Hay nói cách khác, khủng hoảng tài chính là sự mất khả năng thanh khoản của các tập đoàn tài chính dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính; là sự đổ vỡ trầm trọn
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
-MÔN HỌC: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ
GIỚI ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁNG
Nhóm 4:Trần Thị Bích Nhung - 33131020627 Trần Quang Đạo - 33131023741
Nguyễn Thị Kim Hoa -
33141025112
Nguyễn Thị Hồng Liên - 33131021924 Trần Anh Tuấn - 33141020019
THÁNG 9/2016
Trang 2MỤC LỤC
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH THẾ GIỚI ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁNG
I. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
1 Khái niệm
Khủng hoảng tài chính là tình trạng tài chính mất cân đối nghiêm trọng dẫn đến sụp đổ Hay nói cách khác, khủng hoảng tài chính là sự mất khả năng thanh khoản của các tập đoàn tài chính dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính; là sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của thị trường tài chính tiền tệ kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính do sự sụt giảm mạnh, nhanh chóng về giá tài sản Kết quả cuối cùng, thị trường tài chính bị đông cứng và bất lực, các hoạt động kinh tế sụt giảm nghiêm trọng
Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình Khủng hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá nguồn cung Nhu cầu tiền mặt của người dân hay của nhà đầu tư nước ngoài đã
Trang 3gây sức ép cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoáng có thể sụp đồ Trong nền kinh tế thế giới hiện nay sự lây lan của khủng hoảng tài chính thường đi kèm với sự khủng hoảng kinh tế kéo dài
2 Dấu hiệu
- Sự giảm giá dây chuyền của các đồng tiền
- Tỷ giá hối đoái tăng độ biến và dây chuyền
- Lãi suất tín dụng gia tăng
- Hệ thống ngân hàng tê liệt
- Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng
- Các hoạt động kinh tế suy giảm
3 Phân loại:
3.1 Khủng hoảng ngân hàng (Banking crisis)
Khủng hoảng ngân hàng là khủng hoảng tài chính ảnh hưởng tới các hoạt động ngân hàng Khủng hoảng ngân hàng bao gồm rút tiền gửi hàng loạt ảnh hưởng tới từng ngân hàng riêng lẻ; hoảng loạn ngân hàng ảnh hưởng tới nhiều ngân hàng; và khủng hoảng ngân hàng hệ thống là sự đổ vỡ ngân hàng mang tính hệ thống, các tổ chức tài chính và doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thanh lý hợp đồng đúng thời hạn (theo Wikipipedia)
Hay nói cách khác, đây là tình trạng diễn ra khi các khách hàng đồng loạt rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng Vì ngân hàng cho vay phần lớn số tiền gửi vào nên khách hàng đồng loạt rút tiền, sẽ rất khó để các ngân hàng có khả năng hoàn trả các khoản nợ Sự rút tiền ồ ạt có thể dẫn tới sự phá sản của ngân hàng, khiến nhiều khách hàng mất đi khoản tiền gửi của mình, trừ phi họ được bồi thường nhờ bảo hiểm tiền gửi Nếu việc rút tiền ồ ạt lan rộng sẽ gây ra khủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống Cũng có thể hiện tượng trên không lan rộng, nhưng lãi suất tín đụng được tăng lên do lo ngại về sự thiếu hụt trong ngân sách Lúc này chính các ngân hàng sẽ
Trang 4trở thành nhân tố gây ra khủng hoảng tài chính Lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng cho rằng tính bất ổn (dễ đổ vỡ) của hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ những thông tin bất cân xứng – là tình trạng khi một bên trong mối quan hệ kinh tế hay giao dịch có ít thông tin về phía bên kia
Nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng ngân hàng:
+ Do (1) chính sách kinh tế vĩ mô; (2) chính sách kinh tế vi mô, bao gồm toàn bộ chỉ số hoặc phạm vi về cơ cấu và giám sát dưới sự kiểm soát hoặc ảnh hưởng trực tiếp của Chính phủ; (3) chiến lược và hoạt động của từng ngân hàng (theo nghiên cứu của Latter – 1997)
+ Do đặc điểm cụ thể của từng ngân hàng, như: quản trị thiếu hiệu quả, các quyết định cho vay thiếu thận trọng…; các yếu tố kinh tế vĩ mô của ngân hàng, như: giảm tốc độ tăng trưởng, các điều khoản ngoại thương, khủng hoảng tiền tệ, nâng giá đồng tiền, sự sụt giá của thị trường BĐS và thị trưởng chứng khoán…
+ Do bản chất của hoạt động các ngân hàng là đi vay ngắn hạn và cho vay dài hạn, khi thị trường tài chính không hiệu quả, bong bóng đổ vỡ tại các thị trường tài chính
3.2Khủng hoảng tiền tệ (Currency cisis)
Đây còn được gọi là khủng hoảng tỉ giá hối đoái hay cán cân thanh toán nổ ra khi hoạt động “đầu cơ” tiền tệ dẫn đến sự giảm giá một cách đột ngột của đồng nội tệ hoặc trường hợp buộc các cơ quan có trách nhiệm phải bảo vệ đồng tiền của nước mình bằng cách nâng cao lãi suất hay chi ra một khối lượng lớn ngoại hối
Khủng hoảng tiền tệ xảy ra khi có sự suy sụp giá trị đồng nội tệ của một quốc gia Sự suy sụp giá trị tiêu cực này ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế quốc gia đó, tạo ra bất ổn định trong
tỷ giá hối đoái Sự mất giá trị đồng nội tệ sẽ làm mất đi vai trò là một phương tiện thanh toán cũng như phương tiện tích lũy giá trị của đồng nội tệ Khủng hoảng tiền tệ thường tác động mạnh tới các quốc gia theo chế độ neo tỷ giá hơn là chế độ thả nổi tỷ giá
Ví dụ cụ thể cho khủng hoảng tiền tệ là cuộc khủng hỏang tài chính các nước Đông Nam
Á năm 1997 (có trình bày ở phần sau).
3.3Khủng hoảng kép (Twin crisis)
Trang 5Xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng xảy ra đồng thời.
3.4Khủng hoảng nợ công
Là khi khả năng thanh toán nguồn vay nước ngoài của một quốc gia, trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là tỉ lệ thanh toán nợ nước ngoài (tỉ lệ giữa nguồn vay nước ngoài cả gốc và lãi
mà quốc gia đó trả trên một năm trên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của quốc gia đó trong năm đó hoặc trong năm trước Bình thường chỉ tiêu này dưới 20%, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 20% chứng tỏ lượng vốn vay nước ngoài của quốc gia đó quá lớn
Hay nói cách khác, khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ) làm chao đảo nền kinh tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia Nhu cầu chi tăng cao trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ phải đi vay tiền thông qua nhiều hình thức như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng… để chi, từ đó dẫn đến tình trạng nợ Thâm hụt ngân sách kéo dài dẫn đến nợ công gia tăng Nợ không trả sớm, để lâu thành “lãi mẹ đẻ lãi con” và ngày càng chồng chất thêm
Nguyên nhân chủ yếu gây ra khủng hoảng nợ công:
+ Việc gia tăng mạnh chi tiêu từ ngân sách nhà nước, lương và chi phí hoạt động của bộ máy nhà nước…
+ Chính phủ không minh bạch các số liệu về tình trạng ngân sách của quốc gia, sự kiểm soát chi tiêu và quản lý nợ yếu kém của Nhà nước, không chặt chẽ, gây thất thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, tệ nạn tham nhũng phát triển…
+ Các nguồn thu (chủ yếu từ thuế) tăng không kịp với nhu cầu chi (cắt giảm thuế, trốn thuế,
tệ tham nhũng…)
+ Tâm lý ảo tưởng về sức mạnh, uy tín quốc gia dẫn đến tình trạng vay nợ tràn lan, đầu tư quá trớn, thiếu tính toán…
+ Chính phủ không kịp thời khống chế hành vi cho vay thiếu trách nhiệm của một số ngân hàng khi nền kinh tế tăng trưởng nóng tạo thành bong bóng Mặt khác còn lựa chọn bao cấp các ngân hàng này khi họ bị thua lỗ
+ Tỷ lệ tiết kiệm trong nước thấp làm cho thâm hụt ngân sách ngày càng tăng
Trang 64 Các cuộc khủng hoảng tài chính thế giới
4.1 Khủng hoảng tài chính Đông Nam Á năm 1997
Đây là cuộc khủng hoảng minh chứng cho lý thuyết “bộ ba bất khả thi” bắt nguồn ở Thái Lan năm 1997 Ngày 02/7/1997, Ngân hàng trung ương Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng bath kéo theo phản ứng giảm giá dây chuyền đối với các đồng tiền trong khu vực như Singapore, Philippin… Trước hết phải kể đến chiến lược phát triển kinh tế có phần thiên lệch của Chính phủ Thái Lan: không duy trì được thế cân bằng giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính ngân hàng không được phát triển tương ứng dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm (từ 9% năm 1995 xuống còn 6,4% năm 1996), nợ nước ngoài tăng quá lớn so với dự trữ ngoại tệ (nợ 90 tỷ USD, trong đó nợ ngắn hạn chiếm tới 40%) Việc ồ ạt đầu tư vào bất động sản dẫn tới hậu quả tỷ lệ phòng trống của các nhà cao ốc văn phòng và khu nhà ở lên tới 20%, kéo theo nguy cơ thanh khoản của các ngân hàng ở mức báo động do các nhà đầu tư không có tiền trả nợ Đồng thời Thái Lan chủ yếu dựa vào danh mục đầu tư ngắn hạn của nước ngoài, mà phần lớn số này được thông qua các ngân hàng trong nước và các công ty tài chính Như vậy, càng khoản vay càng trở thành gánh nặng không chịu nổi với Thái Lan Mặt khác, việc Chính phủ Thái Lan giữ cố định tỷ giá đồng bath đối với đồng đô la Mỹ trong suốt 13 năm trước đó
đã khiến đồng bath trở nên kém linh hoạt và gây cản trở đối với các nhà xuất khẩu Đồng bath lên giá đã làm cho hàng hóa của Thái Lan trở nên quá đắt trên thị trường nước ngoài, cán cân thương mại bị thâm hụt tài khoản vãng lai (nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu) Do chính sách quản lý ngoại hối của Thái Lan tương đối tự do, cơ chế chuyển đổi ngoại tệ đồng bath khá dễ dàng nên khi có biến động trên thị trường tài chính tiền tệ, luồng vốn ngoại tệ chuyển ra ngoài tăng mạnh đã kéo đồng bath xuống giá Bối cảnh này thúc đẩy giới đầu cơ trong và ngoài nước muốn phá giá đồng bath để kiếm lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá Việc Ngân hàng trung ương Thái Lan tuyên bố phá giá đồng bath chẳng qua là giải pháp cuối cùng cứu vãn tình thế nhưng trên thực tế lại góp phần đẩy tỷ giá USD/bath tăng thêm Trước tình hình đó, Chính phủ Thái Lan đã phải công bố những giải pháp ưu tiên hàng đầu, đó là sáp nhập một số công ty tài chính với nhau (có số vốn ít nhất là 7,5 tỷ bath) và dùng quỹ của Ngân hàng trung ương Thái Lan cứu vãn tình trạng của khoảng 91 công ty có số nợ trên 200 triệu bath Chính phủ Thái Lan cũng kêu gọi sự giúp đỡ về mặt tài chính của các quốc gia trong khu vực và IMF để có được ít nhất
là 10 tỷ USD giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trầm trọng này
Trang 7Nguyên nhân:
+ Tình trạng tăng trưởng kinh tế quá nóng, đầu tư mất cân bằng: Tốc độ tăng trưởng cao lẽ
ra là cần thiết đối với các nước đang phát triển muốn theo kịp đà phát triển của thế giới Tuy nhiên, Thái Lan là quốc gia có tốc độ tăng trưởng gần như dẫn đầu khu vực châu Á lúc bấy giờ nhưng lại có sự đầu tư mất cân đối và thiếu hiệu quả, đặc biệt là tập trung nguồn vốn quá nhiều vào các lĩnh vực hạ tầng Nợ Chính phủ và chủ yếu là nợ nước ngoài tăng Bên cạnh đó, các doanh nghiệp ở Thái Lan cũng thiên về kinh doanh bất động sản và lại sử dụng chủ yếu là nợ ngắn hạn đòi hỏi độ thanh khoản cao Thực tế đã chứng minh là ở Thai Lan, phần vay nợ kinh doanh BĐS tăng với tốc độ bằng khỏang 10 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế Thái Lan Cung vượt quá cầu, khu vực BĐS giảm giá mạnh dẫn đến khủng hoảng Các doanh nghiệp không có tiền trả nợ kéo theo các NHTM và các công ty tài chính rơi vào tình trạng mất thanh khoản + Khủng hoảng nợ đồng USD: Trong một thời gian dài, các nước Đông Nam Á đã gắn tỷ giá hối đoái của mình với đồng USD khiến các doanh nghiệp, ngân hàng trong nước và cả các nhà đầu tư nước ngoài dần tin tưởng vào sự ổn định của đồng nội tệ quốc gia đó Cộng vào
đó, việc các quốc gia này đã tự do hóa và mở cửa thị trường vốn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, ngân hàng trong nước lẫn giới đầu tư tài chính thế giới cho vay đồng USD với lãi suất thấp, cho vay lại bằng đồng nội tệ với lãi suất cao để ăn chênh kệch lãi suất mà không phải lo
sợ rủi ro phá giá đồng nội tệ Như vậy, dự trữ ngoại tệ không đủ để trả nợ nước ngoài
+ Sự hoạt động yếu kém của hệ thống ngân hàng tài chính: Do Chính phủ các nước có cơ chế mở cửa trong việc vay vốn từ nước ngoài nên các ngân hàng đã đổ xô huy động vốn USD
từ các ngân hàng nước ngoài với lãi suất thấp Phần lớn nguồn vốn vay này cho các nhà đầu tư ngành BĐS vay lại, hoặc tập trung vào các lĩnh vực hóa dầu, xe ô tô, sắt thép… hay tài trợ các giới đầu tư tài chính trong nước mua cổ phiếu (vốn đã bão hòa trên thị trường thế giới) Khi thị trường BĐS suy giảm và thị trường chứng khoán bị phá giá mạnh, các công trình công nghiệp không sinh lợi, các doanh nghiệp mất khả năng thanh khoản kéo theo các ngân hàng và các công ty tài chính gặp khủng hoảng
+ Sai lầm trong chiến lược xuất khẩu: Trong tình hình lúc bấy giờ, đồng USD đang dần có giá hơn so với các đồng tiền mạnh như yên Nhật, DM của Đức dẫn đến việc hàng hóa của các nước Đông Nam Á kém cạnh tranh (do cố định tỷ giá với USD), xuất khẩu giảm Các nước này
đã theo đuổi chính sách theo hướng xuất khẩu một cách cứng nhắc và tập trung quá cao vào
Trang 8một vài mặt hàng theo kiểu độc canh đã làm mất dần khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc
tế, công nghệ chậm đối mới Xuất khẩu giảm dẫn đến nhập khẩu tăng, kết quả làm thâm hụt cán cân vãng lai Để bù đắp lượng ngoại tệ thiếu hụt phải bổ sung bằng vay nợ, mà chủ yếu là vay nợ ngắn hạn nước ngoài với những điều kiện không thuận lợi và lãi suất cao Chính sách tỷ giá cố định gắn chặt với đồng USD trong thời gian này vô tình kìm hãm xuất khẩu, vừa kích thích tiêu dùng quá mức Hậu quả là chính sách hướng về xuất khẩu không những không thực hiện được còn xu hướng đầu tư nước ngoài để thay thế hàng nhập khẩu lại bộc lộ khá rõ nét Tình trạng này càng làm cho nhập khẩu bị đẩy lên, cán cân thương mại thêm thâm hụt
4.2 Khủng hoảng tài chính thế giới 2007 – 2009
Đây là cuộc khủng hoảng gây thiệt hại lớn, có quy mô rộng và được đánh giá là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển kinh tế của con người Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ cường quốc kinh tế số một thế giới (Hoa Kỳ) làm suy sụp trung tâm tài chính trứ danh phố Wall
và lan rộng sang các nước khác; làm tê liệt hệ thống tài chính toàn cầu và gây thiệt hại cho rất nhiều quốc gia
Nguyên nhân
+ Do sự mất cân đối toàn cầu Có thể được hiểu là những khỏan thặng dư thương mại khổng
lồ của một số quốc gia như Trung Quốc, và thâm hụt thương mại của một số quốc gia như Mỹ Một lượng tiền dư thừa từ những quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao và các nước xuất khẩu dầu lửa
đã chảy vào nước Mỹ khiến lãi suất ở Mỹ được duy trì ở mức thấp Điều này gây ra sự bùng nổ trong lĩnh vực cho vay tín dụng kéo theo sự tăng vọt của giá các loại tài sản như nhà đất và chứng khoán tại Mỹ Khi những bong bóng này vỡ, khủng hoảng tài chính nổ ra
+ Các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính Mỹ đã sử dụng chiêu bài “Cỗ máy đầu tư cấu trúc” (hoạt động cho vay dưới tiêu chuẩn và nghiệp vụ chứng khoán hóa, cụ thể: huy động vốn ngắn hạn thông qua việc phát hành thương phiếu với lãi suất thấp để đầu tư vào các loại chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản) Đầu năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ FED đã liên tục hạ lãi suất cơ bản dẫn đến việc các Ngân hàng thương mại cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản Chính phủ Mỹ lúc đó lại đang có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà (cho vay không cần chứng
Trang 9minh thu nhập – cho vay dưới chuẩn) Hai công ty tài chính Fannie Mae và Freddie Mac (được Chính phủ bảo trợ) đã đổ vốn vào thị trường bằng cách mua lại các khoản cho vay dưới chuẩn của các Ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được đảm bảo bằng các khoản vay thế chấp (MBS) rồi bán lại cho các nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán Điều tất yếu, thị trường bất động sản không còn là sân chơi duy nhất của các Ngân hàng thương mại hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp BĐS nữa mà đã có sự tham gia tích cực của các nhà đầu tư và đầu cơ trên Thị trường chứng khoán vốn có khả năng tài chính rất dồi dào Do có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty khác biến chúng thành MBS, các Ngân hàng thương mại đã mạo hiểm hơn trong việc cho vay bất chấp khả năng trả nợ của người vay
II KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Khái niệm thị trường chứng khoán
- Thị trường chứng khoán: là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn, hoạt động của nó
nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh
tế hay cho các dự án đầu tư
- Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loạichứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp do vậy thị trường chứng khoán
là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi
trường sơ cấp
- Hàng hóa giao dịch trên Thị trường chứng khoán bao gồm: các cổ phiếu, trái phiếu và một
số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm
2 Vị trí thị trường chứng khoán: Trong thị trường Tài chính có hai thị trường lớn là:
- Thị trường Tài chính ngắn hạn (Thị trường tiền tệ)
- Thị trường Tài chính dài hạn (Thị trường vốn): bao gồm Thị trường tín dụng dài hạn (gồm Thị
trường cho vay thế chấp và thị trường cho thuê tài chính); và Thị trường chứng khoán
Trang 103 Đặc điểm của thị trường chứng khoán
- Được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và người cung cấp vốn đều trực tiếp tham gia thị trường, giữa họ không có trung gian tài chính
- Là thị trường gần với Thị trường cạnh tranh hoàn hảo Mọi người đều tự do tham gia vào thị trường Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng khoán, mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu
- Về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào
họ muốn
4 Vai trò của Thị trường chứng khoán
- Thị trường chứng khoán là phương tiện huy động vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
- Thị trường chứng khoán là công cụ khuyến khích dân cư tiết kiệm và sử dụng tiền tiết kiệm này và đầu tư, từ đó xã hội hóa việc đầu tư
- Thị trường chứng khoán thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả
- Thị trường chứng khoán góp phần điều hòa vốn giữa các ngành trong nền kinh tế, tạo nên
sự phát triển nhanh và đồng đều trong nền kinh tế
- Thị trường chứng khoán là công cụ thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài
5 Các nhân tố ảnh hưởng tới Thị trường chứng khoán (TTCK)
5.1Các nhân tố vĩ mô tác động Đến thị trường chứng khoán
Môi trường chính trị :cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán, xã hội
luôn có những tác động nhất định đến hoạt động của TTCK Yếu tố chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hoạt động chính trị sửa đổi chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến TTCK
Môi trường xã hội và pháp luật : Hệ thống chính sách có tác động rất lớn đến bản thân
TTCK và hoạt động của các doanh nghiệp Mỗi thay đổi chính sách có thể kéo theo các tác động làm giá chứng khoán tăng hoặc giảm, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm
Đây là những yếu tố phi kinh tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá chứng khoán trên thị trường Nếu những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanh của DN thì giá cổ phiếu của DN sẽ tăng lên
Tỷ giá hối đoái : Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi trường