mẫu có tính đại diện Như vậy, biến phụ thuộc là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động, biến độc lập là các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng Dựa vào nội dung ở phần 2.1, các chỉ tiêu sẽ được dùng để đo lường hiệu quả hoạt động bao gồm lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản, lợi nhuận sau thuế trên VCSH, các chỉ tiêu được dùng để
đo lường rủi ro tín dụng bao gồm tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ
và tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư nợ
Mô hình có dạng như sau:
ROA = β 0 + β 1 ETI + β 2 NPLR+ β 3 LTA + β 4 RTL + β 5 ITL + е (1) ROE = β’ 0 + β’ 1 ETI + β’ 2 NPLR+ β’ 3 LTA + β’ 4 RTL + β’ 5 ITL + е (2)
Trong đó:
ROA (Return On Assets) là tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản
ROE (Return On Equity) là tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Trang 18ETI (Credit’s Expense To Credit’s Income) là tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi
NPLR (Non-Performing Loans Ratio) là tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ
LTA (Gross Loans To total Assets) là tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản
RTL (Non-performing loan’s Reserves To gross Loans) là tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ
ITL (Credit’s Income To gross Loans) là tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư nợ
βi là các hệ số thể hiện sự mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc e là sai số
Mô hình nghiên cứu này được tác giả phát triển dựa trên mô hình của Hamisu (2014) như sau:
ROA = α 0 + α 1 NPL/LA+ α 2 LA/TD + е
Tuy nhiên tác giả xây dựng mô hình này không hoàn toàn giống với mô hình của Hamisu, biến đo lường rủi ro tín dụng bằng tỷ lệ doanh số tiền gửi trên tổng dư nợ cho vay (LA/TD) trong mô hình của Hamisu đã không được giữ lại do biến này có tính thiên về đo lường khả năng thanh khoản nhiều hơn (theo Hiệp hội ngân hàng Việt Nam) Bên cạnh đó, dựa trên một số bài nghiên cứu khác về các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động, tác giả bổ sung thêm một số biến đo lường rủi ro tín dụng khác vào mô hình Từ mô hình của tác giả Nguyễn Việt Hùng (2008), Fitch Ratings (2009), tác giả bổ sung biến LTA và RTL Dựa vào mô hình của tác giả Ravi (2012), tác giả đã bổ sung biến tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư nợ (ITL) Ngoài ra, dựa theo bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Việt Hùng (2008), định nghĩa hiệu quả hoạt động cũng cho thấy dấu hiệu tác động của biến ETI
Từ các biến được đề cập và phân tích, tác giả lập bảng kỳ vọng chiều hướng tác động của các biến đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng như dưới bảng 2.1 như sau
Bảng 2.1 Tóm tắt chiều hướng tác động của các chỉ tiêu đo lường RRTD đến
lợi nhuận của các NHTM
Biến quan sát Tác động theo kỳ vọng
Tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi (ETI) -
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ (NPLR) -
Tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản (LTA) -
Tỷ lệ dự phòng RRTD trên tổng dư nợ (RTL) -
Tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng dư nợ (ITL) +
Ghi chú:
(-): tác động ngược chiều (+): tác động cùng chiều
Sau khi mô hình đã được xác định, ta sẽ tiến hành đưa số liệu để được thu thập từ 33 ngân
Trang 19hàng mẫu đã được chọn ở mục 2.4 trong khoảng thời gian từ năm 2006- 2014 vào để chạy
mô hình và bắt đầu phân tích các kết quả ở chương tiếp theo
Kết luận chương 2:
Như vậy, kết thúc chương 2, tác giả đã đề cập đến cơ sở lý luận, lập trình tự nghiên cứu để thực hiện bài nghiên cứu một cách hệ thống, khoa học Tác giả đã thực hiện và xây dựng được mô hình nghiên cứu, từ đó tiến hành phân tích dữ liệu bằng phần mềm stata và cho ra các kết quả làm cơ sở phân tích mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của ngân hàng ở chương tiếp theo sau đây
Trang 20CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC
NHTM TẠI VIỆT NAM
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu mà tác giả đã đề ra ở chương 1, sau khi thu thập và xử lý
số liệu, xây dựng mô hình nghiên cứu, việc phân tích chặt chẽ các kết quả của mô hình là
vô cùng quan trọng
3.1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2006- 2014
3.1.1 TÌNH HÌNH TÀI SẢN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tài sản tại các NHTM trong thời gian qua có sự tăng trưởng rõ rệt, được thể hiện theo nhóm ngân hàng trong biểu đồ 3.1 như sau
Biểu đồ 3.1 Tình hình tài sản các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011-2014
Trang 212012 các NHTM cổ phần rõ ràng tăng trưởng nhanh hơn các NHTM nhà nước
Ngoài ra, tuy chỉ có 5 NHNN nhưng giá trị tổng tài sản của nhóm ngân hàng chiếm tỷ trọng rất cao và ngày càng tăng trưởng Theo báo cáo tài chính của các ngân hàng, tại thời điểm năm 2014, tổng tài sản của Vietinbank đang dẫn đầu hệ thống với hơn 597 nghìn tỷ đồng, theo sau là BIDV với 579 nghìn tỷ và Vietcombank hơn 504 nghìn tỷ đồng (số liệu được đính kèm trong phần phụ lục 1) Các ngân hàng này cũng bỏ khá xa tài sản của các ngân hàng cổ phần nhóm sau với quy mô gấp hơn 2 lần Tổng tài sản của MDBank hiện đang nhỏ nhất hệ thống khi đạt chưa đầy 7 nghìn tỷ đồng Cùng với SaiGonBank thì đây là 2 ngân hàng duy nhất có tổng tài sản dưới 20 nghìn tỷ đồng
Tình hình cơ cấu tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam được thể hiện qua hình 2.1sau đây:
Hình 3.1 Cơ cấu tài sản của các ngân hàng Việt Nam năm 2013- 2014
Đơn vị tính: %
Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng của KPMG
Hình 3.1 cho ta thấy được cơ cấu tài sản của các NHTM qua hai năm gần đây Nhìn chung,
dư nợ cho vay khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản của các ngân hàng Đây là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng là thành phần chứa đựng rủi ro lớn nhất mà ngân hàng cần phải đặc biệt quan tâm và quản lý chặt chẽ Khoản mục lớn thứ hai đó là tiền gửi và cho vay với các tổ chức tín dụng khác, hay nói cách khác là các khoản giao dịch trên thị trường liên ngân hàng Như vậy, các ngân hàng có mối liên hệ với nhau rất lớn, nên nếu một ngân hàng hoạt động thất bại thua lỗ thì cũng sẽ có khả năng làm lây lan ảnh hưởng tiêu cực các ngân hàng khác, cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 là một
Trang 22minh chứng Chứng khoán đầu tư chiếm tỷ trọng lớn thứ ba và cuối cùng là các một số khoản mục tài sản khác.
3.1.2 TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM 2011- 2014
Biểu đồ 3.2 Tăng trưởng vốn điều lệ theo nhóm của các NHTM Việt Nam
Đến năm 2014, tổng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng đạt hơn 428,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,21% so với cuối 2013 Trong đó nhóm các ngân hàng thương mại Nhà nước có vốn điều
lệ 130.634 tỷ đồng, ngân hàng TMCP là 190.314 tỷ đồng, tổng cộng chiếm 75% vốn của toàn hệ thống Phụ lục 1 cho thấy Vietinbank hiện là ngân hàng dẫn đầu hệ thống về vốn điều lệ với hơn 37,200 tỷ đồng, cao hơn trên dưới chục nghìn tỷ so với 3 ngân hàng ở vị trí tiếp theo là Agribank, BIDV và Vietcombank Trong hệ thống, vẫn có 12 ngân hàng vốn
Trang 23điều lệ dưới 4,000 tỷ, trong đó có 6 ngân hàng vốn tròn 3,000 tỷ - tối thiểu theo quy định của NHNN – đó là BaoVietBank, KienLongBank, NamABank, PGBank, VietcapitalBank
và VietBank
Về cơ cấu nợ phải trả được thể hiện trong hình 2.2 như sau
Hình 3.2 Cơ cấu nợ phải trả của các ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2013- 2014
Đơn vị tính: %
Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng của KPMG
Hình 3.2 cho ta thấy được cơ cấu nợ phải trả của các NHTM giai đoạn 2013- 2014 Tiền gửi của khách hàng là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hệ thống NHTM Đây là nguồn đầu vào chủ yếu của các NHTM cho hoạt động tín dụng, ngân hàng sử dụng các nguồn vốn nhàn rỗi huy động được là những khoản tiền gửi này và sau đó cung cấp cho các chủ thể cần vốn Khoản mục này là lớn nhất vì vậy tạo nên áp lực phải trả chủ yếu của các NHTM Quan trọng hơn khi sử dụng chúng để hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải hết sức thận trọng trong việc phê duyệt cho vay bởi nếu rủi ro tín dụng xảy ra cho lượng lớn các khoản vay thì ngân hàng không những chỉ bị mất thu nhập lãi mà còn mất thanh khoản, không đủ vốn để trả cho các khoản tiền gửi đến hạn dễ dẫn đến sụp đổ, phá sản như những cuộc khủng hoảng đã xảy ra trước đây Khoản mục tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong tổng nợ phải trả của các ngân hàng Như
đã nói ở phần tài sản thì hiện nay các NHTM Việt Nam đều đang có mối liên hệ với nhau trên thị trường liên ngân hàng rất sôi nổi
3.1.3 TÌNH HÌNH TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
Hệ thống ngân hàng Việt Nam được thành lập 1990 và có tốc độ phát triển rất mạnh mẽ
Trang 24Kể năm 2007 đến nay tốc độ tăng trưởng doanh thu toàn ngành là 19.47% và đây là mức tăng trưởng cao hơn 3 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình giai đoạn 2007- 2014 của nền kinh tế Việt Nam (theo báo cáo ngành ngân hàng của MBS) Doanh thu cụ thể của ngành tín dụng giai đoạn 2007- 2014 được thống kê trong bảng dưới đây
Bảng 3.1 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu ngành ngân hàng 2007- 2014
Quy mô và tầm quan trọng của ngành ngân hàng so với nền kinh tế cũng tăng theo thời gian, và cũng từ năm 2007, quy mô tín dụng trên tổng GDP nền kinh tế luôn ở mức cao hơn 80%, cụ thể qua đồ thị trong hình dưới đây
Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng tín dụng và quy mô tín dụng/GDP
Đơn vị tính: %
Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam của MBS
Hình 3.3 cho thấy được các ngân hàng Việt Nam đã thể hiện sự tăng trưởng ấn tượng trong tín dụng từ năm 2001, đạt điểm cao nhất vào năm 2007 với tốc độ tăng trưởng tín dụng là 53,9% Trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2014, tăng trưởng tín dụng của ngành giảm mạnh
và chỉ còn 13% vào năm 2014 Tuy nhiên, từ sau năm 2007, đóng góp của ngành ngân
Trang 25hàng vào GDP chiếm tỉ lệ càng cao, càng thể hiện tầm quan trọng của ngành ngân hàng trong nền kinh tế hiện nay
3.1.4 TÌNH HÌNH RỦI RO TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
Giai đoạn những năm gần đây, các NHTM Việt Nam đang phải đối phó với tình trạng nợ xấu tăng liên tục như hình 3.4 như sau
Hình 3.4 Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015
Đơn vị tính: %
Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng của VCBS
Thông qua hình 3.4, nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam nhìn chung có xu hướng tăng đều qua các năm theo báo cáo của các ngân hàng
Dựa vào số liệu tổng hợp, thì nợ xấu có xu hướng gia tăng từ năm 2007, đến năm 2010, tỷ
lệ nợ xấu của hệ thống NHTM theo báo cáo của NHNN chưa tính nợ của Vinashin thì chỉ 2,52%, tương đương khoảng 58.000 tỉ đồng Con số khá nhỏ và trong tầm kiểm soát, mặc
dù gia tăng khá nhiều so với năm 2009 là 2,05% Trong thời gian này, nợ xấu vẫn chưa được đánh giá là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng gây ra bất ổn tài chính quốc gia Do đó, tỷ
lệ tăng trưởng tín dụng năm 2010 tiếp tục duy trì ở mức tăng 27,65% (hình 3.3 Và các NHTM phải tự xử lý nợ xấu thông qua trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định hoặc phát mãi tài sản bảo đảm hoặc tái cơ cấu lại nợ vay
Năm 2011, nợ xấu bắt đầu gia tăng về giá trị lên 85,000 tỷ đồng, chiếm 3.3% tổng dư nợ Đồng thời, các NHTM bắt đầu gặp khá nhiều trục trặc về thanh khoản và kết quả hoạt động kinh doanh chững lại Đây là hậu quả tất yếu của: chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và
có phần thắt chặt, nợ xấu tích tụ từ nhiều năm trước được bùng phát và tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ ngày càng nhiều Điều này ảnh hưởng rất lớn tới hệ thống ngân hàng thương mại, làm gia tăng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng; giảm tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu;
Trang 26rủi ro thanh khoản, kỳ hạn, rủi ro đổ vỡ hệ thống ngân hàng Và các giải pháp được sử dụng
để xử lý nợ xấu năm 2011 phân tán ở từng ngân hàng thông qua siết chặt thẩm định khách hàng vay vốn; hay đảo nợ, giãn/ hoãn/ giảm nợ; và tuân thủ quy định, điều kiện cho vay với doanh nghiệp nhà nước
Năm 2012, kết quả tất yếu là bùng nổ tỷ lệ nợ xấu, đồng thời xuất hiện sự thiếu chính xác trong báo cáo số liệu nợ xấu của các ngân hàng Trong giai đoạn 2008 – 2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân là 26,56% (hình 3.3), nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu lại ở mức 51% Do đó, nợ xấu được quan tâm bởi rất nhiều thành phần kinh tế, các cấp và ngành Ngày 03/01/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 01/NQ – CP, về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012
Đến năm 2014, một năm tích cực và chủ động xử lý nợ xấu Theo báo cáo của các TCTD, đến cuối năm 2014, tổng nợ xấu của hệ thống ngân hàng có xu hướng tăng nhanh trong các tháng đầu năm 2014 do tình hình kinh tế vĩ mô chưa được có nhiều cải thiện, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn, TCTD áp dụng chuẩn mực mới về phân loại nợ chặt chẽ hơn để phản ánh chính xác hơn chất lượng tín dụng và thực trạng nợ xấu,
từ đó thúc đẩy xử lý nợ xấu NHNN tiếp tục ban hành các đề án, thông tư và xem VAMC vẫn là công cụ chiến lược trong việc giảm dần nợ xấu của các TCTD Lũy kế từ tháng 10/2013 đến 31/12/2014, VAMC đã thực hiện mua 133.555 tỷ đồng dư nợ gốc với giá mua 108.652 tỷ đồng của 39 TCTD
Theo báo cáo từ NHNN, tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2014 đạt mức 3,25%, thấp nhất kể từ năm
2012, chủ yếu nhờ sự nỗ lực xử lý của VAMC Tuy nhiên dựa vào hình 3.5 cho thấy tỷ lệ
nợ xấu đang tăng rất nhanh trong nhóm các NHTMCP từ mức 47,437% cuối năm 2013 lên đến mức 74,132% vào cuối năm 2014, điều này đặt ra nhiều thách thức và nhiệm vụ đối với cấp quản lý và các tổ chức tín dụng trong xử lý nợ xấu, xây dựng hệ thống ngân hàng Việt Nam vững mạnh hơn
Trang 27Hình 3.5 Cơ cấu nợ xấu theo khối Ngân hàng năm 2013- 2014
Nguồn: Báo cáo của NHNN
3.1.5 TÌNH HÌNH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT
NAM
Tỷ lệ ROA và ROE những năm gần đây có xu hướng giảm, cụ thể qua hình 3.5 sau
Hình 3.5 Tỷ lệ ROA và ROE trung bình ngành ngân hàng năm 2013 và 2014
Đơn vị tính: %
Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam của VPBS
Theo hình 3.5, tỷ lệ ROA và ROE trung bình của tất cả các tổ chức tín dụng đã giảm trong năm 2014 Xu hướng đi xuống này bắt đầu từ năm 2011 ở phần lớn các ngân hàng Về tổng thể, NH nước ngoài và ngân hàng liên doanh có tỷ lệ ROA cao nhất nhưng ROE lại thấp nhất, cho thấy NH nước ngoài và ngân liên doanh sử dụng ít đòn bẩy tài chính hơn các ngân hàng trong nước Nhóm NHTM nhà nước có tỷ lệ ROA và ROE cao hơn NHTM cổ phần, đặc biệt khả năng sinh lời trên tổng tài sản của các NHNN gần như gấp đôi các nhóm NHTM khác,
Trang 28thể hiện như trong hình 3.5
3.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.2.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ
Sau khi chạy mô hình, đầu tiên ta có được bảng 3.1 thể hiện kết quả thống kê mô tả như sau:
Bảng 3.1 Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát
Nguồn: Tính toán của tác giả
Bảng 3.1 cho thấy hầu hết giá trị độ lệch chuẩn đều nhỏ hơn nhiều so với giá trị trung bình của các biến quan sát, điều này cho thấy giá trị trung bình cũng có ý nghĩa để thảo luận hơn Dưới đây là một số phân tích cụ thể các biến trong mô hình:
Chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản ROA của các NHTM trong mẫu nghiên cứu giao động từ giá trị thấp nhất là -0,13% đến giá trị cao nhất là 3,13%, với độ lệch chuẩn là 0,61%
có thể chấp nhận được ROA trung bình ở mức 1,06% Theo quan sát biến động ROA của các NHTM trong mẫu nghiên cứu giai đoạn năm 2006-2014, ta thấy ROA có xu hướng đi xuống rõ rệt từ năm 2010 giống với xu hướng chung của toàn ngành Điều này cho thấy lợi nhuận của các NHTM đang giảm xuống
Tương tự, đối với chỉ tiêu ROE của các NHTM trong mẫu nghiên cứu giai đoạn năm
2006-2014 cũng có xu hướng đi xuống rõ rệt từ năm 2011 giống với xu hướng chung của toàn ngành Chỉ tiêu ROE của các NHTM trong mẫu nghiên cứu giao động từ giá trị thấp nhất là -10,84 đến giá trị cao nhất là 44,25%, với độ lệch chuẩn là 8,2% có thể chấp nhận được ROE trung bình ở mức 12,49%
Chỉ tiêu chi phí lãi trên thu nhập lãi (ETI) của các NHTM trong mẫu nghiên cứu dao động
từ giá trị thấp nhất là 24,41% đến giá trị cao nhất là 88,78%, với độ lệch chuẩn là 13,22% ETI trung bình ở mức 46,42% Dựa vào dữ liệu nghiên cứu, chỉ tiêu ETI có dao động tương đối ngược chiều so với cả ROA và ROE, giai đoạn năm 2006-2014, ETI có xu hướng tăng trong khi ROA và ROE giảm, tiềm tàng một sự tác động trái chiều giữa chỉ tiêu này và lợi