Đặc điểm cấu tứ tác phẩm - Hình thức là đối thoại cuộc chia tay giữa người dân với cán bộ kháng chiến nhưng thực chất là lời độc thoại nội tâm của chủ thể trữ tình – nhân vật trữ tình ch
Trang 1KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU
THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
VIDEO và LỜI GIẢI CHI TIẾT chỉ có tại website MOON.VN
[Truy cập tab: Ngữ Văn – Khoá học: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN]
Biết yêu quí, trân trọng các tác giả, tác phẩm văn học mới
B NỘI DUNG BÀI HỌC
I ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VHVN TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CMTT NĂM 1945
1 Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hoá
* Bối cảnh rộng lớn của văn học
- Hoàn cảnh lịch sử - xã hội:
+ Đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp hoàn thành công cuộc xâm lược và tiến hành khai thác thuộc địa về kinh tế (lần thứ nhất từ 1897 - 1914, lần thứ hai từ 1919 - 1929), đàn áp các phong trào khởi nghĩa, cách mạng giải phóng của nhân dân Việt Nam
+ ĐCS Đông Dương ra đời, lãnh đạo CM giải phóng dân tộc tới thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời
+ Xã hội Việt Nam có sự chuyển biến sâu sắc: từ xã hội phong kiến lạc hậu chuyển thành xã hội thực dân nửa phong kiến
- Cơ cấu xã hội: Xuất hiện một số giai cấp mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản, dân nghèo
Trang 2+ Chịu ảnh hưởng của cả hai chiều tiến bộ và lạc hậu, văn hoá Việt Nam chuyển biến theo hướng hiện đại hoá, Âu hoá, Pháp hoá, từng bước đẩy lùi nền văn hoá phong kiến Việt Nam cổ truyền Một cuộc vận động văn hoá, giáo dục đã dấy lên chống lại lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng cá nhân
+ Báo chí và nghề xuất bản phát triển mạnh, chữ quốc ngữ dần thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, phong trào dịch thuật phát triển, lớp tri thức “Tây học” thay thế lớp trí thức Nho học
Tạo nên những điều kiện cho sự hình thành nền văn học VN hiện đại và làm cho nền văn học nước nhà phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá
* Quá trình hiện đại hoá của văn học
- Khái niệm: quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi
mới theo hình thức của văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới
- Nội dung: diễn ra trên mọi mặt, ở phương diện
- Sự thay đổi quan niệm về văn học: “văn chương chở đạo”, “thơ nói chí” văn chương = hoạt động nghệ thuật đi tìm và sáng tạo cái đẹp, văn chương để nhận thức, khám phá hiện thực
- Không còn tình trạng “văn, sử, triết bất phân” như trước
- Thi pháp văn học trung đại thi pháp văn học hiện đại
- Chủ thể sáng tạo: thay đổi kiểu nhà văn Từ các nhà nho - nhà văn văn nghệ sĩ mang tính chuyên nghiệp
- Công chúng văn học: nho sĩ thị dân
- Xây dựng và phát triển nền văn xuôi tiếng Việt và hiện đại hoá thể loại văn học: Xuất hiện các thể loại mới: kịch nói, phóng sự và phê bình văn học
- Các giai đoạn: 3 giai đoạn
+ Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920): Đây là giai đoạn chuẩn bị
(chữ quốc ngữ, sự phát triển của báo chí, dịch thuật)
Tác phẩm mở đầu: Truyện ngắn Thầy La-za-rô Phiền (Nguyễn Trọng Quản, 1887), tiểu
thuyết Hoàng Tố Oanh hàm oan (Thiên Trung, 1910)
Thành tựu chủ yếu: Thơ văn yêu nước và cách mạng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh (chủ yếu vẫn viết bằng chữ Hán, chữ Nôm theo thi pháp văn học trung đại)
+ Giai đoạn thứ hai (khoảng từ năm 1920 đến năm 1930): Quá trình hiện đại hoá đạt được
những thành tựu đáng kể
Tiểu thuyết và truyện ngắn của Hồ Biểu Chánh (Cha con nghĩa nặng), Phạm Duy Tốn (Sống
chết mặc bay), Nguyễn Bá Học (Quả dưa đỏ)
Thơ Tản Đà (Muốn làm thằng Cuội, Hầu trời, Thề non nước), Á Nam Trần Tuấn Khải (Gánh
nước đêm, Hai chữ nước nhà)
Các sáng tác của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp: truyện kí, văn chính luận (Những
trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Vi hành, Bản án chế độ thực dân Pháp)
Nhiều yếu tố của văn học trung đại còn tồn tại từ nội dung đến hình thức
Trang 3+ Giai đoạn thứ ba (khoảng từ năm 1930 đến năm 1945): Văn học phát triển mạnh mẽ, một
năm bằng ba mươi năm (Vũ Ngọc Phan), hoàn tất quá trình hiện đại hoá với nhiều cuộc đổi mới
sâu sắc trên mọi thể loại, đặc biệt tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, thơ, phê bình lí luận…
Truyện ngắn và tiểu thuyết hiện đại của Tự lực văn đoàn, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…
Phong trào Thơ mới như một cuộc cách mạng với những tên tuổi như: Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử…
Thơ cách mạng của Tố Hữu, Sóng Hồng, Hồ Chí Minh…
Phóng sự, tuỳ bút của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân…
Kịch nói của Vi Huyền Đắc, Nguyễn Huy Tưởng…
Phê bình lí luận của Phan Khôi, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai…
Hiện đại hoá văn học là một quá trình Ở hai giai đoạn đầu, đặc biệt là ở giai đoạn thứ nhất,
văn học còn nhiều ràng buộc, níu kéo của cái cũ, tạo nên tính chất giao thời của văn học Đến giai
đoạn thứ ba công cuộc hiện đại hoá mới thực sự toàn diện và sâu sắc, hoàn tất quá trình hiện đại hoá văn học
2 Văn học hình thành hai bộ phận và phân hoá thành nhiều xu hướng, vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển
- Do đặc điểm của một nước thuộc địa, chịu sự chi phối mạnh mẽ và sâu sắc của quá trình đấu
tranh giải phóng dân tộc, văn học từ đầu thế kỉ XX đến CMTT 1945 hình thành hai bộ phận: công
khai và không công khai
- Căn cứ vào thái độ chính trị của các nhà văn (chống Pháp trực tiếp hay không trực tiếp) để chia thành hai bộ phận
2.1 Văn học công khai là bộ phận hợp pháp, tồn tại trong vòng pháp luật của chính quyền
thực dân phong kiến
- Do khác nhau về quan điểm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ nên bộ phận văn học công khai lại phân hoá thành nhiều xu hướng, trong đó nổi lên hai xu hướng chính là văn học lãng mạn
+ Coi con người là trung tâm vũ trụ, khẳng định và đề cao “cái tôi” cá nhân
+ Bất hoà trước thực tại, tìm nhiều cách thoát li vào đời sống nội tâm, vào thiên nhiên, tình yêu, tôn giáo, vào qkhứ
+ Những cảm xúc mạnh mẽ, tương phản gay gắt, những biến thái tinh vi trong tâm hồn con người (Thơ mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, truyện ngắn Thạch Lam, tuỳ bút Nguyễn Tuân…) + Khá phức tạp, không thuần nhất
Trang 4+ Thức tỉnh ý thức cá nhân, chống luân lí, lễ giáo phong kiến cổ hủ, giải phóng cá nhân, giành quyền hạnh phúc cá nhân trong tình yêu, hôn nhân, gia đình
+ Góp phần làm cho tâm hồn người đọc thêm tinh tế, phong phú, thêm yêu quê hương đất nước…
- Hạn chế: Ít gắn với sống chính trị của đất nước, đôi khi sa vào khuynh hướng đề cao chủ nghĩa cá nhân cực đoan
- Những nghệ sĩ tiêu biểu: Các nhà thơ trong ptrào Thơ mới, các nhà văn trong TLVĐ…
* Văn học hiện thực:
- Đặc điểm:
+ Tập trung phơi bày thực trạng bất công, thối nát của xã hội đương thời, phản ánh tình cảnh
và cuộc sống khốn khổ của các tầng lớp nhân dân bị áp bức, bóc lột với sự cảm thông sâu sắc + Đấu tranh chống áp bức, bóc lột, phản ánh mâu thuẫn giàu nghèo, mâu thuẫn xã hội, phê phán thế sự trên tinh thần nhân đạo và dân chủ
+ Phản ánh hiện thực kquan, cụ thể, tỉ mỉ, xây dựng những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình
- Hạn chế: Chưa thấy được tiền đồ của nhân dân và tương lai của dân tộc (Tắt đèn, Bước
đường cùng, Bỉ vỏ…)
- Thành tựu: Truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự của Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao…, thơ trào phúng của Tú Mỡ, Đồ Phồn…
2.2 Văn học không công khai bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, phải lưu hành bí mật
- Là bộ phận văn học của các chí sĩ, chiến sĩ, cán bộ CM, được sáng tác trong tù, ở nước ngoài
- Là vũ khí tư tưởng sắc bén chiến đấu với kẻ thù dân tộc
- Đặc điểm:
+ Văn học yêu nước ngày càng phát triển theo phong trào yêu nước CM của dân tộc Việt Nam + Đánh thẳng vào bọn thống trị thực dân cùng bè lũ tay sai, nói lên khát vọng độc lập, đấu tranh giải phóng dân tộc, thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn và niềm tin vào tương lai đất nước
- Sáng tác tiêu biểu: thơ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Tố Hữu…
Nhìn tổng quát, giữa các bộ phận, các xu hướng và trào lưu văn học luôn có sự đấu tranh với nhau về xu hướng chính trị và quan điểm nghệ thuật Nhưng trong thực tế, chúng vẫn có sự tác động lẫn nhau để cùng phát triển
3 Văn học phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng
Trang 5 Tiểu thuyết, truyện ngắn
- Nguyên nhân:
+ Do sự thúc bách của yêu cầu thời đại
+ Sự vận động tự thân của nền văn học dân tộc (nguyên nhân chính)
+ Sự thức tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ của cái tôi cá nhân
+ Thời kì này, văn chương đã trở thành một thứ hàng hoá, viết văn đã trở thành một nghề kiếm sống lí do thiết thực kích thích người cầm bút
II THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA VHVN TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CMTT NĂM 1945
1 Thành tựu về nội dung tư tưởng
- Kế thừa và phát huy hai truyền thống lớn: chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo
+ Truyền thống yêu nước:
Thời phong kiến: gắn với vua (trung quân)
Thời hiện đại: Với các chí sĩ cách mạng đầu thế kỉ XX - gắn liền với nhân dân; với các nghệ
sĩ cách mạng, nhà thơ cộng sản - gắn liền với lí tưởng cộng sản, lí tưởng xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản
+ Truyền thống nhân đạo gắn liền với tinh thần dân chủ, khát vọng giải phóng cá nhân, đề cao
tài năng và phẩm giá con người
2 Thành tựu về thể loại và ngôn ngữ văn học
2.1 Văn xuôi: truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tuỳ bút
Tiểu thuyết:
Tiểu thuyết trung đại Tiểu thuyết hiện đại
- Thường vay mượn đề tài, cốt truyện của văn học
Trung Quốc
- Tập trung xây dựng cốt truyện li kì, hấp dẫn
- Nhân vật thường phân tuyến rạch ròi
- Kết cấu theo chương hồi và công thức
- Truyện được thuật kể theo trình tự thời gian tự
nhiên
- Kết thúc có hậu
- Dùng bút pháp ước lệ
- Xoá bỏ những đặc điểm của văn học trung đại
- Lấy tính cách nhân vật làm trung tâm, chú trọng xây dựng tính cách hơn cốt truyện, đi sâu vào nội tâm nhân vật
- Lời văn tự nhiên, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày
- Trần thuật không theo thời gian tự nhiên mà rất linh hoạt
Trang 6Phi ngã, sùng cổ, qui phạm, ước lệ tượng trưng - Phá bỏ các qui phạm chặt chẽ và hệ thống ước
lệ của thơ trung đại
- Thể hiện “cái tôi” cá nhân trước cuộc đời
Trang 7KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1975
Chuyên đề: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
VIDEO và LỜI GIẢI CHI TIẾT chỉ có tại website MOON.VN
[Truy cập tab: Ngữ Văn – Khoá học: LUYỆN ĐỀ THI THPT QUỐC GIA 2016]
Tham gia nhóm để cùng thảo luận: www.fb.com/groups/vanhoc.moon
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1 Về kiến thức
- Nắm được những đặc điểm của một giai đoạn văn học song hành cùng lịch sử đất nước;
- Thấy được những thành tựu của văn học cách mạng Việt Nam;
- Cảm nhận được ý nghĩa của văn học đối với đời sống
B NỘI DUNG BÀI HỌC
I KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1975
1 Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa
- Hoàn cảnh chiến tranh giải phóng dân tộc diễn ra hết sức quyết liệt từ năm 1945 đến năm
- Từ năm 1945 đến năm 1975, nền kinh tế còn nghèo nàn và chậm phát triển; về văn hóa, điều kiện giao lưu bị hạn chế, nước ta chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn hóa các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc…)
Trang 82 Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
+ Truyện ngắn và kí: mở đầu cho văn xuôi chặng này (Tác phẩm tiêu biểu: SGK)
+ Thơ ca: đạt được nhiều thành tựu xuất sắc (Tác phẩm tiêu biểu: SGK)
Cảm hứng: yêu quê hương đất nước, căm thù giặc, ca ngợi kháng chiến và con người kháng chiến
Nhân vật: quê hương, những con người kháng chiến (anh vệ quốc quân, bà mẹ chiến sĩ, chị phụ nữ nông thôn, em bé liên lạc…)
Ý thức đổi mới thơ ca: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi…
+ Kịch: Một số vở xuất hiện và gây được sự chú ý (Tác phẩm tiêu biểu: SGK)
2.2 Chặng đường từ 1955 đến 1964
- Văn xuôi: mở rộng đề tài, bao quát được nhiều vấn đề, nhiều phạm vi của hiện thực đời sống
như kháng chiến chống Pháp, hiện thực đời sống trước CMTT, xây dựng chủ nghĩa xã hội (Tác phẩm tiêu biểu: SGK)
- Thơ ca: phát triển mạnh mẽ (Tác phẩm tiêu biểu: SGK)
- Kịch: khá phát triển (Tác phẩm tiêu biểu: SGK)
- Lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học: chưa phát triển nhưng đã có một số sự kiện và tác
phẩm có ý nghĩa quan trọng (Tác phẩm tiêu biểu: SGK)
1945 đến 1954
Trang 9+ Văn xuôi: tập trung phản ánh cuộc sống chiến đấu và lao động, khắc họa khá thành công
hình ảnh con người Việt Nam anh dũng, kiên cường, bất khuất (Tác phẩm tiêu biểu: SGK)
+ Thơ ca: đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, thể hiện rõ khuynh hướng mở rộng, đào sâu hiện
thực, tăng cường sức khái quát, chất suy tưởng, chính luận, xuất hiện thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ (Tác giả, tác phẩm tiêu biểu: SGK)
+ Kịch: có nhiều thành tựu đáng ghi nhận, nhiều vở gây được tiếng vang (Tác phẩm tiêu biểu:
SGK)
<*> Văn học vùng bị tạm chiếm: SGK tr 9 - 10
3 Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
3.1 Nền văn học vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó với vận mệnh chung của đất nước
- Với đặc điểm này, văn học đáp ứng yêu cầu lịch sử và mục tiêu chung của toàn dân tộc, văn học phục vụ chính trị
- Biểu hiện:
+ Mô hình “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận”; kiểu nhà văn – chiến sĩ; khuynh hướng
tư tưởng chủ đạo là tư tưởng cách mạng; cảm hứng nghệ thuật bắt nguồn từ hiện thực đời sống cách mạng và kháng chiến
+ Văn học tập trung vào hai đề tài lớn (SGK):
Đề tài Tổ quốc;
Đề tài chủ nghĩa xã hội
3.2 Nền văn học hướng về đại chúng
- Quần chúng vừa là đối tượng phản ánh và đối tượng phục vụ, vừa là nguồn cung cấp, bổ sung lực lượng sáng tác cho văn học; cách nhìn nhân dân của nhiều nhà văn thay đổi (liên hệ cách
nhìn nhân dân của các nhân vật trong Đôi mắt); quan niệm mới về đất nước: Đất nước của nhân
dân (Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi…)
- Về hình thức nghệ thuật: phần lớn các tác phẩm ngắn gọn, nội dung dễ hiểu, chủ đề rõ ràng; hình thức nghệ thuật quen thuộc với nhân dân, ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, dễ hiểu đối với nhân dân (liên hệ: thơ tuyên truyền của Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu)
- Về nội dung: đời sống của nhân dân lao động, con đường tất yếu đến với cách mạng của
người dân lao động (liên hệ: Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Rừng xà nu…), xây dựng được những hình
Những đặc điểm cơ bản của VHVN
Hướng về đại chúng
Mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó với vận mệnh chung của đất nước
Trang 10tượng quần chúng cách mạng (liên hệ: thơ Tố Hữu, Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Những đứa
con trong gia đình)… nền văn học có tính nhân dân sâu sắc và nội dung nhân đạo mới
3.3 Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
- Đặc điểm thể hiện khuynh hướng thẩm mĩ của VHVN
- Khuynh hướng sử thi:
+ Chủ đề: những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân tộc và có ý nghĩa toàn dân + Nhân vật chính (ví dụ: Tnú):
Thường là những con người đại diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của dân tộc;
Chủ yếu được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ở lẽ sống lớn và tình cảm lớn
+ Lời văn sử thi cũng thường mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng
- Cảm hứng lãng mạn:
+ Là cảm hứng khẳng định cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và hướng tới lí tưởng
+ Biểu hiện: khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc
Cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ con người Việt Nam vượt lên trên mọi thử thách trong chiến tranh; trở thành cảm hứng chủ đạo trong các thể loai văn học
- Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, đồng thời đáp ứng yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển của cách mạng
Trang 11BÀI 02: TÁC GIA HỒ CHÍ MINH
Chuyên đề: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
VIDEO và LỜI GIẢI CHI TIẾT chỉ có tại website MOON.VN
[Truy cập tab: Ngữ Văn – Khoá học: LUYỆN ĐỀ THI THPT QUỐC GIA 2016]
Biết nâng niu, trân trọng di sản văn học quí giá Hồ Chí Minh để lại
B NỘI DUNG BÀI HỌC
+ Truyền thống thơ văn đuổi giặc (thoái lỗ thi) của cha ông từ Lí Thường Kiệt, Trần Hưng
Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…;
+ Quan điểm văn học mác xít, xem văn nghệ như một mặt trận, nhà văn là chiến sĩ trên mặt
trận ấy
Hồ Chí Minh khẳng định:
+ Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”) Chất thép: tinh thần chiến đấu của văn học nghệ thuật
+ Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy
Trang 12 Văn học là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự sự nghiệp cách mạng Nhà văn phải có tinh thần xung phong như người chiến sĩ ngoài mặt trận
- Coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học:
+ Chủ trương thứ văn học chân thật, thật thà, chống văn học giả dối, bịa đặt Thước đo giá
trị của văn chương nghệ thuật
+ Người nghệ sĩ phải viết cho dễ hiểu, cho thấm thía, có văn chương thì quần chúng mới thích
đọc
+ Nhắc nhở giới nghệ sĩ nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc và đề cao sự sáng tạo
- Luôn xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận (Viết cho ai? Viết để làm gì?) để quyết
định nội dung và hình thức (Viết cái gì? Viết như thế nào?) của tác phẩm
Tư tưởng sâu sắc, nội dung thiết thực, hình thức nghệ thuật sinh động, đa dạng
Quan điểm sáng tác đúng đắn, soi rọi con đường sáng tác thơ văn của Hồ Chí Minh
2 Di sản văn học
2.1 Văn chính luận
- Được viết nhằm mục đích: đấu tranh chính trị, tấn công trực diện kẻ thù, thức tỉnh và giác ngộ quần chúng hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng của dân tộc qua những chặng đường lịch sử
- Bút danh: Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn, Nguyễn A.Q., Ng.A.Q., Ng Ái Quốc, N.A.Q., N…
Đăng trên các báo Người cùng khổ (Le Paria), Nhân đạo (L`Humanité), Đời sống thợ thuyền (La
vie ouvrière)…
- Tác phẩm tiêu biểu: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn Độc lập (1945), Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quí hơn độc lập, tự do (1966)
- Cho thấy lí trí sáng suốt, trí tuệ sắc sảo, lòng yêu - ghét sâu sắc, mãnh liệt, nồng nàn
2.2 Truyện và kí
- Nội dung và nghệ thuật:
+ Vạch trần bộ mặt tàn ác, xảo trá, bịp bợm của chính quyền thực dân, châm biếm một cách thâm thúy, sâu cay vua quan phong kiến ôm chân thực dân xâm lược; bộc lộ lòng yêu nước nồng nàn
và tinh thần tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam
+ Ngắn gọn, súc tích, vừa thấm nhuần tư tưởng, tình cảm của thời đại, vừa thể hiện một bút pháp mới, mang màu sắc hiện đại trong lối viết nhẹ nhàng mà đầy tính trào lộng
- Tác phẩm tiêu biểu: Truyện và kí, Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện
(1963)…
2.3 Thơ ca
- Nhật kí trong tù (133 bài, 1960), Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (36 bài, 1967), Thơ Hồ Chí
Minh (86 bài, 1990)
- Nổi bật trong thơ Hồ Chí Minh là hình ảnh nhân vật trữ tình tâm hồn luôn nặng trĩu nỗi nước
nhà mà cốt cách, phong thái vẫn điềm tĩnh, ung dung, tự tại
Trang 133 Phong cách nghệ thuật
3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật văn chương Hồ Chí Minh
- Truyền thống gia đình, môi trường văn hóa và hoàn cảnh sống, hoạt động cách mạng cùng cá tính của Người
+ Từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được sống trong không khí của văn chương cổ điển Việt Nam và Trung Quốc, của thơ Đường, thơ Tống…
+ Trong thời gian hoạt động cách mạng ở nước ngoài, nhiều năm Người sống ở Pa-ri, Luân Đôn, Oa-sinh-tơn, Ca-li-phoóc-ni-a, Hồng Kông… tiếp xúc và chịu ảnh hưởng về tư tưởng cũng như nghệ thuật của nhiều nhà văn Âu, Mĩ và nền văn học nghệ thuật phương Tây hiện đại
- Quan điểm của Người về sáng tác văn học
3.2 Phong cách nghệ thuật
- Độc đáo, đa dạng:
+ Văn chính luận thường ngắn gọn, tư duy sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng giàu sức thuyết phục, mang tính chiến đấu cao, đa dạng về bút pháp
(Tuyên ngôn Độc lập: bố cục ngắn gọn, súc tích; lập luận chặt chẽ; lí lẽ đanh thép; bằng chứng
xác thực; ngôn ngữ hùng hồn, giàu tính biểu cảm.)
+ Truyện và kí mang đậm chất trí tuệ, sáng tạo, hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào
phúng vừa sắc bén, thâm thúy vừa hài hước, hóm hỉnh (“Vi hành”, Những trò lố hay là Varen và
Phan Bội Châu…)
+ Thơ ca:
Thơ tuyên truyền cách mạng: lời lẽ giản dị, mộc mạc, mang màu sắc dân gian hiện đại vừa
dễ nhớ, dễ thuộc, vừa có sức tác động trực tiếp vào tình cảm người nghe:
Thân người chẳng khác thân trâu Cái phần no ấm có đâu đến mình
(Dân cày)
Mẹ tôi là một đóa hoa Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông
(Ca sợi chỉ)
Thơ nghệ thuật: được viết theo hình thức cổ thi hàm súc, có sự hòa hợp độc đáo giữa bút
pháp cổ điển và bút pháp hiện đại, giữa chất trữ tình và tính chiến đấu (Chiều tối, Rằm tháng
giêng, Cảnh khuya )
- Thống nhất:
+ Cách viết ngắn gọn, trong sáng, giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật khác nhau nhằm thể hiện một cách nhuần nhị và sâu sắc nhất tư tưởng và tình cảm của Người
+ Từ tư tưởng tới hình tượng nghệ thuật luôn vận động một cách tự nhiên, nhất quán, hướng
Trang 14III KẾT LUẬN
- Văn thơ Hồ Chí Minh là di sản vô giá, là một bộ phận gắn bó hữu cơ với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người
- Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh độc đáo, đa dạng nhưng cũng hết sức thống nhất
Giáo viên: Vũ Dung Nguồn Moon.vn
Trang 15BÀI 03: TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Chuyên đề: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
VIDEO và LỜI GIẢI CHI TIẾT chỉ có tại website MOON.VN
[Truy cập tab: Ngữ Văn – Khoá học: LUYỆN ĐỀ THI THPT QUỐC GIA 2016]
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1 Về kiến thức
Thấy được giá trị nghệ thuật nhiều mặt và ý nghĩa to lớn của Tuyên ngôn Độc lập cũng như vẻ
đẹp của tư tưởng và tâm hồn tác giả
2 Về kĩ năng
Đọc hiểu văn bản chính luận theo đặc trưng thể loại
3 Về thái độ
Biết quí trọng, giữ gìn nền độc lập, tự do của dân tộc
B NỘI DUNG BÀI HỌC
+ Nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền
+ Ngày 26/8/1945, Hồ Chí Minh từ Việt Bắc về Hà Nội Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc
lập tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang
+ Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa đọc Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, trước hàng vạn quốc dân đồng bào
Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt
Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện có giá trị lịch sử to lớn
2 Đối tượng, mục đích sáng tác
- Mục đích:
+ Tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến;
+ Khẳng định chủ quyền và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới;
+ Bác bỏ luận điệu Việt Nam là thuộc địa dưới quyền bảo hộ của thực dân Pháp
- Đối tượng: hướng vào những đối tượng cụ thể
Trang 16+ Quốc dân đồng bào và thế giới;
+ Các lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang âm mưu tái chiếm nước ta;
+ Nhà cầm quyền Pháp
3 Bố cục
- Đoạn 1 (từ đầu đến không ai chối cãi được): Nêu nguyên lí chung của Tuyên ngôn Độc lập
- Đoạn 2 (tiếp đến phải được độc lập): Tố cáo tội ác thực dân Pháp; khẳng định thực tế lịch sử
là nhân dân ta đã kiên trì đấu tranh và nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Đoạn 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam
Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận bất hủ
II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1 Cơ sở lí luận của bản Tuyên ngôn
- Để bác bỏ những luận điệu xảo trá và âm mưu đen tối của kẻ thù, ngay ở phần mở đầu tác giả
đã trích dẫn nội dung của hai bản Tuyên ngôn của hai cường quốc lớn đó là Pháp và Mĩ
+ Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mĩ đã khẳng định: tất cả mọi người … mưu cầu
+ Thể hiện thái độ trân trọng những danh ngôn bất hủ của dân tộc khác, trân trọng những chân
lí của loài người
+ Thể hiện sự mềm dẻo trong sách lược Hồ Chí Minh muốn cảnh báo Mĩ và Pháp: nếu Mĩ và Pháp xâm lược Việt Nam nghĩa là chúng đã chà đạp lên tuyên ngôn của cha ông chúng
+ Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đã giúp cho Bác khéo léo đặt cách mạng tháng Tám sánh ngang với những cuộc cách mạng lớn trên thế giới
- Từ vấn đề nhân quyền, Hồ Chí Minh đã suy rộng ra về quyền dân tộc: Tất cả các dân … và
quyền tự do
Đóng góp riêng của tác giả vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp, vừa mang tầm vóc quốc tế vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX
- Từ chỗ vận dụng và suy rộng ra đó, tác giả đã khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập, tự do của
dân tộc Việt Nam Đây là sự khẳng định có lí lẽ, logic đầy sức thuyết phục như tác giả đã khoá lại phần nguyên lí: Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được
2 Cơ sở thực tiễn của bản Tuyên ngôn
Trang 17* Thực dân Pháp phản bội và chà đạp lên chính nguyên lí mà tổ tiên họ xây dựng
- Tạo ra sự đối lập giữa phần mở đầu và nội dung
Thế mà: từ nối liên kết đoạn; làm nổi bật mối quan hệ tương phản giữa lí lẽ tốt đẹp và những hành
động trắng trợn của thực dân Pháp
* Bản chất thực dân xảo quyệt, tàn bạo và man rợ
- Thủ pháp liệt kê đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt và những tội ác tày trời suốt 80 năm của thực dân Pháp:
+ Về chính trị: tuyệt đối không cho nhân dân ta chút tự do dân chủ nào; thi hành những luật
pháp dã man, lập ba chế độ khác nhau ở ba miền, tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu
+ Về văn hóa: lập nhà tù nhiều hơn trường học, thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện
và rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược
+ Về kinh tế: bóc lột nhân dân ta đến tận xương tận tủy, khiến cho nhân dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều, cướp không hầm mỏ, ruộng đất, đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí khiến cho dân ta trở nên bần cùng kiệt quệ
Nghệ thuật:
Đoạn văn ngắn (14 câu) nhưng lí lẽ xác đáng, bằng chứng xác thực không thể chối cãi, ngôn ngữ sắc sảo, gợi cảm, hùng hồn
Mỗi ý kiệt kê được tách ra thành những đoạn văn riêng biệt theo cấu trúc Chúng + động từ
mạnh + bổ ngữ để tô đậm ấn tượng về tội ác của kẻ thù; nhiều đoạn văn đặc biệt chỉ gồm một câu
Âm mưu thâm độc, những chính sách tàn bạo, những thủ đoạn không thể dung thứ của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ nước ta >< nguyên lí của tổ tiên, cha ông họ
- Thực dân Pháp phản bội quân Đồng minh, thẳng tay đàn áp phong trào Việt Minh, không
“bảo hộ” được cho dân ta
+ Khi Nhật vào Đông Dương để mở căn cứ đánh quân Đồng minh thì Pháp đã quỳ gối dâng
nước ta cho Nhật khiến dân ta phải chịu cảnh một cổ hai tròng
Nghệ thuật:
Giọng văn tố cáo hùng hồn và đanh thép
Từ ngữ chính xác, giàu hình ảnh, góp phần làm nên hiệu quả nghệ thuật cho đoạn văn nghị
luận: quì gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật, dân ta chịu hai tầng xiềng xích, không bảo hộ
được ta
+ Luận điệu về công lao bảo hộ của thực dân Pháp bị bác bỏ, bộ mặt thật của chúng đã được
vạch trần: trong 5 năm, chúng bán nước ta hai lần cho Nhật; Sự thật là từ mùa thu năm 1940,
nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa; Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp
Nghệ thuật: Lặp cấu trúc Sự thật là… Điệp khúc nối tiếp nhau tăng thêm âm hưởng hùng biện
của bản tuyên ngôn: Sức mạnh của chính nghĩa bao giờ cũng đồng thời là sức mạnh của sự thật
Không có lí lẽ nào có sức thuyết phục cao hơn là lí lẽ của sự thật
Trang 18 Gắn với hoàn cảnh sáng tác, mục đích và đối tượng của bản Tuyên ngôn thì sự thật này đã
đập tan luận điệu xảo trá của kẻ thù trước dư luận thế giới Hãy để sự thật lên tiếng bóc trần bộ mặt
trơ tráo của kẻ đầu hàng, của kẻ quay lưng lại với Đồng minh trong cuộc tấn công chống phe phát xít Điều này có sức thuyết phục phe Đồng minh, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng
hộ nền độc lập của Việt Nam
3 Lời tuyên bố
- Tuyên ngôn trên lập trường dân tộc, nhân dân
- Thông điệp của lời Tuyên ngôn:
+ Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí
về nước Việt Nam, xóa bỏ hết mọi đặc quyền của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam
Nghệ thuật:
Sử dụng phép lặp và một trường từ vựng có tính chất mạnh: thoát li hẳn, xóa bỏ hết, xóa bỏ tất cả thể hiện lập trường kiên định, thái độ dứt khoát, vấn đề đặt ra không thể khoan nhượng
Có những hàm ý tinh tế nhưng rõ ràng:
Pháp là chính phủ Pháp ở chính quốc, thực dân Pháp ở Việt Nam, không phải nhân dân
Pháp; viết nước Việt Nam nghĩa là nhấn mạnh tính thống nhất đất nước, mặc nhiên phủ nhận sự
chia cắt nước ta thành ba kì của thực dân Pháp
Xóa bỏ là xóa bỏ các quan hệ thực dân với Pháp, không xóa bỏ quan hệ tốt đẹp, không từ
chối quan hệ hữu nghị Bác lại viết xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, không phải kí với nước Việt Nam Kí về là có tính chất áp đặt, ép buộc, gồm cả những hiệp ước kí với nước ngoài về Việt Nam Khắc hẳn kí với là kí trên tinh thần bình đẳng, hợp tác
+ Kêu gọi toàn dân Việt Nam đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp: Toàn dân tộc
Việt Nam … thực dân Pháp
+ Kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của dân tộc
Cách nói mềm mỏng mà đanh thép, có tính chất phủ định đã khẳng định: quyền độc lập, tự do của dân tộc ta là một lẽ phải mà các nước Đồng minh không thể bác bỏ được
- Ý nghĩa:
+ Tuyên bố về ý chí kiên quyết bảo vệ quyền tự do, độc lập của toàn dân tộc Việt Nam
+ Tuyên ngôn Độc lập hội đủ hai yếu tố:
Khách quan: Khẳng định Việt Nam không lệ thuộc vào bất cứ thế lực chính trị nào, có quyền
tự quyết trên mọi phương diện
Chủ quan: Toàn bộ cộng đồng dân tộc thực sự có chung khát vọng độc lập, tự do và ý chí bảo vệ quyền tự do, độc lập ấy
Lời tuyên bố được cộng đồng thế quốc tế thừa nhận
III TỔNG KẾT
1 Nội dung
Trang 19Áng văn chính luận mẫu mực kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam
Văn kiện lịch sử vô giá nhằm tuyên bố với đồng bào trong nước và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam cùng quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy
2 Nghệ thuật
- Bố cục chặt chẽ, rõ ràng, thuyết phục Văn phong đanh thép, sắc sảo mà vô cùng trong sáng, giản dị, súc tích, giàu nghệ thuật Từ ngữ sử dụng chính xác, giản dị, dễ hiểu, gần gũi; hình ảnh gợi cảm, những động từ, tính từ linh hoạt, hiệu quả,
- Lời văn trong sáng nhưng không làm mất đi tính hiện đại, sự sang trọng, vẻ uyển chuyển Bác sử dụng những câu dài, các loại câu khẳng định liên tiếp, các câu liệt kê, câu song hành, phối hợp với các liên kết câu, đoạn chặt chẽ, mang giọng điệu phù hợp, đầy hình ảnh Tất cả lại thật gẫy gọn, khúc chiết
- Bản Tuyên ngôn còn hấp dẫn người đọc ở tấm lòng của người viết, đó là lòng tự hào dân tộc,
tấm lòng yêu nước thiết tha cháy bỏng, sự nhìn xa trông rộng của một con người vĩ đại
Giáo viên Vũ Thị Dung Nguồn Moon.vn
Trang 20BÀI 15: TÂY TIẾN
Chuyên đề: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
VIDEO và LỜI GIẢI CHI TIẾT chỉ có tại website MOON.VN
[Truy cập tab: Ngữ Văn – Khoá học: LUYỆN ĐỀ THI THPT QUỐC GIA 2016]
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1 Về kiến thức
- Cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên miền tây Tổ quốc và hình ảnh người lính Tây Tiến
- Nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo
về hình ảnh, ngôn ngữ và giọng điệu
2 Về kĩ năng
- Đọc – hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại
- Rèn kĩ năng cảm thụ thơ
3 Về thái độ
Biết yêu mến, trân trọng, tự hào về những người lính trong chiến tranh
B NỘI DUNG BÀI HỌC
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác giả
- Nghệ sĩ đa tài: vẽ tranh, sáng tạc nhạc, viết văn xuôi, nhưng trước hết là một nhà thơ
Trước 1945 đã làm thơ nhưng thực sự được biết đến rộng rãi từ bài Tây Tiến (1948) và một số
bài thơ khác trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp
- Thơ Quang Dũng: vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng và đậm chất lãng mạn - đặc biệt là khi ông viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài (Sơn Tây) của mình
2 Văn bản
- Hoàn cảnh sáng tác:
+ Đầu năm 1947, Quang Dũng được điều động gia nhập đơn vị Tây Tiến vừa mới thành lập + Cuối năm 1948, Quang Dũng rời đơn vị Tây Tiến đi nhận nhiệm vụ khác Tại làng Phù Lưu Chanh (thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội), ông viết bài thơ
- Binh đoàn Tây Tiến:
+ Thành lập năm 1947, Quang Dũng là đại đội trưởng
Trang 21+ Địa bàn hoạt động: một vùng rộng lớn bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa và cả bên kia biên giới Việt - Lào vùng núi rừng hiểm trở, hoang sơ, khí hậu khắc nghiệt, điều kiện sinh hoạt rất thiếu thốn
+ Nhiệm vụ: vừa đánh tiêu hao lực lượng địch, vừa tuyên truyền vận động nhân dân kháng chiến
+ Thành phần: phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp, họ mang vào chiến trường tâm hồn phơi phới, trẻ trung, lãng mạn; hầu hết lính Tây Tiến đều bị sốt rét và không ít người đã hi sinh vì ốm đau, bệnh tật nhưng họ vẫn hết sức lạc quan
- Nhan đề: Ban đầu là Nhớ Tây Tiến Về sau, khi đưa vào tập Rừng biển quê hương, tác giả đổi lại là Tây Tiến cô đọng, hàm súc (vừa gợi đến binh đoàn Tây Tiến, vừa gợi đến những xúc cảm
vượt ra ngoài nỗi nhớ đơn thuần)
II ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
1 Bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây và hình ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân
1.1 Đoạn 1: Cuộc hành trình gian khổ của lính Tây Tiến
* Hai câu thơ đầu: tiếng gọi tha thiết, tự nhiên được thốt ra từ trong lòng người chiến sĩ xa Tây Tiến
- Đối tượng: Sông Mã - Tây Tiến - rừng núi ba đối tượng khác nhau nhưng đồng hiện trong
nỗi nhớ, gợi lên cả cảnh (vùng địa bàn hoạt động) và người (Tây Tiến), tất cả hòa vào nhau, cùng
ùa về trong nỗi nhớ da diết của nhân vật trữ tình
- xa rồi bồi hồi nhớ lại
- Động từ nhớ: đong đầy nỗi nhớ cho câu thơ
- Từ láy chơi vơi: gợi mênh mang, chiều dài, chiều rộng của nỗi nhớ chập chờn, đứt nối nhưng
day dứt, thường trực khôn nguôi
* Nỗi nhớ đi vào cụ thể:
- Nhớ cảnh:
+ Hàng loạt các địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu: những địa danh nơi Quang Dũng và binh đoàn Tây Tiến đã đi qua những kỉ niệm được khắc ghi một cách đậm nét; cái nhìn dõi theo bước đường hành quân của Quang Dũng đối với những đồng đội
+ Nhiều câu thơ được viết chủ yếu bằng thanh trắc, mang đến lời thơ âm điệu chắc, khỏe + Ngôn từ giàu tính tạo hình:
Động từ mạnh: lấp, gầm thét gây ấn tượng về một thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội, đầy hiểm nguy
Từ láy: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút gợi địa hình gồ ghề, cheo leo, hiểm trở, cao vắng,
xa ngái, sâu hun hút; chiều chiều, đêm đêm (láy toàn phần) gợi thời gian thường xuyên, thường
trực
Trang 22 Điệp từ: dốc, ngàn thước kết hợp nhịp 4/3 cùng phép đối lập (dốc lên khúc khuỷu >< dốc
thăm thẳm, ngàn thước lên cao >< ngàn thước xuống) gợi sự nối tiếp của những con dốc, bước chân nối tiếp bước chân, địa hình cheo leo, hiểm trở
+ Xen kẽ với những câu thơ toàn thanh trắc thi thoảng là những dòng thơ toàn thanh bằng với những hình ảnh thơ đẹp khiến mạch thơ chuyển đổi đột ngột
Mường Lát hoa về trong đêm hơi: gợi vẻ đẹp mềm mại, huyền hoặc, thơ mộng, thanh dịu hương núi rừng của núi rừng Tây Bắc
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi: Hình ảnh ngôi nhà chìm trong cơn mưa gợi vẻ đẹp huyền
ảo, xóa đi cảm giác rợn ngợp, nguy hiểm của núi rừng đèo dốc
Khung cảnh thiên nhiên núi rừng miền tây hiện lên vừa hùng vĩ, dữ dội vừa thơ mộng, lãng mạn
- Người lính: Không xuất hiện trực tiếp mà ẩn hiện, thấp thoáng phía sau khung cảnh thiên
nhiên
+ Hình ảnh thơ độc đáo súng ngửi trời: gợi nét lãng mạn, tinh nghịch, đầy chất lính của lính
Tây Tiến Con người ở tư thế cao hơn hẳn thiên nhiên hùng vĩ
+ Hành quân qua địa hình cheo leo, hiểm trở, dữ dội, khí hậu khắc nghiệt, những người lính
Tây Tiến phải đối diện với biết bao gian khổ: Anh bạn dãi dầu không bước nữa / Gục lên súng mũ
bỏ quên đời
Có hai cách hiểu:
bỏ quên đời: ngang tàng, khí phách
gục lên súng mũ: tư thế sẵn sàng của người lính không rời xa các anh ngay cả khi họ hi sinh
Người lính can trường, dũng cảm
+ Hình ảnh người lính hiện lên với tâm hồn lãng mạn:
Người lính chính là chủ thể điểm nhìn của khung cảnh thiên nhiên (hùng vĩ, thơ mộng)
Hình ảnh người lính trong cảnh vui vầy, sum họp, ấm áp tình quân dân (hai câu cuối đoạn)
Nhớ ôi: nỗi nhớ đột ngột trào dâng Mùa em: cách nói lạ, thời gian được tri nhận bằng hình ảnh
em, mùa em là mùa có em, mùa gắn với bóng hình em với bao cử chỉ ân cần yêu thương Hương nếp xôi trở thành mùi hương đặc trưng gợi nhớ tới thiên nhiên, con người Mai Châu, gợi nhớ tình
em ngát đượm
Tiểu kết đoạn thơ đầu: Thiên nhiên dữ dội, thơ mộng
Người lính can trường, lãng mạn
1.2 Đoạn 2: Nỗi nhớ những kỉ niệm đã qua: những đêm liên hoan, những cuộc vượt thác
- Cảnh đêm liên hoan tưng bừng, rực rỡ sự gắn bó giữa những người lính Tây Tiến với nhân dân các bản làng, tâm hồn trẻ trung, lãng mạn của những người lính
Mệt quá và gục xuống
Cái chết: cách nói nhẹ nhàng, cái chết = giấc ngủ mệt
Trang 23+ Cảnh vừa thực vừa ảo:
+ Đẹp:
Hội đuốc hoa bừng lên: bất ngờ
Hình ảnh những cô gái Tây Bắc: lộng lẫy xiêm áo kìa: ngỡ ngàng, ngạc nhiên; e ấp kín đáo, tình tứ, e lệ
Âm thanh: tiếng khèn, man điệu làm say lòng người
+ Câu cuối: sáu thanh bằng khắc họa đường nét, âm thanh, ánh sáng
Lính Tây Tiến: lạc quan, yêu đời, vượt lên trên mọi gian khổ bằng nghị lực phi thường
- Bốn câu sau: Cảnh sông nước Tây Bắc gắn liền với cảm hứng lãng mạn, anh hùng
+ Bức tranh mở ra bằng buổi chiều sương giăng, không gian rộng gợi nỗi bâng khuâng xao xuyến Hình ảnh bờ lau, con người trên thuyền độc mộc… gợi vẻ thơ mộng, ngây ngất
Hình ảnh dáng người trên độc mộc: Tác giả phác gợi lại trong nỗi nhớ cái dáng uyển chuyển của cô lái đò người Thái xuôi thuyền về Châu Mộc
Hình ảnh hoa đong đưa: cái ngả nghiêng, đong đưa, tình tứ của những bông hoa rừng dường như muốn làm duyên bên dòng thác lũ
Các hình ảnh đẹp, được ghi nhanh bằng vài nét loáng thoáng cốt giữ lại cái “hồn” cho khung cảnh sông nước đầy chất thơ của Tây Bắc
Nét đẹp phảng phất Sự vật, con người gần gũi
2 Tượng đài nghệ thuật về hình tượng người lính Tây Tiến trong nỗi nhớ
- Cảm hứng lãng mạn, bi tráng
- Người lính với những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật:
+ Phép tạo hình: diễn tả hình ảnh người lính Tây Tiến trong gian khổ
hoa: Mắt trừng - gửi mộng - đêm mơ Hà Nội - dáng kiều thơm
- Sự hi sinh của những người lính:
+ Rải rác biên cương mồ viễn xứ: Những người lính Tây Tiến hi sinh rất nhiều, ngay cả khi hi
sinh, họ vẫn gian khổ Cái chết xót xa Bi nhưng không lụy
ảo: ánh sáng lung linh, rực rỡ, huyền ảo
thực: không khí sôi nổi
Trang 24+ Các từ Hán – Việt, hình ảnh thơ cổ xưa: áo bào gợi hình ảnh vị tướng đời xưa vẻ đẹp trang trọng, hùng dũng
+ anh về đất: giảm sự bi thương, sự hi sinh của người lính chỉ là sự trở về với đất mẹ anh
hùng Người lính ra đi dứt khoát, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Lí tưởng dứt khoát, mạnh mẽ
Nâng hình tượng người anh hùng lên tầm vóc sử thi hoành tráng
- Đoạn kết:
+ Khắc sâu hơn nỗi nhớ của tác giả về đoàn binh Tây Tiến, giống như những dòng chữ ghi vào
mộ chí
+ Nỗi nhớ của tác giả cũng chính là lời thề của những người lính: Sống đánh giặc, thác cũng
đánh giặc (Nguyễn Đình Chiểu) tinh thần chiến đấu mạnh mẽ Nâng tứ thơ lên tầm vóc sử thi thêm một lần nữa
Trang 25BÀI 16: TÁC GIA TỐ HỮU
Chuyên đề: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
VIDEO và LỜI GIẢI CHI TIẾT chỉ có tại website MOON.VN
[Truy cập tab: Ngữ Văn – Khoá học: LUYỆN ĐỀ THI THPT QUỐC GIA 2016]
- Có thể tóm lược cuộc đời Tố Hữu làm 3 giai đoạn:
+ Thời thơ ấu, Tố Hữu sinh ra trong một gia đình nho học ở Huế, mảnh đất rất thơ mộng, trữ tình và còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa dân gian
+ Thời thanh niên, Tố Hữu sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù thực dân
+ Sau đó là thời Tố Hữu lần lượt đảm nhiệm những cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hóa, văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
II ĐƯỜNG CÁCH MẠNG, ĐƯỜNG THƠ
+ Trữ tình – chính trị: bộc lộ lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng,
của cả dân tộc (những tình cảm lớn như tình yêu lí tưởng (Từ ấy), tình cảm kính yêu lãnh tụ (Sáng
tháng Năm), tình đồng bào, đồng chí, tình quân dân (Cá nước), tình cảm quốc tế vô sản (Em bé
Trang 26Triều Tiên)…; niềm vui lớn (niềm vui chiến thắng trong Huế tháng Tám, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Toàn thắng về ta)
+ Từ “cái tôi” – chiến sĩ “cái tôi” – công dân “cái tôi” – nhân danh dân tộc, cách mạng
3 Giọng thơ tâm tình ngọt ngào thiết tha
- Lí giải:
+ Giọng điệu thơ Tố Hữu ảnh hưởng bởi chất Huế từ nhỏ đã in rất đậm trong ông Đó là giọng
điệu của những câu ca, điệu hò xứ Huế
+ Quan niệm về thơ của nhà thơ: thơ là chuyện đồng điệu [ ] thơ là tiếng nói đồng ý, đồng
tình, tiếng nói đồng chí
Thơ Tố Hữu nhiều bài giống như một cuộc giãi bày, trò chuyện, là những lời kêu gọi, nhắn nhủ Thơ ông phần nhiều có cách diễn đạt tự nhiên, hơi thở liền mạch
4 Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc
- Về nội dung: hiện thực đời sống cách mạng, những tình cảm chính trị gắn liền với những tình cảm và đạo lí dân tộc
- Về hình thức, thơ Tố Hữu mượt mà, giàu nhạc điệu
+ Sử dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo nhiều thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát, thơ bốn chữ, năm chữ, bảy chữ
+ Nhiều cách diễn đạt của thơ ca dân gian, nhiều phép tu từ, chuyển nghĩa, ẩn dụ, tượng trưng trong tiếng Việt được ông đưa vào thơ rất tự nhiên, nhuần nhuyễn, tạo nên sự gần gũi, quen thuộc với tâm hồn, tình cảm và cách nghĩ, lối nói của người Việt
+ Thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc; giàu nhạc điệu
Nhìn một cách khái quát, nghệ thuật thơ Tố Hữu nghiêng về phát huy tính truyền thống hơn
là tìm tòi đổi mới theo hướng hiện đại hóa
III KẾT LUẬN
- SGK tr.99
Giáo viên:Vũ Dung Nguồn Moon.vn
Trang 27BÀI 17: VIỆT BẮC (TỐ HỮU)
Chuyên đề: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
VIDEO và LỜI GIẢI CHI TIẾT chỉ có tại website MOON.VN
[Truy cập tab: Ngữ Văn – Khoá học: LUYỆN ĐỀ THI THPT QUỐC GIA 2016]
- Đọc – hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại
- Rèn luyện kĩ năng cảm thụ thơ
3 Về thái độ
Biết trân trọng, tự hào về cuộc kháng chiến của dân tộc; biết sống ân nghĩa, thủy chung
B NỘI DUNG BÀI HỌC
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác phẩm
1.1 Hoàn cảnh sáng tác
- Viết nhân một sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử:
+ Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết (tháng 7/1954), hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta được giải phóng Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra
+ Tháng 10 - 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc – thủ đô của cuộc kháng chiến - trở về Hà Nội Trong cuộc chia tay giữa đồng bào Việt Bắc - ở lại với cán bộ kháng chiến – về xuôi, Tố Hữu đã xúc động viết bài thơ này
Đặc điểm thơ Tố Hữu: thơ trữ tình chính trị, tính chất sử thi; giọng điệu chủ đạo là nghĩa tình thủy chung son sắt
Trang 281.2 Đặc điểm cấu tứ tác phẩm
- Hình thức là đối thoại (cuộc chia tay giữa người dân với cán bộ kháng chiến) nhưng thực chất là lời độc thoại nội tâm của chủ thể trữ tình – nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình phân thân thành người về - kẻ ở để thể hiện cảm xúc, nỗi niềm của chính nhà thơ)
- Kết cấu chung của bài thơ Việt Bắc:
+ Phần đầu: những kỉ niệm về cuộc kháng chiến chống Pháp từ ngày đầu gian khổ đến khi thắng lợi vẻ vang sự gắn bó nghĩa tình giữa nhân dân và cách mạng
+ Phần hai: Sự gắn bó nghĩa tình của miền ngược và miền xuôi trong viễn cảnh đất nước hòa bình lập lại
+ Phần ba: Lòng biết ơn của nhân dân đối với Đảng, với Bác Hồ
Đoạn trích thuộc phần đầu
2 Văn bản
- Bố cục: 2 phần
+ 8 câu đầu - khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người;
+ 82 câu sau - những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm
II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1 8 câu đầu - khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người
- Bốn câu đầu:
+ Lời ướm hỏi của người ở lại với người ra đi; người ở lại lên tiếng trước:
Gợi nhắc lại những kỉ niệm nghĩa tình trước hoàn cảnh đã đổi thay Mười lăm năm: quãng
thời gian không quá dài nhưng đã có biết bao nhiêu tình và biết bao kỉ niệm
Gợi nhắc không gian nguồn cội, nghĩa tình: Người ở lại nhạy cảm trước sự đổi thay của hoàn
cảnh, sợ rằng người bạn của mình khi về thành phố sẽ quen với ánh điện cửa gương (Nguyễn Duy)
mà quên mất ánh trăng thuở nào, quên mất những tháng ngày cùng nhau đồng cam cộng khổ + Tâm trạng người ở lại:
Điệp từ nhớ thể hiện tâm trạng chủ đạo của người ở lại dành cho người đưa tiễn Nỗi nhớ được gắn với những sắc thái khác nhau, gợi tâm tình tha thiết: khi nhớ thiên nhiên, khi nhớ con
người, lúc nhớ núi, lúc nhớ nguồn Việt Bắc Nỗi nhớ cho thấy sự gắn bó giữa mình và ta
Cặp đại từ phiếm chỉ mình - ta thể hiện sự gắn bó thủy chung giữa người ở (nhân dân) và người đi (cán bộ cách mạng), bất chấp hoàn cảnh đổi thay
So sánh: Trong ca dao, lối đối đáp mình - ta được dùng để nói về tình cảm riêng tư, tình yêu đôi lứa (Mình về mình nhớ ta chăng - Ta về ta nhớ hàm răng mình cười)
Trong bài thơ Việt Bắc thì lối đối đáp mình - ta lại để nói về tình cảm chung, tình cảm lớn như
lòng yêu nước, sự gắn bó giữa nhân dân và cách mạng
Trang 29- Bốn câu thơ sau là tiếng lòng của người ra đi:
+ Tiếng ai tha thiết: lời đồng vọng sao mà gần gũi thân thương mà người đi đã lắng nhận từ
người ở
+ Tâm trạng được thể hiện qua nỗi bâng khuâng đầy nhớ thương trong lòng và cả sự bồn chồn
khi bước chân đi
+ Hình ảnh mang tính chất hoán dụ áo chàm: không đơn thuần dùng để chỉ màu áo quen thuộc
của người dân Việt Bắc (áo nhuộm màu chàm) mà còn là hình ảnh nói thay cho toàn thể nhân dân
Việt Bắc trong ngày đưa tiễn những đồng chí cách mạng về xuôi: chàm nâu thêm đậm, phấn son
chẳng nhòa
+ Hình ảnh có giá trị biểu cảm cao cầm tay nhau biết nói gì hôm nay: hành động đã nói thay
cho nỗi xúc động nghẹn ngào không thể nói nên lời
Bốn câu thơ này đã gợi lên khung cảnh của cuộc tiễn đưa, vừa mang phong vị cổ điển, vừa mang vẻ đẹp truyền thống, lại vừa mang không khí của thời đại mới (Phong vị cổ điển: đề tài li biệt quen thuộc trong văn học cổ; không khí của thời đại: cuộc chia tay giữa người về và kẻ ở trong bài Việt Bắc có bâng khuâng thương nhớ nhưng không buồn, không đẫm lệ như nhiều cuộc chia tay trong văn học cổ.)
Tám câu thơ mở đầu là tiếng lòng của cả người đi lẫn kẻ ở, tràn ngập một nỗi nhớ thương
da diết về những kỉ niệm của một thời bom đạn
Giọng thơ ngọt ngào, âm điệu da diết cùng với thể thơ giàu tính dân tộc đã diễn tả thành công trạng thái tình cảm nhớ thương da diết, bịn rịn trong buổi chia tay
2 82 câu sau - những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm
2.1 12 câu hỏi - gợi lên những kỉ niệm ở Việt Bắc trong những năm tháng đã qua, gợi nhớ những kỉ niệm thời kháng chiến
- Tiếp tục bày tỏ tâm sự và tình cảm của mình để nhắn nhủ người ra đi Người ở lại hỏi người
ra đi về nỗi nhớ
- Trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến, bâng khuâng ấy, người dân Việt Bắc có bao điều cần nhắn nhủ, dặn dò người ra đi:
+ Đại từ mình: mình và ta hòa quyện, gắn bó
Lúc đầu, chữ mình được dùng với nghĩa để chỉ người ra đi (ở sáu câu đầu), còn người ở lại
được biểu thị bằng những hình ảnh ẩn dụ: mưa nguồn suối lũ, miếng cơm chấm muối,
Đến cuối đoạn thơ, cả hai đối tượng đã hòa chung với nhau vào một chữ mình thân thương,
giản dị nhưng lại chứa đựng cả một tình cảm nồng nàn tha thiết: mình đi mình có nhớ mình
+ Hai chữ đi - về:
Ý nghĩa cụ thể chỉ sự đi - về cụ thể theo phương hướng ngược chiều;
Nghĩa bóng mình sẽ có ngày trở về, người cán bộ kháng chiến hôm nay về xuôi, chắc chắn cũng sẽ có ngày trở lại với Việt Bắc và Việt Bắc lúc nào cũng một lòng một dạ chờ đón sự trở về
của những người kháng chiến thân yêu cũ, những người được gọi là mình đi trong cuộc chia tay
hôm nay
Trang 30 Tình cảm gắn bó sâu nặng giữa người ở với người đi, của nhân dân Việt Bắc với cách
mạng, với những người kháng chiến; lời nhắc nhở khéo léo, nhỏ nhẹ về chuyện nhớ - quên nhưng
vẫn hàm chứa một ý nghĩa lớn lao, nghiêm túc và không kém phần chân thành, tha thiết
- Mình đi có nhớ mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù: Cảnh mưa trắng nguồn, lũ ngập đầy
suối, mây mù bao phủ núi rừng, là sự khắc nghiệt của thời tiết, của thiên nhiên Việt Bắc Mưa,
lũ, mây còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những gian khổ, thử thách mà quân và dân ta phải trải qua những năm dài máu lửa
- Mình về có nhớ miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?: Tố Hữu đã lấy cái cụ thể là miếng
cơm chấm muối để nói lên cái trừu tượng, gian khổ thiếu thốn Mối thù nặng vai cũng là một hình
ảnh cụ thể biểu cảm Mối thù đối với quân xâm lược đè nặng đôi vai, luôn luôn nhắc nhở nuôi dưỡng ý chí chiến đấu để giải phóng đất nước, giành lại tự do, hòa bình cho nhân dân
- Nhớ Việt Bắc cũng là nhớ tình nghĩa đồng bào Bằng cách nói mộc mạc, diễn tả tình cảm kín đáo và tha thiết, tác giả bộc lộ niềm thương nhớ của người ở lại
2.2 70 câu đáp - mượn lời đáp của người về xuôi, nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ Việt Bắc, qua đó dựng lên hình ảnh chiến khu trong kháng chiến
- 4 câu đầu - khẳng định tình nghĩa thủy chung son sắt:
+ Lặp các đại từ ta và mình thể hiện sự quấn quýt, hòa quyện của tình cảm thủy chung, sâu
nặng và bền chặt
+ Lời thề son sắt, thủy chung đối với những ân tình của người dân Việt Bắc: Lòng ta sau trước
mặn mà đinh ninh
- 28 câu tiếp - nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng và con người, cuộc sống nơi đây:
+ Sự gắn bó sâu nặng với Việt Bắc đã làm cho cảnh Việt Bắc được tái hiện trong nỗi nhớ của người miền xuôi đã đẹp lại càng thêm lung linh, sinh động Nỗi nhớ trong tác giả thiết tha đến độ day dứt, cồn cào, ám ảnh như là nhớ người yêu
+ Những kỉ niệm sinh hoạt đời thường ở chiến khu Việt Bắc được tái hiện lại đầy ắp nghĩa tình
+ Nhớ Việt Bắc còn là nhớ đời sống cần cù lao động của đồng bào, nhớ những sinh hoạt kháng chiến, những lớp học bình dân học vụ, những đêm liên hoan văn nghệ ca hát rộn vang núi rừng + Nhớ Việt Bắc còn là nhớ những âm thanh rất đặc trưng của miền rừng núi, tiếng mõ gọi trâu
về trong rừng chiều, tiếng chày giã gạo đêm đêm ngoài suối xa
Đẹp nhất là sự hòa quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thủy chung trong tình nghĩa
+ Thiên nhiên và con người quấn quýt lấy nhau, thiên nhiên làm nền cho con người và con người thổi hồn mình vào cảnh vật khiến thiên nhiên trở nên sống động và đẹp hơn:
Câu hỏi tu từ mình có nhớ ta vừa là lời thoại nhưng đồng thời vừa là cái cầu nối sang câu
dưới, là cái cớ để bày tỏ tấm lòng của mình Cách xưng hô mình - ta vốn là cách xưng hô quen
thuộc trong ca dao xưa để nói về tình cảm nam nữ và nó đi vào trong thơ Tố Hữu nhẹ nhàng mà đằm thắm
Trang 31 Nhớ nhất, lưu luyến nhất hoa cùng người Hoa ở đây là thiên nhiên; thiên nhiên đẹp, tươi
sáng như hoa vậy Hòa vào thiên nhiên ấy là con người Hoa cùng người là hai đường nét khăng
khít không thể tách rời trong bức tranh bốn mùa Việt Bắc Hai câu thơ mở đầu đã thể hiện rõ chủ
đề đoạn thơ, đó là hoa và người Việt Bắc
+ Tám câu thơ tiếp theo lại tràn ngập ánh sáng, đường nét và màu sắc tươi tắn Cảnh và người hòa quyện vào nhau Trong bốn cặp lục bát, câu sáu - nhớ cảnh, câu tám - nhớ người:
Mùa đông nhớ màu xanh của núi rừng Việt Bắc, nhớ màu đỏ tươi của hoa chuối như những
ngọn lửa thắp sáng rừng xanh; nhớ người đi nương đi rẫy dao gài thắt lưng trong thế mạnh mẽ hào hùng đứng trên đèo cao nắng ánh
Màu xanh của núi rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối, màu sáng lấp lánh của nắng ánh từ con
dao, đã hòa hợp với nhau làm nổi bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên Việt Bắc, con người Việt Bắc đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời trong kháng chiến Tố Hữu đã có một cái nhìn phát hiện về sức mạnh tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân ta do cách mạng và kháng
chiến mang lại Người lao động sản xuất thì hào hùng đứng trên đèo cao nắng anh và lộng gió
Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mơ nở trắng rừng Chữ trắng là tính từ chỉ màu sắc được động từ hóa, gợi lên một thế giới hoa mơ bao phủ khắp mọi cánh rừng Việt Bắc màu trắng thanh khiết, mênh mông và bao la
Nhớ mơ nở trắng rừng, nhớ người thợ thủ công đan nón chuốt từng sợi giang Có khéo léo, kiên trì, tỉ mỉ mới có thể chuốt từng sợi giang để đan thành những chiếc nón, chiếc mũ phục vụ
kháng chiến Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa, tính sáng tạo của đồng bào Việt Bắc
Nhớ Việt Bắc là nhớ mùa hè với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, là nhớ màu vàng của
rừng phách, là nhớ cô thiếu nữ đi hái măng một mình giữa rừng
Tiếng ve kêu là âm thanh nhưng lại được tác giả cảm nhận bằng sắc màu vàng rực, sóng sánh đổ loang cả rừng phách Tiếng ve kêu như trút xuống, đổ xuống thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho
rừng phách thêm vàng Còn câu thơ thứ hai là một câu đặc sắc, giàu âm điệu, thanh điệu: có vần
lưng (gái vần với hái), có điệp âm qua các phụ âm m (măng - một - mình) Đây là những vần thơ nên họa nên nhạc, tạo nên một không gian nghệ thuật đẹp và vui, đầy màu sắc âm thanh Cô gái hái
măng một mình nhưng cô vẫn không cảm thấy cô đơn, lẻ loi vì cô đang lao động giữa khúc nhạc
rừng (tiếng ve kêu), hái măng để góp phần nuôi quân
Mùa thu Việt Bắc: Khác với ba bức tranh trên là cảnh ngày thì bức tranh thu này là cảnh đêm Màu sắc bao trùm là những ánh trăng lung linh rọi qua các vòm cây, tán lá tạo nên một khung cảnh yên bình và thơ mộng
Người cán bộ về xuôi nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu, trăng rọi qua tán lá xanh, trăng
thanh mát rượi màu hòa bình nên thơ Trong đêm trăng thanh thanh bình là khung cảnh rất hợp với
những cuộc hát đối đáp dao duyên Bởi thế, trong câu kết đoạn thơ là một nỗi nhớ về tiếng hát Đại
từ ai phiếm chỉ, nhớ ai là nhớ về tất cả, về mọi người dân Việt Bắc giàu tình nghĩa thủy chung, đã
hi sinh quên mình cho cách mạng và kháng chiến Qua lời lẽ ấy, người đọc cảm nhận sâu sắc hơn cái phẩm chất ân tình, thủy chung gắn bó của những con người Việt Bắc
Trang 32- 22 câu tiếp - cuộc kháng chiến anh hùng: Nhớ về kháng chiến hào hùng
+ Người dân Việt Bắc, người cán bộ kháng chiến, bộ đội, dân công, rừng cây, núi đá, tất cả đã thống nhất thành một trận tuyến chống quân thù
+ Trước cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có ý chí,
có tình người, đã trở thành những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn quân
+ Sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc đã làm nên những chiến công vang dội Hàng loạt những địa danh vang lên, mỗi nơi gắn với một thắng lợi vinh quang, lẫy lừng trong cuộc kháng chiến
Bức tranh Việt Bắc hừng hực khí thế ra trận được tác giả thể hiện qua hình ảnh những con đường chiến dịch:
+ Những nhịp điệu đêm đêm, những điệp thanh rầm rập đất rung, cùng so sánh như là đất
rung đã gợi tả thật hay, thật hào hùng âm vang của cuộc kháng chiến thần thánh cùng sức mạnh
nhân nghĩa 4000 năm của dân tộc ta Khí thế chiến đấu thần kì của quân và dân ta làm rung chuyển đất trời, không một thế lực tàn bạo nào có thể ngăn cản được! Cả một dân tộc ào ào ra trận
+ Từ láy điệp điệp trùng trùng đã khắc họa được một đoàn quân đông đảo với bước đi mạnh
mẽ như những đợt sóng dâng trào, hết đợt này đến đợt khác tưởng chừng như mãi không dứt
Trong những đêm dài hành quân trong đêm tối, ở đầu mũi súng của người lính ngời sáng ánh sao,
đó là ánh sao hiện thực trong đêm tối hay là một hình ảnh ẩn dụ: ánh sao của lí tưởng chỉ đường dẫn lối cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc?
+ Không chỉ có bộ đội ra trận mà nhân dân ta ở bất kì đâu cũng hăng hái góp sức mình vào cuộc kháng chiến Trên núi rừng Việt Bắc đêm khuya, cùng hành quân với bộ đội là những đoàn dân công phục vụ chiến đấu
Ta có thể hình dung ở đây có đủ cả già, trẻ, trai, gái, họ đến từ nhiều nơi với đủ mọi phương tiện chuyên chở gồng gánh quyết tâm, kiên cường vượt núi đèo để đảm bảo tiếp lương cho bộ đội chiến đấu Họ đã đi trong cả đêm tối và những bó đuốc đỏ rực đã soi đường làm bừng sáng lên hình ảnh
những đoàn dân công tiếp lương tải đạn Ở đây, Tố Hữu đã khéo léo chuyển thành ngữ chân cứng đá
mềm thành bước chân nát đá để khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của nhân dân ta trong
cứ địa của cuộc kháng chiến và vùng rừng núi Việt Bắc Đến đây ta có một lực lượng hùng hậu với những binh đoàn chủ lực được trang bị vũ khí hiện đại, có pháo, có xe, tất cả đều xung trận với niềm tin tất thắng Thực tế hào hùng ấy đã khiến cho nhà thơ có được một cảm hứng mạnh mẽ để
sáng tạo ra một hình tượng thơ phơi phới niềm lạc quan, tin tưởng: Đèn pha bật sáng như ngày
mai lên Ánh đèn pha của ô tô kéo pháo soi sáng màn đêm dày đặc, soi đường cho các chiến sĩ
nhưng đồng thời nó cũng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc Ánh sáng ấy sẽ xuyên thủng màn đêm đen để hướng tới tương lai tươi sáng hơn Đây cũng là một dấu hiệu nữa về sự trưởng thành của quân đội ta, sự trưởng thành ấy là một nhân tố quan trọng quyết định sự thắng lợi
Trang 33+ Gian khổ, hi sinh nào rồi cũng phải được đền bù xứng đáng, những địa danh ghi dấu niềm vui cứ tuôn trào theo từng câu chữ, từng nhịp điệu đập rộn ràng của trái tim con người
Ở bốn câu thơ này, Tố Hữu đã gọi tên các địa danh chiến thắng trăm miền trên đất nước thân
yêu: Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Đèo De, núi Hồng Mỗi địa danh ghi lại một chiến công Nhà thơ có cách nói rất hay, rất biến hóa để diễn tả niềm vui chiến thắng dồn dập,
giòn giã: vui về vui từ vui lên; không chỉ có một hai nơi rời rạc, lẻ tẻ mà là trăm miền, khắp mọi miền đất nước Điệp từ vui như tiếng reo mừng chiến thắng cất lên trong lòng hàng triệu con
người từ Bắc chí Nam
- 16 câu cuối - nỗi nhớ cảnh và người Việt Bắc, những kỉ niệm về cuộc kháng chiến:
+ Trong hoài niệm của người ra đi còn hiện lên những hình ảnh của Đảng và Chính phủ với bộn bề trăm công nghìn việc
+ Trong những ngày kháng chiến giao lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi
+ Đoạn trích khép lại bằng một lời đáp về nỗi nhớ một thời cách mạng và một cùng cách mạng
Trang 34BÀI 17: VIỆT BẮC (TỐ HỮU)
Chuyên đề: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
VIDEO và LỜI GIẢI CHI TIẾT chỉ có tại website MOON.VN
[Truy cập tab: Ngữ Văn – Khoá học: LUYỆN ĐỀ THI THPT QUỐC GIA 2016]
- Đọc – hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại
- Rèn luyện kĩ năng cảm thụ thơ
3 Về thái độ
Biết trân trọng, tự hào về cuộc kháng chiến của dân tộc; biết sống ân nghĩa, thủy chung
B NỘI DUNG BÀI HỌC
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác phẩm
1.1 Hoàn cảnh sáng tác
- Viết nhân một sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử:
+ Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết (tháng 7/1954), hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta được giải phóng Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra
+ Tháng 10 - 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc – thủ đô của cuộc kháng chiến - trở về Hà Nội Trong cuộc chia tay giữa đồng bào Việt Bắc - ở lại với cán bộ kháng chiến – về xuôi, Tố Hữu đã xúc động viết bài thơ này
Đặc điểm thơ Tố Hữu: thơ trữ tình chính trị, tính chất sử thi; giọng điệu chủ đạo là nghĩa tình thủy chung son sắt
Trang 351.2 Đặc điểm cấu tứ tác phẩm
- Hình thức là đối thoại (cuộc chia tay giữa người dân với cán bộ kháng chiến) nhưng thực chất là lời độc thoại nội tâm của chủ thể trữ tình – nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình phân thân thành người về - kẻ ở để thể hiện cảm xúc, nỗi niềm của chính nhà thơ)
- Kết cấu chung của bài thơ Việt Bắc:
+ Phần đầu: những kỉ niệm về cuộc kháng chiến chống Pháp từ ngày đầu gian khổ đến khi thắng lợi vẻ vang sự gắn bó nghĩa tình giữa nhân dân và cách mạng
+ Phần hai: Sự gắn bó nghĩa tình của miền ngược và miền xuôi trong viễn cảnh đất nước hòa bình lập lại
+ Phần ba: Lòng biết ơn của nhân dân đối với Đảng, với Bác Hồ
Đoạn trích thuộc phần đầu
2 Văn bản
- Bố cục: 2 phần
+ 8 câu đầu - khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người;
+ 82 câu sau - những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm
II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1 8 câu đầu - khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người
- Bốn câu đầu:
+ Lời ướm hỏi của người ở lại với người ra đi; người ở lại lên tiếng trước:
Gợi nhắc lại những kỉ niệm nghĩa tình trước hoàn cảnh đã đổi thay Mười lăm năm: quãng
thời gian không quá dài nhưng đã có biết bao nhiêu tình và biết bao kỉ niệm
Gợi nhắc không gian nguồn cội, nghĩa tình: Người ở lại nhạy cảm trước sự đổi thay của hoàn
cảnh, sợ rằng người bạn của mình khi về thành phố sẽ quen với ánh điện cửa gương (Nguyễn Duy)
mà quên mất ánh trăng thuở nào, quên mất những tháng ngày cùng nhau đồng cam cộng khổ + Tâm trạng người ở lại:
Điệp từ nhớ thể hiện tâm trạng chủ đạo của người ở lại dành cho người đưa tiễn Nỗi nhớ được gắn với những sắc thái khác nhau, gợi tâm tình tha thiết: khi nhớ thiên nhiên, khi nhớ con
người, lúc nhớ núi, lúc nhớ nguồn Việt Bắc Nỗi nhớ cho thấy sự gắn bó giữa mình và ta
Cặp đại từ phiếm chỉ mình - ta thể hiện sự gắn bó thủy chung giữa người ở (nhân dân) và người đi (cán bộ cách mạng), bất chấp hoàn cảnh đổi thay
So sánh: Trong ca dao, lối đối đáp mình - ta được dùng để nói về tình cảm riêng tư, tình yêu đôi lứa (Mình về mình nhớ ta chăng - Ta về ta nhớ hàm răng mình cười)
Trong bài thơ Việt Bắc thì lối đối đáp mình - ta lại để nói về tình cảm chung, tình cảm lớn như
lòng yêu nước, sự gắn bó giữa nhân dân và cách mạng
Trang 36- Bốn câu thơ sau là tiếng lòng của người ra đi:
+ Tiếng ai tha thiết: lời đồng vọng sao mà gần gũi thân thương mà người đi đã lắng nhận từ
người ở
+ Tâm trạng được thể hiện qua nỗi bâng khuâng đầy nhớ thương trong lòng và cả sự bồn chồn
khi bước chân đi
+ Hình ảnh mang tính chất hoán dụ áo chàm: không đơn thuần dùng để chỉ màu áo quen thuộc
của người dân Việt Bắc (áo nhuộm màu chàm) mà còn là hình ảnh nói thay cho toàn thể nhân dân
Việt Bắc trong ngày đưa tiễn những đồng chí cách mạng về xuôi: chàm nâu thêm đậm, phấn son
chẳng nhòa
+ Hình ảnh có giá trị biểu cảm cao cầm tay nhau biết nói gì hôm nay: hành động đã nói thay
cho nỗi xúc động nghẹn ngào không thể nói nên lời
Bốn câu thơ này đã gợi lên khung cảnh của cuộc tiễn đưa, vừa mang phong vị cổ điển, vừa mang vẻ đẹp truyền thống, lại vừa mang không khí của thời đại mới (Phong vị cổ điển: đề tài li biệt quen thuộc trong văn học cổ; không khí của thời đại: cuộc chia tay giữa người về và kẻ ở trong bài Việt Bắc có bâng khuâng thương nhớ nhưng không buồn, không đẫm lệ như nhiều cuộc chia tay trong văn học cổ.)
Tám câu thơ mở đầu là tiếng lòng của cả người đi lẫn kẻ ở, tràn ngập một nỗi nhớ thương
da diết về những kỉ niệm của một thời bom đạn
Giọng thơ ngọt ngào, âm điệu da diết cùng với thể thơ giàu tính dân tộc đã diễn tả thành công trạng thái tình cảm nhớ thương da diết, bịn rịn trong buổi chia tay
2 82 câu sau - những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm
2.1 12 câu hỏi - gợi lên những kỉ niệm ở Việt Bắc trong những năm tháng đã qua, gợi nhớ những kỉ niệm thời kháng chiến
- Tiếp tục bày tỏ tâm sự và tình cảm của mình để nhắn nhủ người ra đi Người ở lại hỏi người
ra đi về nỗi nhớ
- Trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến, bâng khuâng ấy, người dân Việt Bắc có bao điều cần nhắn nhủ, dặn dò người ra đi:
+ Đại từ mình: mình và ta hòa quyện, gắn bó
Lúc đầu, chữ mình được dùng với nghĩa để chỉ người ra đi (ở sáu câu đầu), còn người ở lại
được biểu thị bằng những hình ảnh ẩn dụ: mưa nguồn suối lũ, miếng cơm chấm muối,
Đến cuối đoạn thơ, cả hai đối tượng đã hòa chung với nhau vào một chữ mình thân thương,
giản dị nhưng lại chứa đựng cả một tình cảm nồng nàn tha thiết: mình đi mình có nhớ mình
+ Hai chữ đi - về:
Ý nghĩa cụ thể chỉ sự đi - về cụ thể theo phương hướng ngược chiều;
Nghĩa bóng mình sẽ có ngày trở về, người cán bộ kháng chiến hôm nay về xuôi, chắc chắn cũng sẽ có ngày trở lại với Việt Bắc và Việt Bắc lúc nào cũng một lòng một dạ chờ đón sự trở về
của những người kháng chiến thân yêu cũ, những người được gọi là mình đi trong cuộc chia tay
hôm nay
Trang 37 Tình cảm gắn bó sâu nặng giữa người ở với người đi, của nhân dân Việt Bắc với cách
mạng, với những người kháng chiến; lời nhắc nhở khéo léo, nhỏ nhẹ về chuyện nhớ - quên nhưng
vẫn hàm chứa một ý nghĩa lớn lao, nghiêm túc và không kém phần chân thành, tha thiết
- Mình đi có nhớ mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù: Cảnh mưa trắng nguồn, lũ ngập đầy
suối, mây mù bao phủ núi rừng, là sự khắc nghiệt của thời tiết, của thiên nhiên Việt Bắc Mưa,
lũ, mây còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những gian khổ, thử thách mà quân và dân ta phải trải qua những năm dài máu lửa
- Mình về có nhớ miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?: Tố Hữu đã lấy cái cụ thể là miếng
cơm chấm muối để nói lên cái trừu tượng, gian khổ thiếu thốn Mối thù nặng vai cũng là một hình
ảnh cụ thể biểu cảm Mối thù đối với quân xâm lược đè nặng đôi vai, luôn luôn nhắc nhở nuôi dưỡng ý chí chiến đấu để giải phóng đất nước, giành lại tự do, hòa bình cho nhân dân
- Nhớ Việt Bắc cũng là nhớ tình nghĩa đồng bào Bằng cách nói mộc mạc, diễn tả tình cảm kín đáo và tha thiết, tác giả bộc lộ niềm thương nhớ của người ở lại
2.2 70 câu đáp - mượn lời đáp của người về xuôi, nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ Việt Bắc, qua đó dựng lên hình ảnh chiến khu trong kháng chiến
- 4 câu đầu - khẳng định tình nghĩa thủy chung son sắt:
+ Lặp các đại từ ta và mình thể hiện sự quấn quýt, hòa quyện của tình cảm thủy chung, sâu
nặng và bền chặt
+ Lời thề son sắt, thủy chung đối với những ân tình của người dân Việt Bắc: Lòng ta sau trước
mặn mà đinh ninh
- 28 câu tiếp - nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng và con người, cuộc sống nơi đây:
+ Sự gắn bó sâu nặng với Việt Bắc đã làm cho cảnh Việt Bắc được tái hiện trong nỗi nhớ của người miền xuôi đã đẹp lại càng thêm lung linh, sinh động Nỗi nhớ trong tác giả thiết tha đến độ day dứt, cồn cào, ám ảnh như là nhớ người yêu
+ Những kỉ niệm sinh hoạt đời thường ở chiến khu Việt Bắc được tái hiện lại đầy ắp nghĩa tình
+ Nhớ Việt Bắc còn là nhớ đời sống cần cù lao động của đồng bào, nhớ những sinh hoạt kháng chiến, những lớp học bình dân học vụ, những đêm liên hoan văn nghệ ca hát rộn vang núi rừng + Nhớ Việt Bắc còn là nhớ những âm thanh rất đặc trưng của miền rừng núi, tiếng mõ gọi trâu
về trong rừng chiều, tiếng chày giã gạo đêm đêm ngoài suối xa
Đẹp nhất là sự hòa quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thủy chung trong tình nghĩa
+ Thiên nhiên và con người quấn quýt lấy nhau, thiên nhiên làm nền cho con người và con người thổi hồn mình vào cảnh vật khiến thiên nhiên trở nên sống động và đẹp hơn:
Câu hỏi tu từ mình có nhớ ta vừa là lời thoại nhưng đồng thời vừa là cái cầu nối sang câu
dưới, là cái cớ để bày tỏ tấm lòng của mình Cách xưng hô mình - ta vốn là cách xưng hô quen
thuộc trong ca dao xưa để nói về tình cảm nam nữ và nó đi vào trong thơ Tố Hữu nhẹ nhàng mà đằm thắm
Trang 38 Nhớ nhất, lưu luyến nhất hoa cùng người Hoa ở đây là thiên nhiên; thiên nhiên đẹp, tươi
sáng như hoa vậy Hòa vào thiên nhiên ấy là con người Hoa cùng người là hai đường nét khăng
khít không thể tách rời trong bức tranh bốn mùa Việt Bắc Hai câu thơ mở đầu đã thể hiện rõ chủ
đề đoạn thơ, đó là hoa và người Việt Bắc
+ Tám câu thơ tiếp theo lại tràn ngập ánh sáng, đường nét và màu sắc tươi tắn Cảnh và người hòa quyện vào nhau Trong bốn cặp lục bát, câu sáu - nhớ cảnh, câu tám - nhớ người:
Mùa đông nhớ màu xanh của núi rừng Việt Bắc, nhớ màu đỏ tươi của hoa chuối như những
ngọn lửa thắp sáng rừng xanh; nhớ người đi nương đi rẫy dao gài thắt lưng trong thế mạnh mẽ hào hùng đứng trên đèo cao nắng ánh
Màu xanh của núi rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối, màu sáng lấp lánh của nắng ánh từ con
dao, đã hòa hợp với nhau làm nổi bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên Việt Bắc, con người Việt Bắc đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời trong kháng chiến Tố Hữu đã có một cái nhìn phát hiện về sức mạnh tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân ta do cách mạng và kháng
chiến mang lại Người lao động sản xuất thì hào hùng đứng trên đèo cao nắng anh và lộng gió
Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mơ nở trắng rừng Chữ trắng là tính từ chỉ màu sắc được động từ hóa, gợi lên một thế giới hoa mơ bao phủ khắp mọi cánh rừng Việt Bắc màu trắng thanh khiết, mênh mông và bao la
Nhớ mơ nở trắng rừng, nhớ người thợ thủ công đan nón chuốt từng sợi giang Có khéo léo, kiên trì, tỉ mỉ mới có thể chuốt từng sợi giang để đan thành những chiếc nón, chiếc mũ phục vụ
kháng chiến Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa, tính sáng tạo của đồng bào Việt Bắc
Nhớ Việt Bắc là nhớ mùa hè với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, là nhớ màu vàng của
rừng phách, là nhớ cô thiếu nữ đi hái măng một mình giữa rừng
Tiếng ve kêu là âm thanh nhưng lại được tác giả cảm nhận bằng sắc màu vàng rực, sóng sánh đổ loang cả rừng phách Tiếng ve kêu như trút xuống, đổ xuống thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho
rừng phách thêm vàng Còn câu thơ thứ hai là một câu đặc sắc, giàu âm điệu, thanh điệu: có vần
lưng (gái vần với hái), có điệp âm qua các phụ âm m (măng - một - mình) Đây là những vần thơ nên họa nên nhạc, tạo nên một không gian nghệ thuật đẹp và vui, đầy màu sắc âm thanh Cô gái hái
măng một mình nhưng cô vẫn không cảm thấy cô đơn, lẻ loi vì cô đang lao động giữa khúc nhạc
rừng (tiếng ve kêu), hái măng để góp phần nuôi quân
Mùa thu Việt Bắc: Khác với ba bức tranh trên là cảnh ngày thì bức tranh thu này là cảnh đêm Màu sắc bao trùm là những ánh trăng lung linh rọi qua các vòm cây, tán lá tạo nên một khung cảnh yên bình và thơ mộng
Người cán bộ về xuôi nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu, trăng rọi qua tán lá xanh, trăng
thanh mát rượi màu hòa bình nên thơ Trong đêm trăng thanh thanh bình là khung cảnh rất hợp với
những cuộc hát đối đáp dao duyên Bởi thế, trong câu kết đoạn thơ là một nỗi nhớ về tiếng hát Đại
từ ai phiếm chỉ, nhớ ai là nhớ về tất cả, về mọi người dân Việt Bắc giàu tình nghĩa thủy chung, đã
hi sinh quên mình cho cách mạng và kháng chiến Qua lời lẽ ấy, người đọc cảm nhận sâu sắc hơn cái phẩm chất ân tình, thủy chung gắn bó của những con người Việt Bắc
Trang 39- 22 câu tiếp - cuộc kháng chiến anh hùng: Nhớ về kháng chiến hào hùng
+ Người dân Việt Bắc, người cán bộ kháng chiến, bộ đội, dân công, rừng cây, núi đá, tất cả đã thống nhất thành một trận tuyến chống quân thù
+ Trước cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có ý chí,
có tình người, đã trở thành những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn quân
+ Sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc đã làm nên những chiến công vang dội Hàng loạt những địa danh vang lên, mỗi nơi gắn với một thắng lợi vinh quang, lẫy lừng trong cuộc kháng chiến
Bức tranh Việt Bắc hừng hực khí thế ra trận được tác giả thể hiện qua hình ảnh những con đường chiến dịch:
+ Những nhịp điệu đêm đêm, những điệp thanh rầm rập đất rung, cùng so sánh như là đất
rung đã gợi tả thật hay, thật hào hùng âm vang của cuộc kháng chiến thần thánh cùng sức mạnh
nhân nghĩa 4000 năm của dân tộc ta Khí thế chiến đấu thần kì của quân và dân ta làm rung chuyển đất trời, không một thế lực tàn bạo nào có thể ngăn cản được! Cả một dân tộc ào ào ra trận
+ Từ láy điệp điệp trùng trùng đã khắc họa được một đoàn quân đông đảo với bước đi mạnh
mẽ như những đợt sóng dâng trào, hết đợt này đến đợt khác tưởng chừng như mãi không dứt
Trong những đêm dài hành quân trong đêm tối, ở đầu mũi súng của người lính ngời sáng ánh sao,
đó là ánh sao hiện thực trong đêm tối hay là một hình ảnh ẩn dụ: ánh sao của lí tưởng chỉ đường dẫn lối cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc?
+ Không chỉ có bộ đội ra trận mà nhân dân ta ở bất kì đâu cũng hăng hái góp sức mình vào cuộc kháng chiến Trên núi rừng Việt Bắc đêm khuya, cùng hành quân với bộ đội là những đoàn dân công phục vụ chiến đấu
Ta có thể hình dung ở đây có đủ cả già, trẻ, trai, gái, họ đến từ nhiều nơi với đủ mọi phương tiện chuyên chở gồng gánh quyết tâm, kiên cường vượt núi đèo để đảm bảo tiếp lương cho bộ đội chiến đấu Họ đã đi trong cả đêm tối và những bó đuốc đỏ rực đã soi đường làm bừng sáng lên hình ảnh
những đoàn dân công tiếp lương tải đạn Ở đây, Tố Hữu đã khéo léo chuyển thành ngữ chân cứng đá
mềm thành bước chân nát đá để khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của nhân dân ta trong
cứ địa của cuộc kháng chiến và vùng rừng núi Việt Bắc Đến đây ta có một lực lượng hùng hậu với những binh đoàn chủ lực được trang bị vũ khí hiện đại, có pháo, có xe, tất cả đều xung trận với niềm tin tất thắng Thực tế hào hùng ấy đã khiến cho nhà thơ có được một cảm hứng mạnh mẽ để
sáng tạo ra một hình tượng thơ phơi phới niềm lạc quan, tin tưởng: Đèn pha bật sáng như ngày
mai lên Ánh đèn pha của ô tô kéo pháo soi sáng màn đêm dày đặc, soi đường cho các chiến sĩ
nhưng đồng thời nó cũng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc Ánh sáng ấy sẽ xuyên thủng màn đêm đen để hướng tới tương lai tươi sáng hơn Đây cũng là một dấu hiệu nữa về sự trưởng thành của quân đội ta, sự trưởng thành ấy là một nhân tố quan trọng quyết định sự thắng lợi
Trang 40+ Gian khổ, hi sinh nào rồi cũng phải được đền bù xứng đáng, những địa danh ghi dấu niềm vui cứ tuôn trào theo từng câu chữ, từng nhịp điệu đập rộn ràng của trái tim con người
Ở bốn câu thơ này, Tố Hữu đã gọi tên các địa danh chiến thắng trăm miền trên đất nước thân
yêu: Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Đèo De, núi Hồng Mỗi địa danh ghi lại một chiến công Nhà thơ có cách nói rất hay, rất biến hóa để diễn tả niềm vui chiến thắng dồn dập,
giòn giã: vui về vui từ vui lên; không chỉ có một hai nơi rời rạc, lẻ tẻ mà là trăm miền, khắp mọi miền đất nước Điệp từ vui như tiếng reo mừng chiến thắng cất lên trong lòng hàng triệu con
người từ Bắc chí Nam
- 16 câu cuối - nỗi nhớ cảnh và người Việt Bắc, những kỉ niệm về cuộc kháng chiến:
+ Trong hoài niệm của người ra đi còn hiện lên những hình ảnh của Đảng và Chính phủ với bộn bề trăm công nghìn việc
+ Trong những ngày kháng chiến giao lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi
+ Đoạn trích khép lại bằng một lời đáp về nỗi nhớ một thời cách mạng và một cùng cách mạng