MỤC LỤCMục lục Trang Lời mở đầu CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẾ ĐỘ TRANG BỊ PHƯƠNG TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN 1.1 Các khái niệm chung 1.2 Cơ sở pháp lý 1.3 Mục đích nghiên cứu 1.4 Nội dung – đối
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục
Trang Lời mở đầu CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẾ ĐỘ TRANG BỊ PHƯƠNG TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN
1.1 Các khái niệm chung
1.2 Cơ sở pháp lý
1.3 Mục đích nghiên cứu
1.4 Nội dung – đối tượng nghiên cứu
1.5 Sự cần thiết của việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động tại các doanh nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC TRANG BỊ PHƯƠNG TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN THUỘC NGÀNH KHAI KHOÁNG HIỆN NAY 2.1 Sơ lược tình hình TNLĐ, BNN đang diễn ra tại Việt Nam và trong ngành khai khoáng
2.2 Nguyên nhân xảy ra TNLĐ và BNN
2.3 Một số vd minh họa về chế độ trang bị PTBVCN tại một số đơn vị sản xuất CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN CHO LAO ĐỘNG NGÀNH KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
3.1 Trách nhiệm của các bên liên quan
3.2 Kiến nghị, đề xuất
Kết luận Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước và góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, sự phát triển khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào các ngành kinh tế làm nảy sinh nhiều yếu tố ảnh hưởng đến điều
lao động, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân đã được quan tâm nhiều hơn trước nhưng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp vẫn đang xảy ra và có thể tiếp tục xảy ra trong tương lai cho nên việc thực hiện những biện pháp nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng như đảm bảo sức khỏe của
tâm nhiều hơn thời kỳ trước
Để góp phần vào việc hạn chế tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp xảy ra trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, sau đây em xin trình bày bài tiểu luận của
mình về đề tài “Thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho
người lao động tại các Doanh nghiệp thuộc ngành: Khai Khoáng”.
Kết cấu bài tiểu luận gồm những phần sau: Chương I Tổng quan về chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân Chương II Thực trạng của công tác trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân thuộc ngành khai khoáng hiện nay Chương III Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân cho lao động ngành khai khoáng
Em xin chân thành cảm ơn cô Lưu Thu Hường đã hướng dẫn em hoàn thành bài tiểu luận này
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẾ ĐỘ TRANG BỊ PHƯƠNG TIỆN
BẢO VỆ CÁ NHÂN 1.1 Các khái niệm chung:
- Phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN) là: những dụng cụ, phương tiện cần thiết mà người lao động phải được trang bị để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ để bảo vệ cơ thể khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc hại phát sinh trong quá trình lao động, khi các giải pháp công nghệ, thiết
bị, kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết (Theo khoản 1 Điều 3 của Thông tư số: 04/2014/TT-BLĐTBXH )
- An toàn, Vệ sinh lao động (AT,VSLĐ): là một động hoạt động đồng bộ trên các mặt luật pháp, tổ chức hành chính, kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm cải thiện điều kiện lao động sao cho điều kiện lao động tiện nghi hơn, thoải mái hơn góp phần giảm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đảm bảo người lao động có đủ sức khỏe và đảm bảo sản xuất liên tục
-Tai nạn lao động (TNLĐ): là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động
-Bệnh nghề nghiệp(BNN): là một bệnh phát sinh do các tác hại của nghề nghiệp tác động thường xuyên và kéo dài đối với sức khỏe người lao động Ví dụ: bệnh bụi phổi silic, bệnh bụi bông
- Ngành khai khoáng được hiểu là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than Các vật liệu được khai thác từ mỏ như: kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, Khai thác khoáng sản là ngành lao động đặc thù, được xếp vào loại lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Hầu hết các mỏ khai thác khoáng sản có kiến tạo phức tạp, người lao động thường xuyên phải tiếp xúc với nguy cơ gây nên các BNN như bụi than, đá, tiếng ồn, các loại khí độc (CH4, CO, CO2…)
1.2 Cơ sở pháp lý:
-Những văn bản pháp luật, chính sách của nhà nước về thực hiện công tác AT,VSLĐ nhằm thể hiện đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước về công
Trang 4tác AT,VSLĐ Nội dung xây dựng và thực hiện các văn bản pháp luật về công tác AT,VSLĐ có rất nhiều nhưng chủ yếu là các văn bản quy phạm phát luật;
chỉ thị; thông tư; nghị quyết; các văn bản hướng dẫn
-Về vấn đề trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động tại doanh nghiệp có:
+Thông tư số: 04/2014/TT-BLĐTBXH về hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân:
Điều 3 Phương tiện bảo vệ cá nhân
Điều 4 Điều kiện được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
Điều 6 Nguyên tắc sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân
+Tại “ điều 149: Phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động” trong Bộ Luật lao động 2012
+Tại “ điều 23 Phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động” trong Luật An toàn, Vệ sinh lao động 2015 1.3 Mục đích nghiên cứu:
-Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần cho xã hội Trong quá trình lao động con người thường xuyên tiếp cận với điều kiện làm việc có các yếu tố nguy hiểm và có hại cho sức khỏe, dễ xảy ra TNLĐ và BNN Bởi vậy, mục đích của công tác trang bị PTBVCN là thông qua các dụng cụ, phương tiện để loại trừ những yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong làm việc, nhằm tạo điều kiện lao động thuận lợi hơn để ngăn ngừa BNN và TNLĐ, hạn chế ốm đau, giảm sút sức khỏe, nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe và tính mạng cho người lao động trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng lao động -Nghiên cứu các vấn đề sử dụng PTBVCN trong ngành khai khoáng: khai thác trong hầm lò, khai thác lộ thiên và những việc trên tầng, nghiền sàng cùng các lĩnh vực thuộc ngành khai khoáng Nghiên cứu những mặt tích cực và hạn chế trong việc trang bị PTBVCN cho lao động ngành khai thác khoáng sản Nguyên nhân và hậu quả đối với việc việc sử dụng PTBVCN không đúng cách hoặc không trang bị PTBVCN 1.4 Nội dung – đối tượng nghiên cứu:
Trang 5- Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp, cơ quan và lao động thuộc ngành khai khoáng Khách thể nghiên cứu là: phương tiện bảo vệ cá nhân
- Điều kiện trang bị : Người lao động trong khi làm việc chỉ cần tiếp xúc với một trong những yếu tố nguy hiểm, độc hại dưới đây thì được trang bị: +Tiếp xúc với yếu tố vật lý xấu; +Tiếp xúc với bụi và hóa chất độc hại; +Tiếp xúc với yếu tố sinh học độc hại, môi trường vệ sinh lao động xấu: Vi rút,
vi khuẩn độc hại gây bệnh, côn trùng có hại; Các yếu tố sinh học độc hại khác +Làm việc với máy, thiết bị, công cụ lao động, làm việc ở vị trí mà tư thế lao động nguy hiểm dễ gây ra tai nạn lao động; điều kiện lao động nguy hiểm, độc hại khác
* PTBVCN cần thiết cho ngành kai khoáng: Hiện nay, tại Việt Nam, việc quy định các PTBVCN trong các ngành nghề độc hại nguy hiểm được Nhà nước quy định rõ trong Thông tư
04/2014/TT-BLĐTBXH ban hành ngày 12 tháng 02 năm 2014, trong đó có ngành khai khoáng Ví dụ: -Về lao động vận hành máy sàng rung; vận hành máy lọc, máy phân ly khoáng sản (than, quặng) lao động cần có các PTBVCN như: Quần áo lao động phổ thông; Mũ vải (Thay bằng mũ, nón lá chống mưa nắng cho người làm việc ngoài trời); Găng tay vải bạt; Giầy vải bạt thấp cổ; Khẩu trang lọc bụi; Kính trắng chống bụi hoặc chống chấn thương cơ học; Áo mưa; Xà phòng -Về lao động đào hào, đào giếng (thăm dò và khai thác khoáng sản) cần trang
bị PTBVCN: Quần áo lao động phổ thông; Mũ chống chấn thương sọ não; Găng tay vải bạt; Giầy vải bạt thấp cổ; Ủng cao su; Áo mưa; Xà phòng
1.5 Sự cần thiết của việc trang bị PTBVCN cho người lao động:
Ngày nay, khoa học công nghệ rất phát triển mang lại nhiều lợi ích cho con người Trong đó có việc trang bị máy móc thiết bị hiện đại vào công việc để hiệu suất làm việc trở lên cao hơn, nhưng nó cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định Vì vậy các doanh nghiệp, tổ chức cần trang bị các PTBVCN cho người lao động, đề tránh các TNLĐ và BNN xảy ra Để đảm bảo sức khỏe cho người lao động, giúp cho hiệu suất làm việc cao hơn, và cũng là biện pháp tạo động lực giúp người lao động làm việc tốt hơn
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC TRANG BỊ
PHƯƠNG TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN THUỘC NGÀNH KHAI KHOÁNG HIỆN NAY 2.1 Sơ lược tình hình TNLĐ, BNN đang diễn ra tại Việt Nam và trong ngành
khai khoáng:
- Tai nạn lao động tại Việt Nam đang ngày càng nổi lên như một thách thức, với tính chất nghiêm trọng về số thương tật, tử vong, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế, xã hội
Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong lĩnh vực công nghiệp mỗi năm có khoảng 5000 vụ TNLĐ khiến từ 500 đến 600 người chết Những ngành, nghề để xảy ra tai nạn lao động nghiêm trọng trong năm vẫn là lao động giản đơn trong khai thác khoáng sản, xây dựng, hóa chất Trong đó, lĩnh vực khai thác khoáng sản nói chung và khai thác đá nói riêng luôn chiếm tỷ lệ cao, khoảng từ 18 – 20 % tổng số vụ TNLĐ
- Tổng hợp từ Báo cáo tình hình tai nạn lao động của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội:
Số người chết vì khai
thác mỏ và xây dựng
(Đơn vị tính: nghìn vụ; người)
Nhận xét: số vụ tai nạn lao động qua các năm ngày càng tăng cao, gây thiệt hại lớn về người và của TNLĐ gây ra thiệt hại hàng chục tỷ đồng cho doanh nghiệp, xã hội Cho thấy công tác bảo hộ lao động còn quá nhiều hạn chế, công tác thanh kiểm tra về AT, VSLĐ của các sở ban ngành còn ít và hạn chế
- Ngành khai khoáng, hay khai thác khoáng sản là một ngành công nghiệp năng lượng quan trọng vào bậc nhất ở nước ta không chỉ bởi những giá trị tài nguyên được đo đếm bằng tiền, mà còn là một ngành đem lại việc làm cho rất nhiều lao động trực tiếp, góp phần ổn định kinh tế và trật tự xã hội Thế nhưng, trong hoạt động khai thác, hàng năm, vẫn có hàng nghìn vụ tai nạn lao động với nhiều người chết và bị thương Ví dụ như trong ngành khai thác than, theo
Trang 7báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), năm 2013, ngành than đã xảy ra 26 vụ tai nạn lao động, làm chết 30 công nhân Trong những ngày làm việc đầu tiên năm 2014, một vụ tai nạn lao động đã bất ngờ xảy ra tại Công ty TNHH MTV Than Đồng Vông làm 6 công nhân thiệt mạng và 1 công nhân bị thương nặng Đây là một trong số những vụ TNLĐ có
số người chết cao nhất của ngành than
-Trong năm 2015 trên toàn quốc đã xảy ra 7.620 vụ tai nạn lao động, làm 7.785 người bị nạn, trong đó 629 vụ tai nạn lao động chết người, có 666 người chết, 1.704 người bị thương nặng (theo thông báo Tình hình tai nạn lao động năm
2015 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ) Trong đó:
+ Lĩnh vực xây dựng chiếm 35,2% tổng số vụ tai nạn chết người và 37,9% tổng số người chết;
+ Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 8,8 % tổng số vụ chết người và 8,1% tổng số người chết;
+ Lĩnh vực dịch vụ chiếm 7,1% tổng số vụ chết người và 6,8% tổng số người chết;
+ Lĩnh vực dịch vụ vận tải và bốc xếp hàng hóa chiếm 5,9% tổng số vụ chết người và 6,1% tổng số người chết;
+ Lĩnh vực khai thác khoáng sản chiếm 5,5% tổng số vụ chết người và 6,9% tổng số người chết;
=>Lĩnh vực khai thác khoáng sản là một trong các lĩnh vực có số vụ tai nạn và người chết cao Và số người mắc BNN trong ngành này cũng chiếm tỷ lệ lớn hơn 70% trên 30 BNN tại Việt Nam, trong đó chủ yếu là bệnh bụi phổi Silic, bụi phổi than Tóm lại, người lao động làm nghề khai khoáng vừa phải đối mặt với ô nhiễm, thậm chí là nguy hiểm cả tính mạng Trong khi đó, người sử dụng lao động đã không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn, không huấn luyện – đào tạo, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động Lao động trong ngành này thường có hợp đồng ngắn hạn, thời vụ, xuất thân từ nông thôn thiếu kỹ năng làm việc và kỉ luật lao động thấp
2.2 Nguyên nhân xảy ra TNLĐ và BNN:
- Điều kiện lao động xấu không đảm bảo an toàn, nhiều nguy cơ dẫn đến TNLĐ và BNN: Người lao động làm việc trong các công trường khai thác luôn
Trang 8bị các nguy cơ gây TNLĐ và BNN rình rập như: Sạt, lở đất đá; điều kiện thời tiết khắc nghiệt: mưa, bão, nắng nóng, ngập lụt và môi trường lao động bị ô nhiễm bởi khói, bụi, tiếng ồn, rung, lắc…
- Tình hình vi phạm các qui định của Nhà nước về AT,VSLĐ trong khai thác còn rất phổ biến: những quy định của Nhà nước; Pháp luật về AT,VSLĐ trong khai thác khoáng sản đã được nêu rõ trong nhiều văn bản luật như: Bộ luật Lao động, Luật khoảng sản, Luật Bảo vệ môi trường Tuy nhiên việc thực hịên các quy định đó ở nhiều đơn vị, cơ sở khai thác chưa nghiêm, nhất là các đơn vị khai thác với khối lượng nhỏ (dưới 100.000m3/ năm) và thời gian khai thác ngắn (dưới 5 năm) Hiện tượng vi phạm phổ biến là: khai thác không có giấy phép; công nghệ khai thác, tổ chức và biện pháp khai thác thường không tuân thủ các qui định về kỹ thuật và AT,VSLĐ
-Nguyên nhân dẫn đến tai nạn chết người do người sử dụng lao động chiếm 52,8% ( năm 2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội )
mình Một trong các nguyên nhân chính gây ra bệnh bụi phổi silic, bụi phổi than là do người lao động không được trang bị khẩu trang lọc bụi, khẩu trang chống độc Trong khai thác khoáng sản người lao động thường xuyên tiếp xúc với các thiết bị có công suất lớn, tiếng ồn rung lắc mà máy gây ra rất mạnh nhưng người lao động lại không được trang bị thiết bị chống ồn như tai nghe, nút tai là nguyên nhân dẫn đến gần 20% lao động trong ngành này mắc bệnh
Trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp tư nhân người sử dụng lao động đã cắt giảm việc trang bị các PTBVCN để đảm bảo lợi nhuận +Do người sử dụng lao động trang bị PTBVCN kém chất lượng, cũ kỹ không đảm bảo an toàn và yêu cầu cho người lao động (các PTBVCN không có nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng không đảm bảo) Điều này cho thấy sự vô trách nhiệm của các doanh nghiệp, người sử dụng lao động đối với người lao động; vì họ chỉ quan tâm tới lợi ích trước mắt, mà không hề quan tâm tới sức khỏe và sự an toàn của những người công nhân
+Người sử dụng lao động thiếu trách nhiệm trong việc trang bị PTBVCN cho người lao động, hoặc nếu PTBVCN bị hỏng, không có trách nhiệm cấp phát lại Việc cấp phát PTBVCN có công dụng bảo vệ chưa phù hợp với người lao động Trước khi cấp phát chưa kiểm tra lại chất lượng, không định kỳ kiểm tra
Trang 9trong quá trình người người lao động sử dụng và ghi sổ theo dõi các PTBVCN chuyên dùng có đảm bảo được độ an toàn cao hay không
- Nguyên nhân từ phía người lao động chiếm 18,9%( năm 2015 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội )
+Người lao động làm trong nghề khai khoáng thường có trình độ thấp nên nhận thức của họ về tầm quan trọng của việc sử dụng PTBVCN khi làm việc trong môi trường có tính độc hại chưa cao, không ý thức được việc không mang PTBVCN sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏa của mình như thế nào
+Ý thức chấp hành nội quy của doanh nghiệp về trang bị PTBVCN không tốt: nhiều người lao động đã không mang những thiết bị bảo vệ cá nhân lên người
vì thấy vướng khó chịu, hoặc thấy khi mang vào hiệu quả làm việc không cao
+Một số PTBVCN không đảm bảo tính thẩm mỹ, không phù hợp với sở thích của người lao động Hoặc khi được trang bị PTBVCN thì người lao động chỉ mang khi có mặt người sử dụng lao động, mang với hình thức đối phó
- Một trong các nguyên nhân dẫn đến TNLĐ, đến từ phía cơ quan Quản lý Nhà nước: Họ thiếu trách nhiệm trong khâu kiểm tra quản lý chất lượng PTBVCN cho người lao động không được rõ ràng, công khai Do đó, rất nhiều doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp tư nhân sử dụng rất nhiều PTBVCN không có trong danh mục nghề, chưa được đăng kí sử dụng, hoặc những thiết bị hết hạn
sử dụng không đảm bảo an toàn => khi những thiết bị này được sử dụng tràn nan, thì việc dẫn đến TNLĐ là rất cao, tăng mức độ nguy hiểm Các cơ quan Quản lý Nhà nước vẫn chưa thực hiện tốt khâu kiểm tra đôn đốc thực thi pháp luật về trang bị PTBVCN ở tại các doanh nghiệp, tổ chức
- Một số nhận xét:
+Những mặt tích cực: Người sử dụng lao động đã dần nhận thấy trách nhiệm của mình trong việc đảm bảo an toàn, và trang bị PTBVCN cho người lao động Bắt đầu quan tâm, thực hiện nghiêm túc các thông tư hướng dẫn, luật pháp về trang bị PTBVCN cho người lao động
Các cơ quan quản lý nhà nước đã đưa ra nhiều thông tư, nghị định hướng dẫn thực hiện quy định về trang bị PTBVCN cho người lao động Quá trình kiểm tra cũng đã được siết chặt hơn trước, các khâu cấp phép hoạt động cho các
Trang 10doanh nghiệp khai khoáng cũng được quan tâm - giám sát - thanh tra nếu đủ điều kiện mới được cấp phép hoạt động
Người lao động cũng dần nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo
vệ an toàn tính mạng cho chính bản thân; việc thực hiện nội quy, quy định của công ty về trang bị PTBVCN
+Những mặt hạn chế: Tốc độ phát triển ngành khai thác khoáng sản ngày càng lớn nhưng không đi kèm với công tác trang bị PTBVCN tốt, hợp lý khiến số người chết vì TNLĐ trong ngành khai khoáng tăng một cách đáng báo động trong mấy năm gần đây
Với tốc độ phát triển như vậy, ngành khai khoáng được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, và đang tạo ra một một khối lượng việc làm lớn, giải quyết nhu cầu việc làm cho hàng triệu lao động, đặc biệt là lao động phổ thông
từ các vùng nông thôn Tuy nhiên, việc chủ các doanh nghiệp khai khoáng đang sử dụng rất nhiều lao động phổ thông thời vụ chính là điểm mấu chốt khiến tai nạn lao động tăng cao Do vậy mà người lao động không được quan tâm trang bị PTBVCN đảm bảo an toàn lao động, không có bảo hiểm
Hệ thống chính sách pháp luật hiện hành còn lạc hậu, chưa phù hợp với thực
tế, tồn tại nhiều bất cập, còn phân tán và chồng chéo; chưa có hướng dẫn về hoạt động tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật và phòng ngừa TNLĐ trong các ngành có nguy cơ cao (xây dựng, khai thác khoáng sản và hóa chất) Từ đó, làm cho các cán bộ quản lý thanh tra khó khăn trong việc thực hiện tốt công việc của mình Người sử dụng lao động đôi khi vì lợi nhuận mà đánh đổi sự an toàn hay chính tính mạng của người lao động bằng những phương tiện, thiết bị lạc hậu không đảm bảo sự an toàn
2.3 Một số ví dụ minh họa về chế độ trang bị PTBVCN tại một số đơn vị sản
xuất
công nhân viên đều được cấp phát quần áo đồngphục ( mùa đông và mùa hè theo từng số đo riêng ) và giầy, mũ bảo hộ, khẩu trang, kính, xà phòng vv ở những vị trí đặc thù còn được trang bị quần áo chống cháy chịu được nhiệt độ cao Đăng ký kiểm định các thiết bị, máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt về