1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quản lý hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay

24 984 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 54,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay chưa có quy định hay khái niệm cụ thể về hành nghề luật sư, tuy nhiên Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 đã có những quy định gián tiếp về hành nghề luật sư, cụ thể tại mục 1 chương III về Hoạt động hành nghề luật sư có những quy định về phạm vi, hình thức hành nghề luật sư, theo đó phạm vi hành nghề luật sư bao gồm: “1. Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự. 2. Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật. 3. Thực hiện tư vấn pháp luật. 4. Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật.

Trang 1

Mục lục

MỞ ĐẦU

Trong thời đại toàn cầu hóa, các quan hệ xã hội ngày càng được mở rộng và phức tạp đòi hỏi các quy định pháp luật phải kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội đó Bên cạnh việc điều chỉnh các quy định pháp luật, việc phát triển đội ngũ luật sư cả chất và lượng là điều vô cùng cần thiết; bởi vì, luật sư với vai trò của mình sẽ góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân ngăn ngừa, hạn chế được những rủi ro pháp lý mà các chủ thể này có thể gặp phải

Hiểu được tầm quan trọng của nghề luật sư, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành những chính sách, những quy định để phát triển nghề luật sư và nâng cao vai trò của đội ngũ luật sư trong xã hội, đó là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (trước đây là Pháp lệnh

về luật sư năm 2001) ra đời đã cho thấy được vị trí, vai trò ngày càng lớn của nghề luật sư đối với xã hội

Đi đôi với vấn đề ban hành các quy định nâng cao vai trò của đội ngũ luật

sư trong xã hội, một vấn đề cũng đáng lưu tâm đó là công tác quản lý hành nghề luật

sư Bởi vì, đội ngũ luật sư trên cả nước hiện nay đang phát triển về số lượng và chất lượng, số lượng vụ việc ngày càng tăng do đó một đòi hỏi đó là phải có cơ chế quản

lý, tổ chức trong hoạt động hành nghề của luật sư Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (Khóa VIII) đã chỉ rõ, cần có cơ

Trang 2

chế phát huy tính tự chủ, tự quản của các luật sư thông qua tổ chức nghề nghiệp của

họ, đồng thời tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với đội ngũ luật sư Ngày 12/5/2009, Liên đoàn luật sư Việt Nam được thành lập tại Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất Đây là sự kiện có ý nghĩa trọng đại đánh dấu sự trưởng thành của đội ngũ luật sư Việt Nam, thể hiện sự đánh giá cao, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước

và xã hội đối với nghề luật sư Sau khi ra đời, Liên đoàn luật sư đã cho ra đời Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư nhằm quy định nhiệm vụ, quyền hạn của đội ngũ luật sư trong quá trình hoạt động nghề nghiệp

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai và vận hành cơ chế quản lý, hành nghề luật sư đã

có những mặt tích cực và hạn chế trong công tác quản lý, điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích chính đáng của đội ngũ luật sư, mặc khác, trong quá trình hành nghề đội ngũ luật sư cũng không ít lần xảy ra sai phạm dẫn đến gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân Điều này, cho thấy những bất cập, thiếu sót trong các quy định pháp luật về quản lý hành nghề luật sư, cũng như trong công tác quản lý đội ngũ luật sư của

cơ quan nhà nước, của tổ chức tự quản xã hội – nghề nghiệp của luật sư là Liên Đoàn luật sư Việt Nam, Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố, đây cũng là lý do tác giả chọn đề

tài “QUẢN LÝ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC

TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ”.

Trang 3

QUẢN LÝ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC

TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

I. LÝ LUẬN VỀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ QUẢN LÝ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

Ở VIỆT NAM

1. Khái niệm, đặc điểm về hành nghề luật sư

1.1 Khái niệm về hành nghề luật sư

Hiện nay chưa có quy định hay khái niệm cụ thể về hành nghề luật sư, tuy nhiên Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 đã có những quy định gián tiếp về hành nghề luật sư, cụ thể tại mục 1 chương III về Hoạt động hành nghề luật sư

có những quy định về phạm vi, hình thức hành nghề luật sư, theo đó phạm vi hành nghề luật sư bao gồm:

“1 Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự

2 Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật

3 Thực hiện tư vấn pháp luật

Trang 4

4 Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật.

5 Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật này”1

Luật sư có thể hành nghề dưới các hình thức sau:

“Luật sư được lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề sau đây:

1 Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư

2 Hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định tại Điều 49 của Luật này”2

Từ các quy định trên, hành nghề luật sư có thể được hiểu là việc luật sư làm việc tại một tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân thực hiện dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, thực hiện các dịch vụ pháp lý khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu

1.2 Đặc điểm hành nghề luật sư

Từ khái niệm và các quy định của Luật luật sư nêu trên có thể rút ra đặc điểm của hành nghề luật sư như sau:

Một là, Luật sư có thể lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề đó là hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân

Theo đó, trường hợp luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư thì luật sư có thể thành lập tổ chức hành nghề luật sư hoặc hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; ngoài ra luật sư có thể làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư Tổ chức hành nghề luật sư ở đây là tổ chức kinh tế có tên gọi,

có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh hoạt động theo quy định của Luật luật sư nhằm mục đích thực hiện hoạt động cung cấp các loại dịch

vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi là khách hàng) theo quy định của pháp luật và đạo đức, ứng xử nghề nghiệp luật sư3 Tổ chức hành nghề luật sư bao gồm các loại hình sau:

- Văn phòng luật sư

- Công ty luật, bao gồm:

+ Công ty luật hợp danh

+ Công ty luật TNHH 02 thành viên trở lên

+ Công ty luật TNHH 01 thành viên

Trường hợp luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư hành nghề (làm việc) tại một tổ chức, doanh nghiệp không phải là tổ chức hành nghề luật sư, ký kết

1 Điều 22 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012.

2 Điều 23 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012.

3 Giáo trình Luật sư và nghề luật sư – Học viện Tư pháp – Đồng chủ biên ThS Nguyễn Hữu Ước – TS Nguyễn Văn Điệp, Hà Nội 2014, tr280

Trang 5

hợp đồng lao động với tổ chức, doanh nghiệp đó Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài

cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật

sư là thành viên4

Hai là, luật sư hành nghề dưới hình thức thực hiện dịch vụ pháp lý

Theo đó, Luật sư có thể hành nghề dưới hình thức như:

Thứ nhất, tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân

sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự Hoặc luật sư cũng có thể tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật5

Thứ hai, tư vấn pháp luật khi có yêu cầu của khách hàng, cụ thể tư vấn pháp

luật là việc luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ6; như vậy, tư vấn pháp luật

là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp khách hàng thực hiện và bảo quyền, lợi ích hợp pháp của họ Hoạt động tư vấn pháp luật được thực hiện bởi luật sư là hoạt động đòi hỏi lao động trí óc cẩn thận sâu sắc Câu trả lời hay ý kiến tư vấn của luật sư phải bao hàm được hai yếu tố Thứ nhất, luật sư cần phải cung cấp thông tin pháp lý cho khách hàng Khách hàng là người yêu cầu tư vấn một hoặc một số tình huống cụ thể với một loạt các câu hỏi như: “Tôi

có nên làm điều đó hay không? Tôi nên hành động như thế nào và làm gì để đạt được hiệu quả nhất?” Vậy trong lời tư vấn của luật sư phải giải đáp được các câu hỏi luật pháp quy định như thế nào về trường hợp cụ thể mà khách hàng đề nghị luật sư tư vấn Điều mà khách hàng mong muốn có hợp pháp không Trình tự thủ tục thực hiện được luật quy định như thế nào Thứ hai, luật sư phải đưa ra được chính kiến của mình bằng việc đưa ra các chỉ dẫn và lời khuyên Một cách cụ thể, chỉ dẫn của luật sư phải chỉ ra được những điểm yếu và điểm mạnh của khách hàng, đánh giá được mức độ rủi ro, cách thức phòng tránh và ngăn ngừa rủi ro để khuyên khách hàng nên hành động hay không hành động

4 Điều 49 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012.

5 Khoản 1, khoản 2 Điều 22 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012.

6 Điều 28 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012.

Trang 6

Thứ ba, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng, cụ thể: Luật sư đại diện cho

khách hàng để giải quyết các công việc có liên quan đến việc mà luật sư đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động7

Thứ tư, cung cấp dịch vụ pháp lý khác như giúp đỡ khách hàng thực hiện

công việc liên quan đến thủ tục hành chính; giúp đỡ về pháp luật trong trường hợp giải quyết khiếu nại; dịch thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch và giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật8

Ngoài ra, Luật sư còn tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí

Ba là, hoạt động hành nghề của luật sư nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đây là chức năng rất quan trọng của luật sư Bởi vì, bằng hoạt động nghề nghiệp của mình luật sư giúp khách hàng, thân chủ của mình thực hiện tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình Với đặc điểm này, luật sư con góp phần giúp cơ quan tiến hành tố tụng giảm được những sai sót, oan sai trong quá trình giải quyết vụ việc, góp phần bảo vệ công lý

2. Quy định của pháp luật về quản lý hành nghề luật sư ở Việt Nam

Hiện nay, có hai hình thức quản lý hành nghề luật sư, đó là: quản lý nhà nước và quản lý dưới hình thức tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư,

Theo quy định thì Chính phủ có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước

về luật sư và hành nghề luật sư, Chính phủ với quyền hạn của mình sẽ giao nhiệm vụ quản lý hành nghề luật sư cho các cơ quan thuộc Chính phủ như Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan

Trong nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chính phủ sẽ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật luật sư, ban hành các quy định liên quan đến việc hành nghề luật sư,…

7 Điều 29 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012.

8 Điều 30 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012.

Trang 7

2.1.2Đối với Bộ Tư pháp: chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý

nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Xây dựng, trình Chính phủ quyết định chiến lược phát triển nghề luật sư, ban hành chính sách hỗ trợ cho Đoàn luật sư các tỉnh đặc biệt khó khăn và các chính sách khác hỗ trợ phát triển nghề luật sư;

b) Xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật về luật sư;

c) Cấp phép thành lập cơ sở đào tạo nghề luật sư; quy định chương trình khung đào tạo nghề luật sư; quy định chế độ bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; phối hợp với Bộ Tài chính quy định học phí đào tạo nghề luật sư; quản lý, tổ chức việc bồi dưỡng, đào tạo nghề luật sư;

d) Cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư;

đ) Cấp, thu hồi, gia hạn Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam cho luật

sư nước ngoài;

e) Cấp, thu hồi Giấy phép thành lập tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam;

g) Tổng kết, báo cáo Chính phủ về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư;h) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư; tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam;

i) Thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư;

k) Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế về luật sư;

l) Đình chỉ việc kiểm tra, hủy bỏ kết quả kiểm tra tập sự hành nghề luật sư khi phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

m) Đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi nghị quyết, quyết định, quy định của Liên đoàn luật sư Việt Nam trái với quy định của Luật luật sư;

n) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật luật sư

Trang 8

2.1.3Đối với UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: thực hiện quản

lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Cho phép thành lập Đoàn luật sư; quyết định việc giải thể Đoàn luật sư sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

b) Phê duyệt đề án tổ chức đại hội của Đoàn luật sư;

c) Tổ chức cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật

sư Việt Nam, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam;

d) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại địa phương;

đ) Đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi những nghị quyết, quyết định, quy định của Đoàn luật sư trái với quy định của Luật luật sư;

e) Định kỳ báo cáo Bộ Tư pháp về tình hình tổ chức luật sư và hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật

sư nước ngoài tại địa phương;

g) Thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư tại địa phương;h) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương

2.2 Quản lý dưới hình thức tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư

Tổ chức xã hội – nghề nghiệp toàn quốc của luật sư ở Việt Nam hiện nay là Liên đoàn luật sư Việt Nam Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có từ ba người có Chứng chỉ hành nghề luật sư trở lên thì được thành lập Đoàn luật sư đây là tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của luật sư

2.2.1 Đoàn luật sư

Theo quy định tại điều 60 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 thì Đoàn luật sư là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ở tỉnh, thành phố trực

Trang 9

thuộc Trung ương, tổ chức và hoạt động theo Luật luật sư và Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam Đoàn luật sư có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản đóng góp của thành viên và các nguồn thu hợp pháp khác Đồng thời, Đoàn luật sư không được ban hành nghị quyết, quyết định, nội quy, quy định về phí, khoản thu và các quy định khác trái với quy định của pháp luật và Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam.

Đoàn luật sư có các quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 61 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 trong việc quản lý luật sư thuộc Đoàn luật sư của mình, cụ thể:

1 Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư trong hành nghề

2 Thực hiện rà soát, đánh giá hàng năm chất lượng đội ngũ luật sư; giám sát, phối hợp với Đoàn luật sư ở địa phương khác giám sát luật sư là thành viên, luật

sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư và chi nhánh của tổ chức hành nghề luật

sư tại địa phương trong việc tuân thủ pháp luật, tuân theo Điều lệ của Liên đoàn luật

sư Việt Nam và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam; xử lý kỷ luật đối với luật sư

3 Giám sát, phối hợp với Đoàn luật sư ở địa phương khác giám sát hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh, văn phòng giao dịch của tổ chức hành nghề luật sư; yêu cầu tổ chức hành nghề luật sư chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật

và đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý

4 Cấp Giấy chứng nhận người tập sự hành nghề luật sư và giám sát người tập sự hành nghề luật sư; lập danh sách những người đủ điều kiện tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư gửi Liên đoàn luật sư Việt Nam

5 Nhận hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và gửi Sở Tư pháp;

đề nghị Bộ Tư pháp thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư

6 Tổ chức đăng ký việc gia nhập Đoàn luật sư, tổ chức việc chuyển, tiếp nhận luật sư; đề nghị Liên đoàn luật sư Việt Nam cấp, đổi, thu hồi Thẻ luật sư

7 Thực hiện bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ, bồi dưỡng kỹ năng quản trị, điều hành tổ chức hành nghề luật sư

8 Giám sát việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư

Trang 10

9 Hòa giải tranh chấp giữa người tập sự hành nghề luật sư, luật sư với tổ chức hành nghề luật sư; giữa khách hàng với tổ chức hành nghề luật sư và luật sư.

10 Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền

11 Tổng kết, trao đổi kinh nghiệm và thực hiện các biện pháp khác nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho luật sư

12 Tập hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp, kiến nghị của luật sư

13 Quy định về mức phí gia nhập Đoàn luật sư, phí tập sự hành nghề luật

sư trên cơ sở khung phí do Liên đoàn luật sư Việt Nam ban hành

14 Báo cáo Liên đoàn luật sư Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về đề án tổ chức đại hội, phương án xây dựng nhân sự Ban chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật

15 Thực hiện nghị quyết, quyết định, quy định của Liên đoàn luật sư Việt Nam

16 Tổ chức để các luật sư tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thực hiện trợ giúp pháp lý

17 Báo cáo Liên đoàn luật sư Việt Nam về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư, kết quả Đại hội; gửi Liên đoàn luật sư Việt Nam nghị quyết, quyết định, nội quy, quy định của Đoàn luật sư theo quy định của Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam hoặc khi được yêu cầu

18 Báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về tổ chức và hoạt động, kết quả Đại hội; báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi được yêu cầu; gửi Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghị quyết, quyết định, quy định của Đoàn luật sư

19 Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam

2.2.2 Liên đoàn luật sư

Theo quy định tại Điều 64 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm

2012 thì Liên đoàn luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong phạm vi cả nước, đại diện cho luật sư, các Đoàn luật sư, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành

Trang 11

viên, các khoản đóng góp của thành viên và nguồn thu hợp pháp khác Thành viên của Liên đoàn luật sư Việt Nam là các Đoàn luật sư và các luật sư Các luật sư tham gia Liên đoàn luật sư Việt Nam thông qua Đoàn luật sư nơi mình gia nhập Liên đoàn luật

sư quản lý các Đoàn luật sư và luật sư trên cả nước bằng Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam và Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2011

Liên đoàn luật sư có các quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 65 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 trong việc quản lý luật sư trong cả nước,

cụ thể:

1 Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các Đoàn luật sư, các luật

sư trong phạm vi cả nước

2 Giám sát luật sư, Đoàn luật sư trong việc tuân thủ pháp luật, tuân theo Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam; đề nghị Bộ Tư pháp thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư

3 Ban hành và giám sát việc tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam không được trái với Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam

4 Tổ chức đào tạo nghề luật sư; xây dựng chương trình và hướng dẫn các Đoàn luật sư thực hiện bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng quản trị, điều hành tổ chức hành nghề luật sư

5 Tổ chức kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật này và hướng dẫn của Bộ Tư pháp

6 Tổng kết, trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư trong cả nước; tổ chức bình chọn, vinh danh luật sư, tổ chức hành nghề luật sư có uy tín, có nhiều cống hiến trong hoạt động nghề nghiệp

7 Quy định mẫu trang phục luật sư tham gia phiên tòa, mẫu giấy đề nghị gia nhập Đoàn luật sư; mẫu Thẻ luật sư, việc cấp, đổi, thu hồi Thẻ luật sư; hướng dẫn việc thực hiện rà soát, đánh giá hàng năm chất lượng đội ngũ luật sư

8 Quy định việc miễn, giảm thù lao, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến thù lao, chi phí của luật sư

9 Quy định khung phí tập sự hành nghề luật sư, khung phí gia nhập Đoàn luật sư, phí thành viên

Trang 12

10 Hướng dẫn và giám sát thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý của luật sư.

11 Cho ý kiến về đề án tổ chức đại hội, phương án xây dựng nhân sự Ban chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư; chỉ đạo đại hội của Đoàn luật sư

12 Đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi nghị quyết, quyết định, quy định của Đoàn luật sư trái với Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi nghị quyết, quyết định, quy định của Đoàn luật sư trái với quy định của pháp luật

13 Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền

14 Tập hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp, kiến nghị của luật sư

15 Tham gia xây dựng pháp luật, nghiên cứu khoa học pháp lý, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

16 Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về luật sư

17 Phối hợp với Bộ Tư pháp chuẩn bị và báo cáo cơ quan có thẩm quyền về

đề án tổ chức đại hội, phương án nhân sự bầu các chức danh lãnh đạo của Liên đoàn luật sư Việt Nam

18 Báo cáo Bộ Tư pháp về tổ chức, hoạt động của luật sư trong phạm vi toàn quốc và tổ chức, hoạt động của Liên đoàn luật sư Việt Nam, kết quả đại hội của Liên đoàn luật sư Việt Nam; báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi được yêu cầu; gửi Bộ Tư pháp nghị quyết, quyết định, quy định của Liên đoàn luật sư Việt Nam

19 Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo Điều lệ của Liên đoàn luật sư iệt Nam

II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Thống kê về số lượng Đoàn Luật sư, số lượng luật sư toàn quốc

Ngày 12/5/2009, Liên đoàn luật sư Việt Nam được thành lập tại Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất Đây là sự kiện có ý nghĩa trọng đại đánh dấu sự trưởng thành của đội ngũ luật sư Việt Nam, thể hiện sự đánh giá cao, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với nghề luật sư Đại hội đã biểu quyết thông qua Điều

lệ và bầu ra Hội đồng luật sư toàn quốc gồm 93 ủy viên (trong đó có 31 ủy viên được bầu và 62 ủy viên đương nhiên là Chủ nhiệm các Đoàn luật sư) Ban Thường vụ Liên

Ngày đăng: 24/11/2016, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w