Lý do chọn đề tài Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán AEG xuất hiện và tồn tại song hành cùng với quá trình hình thành và phát triển của nghề nghiệp kiểm toán, là thuật ngữ được sử dụng khá p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
N NGNGUYỄN ỌC KNGUNGUYEHÁNH DUNG
NGUYỄN NGỌC KHÁNH DUNG
NGHIÊN CỨU KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN:
TRÁCH NHIỆM KIỂM TOÁN VIÊN TRONG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học kinh tế
TP.Hồ Chí MinhTrường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Bùi Văn Dương;
TS Phạm Xuân ThànhS.TS Bùi Văn Dương TS Xuân Thành
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp
trường tại Trường Đại học kinh tế TP.Hồ Chí MinhTrường
Đại
Vào hồi ………giờ…… ngày…… tháng …… năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện :
(ghi tên các thư viện nộp luận án)
Trang 3PHẦN GIỚI THIỆU
1 Lý do chọn đề tài
Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (AEG) xuất hiện và tồn tại song hành cùng với quá trình hình thành và phát triển của nghề nghiệp kiểm toán, là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu về kiểm toán từ đầu thập niên 70 của Thế kỷ trước AEG
có tác động bất lợi tới nghề nghiệp kiểm toán (Sikka & cộng sự 1998; Idris & Ojemen 2010) nhất là trong bối cảnh uy tín và danh tiếng của nghề nghiệp kiểm toán bị sụt giảm đáng kể do kiểm toán viên (KTV) không phát hiện được gian lận tại các khách hàng kiểm toán trước khi
nó sụp đổ, phá sản hoặc bị điều tra Hậu quả là tính tin cậy, uy tín và danh tiếng nghề nghiệp kiểm toán sẽ bị xói mòn, vai trò kiểm toán bị sụt giảm, thậm chí trở nên vô dụng (Porter & cộng sự 2005, 119) Do
đó, AEG phải được loại bỏ hoặc cần phải giảm thiểu đáng kể để tránh các vụ kiện tụng, cáo buộc chống lại KTV và quan trọng hơn là để
khôi phục lại sự tin tưởng của công chúng Vì vậy, đề tài Nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán: trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC ở Việt Nam là cần thiết nhằm xác định, đo lường
các thành phần cấu thành nên AEG và khám phá các trách nhiệm kiểm toán (TNKT) cấu thành nên mỗi thành phần của AEG Qua đó, giúp công chúng có nhận thức hợp lý hơn đối với nghề nghiệp kiểm toán Ngược lại, tổ chức lập quy, hội nghề nghiệp có thể xác định được cụ thể những TNKT nào cần bổ sung, sửa đổi nhằm tăng cường hơn nữa TNKT đối với KTV Bên cạnh đó, KTV cũng hiểu được chất lượng công việc của mình dưới góc nhìn xã hội
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khám phá các trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên AEG ở Việt Nam;
- Xác định các thành phần và đo lường AEG ở Việt Nam;
Trang 4- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm xác định quan hệ giữa yếu tố nghề nghiệp với từng thành phần cấu thành nên AEG
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Đối với mục tiêu nghiên cứu thứ nhất, 3 câu hỏi nghiên cứu
đề xuất gồm:
Q11: Người sử dụng BCKT (công chúng) kỳ vọng những TNKT nào KTV nên thực hiện và kỳ vọng bất hợp lý đối với những TNKT nào
Q12: Người sử dụng BCKT nhận thức (hiểu biết) về các TNKT được quy định hiện hành như thế nào?
Q13: Người sử dụng BCKT đánh giá kết quả thực hiện các TNKT hiện hành của KTV như thế nào
- Đối với mục tiêu nghiên cứu thứ hai, câu hỏi nghiên cứu là: Q2: Các thành phần cấu thành nên AEG ở VN là gì, mức độ khoảng cách của chúng là bao nhiêu?;
- Đối với mục tiêu nghiên cứu thứ ba, câu hỏi nghiên cứu là: Q3: Liệu nghề nghiệp của mỗi nhóm đối tượng khảo sát có ảnh hưởng đến việc xác định các trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên AEG trong kiểm toán BCTC ở Việt Nam không và mức độ ảnh hưởng của chúng nếu có?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của Luận án: khoảng cách kỳ vọng kiểm toán liên quan đến trách nhiệm KTV trong kiểm toán BCTC
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp giữa định tính và định lượng
Trang 56 Đóng góp mới của luận án:
- Về mặt lý thuyết:
+ Luận án đã xác định được các trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên từng bộ phận của AEG gồm: khoảng cách hợp lý, khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực, khoảng cách tăng cường kết quả ở Việt Nam Không tồn tại TNKT nào cấu thành nên khoảng cách dịch vụ như trong định nghĩa của Turner & cộng sự (2010)
+ Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ tồn tại AEG đáng kể ở Việt Nam Mức độ khoảng cách của mỗi thành phần khoảng cách hợp lý, khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực, khoảng cách tăng cường kết quả đóng góp vào AEG tương ứng
là 31%, 49%, 20% Không tồn tại khoảng cách dịch vụ theo định nghĩa của Turner & cộng sự (2010);
+ Nghiên cứu đã xác định được mức độ ảnh hưởng của nghề nghiệp đến các TNKT cấu thành nên các thành phần AEG; cung cấp bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ AEG luôn tồn tại giữa KTV và người sử dụng BCKT xuất phát từ những khác biệt về vị trí nghề nghiệp của từng đối tượng tham gia khảo sát (luận cứ giải thích dựa trên lý thuyết vai trò), vai trò người khảo sát, người thu nhận thông tin (luận cứ giải thích dựa trên lý thuyết hồi ứng người đọc), khác biệt về lợi ích (luận cứ giải thích dựa trên lý thuyết lựa chọn hợp lý), bất cân xứng thông tin và mâu thuẫn lợi ích (luận cứ giải thích dựa trên lý thuyết ủy nhiệm)
+ Nghiên cứu cũng bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm củng cố lý thuyết về AEG là “không có bằng chứng cho thấy các yếu
tố kinh tế, chính trị văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến AEG”
- Về mặt ứng dụng:
Trang 6+ Nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng phát triển nghề nghiệp kiểm toán ở Việt Nam hiện nay, xác định và phân loại các trách nhiệm kiểm toán hiện hành theo quy định
+ Xác định được những nguyên nhân cụ thể tương ứng với từng TNKT và có các giải pháp để điều chỉnh, bổ sung hoặc sửa đổi kịp thời các TNKT trên nhằm thu hẹp AEG ở Việt Nam Việc đo lường được mức độ đóng góp của từng TNKT vào AEG cung cấp được những chỉ báo cho các cơ quan liên quan xây dựng, thực thi các chính sách nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp kiểm toán độc lập ở Việt Nam
+ Nghiên cứu cũng giới thiệu được công cụ, kỹ thuật khảo sát
để xác định các TNKT cấu thành nên từng thành phần của AEG Đồng thời đo lường được mức độ đóng góp cụ thể của từng TNKT trong mỗi thành phần và mức độ khoảng cách của mỗi thành phần trong AEG Nếu tiếp tục sử dụng để khảo sát, kết quả trong các nghiên cứu tiếp theo có ý nghĩa rất lớn khi có thể vừa đo lường và vừa đánh giá tác động từ những giải pháp thu hẹp AEG cũng như nâng cao chất lượng kiểm toán trong một khoảng thời gian nhất định
7 Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần giới thiệu, luận án gồm năm chương:
Chương 1- Tổng quan các nghiên cứu trước liên quan đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Chương 2- Cơ sở lý thuyết khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Chương 3- Phương pháp nghiên cứu
Chương 4- Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu
Chương 5- Kết luận và một số hàm ý chính sách thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ
KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN
1.1 Các nghiên cứu liên quan đến AEG
1.1.1 Các nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng định nghĩa
về AEG
Các nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu, giải thích và xây dựng khái niệm AEG dựa trên các lý thuyết nền thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, điển hình là các nghiên cứu của (Liggio1974; Cohen 1978; AICPA 1993; Guy & Sullivan 1988; Humphrey & cộng sự 1993; Monroe & Woodliff 1993; Porter & cộng sự 1993, 2004, 2012) Tuy nhiên, không có nhiều đồng thuận về định nghĩa AEG (Koh & Woo 1998; Ojo 2006) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đề xuất khái niệm dựa trên một số lý thuyết nền thuộc các lĩnh vực khoa học khác, chẳng hạn, Turner & cộng sự (2010) thiết lập mô hình AEG dựa trên
mô hình cung cấp dịch vụ, trong khi đó, Al-Alimi & Katdare (2013), tiếp cận mô hình nhân quả để xây dựng định nghĩa về AEG Mặc dù vậy, các học giả, nhà nghiên cứu hay các tổ chức nghề nghiệp đều thống nhất ba điểm chung Một là, AEG xuất hiện, tồn tại cùng với nghề nghiệp kiểm toán Hai là, AEG là sự khác biệt giữa kỳ vọng của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán và nhận thức (quan điểm đánh giá) của công chúng về kết quả công việc mà kiểm toán việc thực hiện Ba là, khoảng cách này tồn tại liên quan đến vai trò và trách nhiệm của KTV, mục tiêu, chức năng kiểm toán, tính độc lập của KTV, mức độ tin cậy và hữu ích của báo cáo kiểm toán (BCKT) và thông điệp truyền tải trong BCKT Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số quan điểm khác biệt liên quan đến định nghĩa về AEG xoay quanh ba câu hỏi chính sau: (i) AEG liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên được xác định dựa trên kỳ vọng và quan điểm của nhóm đối tượng
Trang 8nào?, (ii) AEG được cấu thành từ các thành phần nào?, (iii) AEG được
đo lường như thế nào?
1.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm khẳng định tồn tại AEG
Các nghiên cứu thực nghiệm tiến hành khảo sát sự tồn tại AEG trong các bối cảnh khác nhau Chúng bao gồm Lee (1970); Humphrey & cộng sự (1993); Porter & cộng sự (2004, 2012) ở UK; Baron & cộng sự (1977); Lowe (1994); Epstein & Geiger (1994) và McEnroe & Martens (2001) ở Hoa Kỳ; Beck (1973), Monroe & Woodliff (1994); Gay & cộng sự (1997) và Schelluch & Gay (2006) ở Úc; Porter (1993); Porter (2004, 2012) ở New Zealand; Dixon & cộng
sự (2006) ở Ai Cập; Haniffa & Hudaib (2007) ở A Rập; Sidani & cộng sự (2007) ở Lebanon; Omid Pourheydari & Mina Abousaiedi (2011) ở Iran; Onumah & cộng sự (2009) ở Tây Phi; Bogdanovičiūtė (2011) ở Lithuania; Best & cộng sự (2001) ở Singapore; Lin & Chen (2004) ở Trung Quốc; Fadzly & Ahmed (2004) và Lee & cộng sự (2007) ở Malaysia; Fulop (2015) ở Hungary Tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm chỉ ra sự tồn tại AEG liên quan đến các khía cạnh: (i) vai trò, chức năng và mục tiêu kiểm toán, (ii) mức độ đảm bảo, tin cậy của nghề nghiệp kiểm toán và mức độ hữu ích của BCKT, (iii) trách nhiệm kiểm toán của KTV
1.1.3 Các nghiên cứu xác định các yếu tố đóng góp AEG
Nghiên cứu tập trung xác định các yếu tố đóng góp nên AEG qua các nghiên cứu thực nghiệm khẳng định sự tồn tại AEG như các nghiên cứu của Davidson 1975; Shaked & Sutton 1982; Tricker 1982; Guy & Sullivan 1988; Johnson 1988; Humphrey & cộng sự 1992; Sikka & cộng sự 1992; Olson 1993; Gloeck & Jager 1993; Porter & cộng sự 2004; 2012; Humphrey 1997; Henrickson 1998; Koo & Sim 1999; Byrnes & cộng sự 2002; Hourguebie 2004; Porter & Gowthorpe
Trang 92004; Leung & cộng sự 2004, 2007; Boyton & Johnson 2005; Lee & cộng sự 2007; Lee & Azham 2008; Idris & Ojemen 2010; Olowookere
2010 Tổng kết trong nghiên cứu của Lee & Azham (2008) và cập nhật các nghiên cứu hiện hành có thể xác định được sáu yếu tố đóng góp hình thành AEG gồm: (i) bản chất phức tạp của chức năng kiểm toán, (ii) mâu thuẫn vai trò kiểm toán, (iii) đánh giá chất lượng kiểm toán dưới góc nhìn từ xã hội, (iv) chậm thích ứng so với kỳ vọng, (v) quá trình tự điều chỉnh của nghề nghiệp kiểm toán, (vi) thiếu hiểu biết hoặc kỳ vọng không hợp lý của công chúng
1.1.4 Các nghiên cứu đo lường mức độ AEG
Có rất nhiều các nghiên cứu AEG liên quan đến một hoặc tất
cả các khía cạnh: (i) nhiệm vụ/ trách nhiệm KTV, (ii) mục đích và hạn chế của kiểm toán, (iii) mức độ đảm bảo của BCKT v.v Trong đó, AEG đối với các trách nhiệm của KTV gồm: (i) chỉ ra ý kiến về tình hình tài chính của doanh nghiệp, (ii) chỉ ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp, (iii) chỉ ra ý kiến về hệ thống kiểm soát nội bộ, (iv) chỉ ra ý kiến về khả năng phát sinh gian lận, (iv) chỉ
ra ý kiến về khả năng vi phạm pháp luật Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào chỉ ra cụ thể và chi tiết các trách nhiệm KTVcấu thành nên AEG, cũng như chưa có nghiên cứu nào đo lường mức độ của AEG liên quan đến trách nhiệm KTV ngoài trừ nghiên cứu của Porter (1993, 2004, 2012)
1.2 Kết quả và hạn chế từ các nghiên cứu trước
1.2.1 Kết quả nghiên cứu về AEG
Tổng kết các nghiên cứu liên quan đến AEG có thể đi đến một
số khẳng định sau: (i) hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều cung cấp bằng chứng cho thấy luôn tồn tại AEG liên quan đến các khía cạnh kiểm toán như trách nhiệm KTV, mục tiêu, vai trò và chức năng
Trang 10kiểm toán, mức độ đảm bảo và tin cậy của nghề nghiệp kiểm toán và mức độ hữu ích của BCKT, tính độc lập của KTV; (ii) đối với thông tin trình bày trên BCKT, hai vấn đề chính thường tồn tại khác biệt trong nhận thức gồm mục đích và hạn chế vốn có của kiểm toán, các khái niệm và thuật ngữ sử dụng; (iii) chưa có bằng chứng cho thấy các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội tác động trực tiếp tới AEG
1.3.2 Hạn chế trong các nghiên cứu về AEG
- Chưa hoàn chỉnh được một khung lý thuyết đầy đủ về AEG
- Nhiều nghiên cứu vẫn áp dụng phương pháp tiếp cận từ các nghiên cứu trong thập niên 1970 và 1980
- Thứ ba, mặc dù một số ít nghiên cứu cung cấp bằng chứng xác định nguyên nhân hình thành nên AEG, qua đó xác định các yếu
tố cấu thành nên AEG Tuy nhiên, hầu như chưa có nghiên cứu nào xem xét mối liên hệ của các yếu tố tác động như thế nào tới từng thành phần của AEG
1.3 Khe hổng trong nghiên cứu về AEG
Chưa có nghiên cứu nào vừa xác định sự tồn tại, cấu trúc AEG, đo lường mức độ của các thành phần AEG, vừa cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định mức độ AEG không thể thu hẹp được hoàn toàn liên quan đến một số TNKT cụ thể thông qua việc xác định mối quan hệ giữa nhóm nghề nghiệp với các thành phần cấu thành nên AEG Đặc biệt ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào tiếp cận theo cả hai hướng nghiên cứu này Do đó, đề tài “Nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán: trách nhiệm KTV trong kiểm toán BCTC ở Việt Nam” lựa chọn hướng tiếp cận mới nhằm mục đích đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn
Kết luận chương 1
Trang 11CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT KHOẢNG CÁCH
KỲ VỌNG KIỂM TOÁN 2.1 Lý thuyết về AEG trong kiểm toán
2.1.1 Lược sử hình thành và quá trình tồn tại AEG
Hoạt động kiểm toán đã có lịch sử phát triển lâu dài, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế, xã hội của loài người Hoạt động này
ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của các NĐT, chủ sở hữu vốn, chủ nợ, nhà quản lý…được gọi chung là người sử dụng BCKT Khi nhu cầu của người sử dụng BCKT thay đổi, mục tiêu, chức năng kiểm toán và trách nhiệm KTV cũng thay đổi tương ứng Tuy nhiên, không phải lúc nào người sử dụng BCKT cũng hài lòng về chất lượng dịch vụ kiểm toán mang lại Trái lại, KTV thường bằng lòng với những gì mình thực hiện và cung cấp Chính những khác biệt trong nhận thức và cách đánh giá này tạo nên khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán
2.1.2 Khái niệm AEG
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chung nhất về AEG nhưng hầu hết giới nghiên cứu và nghề nghiệp cứu đã đạt được sự đồng thuận cao khi xác định các thành phần cấu thành nên AEG thuộc về vai trò và TNKT của KTV (Porter & cộng sự 1993, Fazdly & Ahmad
2004, Dixon & cộng sự 2006…), nội dung và ý nghĩa thông điệp truyền tải trong BCKT (Monroe & Woodliff 1994; Gay và cộng sự 1998) và tính độc lập của KTV (Lin & Chen 2004; Alleyne và cộng sự 2006) Trong đó, điển hình nhất là định nghĩa AEG của Porter (1993) cho rằng, AEG là sự khác biệt giữa kỳ vọng của xã hội đối với trách nhiệm của KTV và quan điểm của xã hội về kết quả thực hiện công việc (nhiệm vụ) của KTV”
Trang 122.1.3 Bản chất và cấu trúc của AEG
2.1.3.1 Mô hình cấu trúc AEG của MacDonald
2.1.3.2 Mô hình cấu trúc AEG của Porter
2.1.3.3 Mô hình cấu trúc AEG của Turner
2.1.3.4 Mô hình cấu trúc AEG Al-Alimi và Katdare 2.2 Khung lý thuyết giải thích tồn tại AEG và mô hình khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
2.2.1 Lý thuyết vai trò
Áp dụng lý thuyết này nhằm giải thích sự tồn tại của nghề nghiệp kiểm toán và sự xuất hiện của AEG: Kiểm toán là một nghề nghiệp có vị thế nhất định trong cấu trúc xã hội Vị thế này được gán cho mỗi KTV khi thực hiện nhiệm vụ nhằm đáp ứng vai trò là thỏa mãn một số yêu cầu nhất định từ phía công chúng, chẳng hạn: tăng cường mức độ tin cậy, hữu ích của thông tin trình bày trên BCKT Trái lại, nếu KTV không hoàn thành vai trò được xã hội kỳ vọng dẫn tới vị thế của họ trong cấu trúc xã hội sẽ sụt giảm, thậm chí có thể bị đào thải Theo Davidson (1975), vai trò của KTV phụ thuộc vào mối tương quan về kỳ vọng hợp lý giữa những nhóm có lợi ích khác nhau trong xã hội Mặt khác, kỳ vọng hợp lý thường thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào nhu cầu xã hội Do vậy, KTV thường được xếp đặt cùng một lúc với nhiều vai trò và đáp ứng một cách hợp lý nhiều kỳ vọng khác nhau giúp giải thích sự tồn tại của nghề nghiệp kiểm toán nhưng cũng chính những khác biệt về nhu cầu và lợi ích giữa những đối tượng sử dụng BCKT và khả năng đáp ứng của KTV đã cấu thành AEG liên quan đến vai trò kiểm toán và trách nhiệm của KTV
2.2.2 Lý thuyết ủy nhiệm
Áp dụng vào trong luận án này, lý thuyết ủy nhiệm được sử dụng để tìm hiểu mối quan hệ giữa hai bên (i) bên ủy nhiệm (cổ đông, nhà đầu tư, người cho vay, ), (ii) bên thừa hành (nhà quản lý, KTV)
Trang 13và giải thích tại sao, các bên lại có nhận thức, đánh giá và kỳ vọng khác nhau liên quan đến TNKT của KTV Trong đó, khái niệm chi phí
ủy nhiệm được sử dụng để biện minh cho những luận điểm bảo vệ hoặc chống đối việc bổ sung thêm các TNKT cho KTV
2.2.3 Lý thuyết hồi ứng của người đọc
Lý thuyết hồi ứng của người đọc được sử dụng làm cơ sở cho việc nghiên cứu sự khác biệt về nhận thức của các nhóm khác nhau về vai trò, trách nhiệm của KTV cũng như mức độ tin cậy và hữu ích của BCKT Thứ nhất, BCKT sử dụng các thuật ngữ mơ hồ nên dễ dẫn đến
sự hiểu nhầm, bỏ sót hay bị lái theo cách hiểu của người viết báo cáo Thứ hai, bản thân người đọc thông qua hiểu biết của mình về những trường hợp BCKT không đúng qua những vụ tai tiếng như Enron, sẽ
tự mình có cách giải thích riêng (Asare & Wright 2009) Như vậy, mức độ hiểu biết cùng với những vụ tai tiếng có tác động đến ý kiến đánh giá về kết quả công việc của các KTV đóng góp sự tồn tại AEG
2.3.4 Lý thuyết niềm tin tín thác (Theory of Inspired Confidence)
Lý thuyết này được sử dụng để giải thích cơ sở cho việc nghiên cứu các quan điểm của các nhóm đối tượng có lợi ích liên quan trong việc lựa chọn đâu là TNKT mà KTV có thể thực hiện một cách hợp lý
2.3 Mô hình khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Nghiên cứu trong luận án này dựa trên mô hình khái niệm AEG của Porter (1993) và mô hình khái niệm của Turner & cộng sự (2010) Theo đó, khái niệm AEG trong nghiên cứu được chia thành bốn thành phần chính: (i) khoảng cách hợp lý; (ii) khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực, (iii) khoảng cách tăng cường kết quả và (iv) khoảng cách dịch vụ theo định nghĩa của Turner & Cộng sự (2010)
Kết luận chương 2