1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014

98 405 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 894,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài Một trong những mối quan tâm được nhiều nhà nghiên cứu trước đây tiếp cận về yếu tố năng lực cạnh tranh tranh tác động đến khả năng thu hú

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐOÀN THỊ MINH THANH

ĐO LƯỜNG CÁC YẾU TỐ NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CẤP TỈNH PCI TÁC ĐỘNG ĐẾN THU HÚT DÒNG VỐN FDI TẠI KHU VỰC PHÍA NAM GIAI ĐOẠN 2005-2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

TP Hồ Chí Minh, Năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

*

Tôi cam đoan luận văn “Đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI tác

động đến thu hút dòng vốn FDI tại khu vực phía Nam giai đoạn 2005-2014” là bài

nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

TP.Hồ Chí Minh, năm 2016

Đoàn Thị Minh Thanh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ hỗ trợ, động viên từ giảng viên hướng dẫn, các Thầy Cô trong trường và những người bạn của tôi Tôi vô cùng biết ơn mọi người đã đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến giảng viên hướng dẫn của tôi, TS Dương Quỳnh Nga Cô đã định hướng, gợi mở cho tôi những ý tưởng mới, giúp tôi tháo

gỡ những khó khăn, vướng mắc, Cô còn luôn quan tâm, nhắc nhở tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các Thầy Cô đang giảng dạy, công tác tại Khoa Sau đại học của trường đã tận tình chỉ dạy và giúp đỡ tôi và các bạn trong khóa hoàn thành tốt các môn học của chương trình

Sau cùng, tôi gửi lời cảm ơn đến các bạn cùng học lớp Cao học kinh tế Khóa 6 và những người bạn thân thiết của tôi đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Trang 4

TÓM TẮT

Tên đề tài:

“Đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI tác động đến thu hút dòng vốn FDI tại khu vực phía Nam giai đoạn 2005-2014”

1 Sự cần thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Một trong những mối quan tâm được nhiều nhà nghiên cứu trước đây tiếp cận về yếu

tố năng lực cạnh tranh tranh tác động đến khả năng thu hút dòng vốn FDI nhằm tạo ra môi trường đầu tư vô hình về quản lý nguồn lực cấp tỉnh của Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài ở các khía cạnh: (1) Gia nhập thị trường; (2) Tiếp cận đất đai; (3) Tính minh bạch; (4) Chi phí thời gian; (5) Chi phí không chính thức; (6) Tính năng động; (7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; (8) Đào tạo lao động; (9) Thiết chế pháp lý Trước sự khác biệt khả năng thu hút vốn FDI ở mỗi địa phương đặc biệt ở khu vực phía Nam (khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long), mục tiêu nghiên cứu của đề tài phân tích mối quan hệ dài hạn giữa các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI – Provincial Competitiveness Index) và khả năng thu hút dòng vốn FDI tại khu vực phía Nam nhằm khám phá ra yếu tố năng lực quản lý và điều hành của địa phương nào đem lại hiệu quả trong việc thu hút vốn FDI

2 Quy trình thiết kế và thảo luận kết quả nghiên cứu

Quy trình thiết kế nghiên cứu của đề tài được thực hiện gồm 03 bước:

Bước 1: Xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu Ở bước này, tác giả lược khảo

tài liệu và bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu trước đây ảnh hưởng đến việc thu hút đến dòng vốn FDI, trong đó chú trọng nhiều đến bằng chứng thực nghiệm về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ảnh hưởng đến dòng vốn FDI địa phương Kế thừa những lý thuyết và kết quả nghiên cứu trước, tác giả đề xuất mô hình và giả nghiên cứu về đo lường mối quan hệ dài hạn giữa chỉ số năng lực cạnh tranh và khả năng thu hút dòng vốn FDI

Bước 2: Thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu thô Ở bước này, số liệu nghiên cứu FDI

được lấy từ nguồn Tổng cục thống kê, chỉ số năng lực cạnh tranh PCI được lấy từ nguồn Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Sau khi xử lý đồng nhất các đơn vị

đo của số liệu qua các năm, mô hình được phân tích dưới dạng số liệu bảng thì phương pháp nghiên cứu cần được lựa chọn phù hợp để phân tích số liệu bảng nhằm đánh giá sự biến động theo không gian (sự khác biệt địa phương thu hút dòng vốn FDI) và thời gian (giai đoạn 2005-2014) nhằm tìm kiếm mối quan hệ giữa chỉ số PCI và khả năng thu hút vốn FDI

Bước 3: Sử dụng công cụ định lượng phân tích kết quả nghiên cứu Trên cơ sở vận

dụng 03 phương pháp pooled-OLS, FE và RE của Park H.M (2011) trong phân tích dữ liệu bảng Trên cơ sở dữ liệu đưa vào mô hình, kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp định lượng FE và RE phù hợp với dữ liệu bảng, vì cả hai phương pháp này đều cho thấy sự khác

Trang 5

biệt khả năng thu hút dòng vốn FDI địa phương Mục đích của phương pháp định lượng này cũng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đo lường mối quan hệ giữa PCI và FDI địa phương

Kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỉ số PCI và khả năng thu hút vốn FDI địa phương dựa trên 02 tiêu chí biến phụ thuộc: (1) vốn đăng ký địa phương (lnFDI), ý nghĩa đơn vị đo được xem xét nếu chỉ số năng lực cạnh PCI thay đổi 01 điểm dẫn đến sự thay đổi

100 * hệ số (%) trong vốn đăng ký FDI; (2) số dự án đăng ký địa phương (lnNOP), ý nghĩa đơn vị đo được xem xét nếu chỉ số năng lực cạnh PCI thay đổi 01 điểm dẫn đến sự thay đổi

100 * hệ số hồi quy (%) trong số dự án đăng ký FDI Kết quả phương trình hồi quy FE và

RE như sau:

- Biến phụ thuộc vốn đăng ký (lnFDI):

FE: lnFDI = 2.0104 + 0.1378*gianhap – 0.0745*tiepcandd – 0.1389*minhbach

+ 0.1782*thoigian – 0.0708*khongct + 0.0577*nangdong – 0.0796*hotro + 0.2261*daotao + 0.1064*phaply + 1

RE: lnFDI = 1.7202 + 0.1309*gianhap – 0.1151*tiepcandd – 0.0884*minhbach

+ 0.1709*thoigian – 0.0656*khongct + 0.0503*nangdong – 0.0417*hotro + 0.2234*daotao + 0.1045*phaply + 2

Kết quả kiểm định cho thấy chỉ số đào tạo lao động (daotao) có mối quan hệ đồng biến với vốn đăng ký FDI địa phương Hàm ý này cho biết chính sách đào tạo lao động hỗ trợ doanh nghiệp càng tốt thì mức độ ảnh hưởng đến quy mô vốn đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam càng gia tăng

- Biến phụ thuộc số dự án đăng ký (lnNOP):

FE: lnNOP = 1.4391 – 0.0287*gianhap – 0.0219*tiepcandd – 0.0653*minhbach

+ 0.1799*thoigian + 0.0717*khongct – 0.0283*nangdong + 0.0002*hotro + 0.0664*daotao – 0.0673*phaply + 3

RE: lnNOP = 1.2479 – 0.0311*gianhap – 0.0297*tiepcandd – 0.0487*minhbach

+ 0.1792*thoigian + 0.0697*khongct – 0.0295*nangdong + 0.0114*hotro + 0.0645*daotao – 0.0715*phaply + 4

Kết quả kiểm định cho thấy chỉ số chi phí thời gian (thoigian) có mối quan hệ đồng biến với số dự án đăng ký FDI địa phương Hàm ý này cho thấy yếu tố chi phí thời gian (tức

là đơn giản hóa các thủ tục nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp) càng tăng thì mức độ ảnh hưởng đến số dự án đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam càng tăng

Ngoài ra, nội dung nghiên cứu của đề tài còn rút ra: (1) hàm ý thứ nhất đo lường mối quan hệ giữa các tiêu chí xây dựng chỉ số chính sách đào tạo lao động (daotao) với khả năng thu hút dòng vốn FDI địa phương Kết quả cho thấy chính quyền địa phương tại khu vực phía Nam thực hiện tốt chính sách cung cấp dịch vụ việc làm và nguồn lực lao động cho các

Trang 6

doanh nghiệp FDI; (2) hàm ý thứ hai đo lường mối quan hệ giữa các tiêu chí xây dựng chỉ

số chi phí thời gian (thoigian) với khả năng thu hút dòng vốn FDI địa phương Kết quả cho thấy chỉ số chi phí thời gian (thoigian) phát huy tác dụng nếu việc thanh tra, kiểm tra đúng đối tượng và mục đích, dẫn đến việc tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, không cần thiết triển khai đồng loạt về công tác này

3 Kết luận

Với kết quả phân tích, ta thấy rằng nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược thúc đẩy và phát triển nền kinh tế - xã hội, là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Chính vì vậy, địa phương cần có nhiều hỗ trợ để nâng cao năng lực chuyên môn và trình trình độ học vấn của người lao động thông qua các trung tâm đào tạo, giới thiệu việc làm, các trường cao đẳng, đại học, Tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực thông thạo nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, am hiểu luật pháp quốc tế, tập quán các nước, nâng cao kỹ năng đàm phán, khai thác thông tin về thị trường quốc tế, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình hội nhập Tăng cường sự liên kết giữa các trung tâm đào tạo với các doanh nghiệp trong tỉnh, thành lập quỹ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Ngoài ra, địa phương cần có nhiều chế độ, chính sách, cải thiện môi trường

làm việc để thu hút nhiều nhân tài có trình độ cao về công tác lâu dài tại tỉnh

Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải tiến bộ máy hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả Thực hiện cơ chế

"một cửa liên thông" trong giải quyết hồ sơ, thủ tục thành lập doanh nghiệp và thủ tục chứng nhận đầu tư, xóa bỏ các thủ tục hành chính quan liêu, rườm rà; tạo một hệ thống thủ tục đơn giản, công khai, thuận lợi cho các nhà đầu tư Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cấp

xã, phường, đẩy mạnh cải cách hơn nữa việc thực thi luật và giảm bớt các thủ tục hành chính phiền hà Cải cách tiền lương, xây dựng một cơ chế tài chính thích hợp, áp dụng điện

tử hóa, tin học hóa nền hành chính nhà nước Xây dựng một cơ cấu gọn nhẹ với các cấp quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước Thời gian thực hiện các quy định của Nhà nước cần được rút ngắn để doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính đơn giản, dễ hiểu đồng thời đảm bảo các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện tốt việc thanh tra, kiểm tra Ngoài ra cần phải công khai minh bạch các văn bản pháp lý, phí, lệ phí và đơn giản các thủ tục giấy tờ đồng thời khi có bất kì sự thay đổi đáng

kể nào thì cần đảm bảo được những thông tin đó doanh nghiệp dễ dàng truy cập

Tuy còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định, kết quả nghiên cứu vẫn là tài liệu có giá trị tham khảo cho những người quan tâm đến các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI tác động như thế nào đến việc thu hút dòng vốn FDI trong dài hạn, các nhà hoạch định chính sách và những người làm công tác nghiên cứu

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC HÌNH VẼ ix

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do hình thành đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài 4

1.7 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Các khái niệm 6

2.1.1 Khái niệm FDI và thu hút FDI 6

2.1.2 Khái niệm cạnh tranh 6

2.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 11

2.1.4 Các chỉ số năng lực cạnh tranh 11

2.2 Lý thuyết về cạnh tranh quốc gia 16

2.3 Các yếu tố năng lực cạnh tranh ảnh hưởng đến đầu tư 17

2.4 Các nghiên cứu trước 20

2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài 25

2.4.2 Nghiên cứu trong nước 27

Trang 8

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 25

3.1 Quy trình nghiên cứu 25

3.1.1 Sơ đồ nghiên cứu 25

3.1.2 Thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu 25

3.1.3 Sử dụng thống kê mô tả, công cụ hối quy 27

3.2 Xây dựng giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu 30

3.2.1 Xây dựng giả thuyết 30

3.2.1.1 Chi phí gia nhập thị trường 36

3.2.1.2 Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 36

3.2.1.3 Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 37

3.2.1.4 Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước 38

3.2.1.5 Chi phí không chính thức 39

3.2.1.6 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo 39

3.2.1.7 Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 40

3.2.1.8 Dịch vụ đào tạo lao động 41

3.2.1.9 Thiết chế pháp lý 42

3.2 Mô hình nghiên cứu của đề tài 43

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

4.1 Tình hình đầu tư FDI 45

4.1.1 Tình hình thu hút vốn FDI tại Việt Nam 45

4.1.2 Tình hình thu hút dòng vốn FDI tại khu vực phía Nam 46

4.1.2.1 Thống kê mô tả: 46

4.1.2.2 Mối tương quan giữa PCI và FDI: 49

4.2 Phân tích kết quả nghiên cứu 50

4.2.1 Thống kê mô tả các chỉ số thành phần PCI 50

4.2.2 Kết quả hồi quy: 53

4.2.2.1 Phương pháp hồi quy pooled OLS: 53

4.2.2.2 Phương pháp hồi quy FE (hiệu ứng cố định): 55

4.2.2.3 Phương pháp hồi quy RE (hiệu ứng ngẫu nhiên): 57

Trang 9

4.2.2.4 Kiểm định Hausman: 60

4.2.3 Kiểm định giả thuyết ban đầu và các hàm ý rút ra 61

4.2.3.1 Kiểm định các giả thuyết ban đầu 61

4.2.3.2 Các hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu 62

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Đề xuất một số kiến nghị 68

5.2.1 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 68

5.2.2 Hoàn thiện bộ máy hành chính 69

5.2.3 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và pháp lý 70

5.2.4 Hình thành một số tập đoàn kinh tế 71

5.3 Hạn chế của đề tài 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

GDP Tổng sản phẩm trong nước

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

LDCs Các quốc gia kém phát triển

NAFTA Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế

RIA Thỏa thuận hội nhập khu vực

TWMNCs Các công ty đa quốc gia

UNCTAD Diễn đàn thương mại và phát triển liên hiệp quốc WTO Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Trang

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 25

Hình 3.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu 44

Hình 4.1 Xu thế vốn đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam 47

Hình 4.2 Mật độ vốn đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam 48

Hình 4.3 Xu thế số dự án đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam 49

Hình 4.4 Mật độ số dự án đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam 49

Hình 4.5 Mối tương quan chỉ số PCI và vốn, số dự án đăng ký FDI 50

Trang 12

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Các nghiên cứu quyết định đến dòng vốn FDI 9

Bảng 2.2 Chỉ số năng lực năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI 13

Bảng 2.3 Trọng số và ngưỡng thu nhập tính theo giao đoạn phát triển 14

Bảng 2.4 Mức độ ảnh hưởng các chỉ số cấu thành PCI (hay còn gọi là trọng số) 15

Bảng 2.5 Các chỉ số cạnh tranh quốc tế 18

Bảng 2.6 Nghiên cứu năng lực cạnh tranh và FDI địa phương 22

Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 25

Bảng 3.2: Nguyên tắc lựa chọn phương pháp phân tích dữ liệu bảng 44

Bảng 4.1 Vốn đăng ký và số dự án FDI tại khu vực phía Nam giai đoạn 2005-2014 47 Bảng 4.2 Thống kê các chỉ số đặc trưng 51

Bảng 4.3 Kiểm định mối tương quan giữa 09 chỉ số thành phần PCI và FDI 52

Bảng 4.4 Mối tương quan giữa 09 chỉ số thành phần PCI và FDI phân theo vùng 53

Bảng 4.5 Phương pháp hồi quy pooled OLS với biến phụ thuộc vốn đăng ký FDI 54

Bảng 4.6 Phương pháp hồi quy pooled OLS với biến phụ thuộc số dự án FDI 55

Bảng 4.7 Phương pháp hồi quy FE với biến phụ thuộc là vốn đăng ký FDI 56

Bảng 4.8 Phương pháp hồi quy FE với biến phụ thuộc là số dự án FDI 57

Bảng 4.9 Phương pháp hồi quy RE với biến phụ thuộc là vốn đăng ký FDI 58

Bảng 4.10 Phương pháp hồi quy RE với biến phụ thuộc là số dự án FDI 58

Bảng 4.11 Kiểm định nhân tử Lagrange Breusch-Pagan (B-P LM Test) 59

Bảng 4.12 Kiểm định Hausman với biến phụ thuộc vốn đăng ký lnFD 60

Bảng 4.13 Kiểm định Hausman với biến phụ thuộc ln_NOP 61

Bảng 4.14 Lựa chọn phương pháp để phân tích dữ liệu bảng 61

Bảng 4.15 Kiểm định giả thuyết 09 chỉ số thành PCI tác động đến FDI 62

Bảng 4.16 Các tiêu chí thuộc chỉ số đào tạo lao động 62

Bảng 4.17 Kiểm định tương quan lnFDI, lnNOP và các tiêu chí thuộc chính sách 64

Bảng 4.18 Các tiêu chí thuộc chỉ số thời gian 65

Bảng 4.19 Kiểm định tương quan lnFDI, lnNOP và các tiêu chí thuộc chi phí thời 66

Trang 13

CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do hình thành đề tài

Ở khía cạnh khoa học, nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm khác nhau

đã được phát triển từ thập niên 1960 để giải thích dòng vốn FDI, những lý thuyết công bố có thể giải thích dòng vốn FDI liên quan đến các khía cạnh vi mô chẳng hạn như yếu tố cạnh tranh, hành vi tổ chức công ty đa quốc gia và khía cạnh vĩ mô chẳng hạn như tăng trưởng, phân bổ nguồn lực, quy mô Một trong những mối quan tâm được nhiều nhà nghiên cứu trước đây tiếp cận về yếu tố năng lực cạnh tranh tranh tác động đến việc thu hút dòng vốn đầu tư FDI và tăng trưởng kinh tế, gồm hai nhóm yếu tố cơ bản : nhóm thứ nhất là yếu tố nguồn lực, công suất và thị trường (RCM – Resouces, Capabilities and Markets) tạo ra môi trường đầu tư hữu hình hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất và tạo ra của cải vật chất; nhóm thứ hai là yếu tố thể chế (I – Institutions) tạo ra môi trường đầu tư vô hình về quản lý nguồn lực mà Chính phủ cung cấp chẳng hạn như đào tạo lao động, các quy định pháp lý và ưu đãi đầu

tư cho doanh nghiệp

Nhìn chung, cách tiếp cận nghiên cứu trước đây, đều xoay quanh 03 vấn đề chính về yếu tố năng lực cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI: vấn đề thứ nhất là hướng tiếp cận tăng trưởng năng suất sản xuất nếu cấu trúc thể chế được quản lý tốt, có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài; vấn đề thứ hai được các doanh nghiệp quan tâm

là thể chế của một quốc gia nếu yếu kém làm tăng chi phí cho hoạt động đầu tư; và vấn đề còn lại là năng lực cạnh tranh hoạt động không hiệu quả dẫn đến tính không chắc và dễ bị tổn thương trong việc thu hút vốn đầu tư Phần lớn các nghiên cứu tại Việt Nam tiếp cận chủ yếu xoay quanh hai nhóm yếu tố chính: yếu tố vĩ mô (quy

mô thị trường, tăng trưởng, lạm phát, hiệu quả đầu tư, độ mở thương mại, v.v…) và yếu tố năng lực cạnh tranh của địa phương (chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng, tính năng động, hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động, thiết chế pháp lý, ổn định chính trị, ưu đãi đầu tư, v.v…) Tuy nhiên, ở cấp độ địa phương nghiên cứu tại Việt Nam thì các nghiên cứu trước đây chỉ sử dụng dữ liệu chéo và dữ liệu bảng về

Trang 14

chỉ số chung PCI đo lường yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tác động đến thu hút dòng vốn FDI trong ngắn hạn và cho đến nay chưa có nghiên cứu nào sử dụng dữ liệu bảng với khía cạnh tiếp cận là đo lường các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI tác động đến thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp FDI cấp tỉnh trong dài hạn (2005-2014) Do đó, việc nghiên cứu về mối quan hệ trong dài hạn giữa yếu tố năng lực cạnh tranh và thu hút FDI là cần thiết

Ở khía cạnh thực tiễn, cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động đầu tư nước ngoài ở nước ta là Nghị quyết số 115/CP ngày 18-4-1977 của Thủ tướng ban hành Điều lệ về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, kêu gọi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam dưới các hình thức khác nhau, không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, xã hội Sau

đó, quốc hội thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tháng 12-1987 và sửa đổi bổ sung vào năm 1990, 1992 Ngày 12-11-1996, Quốc hội đã thông qua luật mới về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Mặc dù cuối năm 1994, Tổng thống Bill Clinton mới bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, nhưng một số nhà đầu tư nước này thông qua nước thứ ba đã thực hiện nhiều dự án FDI ở nước ta từ năm 1989 Luật đầu tư (2005) ra đời là sự thống nhất giữa luật đầu tư trong nước và nước ngoài, gỡ

bỏ những rào cản và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đầu tư Luật đầu tư của Việt Nam (2014) tiếp tục cải cách thủ tục hành chính so với Luật đầu tư (2005) Qua đây cũng cho thấy, hệ thống luật đầu tư đã và đang hoàn thiện tạo những minh bạch, công khai, công bằng đối với nhà đầu tư nước ngoài Trên cơ sở đó, cần có một nghiên cứu đánh giá trong dài hạn về mối quan tâm của doanh nghiệp FDI về thể chế của Chính phủ hoạt động có hiệu quả hay không vì nó tác động không nhỏ đến chi phí và hiệu quả đầu tư trong tương lai

Việc cải thiện môi trường đầu tư đã tác động lan tỏa lớn tới thu hút vốn FDI, đặc biệt là khu vực phía Nam, chẳng hạn như tại Long An, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho năm 2014 là 90 dự án FDI, bằng 173% so với năm 2013 với tổng

số vốn đăng ký 443 triệu USD; tại Đồng Nai, Bình Dương tuy số dự án FDI tăng không đáng kể so với năm 2013 nhưng tổng số với đăng ký tăng mạnh, cụ thể là tại Đồng Nai có số vốn đăng ký đạt 1832,7 triệu USD tăng 57,5% so với năm 2013 và tại Bình Dương có số vốn đăng ký đạt 1477,1 triệu USD tăng 38% so với năm 2013; tại TPHCM, BR-VT mặc dù số dự án đăng ký năm 2014 tuy giảm so với năm

2013 nhưng tổng vốn đăng ký xu thế tăng, cụ thể tại TPHCM đạt 3269,1 triệu USD

Trang 15

với mức tăng đáng kể 64,8% so với năm 2013 và BR-VT đạt 304,7 triệu USD với mức tăng đáng kể 52,4% so với năm 2013; tại Tây Ninh số dự án đăng ký năm 2014 chỉ đạt 24 dự án nhưng tổng vốn đăng ký 749,2 triệu USD tăng 305% so với năm

2013 (GSO, 2013-2014) Điều nay cho thấy sự hồi phục kinh tế cũng như việc cải thiện môi trường đầu tư tại địa phương có tác động lan tỏa tới việc thu hút dòng vốn

FDI Chính vì lý do trên nên luận văn nghiên cứu “Đo lường các yếu tố năng lực

cạnh tranh cấp tỉnh PCI tác động đến thu hút dòng vốn FDI tại khu vực phía Nam giai đoạn 2005-2014” nhằm mục đích làm rõ nguyên nhân các yếu tố nào

thuộc trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI ảnh hưởng đến thu hút dòng vốn FDI

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI và dòng vốn FDI tại khu vực phía Nam giai đoạn 2005 - 2014

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các thành phần của chỉ số PCI có tác động cùng chiều hay ngược chiều đến dòng vốn FDI của địa phương khu vực phía nam trong giai đoạn 2005 - 2014?

Mức độ tác động của các yếu tố năng lực cạnh tranh này tác động như thế nào đến dòng vốn FDI?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là mối quan hệ của các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI và dòng vốn đầu tư FDI tại khu vực phía Nam trong giai đoạn 2005-2014

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dựa trên yếu tố kinh tế về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của các tỉnh/thành phố khu vực phía Nam để đo lường mức độ thu hút dòng vốn FDI địa phương trong giai đoạn 2005 – 2014

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy với dữ liệu bảng (panel data): phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) với dữ liệu gộp (pooled data), hiệu ứng cố định (FE) và hiệu ứng ngẫu nhiên (RE) Đối với dạng dữ liệu bảng hỗn hợp (panel data) thì OLS không phải là một lựa chọn hợp lý vì phương pháp này là phương pháp ước lượng đơn giản nhất và trong

Trang 16

trường hợp này OLS có thể làm cho các hệ số ước lượng không vững hoặc bị chệch

và khả năng kiểm tra ý nghĩa thống kê không còn chính xác Mặc dù, phương pháp

FE là phương pháp ước lượng tương đối tốt để đánh giá tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc, nhưng FE lại không thể ước lượng được hệ số cho các biến

có giá trị cố định theo thời gian như khoảng cách giữa các nước hoặc có chung đường biên giới mà đây lại là các biến quan trọng trong mô hình lực hấp dẫn RE có thể ước lượng được hệ số của các biến có giá trị cố định theo thời gian nhưng lại không thể cho kết quả tốt nếu các mẫu lựa chọn trong mô hình không đồng nhất Để kết hợp ưu điểm của cả 2 phương pháp FE và RE, Hausman và Taylor (1981) đã đề xuất một phương pháp ước lượng mới của Hausman–Taylor Một vài kiểm định của các tác giả như Mcpherson và Trumbull (2003), Egger (2005) đã chỉ ra rằng kết quả ước lượng dùng phương pháp Hausman–Taylor ít nhất là phù hợp với 2 phương pháp FE, RE thường là tốt và đáng tin cậy hơn Với cách tiếp cận đó, tác giả sẽ dùng phương pháp ước lượng Hausman–Taylor cho phân tích thực nghiệm trong nghiên cứu này

1.6 Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài

Ý nghĩa thực tiễn: nội dung nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp kết quả thực nghiệm của tác động của các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đến dòng vốn FDI của khu vực phía Nam, để từ đó các nhà hoạch định chính sách có cơ sở để

đề ra các biện pháp, chính sách để nâng cao việc thu hút dòng vốn FDI địa phương tại khu vực phía Nam

Ý nghĩa khoa học: các nghiên cứu trước đây về năng lực cạnh tranh và dòng vốn FDI địa phương chỉ tiếp cận trong ngắn hạn chẳng hạn như Malesky (2007) nghiên cứu về khía cạnh quản trị cấp tỉnh và đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam với dữ liệu bảng giai đoạn 2005-2007, Nguyễn Ngọc Anh và Nguyễn Thắng (2007) nghiên cứu khía cạnh phân tích tổng quan vị trí đầu tư cấp tỉnh và đầu

tư trực tiếp nước ngoài với dữ liệu chéo năm 2005, Nguyễn Văn Phúc và Nguyễn Đại Hiệp (2011) nghiên cứu khía cạnh các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nước ngoài FDI tại Việt Nam với dữ liệu bảng giai đoạn 2006-2009 Ngoài việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và dòng vốn FDI, nội dung nghiên cứu đóng góp một phần kết quả thực nghiệm về mối quan hệ

về năng lực cạnh tranh và dòng vốn FDI trong dài hạn

Trang 17

1.7 Kết cấu của đề tài

đó đề xuất mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu: Nội dung chương này trình bảy việc thiết kế quy trình nghiên cứu và đề xuất phương pháp phân tích định lượng cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Chương 4 Thảo luận kết quả nghiên cứu: Chương này đưa ra các kết quả phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy đồng thời đưa

ra các nhận xét trong quá trình phân tích

Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Đề xuất các kiến nghị nhằm tăng cường thu hút dòng vốn FDI địa phương khu vực phía Nam

Trang 18

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Các khái niệm:

2.1.1 Khái niệm FDI và thu hút FDI

Lý do trọng tâm để trong việc nghiên cứu dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở các nước đang phát triển có vai trò quan trọng, giải thích các yếu tố tác động vĩ mô và môi trường cạnh tranh Sự tiến triển của các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ thập niên 1960s đến nay, các khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI thể hiện như sau:

- Theo quan điểm của tổ chức IMF (1993), WTO (1996); UNCTAD (1999)

và OECD (2008) đều có nhận định chung là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phản ánh mục tiêu của việc thiết lập một mối quan tâm lâu dài của một doanh nghiệp cư trú trong một nền kinh tế (chủ đầu tư trực tiếp) hơn là một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp Sự quan tâm lâu dài thể hiện sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa các chủ đầu tư trực tiếp trong một nền kinh tế và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và tầm quan trọng về mức độ ảnh hưởng đến việc quản lý của các doanh nghiệp này Bằng chứng cho thấy có quyền biểu quyết 10% trở lên của các chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài đến một nền kinh tế khác Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đảm bảo mức tối thiểu 10% vốn cổ phần ban đầu, có thể thấy mục tiêu chủ yếu của nhà đầu

tư trực tiếp nước ngoài là thông qua phần vốn được sử dụng ở nước ngoài, nhà đầu

tư nước ngoài giành quyền kiểm soát hoặc ảnh hưởng nhất định trong việc quản lý doanh nghiệp

- Theo Moosa (2002), FDI là một quá trình đầu tư mà quốc gia có thế mạnh

về nguồn lực được quyền sở hữu tài sản và kiểm soát quá trình sản xuất, phân phối

và các hoạt động khác ở một nước khác (nước chủ nhà)

- Theo khái niệm FDI tại Luật Đầu tư Việt Nam (2005) thì FDI được hiểu là

“việc các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ hình thức tài sản

nào vào Việt Nam để tiến hành hoạt động đầu tư và có tham gia quản lý hoạt động kinh doanh” Đến năm 2014, Luật đầu tư của Việt Nam (2014) tiếp tục cải cách thủ

tục hành chính so với Luật đầu tư (2005) gắn liền với việc nâng cao trách nhiệm của

Trang 19

nhà đầu tư trong việc triển khai thực hiện dự án đầu tư: “Nhà đầu tư nước ngoài là

cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”

Bên cạnh đó, việc tiếp cận khái niệm thu hút FDI:

- Khởi nguồn từ nghiên cứu của Hymer (1960) cho thấy sự mở rộng của một công ty vượt ra ngoài ranh giới vào một quốc gia mới dẫn đến sự dịch chuyển dòng tài chính từ các công ty mẹ cho công ty con Các nghiên cứu của Ansoff (1965); Rugman (1979) và Mintzberg (1987) cho rằng đa dạng hóa quốc tế cho các doanh nghiệp là rất quan trọng bởi vì nó được dựa trên khai thác cơ hội thị trường nước ngoài và quốc tế để làm tăng vị thế cạnh tranh của công ty và mở rộng phát triển của một công ty vượt ra ngoài ranh giới địa phương của nước mình

- Các nghiên cứu của Graham và cộng sự (1978), Welch và Luostarinen (1988), Calof và Beamish (1995), Dunning (2002), Dunning & Zhang (2007) cho rằng vị thế cạnh tranh của công ty đa quốc gia bỏ vốn đầu tư ra nước ngoài phụ thuộc nhiều vào chiến lược, nguồn lực, cơ cấu tổ chức tại môi trường quốc tế

- Nghiên cứu của Vernon (1966), Kojima (1975); Markusen (1997); Daniels

và Radebaugh (1998); Heiduk và Prinz (1999); Egger và Pfaffermayr (2000); Markusen (2001); Helpman (1984) cho rằng các mối quan hệ FDI xuất khẩu và thương mại được xem là một hệ quả về sự thay đổi dòng chảy thương mại Tùy thuộc vào đặc điểm riêng của từng nước FDI có thể hỗ trợ, hoặc thậm chí thay thế, thương mại, ban đầu một quốc gia tập trung vào lợi thế chi phí so sánh của mình nhưng những yếu tố này không duy trì theo thời gian vì còn chịu ảnh hưởng bởi chuyển nhượng vốn, công nghệ và quản lý tài nguyên (Kojima, 1975), dẫn đến hình thành mô hình dòng chảy thương mại quốc tế (Daniels và Radebaugh, 1998; Heiduk

và Prinz, 1999) Bên cạnh đó, nghiên cứu về chu kỳ sản phẩm của thương mại quốc

tế (Vernon, 1966) kết hợp quan điểm của sản phẩm trưởng thành như thế nào với sự tiến hóa trong các hoạt động quốc tế của một công ty cho thấy mô hình của thương mại và thay đầu tư theo thời gian

- Nghiên cứu của Buckley và Casson (1976); Hennart (1982); Dunning (1988); Ietto-Gillies (2005) cho rằng quá trình quốc tế hóa được phát triển nhằm giải thích sản xuất quốc tế và dòng chảy FDI tùy thuộc vào các yếu tố sản xuất hàng

Trang 20

hoá và dịch vụ; các hoạt động tiếp thị, đào tạo, nghiên cứu và phát triển, kỹ thuật quản lý và có sự tham gia của các thị trường tài chính

- Nghiên cứu của Andersen (1997); Coviello và McAuley (1999); Dunning, (2002) chi phí giao dịch trong trao đổi tài sản, tần suất trao đổi kinh tế và sự không chắc chắn xung quanh việc trao đổi các nguồn lực, trong đó thành phần của các quy

mô giao dịch được quyết định bởi các thước đo quản trị hiệu quả về chi phí giao dịch và có thể tạo ra một lợi thế cạnh tranh trong việc đầu tư ra nước ngoài

- Nghiên cứu Caves (1971), Johanson và Vahlne (1977) cho rằng những hoạt động độc lập và chuỗi liên kết từ khâu sản phẩm trung gian đến khâu sản phẩm tiêu dùng cuối cùng kếp hợp với kiến thức chuyên môn và trình độ quản lý Nếu thị trường cho các sản phẩm trung gian không hoàn hảo tạo một sự khuyến khích cho các công ty FDI hoạt động tạo ra lợi nhuận tăng thêm cao hơn so với chi phí phát sinh Chính vì thế, đây chính là động lực tạo ra lợi thế thương mại và dòng chảy FDI vào quốc gia khác mà họ có lợi thế so sánh Một nghiên cứu khác của Caves (1971) liên kết giữa lý thuyết tổ chức công nghiệp và lý thuyết của Hymer, đưa ra một sự phân biệt giữa FDI theo chiều ngang và dọc:

+ FDI theo ngang xảy ra khi các công ty sở hữu tài sản duy nhất hoặc vô hình mà những người khác không có, chẳng hạn như kiến thức cấp trên hoặc thông tin về sản phẩm và thị trường của mình Nhưng FDI ngang xảy ra khi lợi nhuận ở nước sở tại dựa vào sản xuất thành công tại địa phương Yếu tố hội nhập theo chiều ngang được thể hiện như là nội lực sản xuất của doanh nghiệp thay thế xuất khẩu và giải thích sự phát triển quốc tế qua các giai đoạn (Johanson và Vahlne, 1977);

+ FDI theo chiều dọc xảy ra ở các giai đoạn khác nhau của sản xuất trong cùng một ngành công nghiệp hoặc lĩnh vực tương đồng và chủ yếu đều phụ thuộc cao vào công nghệ và chất lượng Có hai hình thức FDI theo chiều dọc: hoạt động FDI theo chiều dọc liên kết lùi là hoạt động đầu tư vào một ngành ở nước ngoài cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho các quy trình sản xuất của doanh nghiệp nội địa Trong thực tế, hầu hết hoạt động FDI theo hình thức này được tiến hành trong ngành công nghiệp khai khoáng và mục tiêu đặt ra của các hoạt động đầu tư như vậy là cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho các công ty có hoạt động hạ nguồn Trong khi đó, FDI theo chiều dọc liên kết tiến là hoạt động đầu tư vào một ngành ở

Trang 21

nước ngoài giúp tiêu thụ các đầu ra và hỗ trợ các quy trình sản xuất cho công ty nội địa (Bora, 2002; Jones và Wren, 2006)

- Nghiên cứu của Dunning (2000, 2001) đưa ra phân tích về mô hình chiết trung (OLI) về 03 lợi thế so sánh: lợi thế sở hữu (O), lợi thế vị trí (L) và lợi thế quốc tế hóa (I) Cho đến nay có nhiều khái niệm khác nhau đánh giá hoạt động FDI, nhưng nhìn chung hoạt động FDI là một hoạt động quốc tế, trong đó các công ty đa quốc gia đóng vai trò chủ đạo bỏ vốn đầu tư hoặc tài sản lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu, điều hành, kiểm soát nguồn lực vì mục tiêu lợi nhuận và các lợi ích kinh tế khác

Bảng 2.1 Các nghiên cứu quyết định đến dòng vốn FDI

Lợi thế sở hữu

1 Jorgenson (1963), Chenery (1952),

GDP hoặc doanh số của các công ty

đa quốc gia

3 Horst (1974),

Swdenborg (1979),

Caves and Pugel (1980)

Lợi thế về nghiên cứu và phát triển R&D, chi tiêu quảng cáo

4 Yu (1990),

Kogut and Chang (1996)

Dựa vào kinh nghiệm các doanh nghiệp FDI trước đây

5 Belderbos, Sleuwaegen (1996),

Head, Ries and Swenson (1995)

Sự liên kết nội bộ doanh nghiệp và hoạt động lợi ích nhóm

tổ chức có kiến thức chuyên sâu trong lĩnh vực FDI

8 Dunning (1977, 1980, 1988),

Clegg (1987)

Lợi thế sở hữu các tài sản vô hình, các quốc gia có mức độ chi tiêu R&D cao và có lợi thế vị trí

Lợi thế vị trí

2 Kogut and Chang (1996) Tỷ giá hối đoái thực và kinh nghiệm

những nhà đầu tư đi trước

3 Barrel and Pain (1996) Quy mô thị trường, tỷ giá hối đoái

và chi phí đầu vào tương đối

4 Newfarmer and Marsh (1981),

Trang 22

TT Nghiên cứu Quyết định đến dòng vốn FDI

(1990), Mudambi & Navarra (2003),

Rugman & Verbecke (1998, 2004)

kinh tế và chính trị) trong một quốc gia có dòng vốn FDI

6 Kumar (2002)

- FDI định hướng thị trường

- FDI định hướng nhập khẩu

- FDI định hướng xuất khẩu tại quốc

gia thứ 3

- Yếu tố cầu, hạ tầng, thuế xuất

- Độ mở, hạ tầng, yếu tố đầu vào, khoảng cách địa lý

- Yếu tố chiến lược và chính trị, thỏa hiệp khu vực, độ mở thương mạiLợi thế quốc tế hóa

13 Kindleberger (1969), Hymer (1960) Lợi thế tài chính, công nghệ, quản lý

14 Buckley and Casson (1976) Nhu cầu cắt giảm chi phí giao dịch

và độ trễ thời gian

Nguồn: Tổng hợp của các giả

2.1.2 Khái niệm cạnh tranh

Theo Michael Porter (1990), Mô hình cạnh tranh hoàn hảo giả thiết rằng tỷ suất lợi nhuận và mức độ rủi ro là cân bằng giữa các doanh nghiệp và giữa các ngành trong nền kinh tế Tức là các doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ ngành của nền kinh tế nào cũng đều có tỷ suất lợi nhuận tiềm năng và mức độ rủi ro như nhau

do cơ chế tự điều tiết của cạnh tranh Các doanh nghiệp trong môi trường có mức lợi nhuận thấp và độ rủi ro cao sẽ tìm có xu hướng rút lui và tìm đến ngành có tiềm năng lợi nhuận cao hơn và ít rủi ro hơn Tuy nhiên, nhiều mô hình nghiên cứu gần đây lại khẳng định các ngành kinh doanh khác nhau có khả năng sinh lợi khác nhau,

sự khác biệt này có nguyên nhân từ các đặc tính cấu trúc của ngành Ví dụ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông có tỷ suất lợi nhuận khác với các công ty xây dựng hay các công ty chế biến thực phẩm Michael Porter đã cung cấp cho chúng ta một mô hình phân tích cạnh tranh theo đó một ngành kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi năm lực lượng cơ bản và được gọi là mô hình năm lực lượng cạnh tranh Theo Porter, các điều kiện cạnh tranh trong một ngành phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Trong số các yếu tố này, ngoài các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong nội bộ ngành, còn các nhan tố khác như khách hàng, hệ thống cung cấp, các sản phẩm thay thế hay các đối thủ cạnh tranh tiềm năng Các nhà quản trị chiến lược mong muốn phát triển lợi thế nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng công cụ này để phân tích các đặc tính và phạm vi của ngành ở

đó hoạt động kinh doanh của mình đang được diễn ra hoặc sẽ nhắm tới

Trang 23

2.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh:

Theo Teece và cộng sự (1997), năng lực cạnh tranh động được định nghĩa là khả năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại những tiềm năng của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môi trường kinh doanh Mô hình tạo năng lực động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được mô tả mối quan hệ giữa các yếu tố (vô hình) chính tạo nên năng lực động và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố chính tạo nên năng lực động của doanh nghiệp thỏa mãn tiêu chí VRIN (Eiisenhardt & Martin, 2000): năng lực marketing; năng lực sáng tạo; định hướng kinh doanh và định hướng học hỏi

Năng lực cạnh tranh là khả năng dành chiến thắng trong sự ganh đua giữa các chủ thể trong cùng một môi trường và khi cùng quan tâm tới một đối tượng Trên giác độ kinh tế, năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh quốc gia hay cấp tỉnh đòi hỏi tính hiệu quả kinh tế cao, năng lực sản xuất lớn góp phần quan trọng trong việc phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, đồng thời có khả năng góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tác động dây chuyền đến sự phát triển các ngành kinh tế khác với mục tiêu gia tăng doanh số cho xuất khẩu, tạo thêm việc làm

2.1.4 Các chỉ số năng lực cạnh tranh

Theo các tổ chức IMF (1993), WTO (1996); UNCTAD (1999) và OECD (2008), các chỉ số đo lường tác động FDI: (1) Nhóm chỉ số đo lường đầu tư trực tiếp nước ngoài: nhóm chỉ số toàn cầu hóa (dòng vốn tài chính FDI vào/ra tính trên phần trăm GDP; dòng thu nhập FDI vào/ra tính trên phần trăm GDP; vốn đăng ký FDI tính trên % GDP); nhóm chỉ số đóng góp vào ngành công nghiệp và nền kinh tế nước chủ nhà (tỷ lệ tương đối dòng vốn tài chính FDI của một quốc gia nước ngoài đầu tư trên tổng dòng vốn tài chính FDI của quốc gia nước chủ nhà; tỷ lệ tương đối dòng thu nhập FDI của một quốc gia nước ngoài đầu tư trên tổng dòng thu nhập FDI của quốc gia nước chủ nhà; tỷ lệ tương đối vốn đăng ký FDI của một quốc gia nước ngoài đầu tư trên tổng vốn đăng ký FDI của quốc gia nước chủ nhà); chỉ số tỷ suất sinh lời FDI (tỷ số sinh lời về thu nhập FDI vào/ra) và nhóm chỉ số đo lường FDI khác (chỉ số thể hiện mức độ tập trung hóa FDI, chỉ số FDI khác thể hiện trong

Trang 24

báo cáo kinh tế); (2) Nhóm chỉ số kinh tế của các công ty đa quốc gia: doanh số hay sản lượng; tuyển dụng; giá trị gia tăng; xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ; số doanh nghiệp thành lập và các biến giải thích khác (tài sản, bồi thường lao động, giá trị tài sản ròng, vốn thặng dư hoạt động thuần, tổng tài sản cố định, thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí nghiên cứu phát triển)

Các nền kinh tế dựa trên tri thức đã trở thành một xu hướng lớn trong xã hội quốc tế ngày nay Theo Andrea Katic và cộng sự (2012), các chỉ số đo lường năng lực cạnh tranh trên thế giới bao gồm 17 chỉ số để xác định khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nhất định liên quan đến các thông số kiến thức và được phân thành bốn nhóm sau đây: Nhóm 1 – Chỉ số năng lực cạnh tranh; Nhóm 2 – Chỉ số năng lực cạnh tranh kiến thức; Nhóm 3 – Chỉ số năng lực cạnh tranh đổi mới; Nhóm 4 – Chỉ

số năng lực cạnh tranh công nghệ thông tin (xem phụ lục 1 – Các chỉ số năng lực cạnh tranh) Các chỉ số chính được hiển thị theo các loại kể trên và đặc điểm cơ bản: tên của các chỉ số; tên của tổ chức mà các vấn đề đó; năm bắt đầu xuất bản; tần

số xuất bản; các nước có thứ hạng cao nhất trong các báo cáo mới nhất; số lượng các nước xếp hạng; số lượng các biến (các mối quan hệ giữa các dữ liệu định lượng

và định tính); các mối quan hệ của các hệ số trọng lượng, số lượng và tên của chỉ số phụ (số lượng không gian / số các tham số); và vị trí của Serbia và tỷ lệ phần trăm với các nước khác Các chỉ số năng lực cạnh tranh chủ yếu (nhóm 1) bao gồm chỉ số phân tích năng lực cạnh tranh thế giới (IMD), chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI), chỉ

số tự do kinh tế và chỉ số năng lực cạnh tranh châu Âu, chứa một phần nhỏ của các thành phần kiến thức, trừ trường hợp các chỉ số năng lực cạnh tranh châu Âu mà 3 trong 5 yếu tố có liên quan đến vai trò của tri thức

Theo đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao, là tăng năng lực sản xuất bằng việc đổi mới, sử dụng các công nghệ cao hơn, đào tạo kỹ năng liên tục, quan tâm đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trường WEF cũng đưa ra một khung khổ các yếu tố xác định năng lực cạnh tranh tổng thể của một quốc gia và phân chia các yếu tố này thành 8 nhóm chính, với hơn 200 chỉ tiêu khác nhau Khả năng cạnh tranh phụ thuộc 2 yếu tố cơ bản sau:

Trang 25

Bảng 2.2 Chỉ số năng lực năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI

1 Nội lực kinh tế Giá trị tăng thêm, hoạt động đầu tư, tiết

kiệm, tiêu dùng cuối cùng, hoạt động dự báo, giá cả sinh hoạt, hoạt động của các thành phần kinh tế

2 Phạm vi quốc tế hoá Cán cân thanh toán vãng lai, hoạt động xuất

khẩu hàng hoá dịch vụ, mức độ mở cửa của nền kinh tế, chính sách bảo hộ quốc gia, đầu

tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp, tỷ giá hối đoái, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ

3 Năng lực và hiệu quả hoạt

động của Chính phủ

Nợ quốc gia, hiệu quả của bộ máy Nhà nước, chính sách tài khoá, an ninh và tư pháp, sự can thiệp của Nhà nước, chi tiêu chính phủ

quả của hệ thống ngân hàng, tính năng động của thị trường chứng khoán

5 Cơ sở hạ tầng trong nước Hạ tầng cơ bản, khả năng tự cung cấp về

năng lượng, môi trường, hạ tầng công nghệ

doanh, hoạt động kinh doanh, chi phí nhân công

7 Khoa học và công nghệ Hoạt động nghiên cứu và phát triển, quản lý

công nghệ, môi trường khoa học, sở hữu trí tuệ, nguồn nhân lực để tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển

lao động, việc làm, thất nghiệp, cơ cấu giáo dục, chất lượng cuộc sống, các giá trị và hành vi

Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới WEF Các yếu tố vĩ mô thuộc về môi trường cạnh tranh: chủ trương của Chính phủ, luật pháp, chính sách khuyến khích hay hạn chế, cơ chế quản lý điều hành của Nhà nước, thị trường và cơ sở hạ tầng; Các yếu tố vi mô thuộc nội lực của doanh nghiệp, như vốn, cơ cấu vốn, công nghệ, trình độ người lao động, kỹ năng quản lý Các biện pháp doanh nghiệp có thể lựa chọn để nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc lựa

Trang 26

chọn ngành sản xuất kinh doanh hay dịch vụ có khả năng thu lợi nhuận cao: ổn định

và không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ, củng cố lòng tin đối với khách hàng, không kiếm lợi nhuận trên cơ sở "chụp giật"; Hiểu đối thủ cạnh tranh

về chiến lược sản phẩm, kế hoạch sản xuất kinh doanh, hướng phân chia thị trường, các quan hệ bạn hàng, doanh thu và biên độ lợi nhuận, nguồn lực về vốn, lao động,

kỹ thuật công nghệ để học tập, tìm đối sách khai thác thế mạnh, khắc phục thế yếu của mình, giành thị phần lớn hơn, đồng thời tổ chức lại doanh nghiệp (liên kết, hợp nhất, hợp tác để tăng quy mô, tăng khả năng cạnh tranh) Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của WEF (2000), phân nhóm lại từ 8 nhóm gộp lại và điều chỉnh thành 3 nhóm lớn: Nhóm 1 - Môi trường kinh tế vĩ mô (còn gọi là nhóm độ mở); Nhóm 2 - Thể chế công (còn gọi là nhóm tài chính); Nhóm 3 - Công nghệ (còn gọi là nhóm sáng tạo kinh tế, khoa học, công nghệ)

Đến năm 2014, 3 nhóm được điều chỉnh thành: Nhóm 1 – Yêu cầu cơ bản (Thể chế, hạ tầng, môi trường vĩ mô, sức khỏe và giáo dục cơ sở); Nhóm 2 – Nâng cao hiệu quả (giáo dục và đào tạo bậc trung học phổ thông, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, phát triển thị trường tài chính, thích ứng công nghệ, quy mô thị trường); Nhóm 3 – yếu tố cải tiến và mức độ tinh vi (mức độ tinh

vi trong kinh doanh, cải tiến)

Bảng 2.3 Trọng số và ngưỡng thu nhập tính theo giao đoạn phát triển

Giai đoạn1 định hướng nhân tố

Chuyển đổi từ GĐ1 sang GĐ2

Giai đoạn 2 định hướng hiệu quả

Chuyển đổi từ GĐ2 sang GĐ3

Giai đoạn 2 định hướng cải tiến

GDP trên đầu ngời (USD) < 2.000 2.000 - 2.999 3.000 - 8.999 9.000 - 17.000 > 17.000 Trọng số yêu cầu cơ bản 60% 40-60% 40% 20-40% 20% Trọng số nâng cao hiệu quả 35% 35-50% 50% 50% 50% Trọng số cải tiến và tinh vi 5% 5-10% 10% 10-30% 30%

Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới WEF (2014) Các căn cứ để WEF xếp hạng các nước: Trước hết, WEF có một phương pháp luận được áp dụng và luôn được hoàn thiện từ 1979 đến nay, kết hợp tính toán các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô định lượng với khảo sát ý kiến của các công ty lớn nhất thế giới Từ năm 2000, báo cáo này được tính toán với vài trăm tiêu chí thuộc về ba nhóm chủ yếu gồm: Nhóm các chỉ tiêu xếp hạng về môi trường kinh tế vĩ mô; Nhóm các chỉ tiêu xếp hạng về các thể chế công; Nhóm các chỉ tiêu xếp hạng về công nghệ Mỗi nhóm trong ba nhóm trên có trọng số như nhau Các chỉ tiêu kinh tế

Trang 27

vĩ mô được tham khảo và tính toán từ kho dữ liệu của Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền

tệ quốc tế và các tổ chức, hiệp hội quốc tế khác Phần quan trọng còn lại là kết quả phỏng vấn các doanh nghiệp có quy mô toàn cầu về những tiêu chí khó định lượng hoá bằng mô hình toán học Đến năm 2014, báo cáo WEF (2014) các giai đoạn phát triển được phân loại như sau:

Giai đoạn 1: Nền kinh tế được xem xét ở giai đoạn định hướng nhân tố khi quốc gia đó chủ yếu dựa vào nguồn lực cơ bản (lao động không kỹ năng, nguồn tài nguyên thiên nhiên); các công ty thuộc quốc gia này cạnh tranh dựa trên giá bán các sản phẩm thông thường với năng suất lao động thấp Khả năng cạnh tranh ở giai đoạn phát triển này chủ yếu dựa trên thể chế công và tư nhân, hạ tầng tốt, lực lượng lao động đảm bảo sức khỏe và được đào tạo cơ bản

Giai đoạn 2: Nền kinh tế được xem xét ở giai đoạn định hướng hiệu quả khi quốc gia đó có năng suất trong quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm và mức lương tăng đạt mức tiến bộ hơn nhưng chưa thể tăng giá bán sản phẩm Điều này thể hiện người lao động được đào tạo ở mức cao hơn, thị trường hoàn hảo về cung cấp hàng hóa, thị trường lao động thể hiện đúng chức năng, thị trường tài chính đã phát triển, khả năng bảo vệ lợi ích từ những công nghệ hiện hữu mang lại, thị trường trong và ngoài nước được mở rộng

Giai đoạn 3: Nền kinh tế được xem xét ở giai đoạn định hướng cải tiến khi quốc gia đó thể hiện có thể cạnh tranh với sản phẩm mới và độc nhất, mức lương của người lao động tăng so với mức sống hội nhập Ở giai đoạn này, các công ty đã cải tiến quy trình sản suất mức độ tinh vi để tạo ra những sản phẩm mới và khác biệt so với đối thủ cạnh tranh

Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) PCI bao gồm chín chỉ số cấu thành có tác động qua lại và có tầm ảnh hưởng khác nhau trên PCI Đó là các chỉ số chi phí gia nhập thị trường; đất đai và mặt bằng kinh doanh; tính minh bạch và tiếp cận thông tin; chi phí về thời gian và việc thực hiện các quy định của Nhà nước; các chi phí không chính thức; thực hiện chính sách của Trung ương; ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước; tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh và cuối cùng là các chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân,…

Bảng 2.4 Trọng số cấu thành chỉ số PCI

Trang 28

2.2 Lý thuyết về cạnh tranh quốc gia

Lược khảo lại các lý thuyết cạnh tranh trong lịch sử có thể thấy hai trường

phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại Trường phái cổ điển

với các đại biểu tiêu biểu như Adam Smith (1776), John Stuart Mill, Darwin (1859)

đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này Trường phái

hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức

ngành như Michael Porter (1980); tiếp cận tâm lý như Schumpeter (1942) Theo

Adam Smith (1776), tự do cạnh tranh là hoạt động mà các cá nhân chèn ép nhau thì

cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính

xác Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực

hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào Như

vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, góp

phần làm tăng của cải của nền kinh tế

Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của M Porter: Sự gia tăng mức sống

và sự thịnh vượng của quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào khả năng đổi mới, khả năng

tiếp cận nguồn vốn và hiệu ứng lan truyền công nghệ của nền kinh tế Nói tổng quát

hơn, sức cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào sức cạnh tranh của các ngành

trong nền kinh tế

Trang 29

Sức cạnh tranh của một ngành lại xuất phát từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành: khả năng đổi mới công nghệ, sản phẩm, cung cách quản

lý của ngành và môi trường kinh doanh Các đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế không phải chỉ thuần là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là những đầu vào do chính doanh nghiệp hoặc Chính phủ tạo ra Bốn yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của một khu vực hay một quốc gia gồm:

- Chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và sự cạnh tranh: Những ngành có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách của quốc gia, hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước căng thẳng hơn sẽ có tính cạnh tranh quốc tế mạnh hơn Chẳng hạn như ngành sản xuất xe hơi của Nhật có một số Công ty cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới, một phần là do các Công ty này

đã cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước

- Các điều kiện về phía cầu: Những ngành phải cạnh tranh mạnh ở trong nước thì có tính cạnh tranh quốc tế tốt hơn Thị trường trong nước với số cầu lớn và

có những khách hàng đòi hỏi cao và những cạnh tranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ

có khả năng cạnh tranh cao hơn

- Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Tính cạnh tranh của một ngành phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấp các hàng hoá và các dịch vụ hỗ trợ Các nhà cung cấp hàng hoá có khả năng cạnh tranh trên toàn cầu có thể mang lại lợi thế cạnh tranh thông qua sự lan truyền công nghệ Sự hiện diện cụm công nghiệp tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế kinh tế theo quy mô

- Điều kiện về các yếu tố sản xuất: Bao gồm chất lượng lao động, vốn rẻ, cơ

sở hạ tầng mạnh và công nghệ cao trong khu vực hay quốc gia sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của ngành, của khu vực và của cả quốc gia đây chúng ta nhấn mạnh đến chất lượng của các yếu tố đầu vào được tạo ra chứ không phải là nguồn lực ban đầu như trình độ của các chuyên gia và các nhà quản lý, kỹ năng của người lao động

2.3 Các yếu tố năng lực cạnh tranh ảnh hưởng đến đầu tư

Trên cơ sở tổng hợp các chi số đo lường năng lực cạnh tranh quốc tế cấp theo các tổ chức nghiên cứu bao gồm

(1) Chỉ số cạnh tranh thế giới của WCI;

(2) Chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI;

Trang 30

(3) Chỉ số tự do kinh tế;

(4) Chỉ số cạnh tranh của Châu Âu;

(5) Chi số cạnh tranh và năng suất của Anh;

(6) Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam

2005

63 tỉnh/thành phố

112 - Hạ tầng kinh tế

- Đầu vào cạnh tranh

- Môi trường đầu tư

Nguồn: Tổng hợp của tác giả Năng lực cạnh tranh Thế giới của IMD cho thấy rằng khả năng cạnh tranh cần phải tạo ra sự cân bằng kinh tế và xã hội của một quốc gia, sự nhấn mạnh về chỉ

số GDP bình quân trên đầu người như một chỉ số năng lực cạnh tranh tổng thể mà còn công nhận tiêu chuẩn mức sống được xem như là một chỉ số quan trọng Chỉ số

Trang 31

Năng lực cạnh tranh Thế giới phân tích khả năng của các quốc gia cung cấp một môi trường cạnh tranh kinh tế của doanh nghiệp

Sự phức tạp trong đo lường năng lực cạnh tranh quốc gia cũng được thể hiện bằng chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI của WEF, có hai bộ chỉ số: (1) Chỉ số năng lực cạnh tranh ngắn hạn, được sử dụng các chỉ số kinh tế vi mô để đo lường các thiết lập của các tổ chức, cơ cấu thị trường và các chính sách kinh tế ủng hộ mức hiện nay cao của sự thịnh vượng; (2) Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng, tập trung vào khả năng cạnh tranh toàn cầu của các tổ chức và chính sách kinh tế hỗ trợ các tốc độ tăng trưởng trong trung hạn (05 năm tiếp theo)

Năm 1999 Bộ của Vương quốc Anh có cho Thương mại và Công nghiệp đầu tiên được xuất bản tại Anh về Chỉ số năng lực cạnh tranh Chính phủ Anh là một trong những đầu tiên của EU các chính phủ để đưa khả năng cạnh tranh tại trung tâm hoạch định chính sách kinh tế của mình Các mục đích đề ra các chỉ tiêu là để giám sát, chẳng hạn như một kiến thức dẫn dắt nền kinh tê; đánh giá khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế hàng đầu thế giới; các chính sách thiết kế để thu hẹp khoảng cách về tiêu chuẩn mức sống và năng suất với chính đối thủ cạnh tranh Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay PCI là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh Đây là dự án hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) Chỉ số này được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 cho 42 tỉnh, thành Từ lần thứ hai, năm 2006 trở đi đến nay, tất cả các tỉnh thành Việt Nam đều được đưa vào xếp hạng, đồng thời các chỉ

số thành phần cũng được tăng cường thêm PCI là chỉ số về chất lượng điều hành (governance index), đánh giá các lĩnh vực điều hành kinh tế thuộc thẩm quyền của chính quyền tỉnh, thành phố ở Việt Nam PCI được xem là một công cụ chính sách, hướng tới thay đổi thực tiễn PCI có nguồn gốc từ Việt Nam do một nhóm chuyên gia trong và ngoài nước của VCCI và USAID phát triển Để xây dựng PCI, VCCI tiến hành khảo sát doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tổ Mỗi năm, có khoảng gần 10 nghìn doanh nghiệp dân doanh trả lời điều tra PCI Để xây dựng bộ chỉ số này, ngoài dữ liệu điều tra, nhóm nghiên cứu PCI của VCCI còn sử dụng các thông tin khác đã công bố của các bộ, ngành

Trang 32

Có tất cả 10 chỉ số thành phần (với thang điểm 100) nhằm đánh giá và xếp hạng các tỉnh về chất lượng điều hành cấp tỉnh tại Việt Nam Những chỉ số đó là: (1) Gia nhập thị trường; (2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; (3) Tính minh bạch; (4) Chi phí thời gian; (5) Chi phí không chính thức; (6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; (7) Cạnh tranh bình đẳng; (8) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; (9) Đào tạo lao động; (10) Thiết chế pháp lý

2.4 Các nghiên cứu trước:

2.4.1 Các nghiên cứu của nước ngoài:

Nghiên cứu của Yin, F., Ye, M & Xu, L (2014) phân tích các yếu tố quyết định vị trí của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ, lược khảo khía cạnh lý thuyết và thực nghiệm Giả thuyết của nghiên cứu đưa ra các yếu tố như là yếu tố quyết định vị trí của FDI trong dịch vụ dựa trên tiêu chuẩn của FDI Nghiên cứu thực nghiệm đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc sử dụng dữ liệu bảng

17 tỉnh, thành phố từ năm 2000 đến năm 2010 Các kết quả ước lượng được sử dụng bằng phương pháp hồi quy GMM xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và cho thấy dòng vốn FDI tập trung vào các tỉnh ven biển và các thành phố lớn

Nghiên cứu Liu, K., Daly, K & Varua, M.E (2012) phân tích thực nghiệm thu hút dòng vốn FDI vào Trung Quốc bằng cách phân tích tầm quan trọng tương đối của các yếu tố quyết định tiềm năng của dòng vốn FDI toàn bốn vùng của Trung Quốc trong giai đoạn 2001-2009 với Sử dụng số liệu bảng 30 tỉnh, thành phố Các yếu tố quyết định đến thu hút dòng vốn là: Quy mô thị trường, chi phí lao động, chất lượng lao động, phát triển cơ sở hạ tầng, viễn thông, độ mở thương mại và chính phủ khuyến khích kinh tế để thu hút FDI Mô hình sử dụng phương pháp hồi quy OLS với biến giả cho từng vùng và sau đó so sánh các kết quả trên khắp bốn vùng Các kết quả cho thấy một bức tranh hỗn hợp: quy mô thị trường giữ vai trò ưu tiên trong việc thu hút dòng vốn FDI vào các khu vực vùng ven biển phía đông bắc

và trong khi độ mở thương mại là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với dòng vốn FDI trong khu vực trung tâm Chất lượng lao động không có hiệu quả trong khu vực trung tâm nhưng có một tác động tích cực đến dòng vốn FDI vào các khu vực ven biển và phía đông bắc Những kết quả này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách khu vực của Trung Quốc khi họ có thể giúp họ xác định

Trang 33

các loại hình công nghiệp nhằm đáp ứng điều khiển cụ thể và xác định các đặc điểm kinh tế xã hội khu vực đó là hấp dẫn hơn đối với dòng vốn FDI nói riêng

Nghiên cứu của Yi Zhang (2011) phân tích thể chế và đầu tư quốc tế: Nghiên cứu tại Trung Quốc với dữ liệu bảng các tỉnh, thành phố giai đoạn 1995-2006 Mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm kiếm các yếu tố tác động sự phân bố không đồng đều của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên toàn tỉnh của Trung Quốc Đầu tiên, phương pháp phân tích nhân tố được sử dụng để rút gọn 40 biến quan sát thành 04 yếu tố quyết định thu hút dòng vốn FDI: chất lượng thể chế, chi phí lao động, quy

mô thị trường và địa lý Kế đến, sử dụng những yếu tố này đo lường tác động đến thu hút dòng vốn FDI với phương pháp hồi quy được sử dụng là biến công cụ (IV method) nhằm khắc phục yếu tố nội sinh Kết quả cho thấy rằng các công ty nước ngoài đầu tư vào các tỉnh có tổ chức tốt, chi phí lao động thấp và quy mô thị trường lớn Hoặc sử dụng các biến tố hồi quy bằng phương pháp GMM và kết quả cho thấy tác động tích tực mạnh mẽ trong việc thu hút dòng vốn FDI và cho thấy rằng công

ty đa quốc gia có xu hướng đầu tư vào các tỉnh thu hút các công ty nước ngoài khác, phù hợp với địa lý kinh tế Một số kiểm định chỉ ra rằng chi phí lao động thấp kết hợp với những cải tiến trong các tổ chức chính là chìa khóa cho việc thu hút FDI địa phương ở Trung Quốc

Nghiên cứu của Schäffler, Hecht, Moritz (2014) phân tích vị trí đầu tư FDI của Đức trong khối Cộng hòa Séc Kết quả phân tích mô hình sử dụng phương pháp nhị phân (binary method) và kết quả cho thấy yếu tố quan trọng thu hút dòng vốn FDI: quy mô thị trường và yếu tố tích lũy; kết hợp trụ sở chính và các chi nhánh trong khối Cộng hòa Séc và đặc điểm thị trường lao động

2.4.2 Các nghiên cứu trong nước:

Nghiên cứu Malesky (2007) đo lường mối quan hệ quản trị cấp tỉnh và đầu

tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Malesky sử dụng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (2005-2007) và so sánh mức độ thu hút giữa các địa phương Trong phân tích này, Malesky đã cố gắng chứng minh mối tương quan giữa PCI và FDI nhằm đánh giá nhận thức của khu vực tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài đối với các vấn đề quản trị điều hành địa phương trong việc góp vốn đầu tư tại địa phương Kết quả nghiên cứu được sử dụng phương pháp hồi quy OLS và tương quan và cho

Trang 34

thấy rằng lợi thế vị trí Hải Dương, Hà Tây, Hải Phòng và Đồng Nai là những địa điểm thu hút đầu tư FDI

Nghiên cứu của Phúc và Hiệp (2011) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nước ngoài của các địa phương ở Việt Nam, với dữ liệu được sử dụng chỉ

số PCI từ 2006-2009 bằng phương pháp hồi quy pooled OLS Kết quả hồi quy cho thấy tổng sản phẩm công nghiệp, thiết chế pháp lý, cơ sở hạ tầng và đào tạo lao động ảnh hưởng đến thu hút dòng vốn FDI, đồng thời so sánh sự khác biệt trong việc thu hút FDI giữa khu vực phía Bắc, khu vực phía Nam và các khu vực khác Nghiên cứu của Việt, Nhường, Quỳnh, Hiền (2014) phân tích tác động của chất lượng thể chế cấp tỉnh tới khả năng thu hút FDI địa phương, sử dụng chỉ số PCI 2006-2010 với dữ liệu bảng của 20 tỉnh, thành phố Chất lượng thể chế thấp trong xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia cùng với mức phân bổ dòng vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không đồng đều tại các tỉnh là lý do khiến chúng tôi đánh giá tác động của chất lượng thể chế cấp tỉnh đối với khả năng thu hút FDI vào các địa phương tại Việt Nam chỉ ra rằng thể chế thực thi tại các địa phương có tác động mạnh mẽ đối với khả năng thu hút FDI trong khi những thể chế hỗ trợ lại không có tác động Những phát hiện này rất hữu ích cho các chính quyền địa phương, đặc biệt là những tỉnh có tiền lệ yếu về thu hút FDI, để từ đó có những chính sách hợp lý cải thiện môi trường thể chế cấp nhằm tăng khả năng thu hút FDI

và tăng tính đồng bộ của dòng FDI trong phạm vi cả nước

Bảng 2.6 Nghiên cứu năng lực cạnh tranh và FDI địa phương

Tác giả Nội dung Phương pháp nghiên cứu Kết quả

Malesky

(2007)

Quản trị cấp tỉnh và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: sử dụng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (2005-2007) và so sánh mức độ thu hút giữa các tỉnh, thành

Hồi quy OLS, tương quan

Lợi thế vị trí Hải Dương, Hà Tây, Hải Phòng và Đồng Nai là những địa điểm thu hút đầu tư FDI

Trang 35

Tác giả Nội dung Phương

pháp

Kết quả nghiên cứu

số liệu bảng của 17 tỉnh

từ 2000-2010

Hồi quy GMM Dòng vốn FDI tập

trung vào các tỉnh ven biển và các thành phố lớn

Liu, Daly &

Varua (2012)

Quyết định đầu tư FDI theo khu vực tại Trung Quốc: Sử dụng số liệu bảng 30 tỉnh giai đoạn 2001-2009

Hồi quy OLS với biến giả

Dòng vốn FDI tập trung khu vực duyên hải và các phía Bắc

Yi Zhang

(2011)

Thể chế và đầu tư quốc tế: Nghiên cứu tại Trung Quốc Sử dụng

dữ liệu bảng các tỉnh từ 1995-2006

Hồi quy FE, IV Chất lượng thể chế,

chi phí lao động rẻ, quy mô thị trường lớn

và vị trí địa lý thu hút FDI vào các tỉnh có các yếu tố trên

Mô hình nhị phân

Quy mô thị trường và yếu tố tích lũy; kết hợp trụ sở chính và các chi nhánh trong khối Cộng hòa Séc và đặc điểm thị trường lao động động lực thu hút FDI

Phúc & Hiệp

(2011)

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nước ngoài của các địa

Hồi quy OLS Cơ sở hạ tầng, thiết

chế pháp lý, tiếp cận đất đai và đào tạo lao

Trang 36

Tác giả Nội dung Phương

pháp

Kết quả nghiên cứu

phương ở Việt Nam:

Một phân tích dữ liệu chéo Sử dụng chỉ số PCI từ 2006-2009

động có sự khác biệt trong việc thu hút FDI giữa khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc

và Nam so với các khu vực khác

2010 với 20 tỉnh

Hồi quy OLS với dữ liệu gộp

Tiếp cận đất đai và chi phí thời gian tác động đến FDI tại 20 tỉnh/thành phố

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Tóm tắt

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về thu hút dòng vốn FDI và các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ảnh hưởng đến dòng vốn FDI địa phương

Trang 37

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu

3.1.1 Sơ đồ nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu của tác giả sẽ được thực hiện qua 3 giai đoạn bao gồm lược khảo lý thuyết nghiên cứu và bằng chứng thực nghiệm từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu Bước 1: Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Bước 2: Thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu

Bước 3: Sử dụng công cụ định lượng phân tích kết quả nghiên cứu

(Nguồn: xây dựng của tác giả)

3.1.2 Thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu

(1) Lựa chọn đơn vị đo

Các dữ liệu sử dụng cho mô hình định lượng có thể phân thành hai nhóm theo biến phụ thuộc và biến giải thích Trong đó, biến giải thích bao gồm 09 biến thể hiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và biến phụ thuộc thể hiện dòng vốn đăng ký FDI tại địa phương Các chỉ số thành phần trong PCI đã được lựa chọn để phản ánh chất lượng thể chế địa phương Từ năm 2005, PCI được tính dựa trên 10

Cơ sở lý thuyết

và bằng chứng

thực nghiệm

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Lựa chọn biến giải thích phù hợp nghiên cứu đề tài

Thu thập dữ liệu

thứ cấp và xử lý

dữ liệu thô

Mô tả và giải thích đơn vị đo lường các biến quan sát

Mã hóa và

xử lý dữ liệu

Gợi ý một số giải pháp Thống kê

mô tà OLS, FE, RE Hồi quy kết quả nghiên cứu Thảo luận

Trang 38

yếu tố thành phần và bao gồm 63 tỉnh thành Đến năm 2008, chỉ số này có sự điều chỉnh xuống còn 9 chỉ số thành phần

Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

FDI Dòng vốn đăng ký FDI tại địa

phương

ln_fdi Tổng cục thống kê

từ năm 2005 đến năm 2014

Số dự án FDI tại địa phương ln_nop

và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

từ năm 2005 đến năm 2014

Tiếp cận đất đai tiepcanDD Tính minh bạch minhbach

Chi phí không chính thức khongCT Tính năng động nangdong Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp hotro

Đào tạo lao động daotao

và ĐBSCL giai đoạn 2005-2014 Trong năm 2005, yếu tố thiết chế thuộc chỉ số PCI trực thuộc 02 khu vực Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long chưa có dữ liệu chưa được điều tra năm 2005, do đó dữ liệu thay thế bằng cách gán các giá trị

Trang 39

trung bình mẫu của từng tỉnh của yếu tố này Bên cạnh đó, một số tỉnh vào năm

2005 chưa thu thập thông tin do đó loại bỏ những đối tượng quan sát đó ra khỏi mô hình nghiên cứu

(3) Kiểm tra và hoàn chỉnh cấu trúc dữ liệu: Dữ liệu được phân biệt thành

hai loại cơ bản là dữ liệu số và dữ liệu ký tự Dữ liệu được xử lý thống kê hầu hết là các dữ liệu dạng số Toàn bộ số liệu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được nhập vào bảng tính Excel Sau khi xử lý toàn bộ số liệu thô và cấu trúc dữ liệu bảng thì cắt dán vào phần mềm Stata Những thuộc tính trong cấu trúc dữ liệu cần được kiểm tra trước khi thực hiện các tính toán, phân tích,

dự báo như sau:

- Xử lý đơn vị đo của dữ liệu bảng: Thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu thô

Ở bước này, số liệu nghiên cứu FDI được lấy từ nguồn Tổng cục thống kê, chỉ số năng lực cạnh tranh PCI được lấy từ nguồn Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Sau khi xử lý đồng nhất và chuẩn hóa các đơn vị đo của số liệu qua các năm, mô hình được phân tích dưới dạng số liệu bảng thì phương pháp nghiên cứu cần được lựa chọn phù hợp để phân tích số liệu bảng nhằm đánh giá sự biến động theo không gian (sự khác biệt địa phương thu hút dòng vốn FDI) và thời gian (giai đoạn 2005-2014) nhằm tìm kiếm mối quan hệ giữa chỉ số PCI và khả năng thu hút vốn FDI

- Kiểm tra tính xác định duy nhất của các trường khóa: Các bộ số liệu

thường cung cấp thông tin từ các đối tượng, ở những mức độ, phạm vi khác nhau các quan sát phải đảm bảo tính duy nhất Kiểm tra tính duy nhất dựa trên các trường khóa là một trong các cách để loại trừ số liệu bị nhập trùng lặp hoặc thậm chí là điều tra trùng trong khi thu thập số liệu thực địa Chẳng hạn như, biến quan sát Chính sách đào tạo lao động năm 2005-2006 được đặt tên là Chính sách phát triển thành phần kinh tế tư nhân, mặc dù một số mục hỏi chi tiết giống nhau và cho đến nay phát triển thêm các mục hỏi khác, do đó cần thống nhất trường khóa khi đặt tên biến

3.1.3 Sử dụng thống kê mô tả, các công cụ phân tích hồi quy để đánh giá kết quả nghiên cứu

(1) Sử dụng thống kê mô tả, các biểu đồ phát hiện các giá trị ngoại lai và dữ liệu lỗi: Các mô tả thống kê nhờ các đặc trưng và các biểu đồ của các biến là công

Trang 40

cụ hữu ích hơn cả để phát hiện các giá trị cá biệt, ngoại lai Các giá trị nhỏ nhất, lớn nhất sẽ cho biết vùng dữ liệu quan sát được của mỗi biến Đây chính là thông tin quan trọng xác định một biến nào đó có trường hợp ngoại lai không Cũng cần chú

ý là giá trị ngoại lai không nhất thiết là thông tin sai, nhưng cần loại các giá trị này trong một số tính toán vì chúng có thể làm sai lệch đặc trưng chung của tổng thể nghiên cứu Lỗi dữ liệu có thể xuất hiện có tính hệ thống, có thể phát hiện các lỗi này qua các biểu đồ quan hệ, qua mối quan hệ giữa các biến có quy luật, v.v…

(2) Phương pháp hồi quy

Dữ liệu bảng và dữ liệu chéo gộp chung (pooled data) là các quan sát về một chỉ tiêu nào đó sẽ bao gồm quan sát chéo và quan sát theo thời gian Cần phân biệt

dữ liệu bảng và dữ liệu chéo gộp chung (pooled): Bỏ qua yếu tố thời gian; Chỉ là các quan sát dữ liệu thuần túy Ưu điểm của dữ liệu bảng là nghiên cứu được sự khác biệt giữa các đơn vị chéo mà trước đây chúng ta hay sử dụng biến giả nâng cao được số quan sát của mẫu và phần nào khắc phục được hiện tượng đa cộng tuyến chứa đựng nhiều thông tin hơn các dữ liệu khác Nghiên cứu được động thái thay đổi của các đơn vị chéo theo thời gian, một mô tả dạng hàm dữ liệu bảng đơn giản và các ý tưởng khai thác từ dữ liệu bảng

Tổ chức dữ liệu bảng không cân xứng (unbalanced data): Các đơn vị chéo được sắp xếp theo thời gian và các đơn vị chéo này được nhóm lại với nhau theo từng biến Có hai dạng dữ liệu bảng là dữ liệu bảng cân bằng (balanced): khi các đơn vị chéo có cùng số quan sát theo thời gian và dữ liệu bảng không cân xứng (unbalance) khi các đơn vị chéo không có cùng số quan sát theo thời gian Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng mô hình kinh tế lượng theo OLS, FE và RE để phân tích dữ liệu bảng Nghiên cứu lựa chọn dữ liệu bảng với đối tượng quan sát là

19 tỉnh, thành phố kết hợp với thời gian giai đoạn 2005-2014 Phương pháp OLS được sử dụng để phân tích dữ liệu hỗn hợp (pooled data) đánh giá tổng thể giai đoạn 2005-2014 để đo lường tác động chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đến thu hút FDI Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứu tiếp cận với phương pháp FE (hiệu ứng

cố định) và phương pháp RE (hiệu ứng ngẫu nhiên) và loại bỏ sai số (đối tượng quan sát và thời gian) để xem xét hướng tác động theo dữ liệu bảng (panel data) Dữ liệu bảng được phân tích để điều tra hiệu ứng cá nhân (nhóm) và / hoặc thời gian thường sử dụng phương pháp hiệu ứng cố định FE và các hiệu ứng ngẫu nhiên RE

Ngày đăng: 25/11/2016, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Agarwal, J.P., 1980, Determinants of Foreign Direct Investment: A Survey. Weltwirtschaftliches Archiv/Review of World Economics, 116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of Foreign Direct Investment: A Survey
3. Anh and Thang, 2007, Foreign direct investment in Vietnam: An overview and analysis the determinants of spatial distribution across provinces. Munich Personal RePEc Archive, 10, 1921 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign direct investment in Vietnam: An overview and analysis the determinants of spatial distribution across provinces
4. Aliber, R.Z., 1970, A theory of direct foreign investment, The International Corporation. MIT Press, Cambridge, MA, United States Sách, tạp chí
Tiêu đề: A theory of direct foreign investment
8. Botric V. &amp; Skuflic L., 2006, Main Determinants of Foreign Direct Investment in the Southeast European Countries. Transition Studies Review, 13, 359-377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Main Determinants of Foreign Direct Investment in the Southeast European Countries
9. Brainard S. L., 1993, A Simple Theory of Multinational Corporations and Trade with Trade-Off between Proximity and Concentration. NBER Working Paper Series. National Bureau of Economic Research Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Simple Theory of Multinational Corporations and Trade with Trade-Off between Proximity and Concentration. NBER Working Paper Series
10. Brozen Y., 1958, Means for Maintaining Economic Stability. Journal of Farm Economics, 40, 1069-1078 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Means for Maintaining Economic Stability
12. Buckley &amp; Casson, 1998, Analyzing Foreign Market Entry Strategies: Extending the Internalization Approach. Journal of International Business Studies, 29, 539- 561 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analyzing Foreign Market Entry Strategies: Extending the Internalization Approach
14. Caves R. E., 1971, International Corporations: The Industrial Economics of Foreign Investment. Economica, 38, 1-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Corporations: The Industrial Economics of Foreign Investment
15. Chenery H. B., 1952, Overcapacity and the Acceleration, Econometrica, 20(1, 1–28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overcapacity and the Acceleration
16. Chiến &amp; cộng sự, 2012, FDI tại Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung Việt Nam: Mối quan hệ hai chiều với GDP, sự cạnh tranh giữa các tỉnh thành và ảnh hưởng của luật pháp. Tạp chí Khoa học Đại học Huế, tập 72, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI tại Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung Việt Nam: Mối quan hệ hai chiều với GDP, sự cạnh tranh giữa các tỉnh thành và ảnh hưởng của luật pháp
17. Cleeve E., 2008, How Effective Are Fiscal Incentives to Attract FDI to Sub- Saharan Africa?. The Journal of Developing Areas, 42, 135-153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: How Effective Are Fiscal Incentives to Attract FDI to Sub-Saharan Africa
21. Dunning J. H., 1988, The Eclectic Paradigm of International Production: A Restatement and Some Possible Extensions. Journal of International Business Studies, 19, 1-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Eclectic Paradigm of International Production: A Restatement and Some Possible Extensions
22. Dunning J. H., 1998, Location and the Multinational Enterprise: A Neglected Factor? Journal of International Business Studies, 29, 45-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Location and the Multinational Enterprise: A Neglected Factor
23. Dunning J. H., 2000, The eclectic paradigm as an envelope for economic and business theories of MNE activity. International Business Review, 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The eclectic paradigm as an envelope for economic and business theories of MNE activity
24. Dunning J. H., 2001, The eclectic, OLI) paradigm of international production: Past, present and future. International Journal of the Economics of Business, 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The eclectic, OLI) paradigm of international production: "Past, present and future
26. Dunning J. H., 2003, Some antecedents of internalization theory, International Journal of the Economics of Business Studies, 34, 108-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Some antecedents of internalization theory
27. Dunning &amp; Zhang, 2007, Meeting of Experts on “FDI, Technology and Competitiveness”. United Nations Conference On Trade And Development Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI, Technology and Competitiveness
30. Gastanaga &amp; ctg, 1998, Host Country Reforms and FDI Inflows: How Much Difference Do They Make?. World Development, 26, 7, 1299-1314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Host Country Reforms and FDI Inflows: How Much Difference Do They Make
34. Helpman E., 1984, A Simple Theory of International Trade with Multinational Corporations. The Journal of Political Economy, 92, 451-471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Simple Theory of International Trade with Multinational Corporations
36. Horstmann &amp; Markusen, 1987, Strategic Investments and the Development of Multinationals. International Economic Review, 28, 109-121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Investments and the Development of Multinationals

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Trọng số và ngưỡng thu nhập tính theo giao đoạn phát triển - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Bảng 2.3. Trọng số và ngưỡng thu nhập tính theo giao đoạn phát triển (Trang 26)
Hình 3.2. Đề xuất mô hình nghiên cứu - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Hình 3.2. Đề xuất mô hình nghiên cứu (Trang 56)
Hình 4.1. Xu thế vốn đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Hình 4.1. Xu thế vốn đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam (Trang 59)
Hình 4.2. Mật độ vốn đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Hình 4.2. Mật độ vốn đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam (Trang 60)
Hình 4.3. Xu thế số dự án đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Hình 4.3. Xu thế số dự án đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam (Trang 61)
Hình 4.5. Mối tương quan chỉ số PCI và vốn, số dự án đăng ký FDI - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Hình 4.5. Mối tương quan chỉ số PCI và vốn, số dự án đăng ký FDI (Trang 62)
Bảng 4.2. Thống kê các chỉ số đặc trưng - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Bảng 4.2. Thống kê các chỉ số đặc trưng (Trang 63)
Bảng 4.3. Kiểm định mối tương quan giữa 09 chỉ số thành phần PCI và FDI - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Bảng 4.3. Kiểm định mối tương quan giữa 09 chỉ số thành phần PCI và FDI (Trang 64)
Bảng 4.4. Mối tương quan giữa 09 chỉ số thành phần PCI và FDI phân theo vùng - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Bảng 4.4. Mối tương quan giữa 09 chỉ số thành phần PCI và FDI phân theo vùng (Trang 65)
Bảng 4.5. Phương pháp hồi quy pooled OLS với biến phụ thuộc vốn đăng ký FDI - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Bảng 4.5. Phương pháp hồi quy pooled OLS với biến phụ thuộc vốn đăng ký FDI (Trang 66)
Bảng 4.13.  Kiểm định Hausman với biến phụ thuộc ln_NOP - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Bảng 4.13. Kiểm định Hausman với biến phụ thuộc ln_NOP (Trang 73)
Bảng 4.17. Kiểm định tương quan lnFDI, lnNOP và các tiêu chí thuộc chính sách - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Bảng 4.17. Kiểm định tương quan lnFDI, lnNOP và các tiêu chí thuộc chính sách (Trang 76)
Bảng 4.18. Các tiêu chí thuộc chỉ số thời gian - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Bảng 4.18. Các tiêu chí thuộc chỉ số thời gian (Trang 77)
Bảng 4.19. Kiểm định tương quan lnFDI, lnNOP và các tiêu chí thuộc chi phí thời - đo lường các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci tác động đến thu hút dòng vốn fdi tại khu vực phía nam giai đoạn 2005 2014
Bảng 4.19. Kiểm định tương quan lnFDI, lnNOP và các tiêu chí thuộc chi phí thời (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w