20/7/2000 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh HOSE khai trương hoạt động 28/7/2000 Phiên giao dịch đầu tiên của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh vớ
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH
BÀI TIỂU LUẬN MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI:
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG XU THẾ HỘI NHẬP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Giảng viên: Ths Nguyễn Hữu Huân Nhóm 3: 1 Nguyễn Quốc Cường
2 Lê Thị Thu Thủy
3 Trần Bảo Trân
4 Đào Nguyễn Thanh Trúc
5 Hồ Thị Cẩm Vân
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2 1 Hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam 2
2 Các sự kiện quan trọng 2
II THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO (11/1/2007) 3
1 Giai đoạn 2000 - 2005 3
2 Giai đoạn 2006 – 11/01/2007 4
3 Nhận xét chung về TTCK Việt Nam trước khi gia nhập WTO 5
III THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM SAU GIA NHẬP WTO (11/01/2007) 6
1 Cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO 6
2 Thuận lợi và thách thức của TTCK Việt Nam khi gia nhập WTO 7
3 Thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO 8
4 Sự thay đổi của TTCK Việt Nam sau khi gia nhập WTO 9
IV THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY TRONG XU THẾ HỘI NHẬP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ (EVFTA VÀ TPP) 11
1 Cam kết của Việt Nam hiệp định EVFTA 11
2 Cam kết của Việt Nam hiệp định TPP 12
3 Thuận lợi và thách thức của TTCK Việt Nam tham gia hiệp định EVFTA và TPP 13
4 Một số nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện đối với TTCK Việt Nam hiện nay 14
V DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 17
Trang 3I SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1 Hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam được định hướng chuyển sang cơ chế thị trường kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế
từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra vấn đề huy động vốn cho quá trình phát triển kinh tế xã hội và thúc đẩy quá trình cổ phần hoá, nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế quốc doanh
Qua 10 năm chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN (từ năm 1986), thị trường hàng hóa – dịch vụ ở Việt Nam đã được hình thành và bước đầu phát triển Song riêng đối với thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán (TTCK) vẫn chưa có
Theo thời gian, sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng cao; chính vì vậy, Thị trường vốn đã ra đời Để huy động được vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và doanh nghiệp còn huy động vốn thông qua hình thức phát hành chứng khoán Khi một bộ phận các chứng khoán có giá trị nhất định được phát hành, thì xuất hiện nhu cầu mua, bán chứng khoán; và đây chính là sự ra đời của Thị trường chứng khoán với tư cách là một
bộ phận của Thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua, bán và trao đổi chứng khoán các loại
2 Các sự kiện quan trọng
Thời gian Sự kiện
29/6/1995 Quyết định số 361/QĐ-TTg thành lập Ban Chuẩn bị tổ chức TTCK giúp
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng TTCK ở Việt Nam
28/11/1996 Nghị định số 75/CP của Chính phủ thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà
nước 11/07/1998 Chính phủ ban hành Nghị định 48/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK 11/07/1998 Thủ tướng chính phủ ký Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg thành lập
TTGDCK Tp.HCM và TTGDCK Hà Nội, đánh dấu bước ngoặc lịch sử của TTCKVN
20/7/2000 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh HOSE khai
trương hoạt động 28/7/2000 Phiên giao dịch đầu tiên của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh với 2 cổ phiếu có mã giao dịch là REE và SAM 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội HNX bắt đầu hoạt động
27/07/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 189/2005/QĐ-TTg thành
lập Trung tâm lưu ký chứng khoán độc lập duy nhất, hỗ trợ cho hoạt động của cả thị trường chứng khoán
29/06/2006 Quốc hội ban hành Luật Chứng khoán (có hiệu lực thi hành ngày
01/01/2007)
Trang 4Thời gian Sự kiện
11/05/2007 Thủ tướng chính phủ ký Quyết định số 599/QĐ chuyển TTGDCK thành
SGDCK Tp.HCM
02/01/2009 Thủ tướng chính phủ ký Quyết định số 01/2009/QĐ-TTg chuyển TT thành
SGDCK Hà Nội 24/06/2009 SGDCK Hà Nội khai trương vận hành thị trường đăng ký giao dịch chứng
khoán cty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM) 06/02/2012 Sở GDCK TPHCM (HOSE) chính thức áp dụng chỉ số VN30 trên sàn giao
dịch chứng khoán, thay thế cho chỉ số VN Index trước đây 04/09/2012 Ủy ban CK chính thức triển khai áp dụng rút ngắn chu kỳ thanh toán trong
giao dịch chứng khoán từ T+4 xuống T+3 15/01/2013 chính thức áp dụng biên độ giao dịch mới, sàn HoSE sẽ có biên độ ±7%,
sàn Hà Nội có biên độ ±10%
1/1/2016 Ủy ban CK chính thức triển khai áp dụng rút ngắn chu kỳ thanh toán trong
giao dịch chứng khoán từ T+3 xuống T+2 29/06/2016 Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 105/2016/TT-BTC hướng dẫn hoạt
động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của tổ chức kinh doanh CK, quỹ đầu
tư CK, công ty đầu tư CK và DN kinh doanh bảo hiểm (hiệu lực thi hành ngày 15/08/2016)
01/07/2016 Chính phủ ban hành NĐ 86/2016-NĐ-CP quy định về điều kiện đầu tư,
kinh doanh chứng khoán (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016)
II THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO
(11/1/2007)
1 Giai đoạn 2000 - 2005
Sự ra đời của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam được đánh dấu bằng TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 Lúc đầu chỉ có hai doanh nghiệp niêm yết hai loại cổ phiếu với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu chính phủ được niêm yết giao dịch
Ở giai đoạn 2000 – 2005, thị trường không có biến động lớn (ngoại trừ cơn sốt năm 2001: 06 tháng đầu năm 2001 chỉ số VN-index cao nhất đạt 571,04 điểm nhưng từ tháng
06 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã mất tới 70% giá trị; chỉ số VN-index từ 571,04 điểm vào ngày 25/06/2001 sụt xuống còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001) Ngày 08/03/2005, TTGDCK Hà Nội chính thức đi vào hoạt động, mở ra một sân chơi mới cho các nhà đầu tư nhỏ và vừa Ngoài ra, Quyết định 238/2005/QĐ/TTg ngày 29/09/2005 về tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng) Tất cả đã tạo điều kiện thuận lợi cho TTCK Việt Nam bước vào giai đoạn bứt phá, xóa bỏ trạng thái “gà gật” trước đây
Theo thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), năm 2005, tổng giá trị TTCK Việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, trong đó hiện có: 4.500 tỷ đồng cổ phiếu; 300
tỷ đồng quỹ đầu tư, và 35.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; thu hút 28.300 tài khoản giao dịch Tốc độ tăng trưởng của TTCK gấp đôi so
Trang 5với năm 2004, huy động được 44.600 tỷ đồng, giá trị cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt gần 1%
Để hiểu rõ hơn về sự thay đổi trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005, ta có bảng số liệu sau:
Số Cty niêm yết/ đăng ký GD 5 10 20 22 26 32 Mức vốn hóa TT CP (%GDP) 0,28 0,34 0,48 0,39 0,63 1,11
Số tài khoản khách hàng 2.908 8.774 13.520 15.735 21.616 31.316
(Nguồn Nguyễn Thành Long: định hướng phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2020, đề tài cấp Ủy ban, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Mã số UB.10.01 phụ lục 2 và tổng hợp của tác giả)
Ngoài ra, việc ban hành các chính sách mới cũng tạo điều kiện thuận lợi cho TTCK phát triển như: Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán thay thế cho Nghị định số
48/1998/NĐ-CP; thông tư số 73/2003/TT-BTC ngày 31/07/2003 hướng dẫn thực hiện quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) trong doanh nghiệp Việt Nam và một số thông tư liên quan khác
2 Giai đoạn 2006 – 11/01/2007
Từ năm 2006 đến ngày 11/01/2007 nước ta có những chuyển biến quan trọng trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO
Tháng 5/2006: Kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ - đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương
Ngày 26/10/2006: Kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng, Ban công tác chính thức thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam
Ngày 07/11/2006: WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội đồng tại Geneva để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO
Ngày 11/01/2007: WTO nhận được quyết định phê chuẩn chính thức của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Kể từ đây, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO
Đối với TTCK Việt Nam, lúc này được coi là thời điểm mang tính chất phát triển “đột phá”, các hoạt động giao dịch sôi động trên cả 3 sàn: TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh (HOSTC), TTGDCK Hà Nội (HASTC) và thị trường OTC
Với mức tăng trưởng đạt 60% vào 6 tháng đầu năm năm 2006, TTCK Việt Nam trở thành “điểm” có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ hai thế giới (chỉ sau Zimbabwe – kênh truyền thông CNN nhận định) Số lượng nhà đầu tư (NĐT) mới tham gia thị trường ngày càng đông Cuối tháng 12/2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được
mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của NĐTNN Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỷ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP) Giá trị cổ phiếu do NĐTNN đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỷ USD (chiếm 16,4% GDP) Hàng ngày có khoảng 80 – 100 công ty có cổ phiếu giao dịch, đây là những cổ phiếu được phát hành theo luật Doanh nghiệp là chính Trên thị trường OTC, tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên HASTC
Trang 6Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm HASTC-Index chạm mốc 260 điểm Tính chung so với đầu năm, chỉ số VN-Index tăng tới 170% Đây
là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn tượng Luật chứng khoán được Quốc hội thông qua vào ngày 29/06/2006 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 làm cho TTCK ngày càng đi vào khuôn khổ
Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức được công nhận là thành viên thứ 150 của WTO Sự kiện này đã đặt dấu mốc quan trọng cho TTCK Việt Nam chính thức gia nhập vào TTCK khu vực và quốc tế
3 Nhận xét chung về TTCK Việt Nam trước khi gia nhập WTO
Bảng 2.2 Tóm tắt các mốc quan trọng của TTCK Việt Nam trước khi gia nhập WTO
Năm Các mốc quan trọng
1990 Khởi xướng thành lập TTCK Việt Nam
1992 Đề án thành lập TTCK Việt Nam được đệ trình Chính phủ
1996 UBCKNN được thành lập
1997 Khai trương TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh
1999 Công ty CK đầu tiên được thành lập (Cty CK Bảo Việt – trực thuộc Bộ TC)
2000 TTCK chính thức hoạt động (TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh)
2005 Thành lập TTGDCK Hà Nội
(Nguồn Công ty CPCK Sen Vàng – www.gls.com.vn)
Trang 7Nhìn chung, TTCK trước khi gia nhập WTO có thể gọi là giai đoạn mới hình thành, phát triển nên chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng Các diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
Giai đoạn 2000 – 2005: TTCK không có biến động gì lớn (ngoại trừ cơn sốt năm 2001:
06 tháng đầu năm 2001 chỉ số VN-index cao nhất đạt 571,04 điểm nhưng từ tháng 06 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã mất tới 70% giá trị; chỉ số VN-index từ 571,04 điểm vào ngày 25/06/2001 sụt xuống còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001) Chỉ đến khi TTGDCK Hà Nội chính thức đi vào hoạt động (08/03/2005) và quy định về tỷ lệ góp vốn của NĐTNN vào doanh nghiệp nước ta được nâng từ 30% lên 49%, TTCK Việt Nam mới bước vào giai đoạn tỉnh ngủ dần
Giai đoạn 2006, nước ta chuẩn bị những điều kiện để gia nhập WTO, thì TTCK mới thực sự trở nên sôi động
Ngày 11/01/2007, nước ta chính thức gia nhập WTO, tổ chức thành công Hội nghị APEC, cùng với những sự kiện quan trọng ấy đã góp phần cho TTCK tăng trưởng nóng lên
Từ đây, đã đặt dấu mốc cho TTCK Việt Nam phát triển ngày càng trưởng thành hơn, tạo điều kiện cho TTCK Việt Nam hội nhập sâu vào TTCK khu vực và quốc tế Đồng thời cũng tạo ra một sân chơi mới mẻ hòa đồng giữa các NĐT trong nước và NĐT nước ngoài
III THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM SAU GIA NHẬP WTO (11/01/2007)
1 Cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
Ngày 11/01/2007, nước ta chính thức gia nhập WTO, đồng thời ký các cam kết với tổ chức này, trong đó có cam kết về các dịch vụ CK
Việt Nam cam kết mở cửa những dịch vụ chứng khoán nào?
Liên quan đến các dịch vụ chứng khoán, Việt Nam cam kết cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp các dịch vụ chứng khoán sau tại Việt Nam:
1 Giao dịch cho tài khoản của mình hoặc tài khoản của khách hàng tại sở giao dịch chứng khoán, thị trường giao dịch trực tiếp (OTC) hay các thị trường khác những sản phẩm sau:
Các công cụ phái sinh, bao gồm cả hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền lựa chọn;
Các chứng khoán có thể chuyển nhượng;
Các công cụ có thể chuyển nhượng khác và các tài sản tài chính, trừ vàng khối
(Các dịch vụ này bao gồm cả nghiệp vụ môi giới)
2 Tham gia vào các đợt phát hành mọi loại chứng khoán, bao gồm bảo lãnh phát hành, và làm đại lý bán (chào bán ra công chúng hoặc chào bán riêng), cung cấp các dịch vụ liên quan đến các đợt phát hành đó);
3 Quản lý tài sản (bao gồm quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác);
4 Các dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công cụ phái sinh
và các sản phẩm liên quan đến chứng khoán khác;
Trang 85 Cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán
Các công ty chứng khoán nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài có thể cung cấp dịch vụ chứng khoán ở Việt Nam dưới hình thức nào?
Việt Nam cam kết cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động chứng khoán ở Việt Nam dưới các hình thức và điều kiện sau đây:
1 Văn phòng đại diện: ngay khi gia nhập WTO, các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được thành lập văn phòng đại diện, với điều kiện các văn phòng đại diện không được thực hiện các hoạt động kinh doanh sinh lời trực tiếp;
2 Công ty liên doanh: ngay khi gia nhập WTO, các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được thành lập công ty liên doanh với đối tác Việt Nam, với điều kiện tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49%;
3 Doanh nghiệp chứng khoán 100% vốn nước ngoài: sau 5 năm, kể từ 11/1/2012 Việt Nam cho phép thành lập doanh nghiệp chứng khoán 100% vốn nước ngoài;
4 Chi nhánh của công ty chứng khoán nước ngoài: sau 5 năm, kể từ 11/1/2012 Việt Nam cho phép thành lập chi nhánh của các công ty nước ngoài với điều kiện hoạt động của chi nhánh chỉ giới hạn ở cung cấp các dịch vụ quản lý tài sản, thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan
2 Thuận lợi và thách thức của TTCK Việt Nam khi gia nhập WTO
Như vậy, theo các cam kết, kể từ ngày 11/01/2012, TTCK Việt Nam sẽ phải mở cửa cho các trung gian tài chính hùng mạnh ở khu vực và thế giới tham gia các hoạt động liên quan tới cung cấp dịch vụ và đầu tư Trong điều kiện đó, sự phát triển của TTCK vừa có những thuận lợi rất cơ bản, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức rất lớn
Thuận lợi:
- Thứ nhất, là tăng trưởng chu chuyển vốn, trong đó đầu tư nước ngoài tăng đáng kể (riêng lĩnh vực đầu tư trên TTCK của các nhà đầu tư nước ngoài như
đã nêu trên đã lên đến 4 tỉ USD) Đây là một trong những vấn đề quan trọng thúc đẩy cho việc tăng trưởng kinh tế ở nước ta
- Thứ hai, TTCK phát triển, nhất là thị trường sơ cấp (IPO)(1) trong đó có việc
cổ phần hoá các Công ty có yếu tố vốn nước ngoài sẽ có điều kiện tăng huy động nguồn vốn dài hạn để đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh trong nước, và đương nhiên tác động tích cực trở lại cho sự phát triển của TTCK
Thách thức:
- Khi mở cửa ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng thì trước hết là tạo ra sức ép
về quản lý thị trường vốn trên một số lĩnh vực: (1) Đồng bản tệ sẽ lên giá, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế; (2) Sức ép về gia tăng phương tiện thanh toán nhằm đáp ứng yêu cầu gia tăng lượng ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào
và sự thao túng của các nhà đầu tư nước ngoài làm cho tỉ lệ lạm phát tăng, qua đó phải tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý để giảm thiểu những rủi ro của thị trường vốn (bao gồm cả thị trường tiền tệ và TTCK)
- Sẽ tạo ra sự dịch chuyển vốn giữa ngân hàng và TTCK, nếu không có sự kiểm soát kịp thời và hiệu quả thì sẽ dẫn đến rủi ro và nếu rủi ro lớn sẽ ảnh hưởng sự an toàn của hệ thống ngân hàng
Trang 9- Nếu để TTCK tăng trưởng “quá nóng”, sẽ phát sinh hiện tượng “bong bóng”
và do đó yếu tố an toàn cho những nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư cá nhân
và cả sự an toàn của TTCK bị ảnh hưởng Khi TTCK sụp đổ sẽ phải mất nhiều năm mới có thể hồi phục, kéo theo nhiều khó khăn không chỉ cho hệ thống tài chính, ngân hàng mà cả đối với nền kinh tế
- Các trung gian tài chính trong nước sẽ phải đối mặt với việc thị phần ngày càng bị thu hẹp và nguy cơ bị thâu tóm sẽ tăng lên Theo số liệu được công
bố tại Diễn đàn mua bán và sáp nhập (M&A) Việt Nam 2011: “năm 2010 tại Việt Nam có 345 thương vụ với trị giá 1,7 tỷ USD, tăng tới 65% so với năm 2009” Đặc biệt, số lượng các thương vụ M&A liên quan tới các công ty CK tăng lên đáng kể Một số thương vụ điển hình năm 2011 như Cty CK Gia Quyền (EPS) bán 49% cổ phần cho đối tác Hàn Quốc (Korea Investment & Securities) vào giữa năm 2010, Cty CK Hoa Anh Đào được đối tác Nhật mua 49% cổ phần và đổi tên thành Cty CK Nhật Bản vào quý II/2010,
- Các CTCK, CTQLQ trong nước sẽ phải chu áp lực cạnh tranh gay gắt với các CTCK nước ngoài Các CTCK nước ngoài có ưu thế về năng lực vốn, chiến lược kinh doanh bài bản, các yếu tố khác như công nghệ, kỹ năng quản trị
- Nguy cơ xuất hiện của các loại vi phạm xuyên biên giới trên TTCK (rửa tiền, thao túng, gian lận, giao dịch nội gián ) cộng với nguy cơ biến dạng thị trường và thị trường bị thao túng bởi các nhà ĐTNN là một thách thức đối với cơ quan quản lý;
3 Thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
Theo kết quả Báo cáo “Tác động của Hội nhập Kinh tế quốc tế đối với nền kinh tế sau 3 năm gia nhập WTO” của Bộ kế hoạch và Đầu tư, tháng 05/2010 ta có bảng rà soát như sau:
Mô tả Thời hạn Tiến độ thực hiện
Cam kết các dịch vụ CK: Đối
với phương thức (1) cung cấp
qua biên giới không áp dụng
hạn chế tiếp cận thị trường
(MA) với dịch vụ cung cấp
thông tin tài chính và tư vấn,
trung gian và dịch vụ phụ trợ -
bảo lưu quyền áp dụng đối với
các dịch vụ khác; bảo lưu
quyền áp dụng hạn chế phân
biệt đối xử quốc gia (NT);
Thời điểm gia nhập Thời điểm gia nhập
2007 – 2012
2007 – 2012
Luật CK 2007 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật của Luật CK 2010 đã cho phép cty CK, CTQLQ có vốn ĐTNN tại Việt Nam được thành lập dưới hình thức liên doanh, góp vốn cổ phần cty 100% vốn nước ngoài do UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động; cho phép thành lập CN CTCK, CTQLQ nước ngoài tại Việt Nam; cho phép thành lập VPĐD CTCK, CTQLQ nước ngoài tại Việt Nam
Đối với phương thức (2) tiêu
dùng ở nước ngoài không áp
dụng hạn chế tiếp cận thị
trường hay hạn chế phân biệt
đối xử quốc gia (NT)
Đối với phương thức (3) hiện
diện thương mại:
+ Cho phép mở liên doanh
49% vốn nước ngoài;
Thời điểm gia nhập
QĐ 55/2009/QĐ-TTg ngày 15/04/2009 của Thủ tướng CP quy định về tỷ lệ tham gia của NĐTNN trên TTCK Việt Nam, tổ chức kinh doanh CK nước ngoài được tham gia thành lập CTCK, CTQLQ tại Việt Nam:
- Chỉ có tổ chức kd CK nước ngoài được góp vốn mua cổ phần thành lập CTCK Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên
Trang 10Mô tả Thời hạn Tiến độ thực hiện
+ Cho phép thành lập DN
100% vốn nước ngoài;
+ Cho phép thành lập CN của
DNCK nước ngoài Cung cấp
dịch vụ quản lý tài sản, thanh
toán bù trừ, cung cấp thông tin,
tư vấn và dịch vụ phụ trợ
+ Không áp dụng hạn chế phân
biệt đối xử quốc gia
nước ngoài tối đa là 49% vốn điều lệ của CTCK
- Chỉ có tổ chức kd CK nước ngoài có nghĩa vụ QLQ đầu tư CK, tổ chức bảo hiểm nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần thành lập CTQLQ Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài tối đa là 49% vốn điều lệ của CTQLQ
- Như vậy, QĐ 55/2009/QĐ-TTg đã bám rất sát với tinh thần của các cam kết của Việt Nam về CK khi gia nhập WTO Theo lộ trình, tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong lĩnh vực CK sẽ được mở hơn nữa với hình thức 100% vốn nước ngoài và CN với 1 số dịch vụ nhất định
(Nguồn: Phụ lục tổng hợp các cam kết trong WTO, tiến độ thực hiện và các biện pháp
ưu đãi, hỗ trợ, đầu tư, thay thế các ưu đãi bị cắt bỏ do Bộ Tài chính chủ trì – kèm theo Công văn số 7156/BTC-CST ngày 29/05/2012 của Bộ Tài chính)
Như vậy, theo kết quả rà soát việc thực hiện các cam kết của Việt Nam về CK khi gia nhập WTO có thể thấy: nước ta đã và đang thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các cam kết với WTO về dịch vụ CK, tại điều kiện cho các NĐTNN tham gia vào TTCK Việt Nam
4 Sự thay đổi của TTCK Việt Nam sau khi gia nhập WTO
* Tình hình giao dịch
Nguồn: http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/chart-nhin-lai-thi-truong-niem-yet-15-nam-qua-20150402151414618.chn
Trước khi Việt Nam gia nhập WTO, hàng hóa giao dịch trên TTCK chủ yếu là cổ phiếu, trái phiếu và một số ít chứng chỉ quỹ tham gia vào quá trình giao dịch Giá trị giao dịch bình quân mỗi phiên rất thấp