1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỚI CƠ SỞ LỊCH SỬ: HỆ THỐNG BẢN ĐỒ VIỆT NAM, TRUNG QUỐC, CÁC QUỐC GIA TỔ CHỨC PHƯƠNG TÂY LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ QUYỀN HOÀNG SA TRƯỜNG SA

8 306 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỚI CƠ SỞ LỊCH SỬ: HỆ THỐNG BẢN ĐỒ VIỆT NAM, TRUNG QUỐC, CÁC QUỐC GIA TỔ CHỨC PHƯƠNG TÂY LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ QUYỀN HOÀNG SA TRƯỜNG SALUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỚI CƠ SỞ LỊCH SỬ: HỆ THỐNG BẢN ĐỒ VIỆT NAM, TRUNG QUỐC, CÁC QUỐC GIA TỔ CHỨC PHƯƠNG TÂY LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ QUYỀN HOÀNG SA TRƯỜNG SALUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỚI CƠ SỞ LỊCH SỬ: HỆ THỐNG BẢN ĐỒ VIỆT NAM, TRUNG QUỐC, CÁC QUỐC GIA TỔ CHỨC PHƯƠNG TÂY LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ QUYỀN HOÀNG SA TRƯỜNG SALUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỚI CƠ SỞ LỊCH SỬ: HỆ THỐNG BẢN ĐỒ VIỆT NAM, TRUNG QUỐC, CÁC QUỐC GIA TỔ CHỨC PHƯƠNG TÂY LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ QUYỀN HOÀNG SA TRƯỜNG SA

Trang 1

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỚI CƠ SỞ LỊCH SỬ:

HỆ THỐNG BẢN ĐỒ VIỆT NAM, TRUNG QUỐC,

CÁC QUỐC GIA - TỔ CHỨC PHƯƠNG TÂY LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ QUYỀN HOÀNG SA - TRƯỜNG SA

Trần Mỹ Hải Lộc

(Sinh viên năm 3, Khoa Lịch sử)

GVHD: TS Lê Huỳnh Hoa

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, tình hình căng thẳng về những tranh chấp trên Biển Đông đã xảy ra đe dọa trực tiếp đến tình hình hòa bình của khu vực nói riêng và thế giới nói chung Việc Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa và triển khai quân đội tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã vi phạm nghiêm trọng đến chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam và Luật Biển 1982

Gần đây, những tấm bản đồ của Việt Nam, Trung Quốc, các quốc gia - tổ chức phương Tây từ xa xưa được phát hiện và công bố đã góp phần quan trọng để Việt Nam khẳng định chủ quyền biển, đảo của mình Do đó, việc tìm hiểu hệ thống bản đồ nói trên kết hợp với những quy định của Luật Quốc tế là một trong những cơ sở khoa học

và thực tế nhằm xác định cơ sở lịch sử, cơ sở pháp lí về quyền chiếm hữu cũng như khai thác lâu dài của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa Đây là việc làm cần thiết

để có cơ sở đấu tranh ngoại giao song phương và đa phương nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo cũng như hợp tác vì an ninh và phát triển tại khu vực Biển Đông

1.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở pháp lí của hệ thống bản đồ hành chính củaViệt Nam, Trung Quốc và các tổ chức địa lí, quốc gia phương Tây phát hành từ trước thế kỷ XX có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đề tài đi sâu nghiên cứu những

tư liệu bản đồ đã được công bố trong quá trình lịch sử và hiện tại

- Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là cơ sở lịch sử và luật pháp quốc tế của hệ thống bản đồ Việt Nam, Trung Quốc và các quốc gia, tổ chức địa lí phương Tây liên quan đến chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp nghiên cứu, bài viết được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận lịch sử và phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử kết hợp cùng phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp nghiên cứu và phân tích bản đồ học

2 Phần nội dung

Trang 2

2.1 Những vấn đề chung liên quan đến đề tài

Liên quan đến chủ đề nghiên cứu có những vấn đề sau cần được xác định làm rõ: Thứ nhất: Giá trị pháp lí và giá trị sử liệu của bản đồ hành chính,

Thứ hai: Luật pháp Quốc tế về chủ quyền lãnh hải,

Thứ ba: Cơ sở lịch sử và pháp lí về tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường

Sa

Bản đồ được dùng để chứng minh chủ quyền của một quốc gia nên khi nghiên cứu hệ thống bản đồ nói trên, cần làm rõ 3 giá trị quan trọng mà bản đồ có được, đó là:

- Tính giá trị pháp lí: Bởi vì dưới góc độ Công pháp quốc tế, nếu bản đồ được xây dựng bởi một chính quyền, được xuất bản và phát hành chính thức bởi một cơ quan nhà nước có thẩm quyền của chính quyền đó, bản đồ này có giá trị pháp lí cao nhất thể hiện chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia Đó là những tài liệu mang tính chất nhà nước

- Tính khọc học: Bởi vì theo cách hiểu được cộng đồng khoa học nhất trí, một qui định, phát biểu hay bản đồ được xem là khoa học nếu hội đủ ít nhất là 3 điều kiện: dữ liệu thật, công bố trước công chúng,và tính tái xác định Và bản đồ thể hiện đầy đủ cả

ba tính chất trên

- Giá trị lịch sử: Bởi vì chỉ có cơ sở lịch sử với giá trị sử liệu cao mới cho thấy quyền chiếm hữu khai thác và sử dụng của một quốc gia với biển đảo của mình trong quá trình lịch sử một cách rõ ràng, chính xác và thuyết phục

Theo chủ đề nghiên cứu, để xác định chủ quyền quốc gia, công trình này dựa vào Công ước Biển năm 1982, lấy đó làm kim chỉ nam; Luật Biên giới quốc gia năm 2003 của Việt Nam và Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12 tháng 5 năm 1977 Khái quát và nêu ra phương pháp xác định ngắn gọn về “nội thuỷ”, “lãnh hải”, “vùng đặc quyền kinh tế”, “thềm lục địa”, “đáy biển quốc tế”, “chế độ pháp lí của đảo” Để từ đó là cơ sở đối chiếu với các bản đồ cũng như vị trí địa lí hiện tại của 2 Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và phù hợp với Luật Biển 1982

Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng một số các văn bản ngoại giao có liên quan đến chủ quyền của 2 quần đảo này vì nó liên quan đến yếu tố công luận của quốc tế trong việc chiếm hữu quần đảo này từ trong lịch sử và không bị phản đối bởi các quốc gia nào Nội dung cuối cùng là khái quát về yếu tố địa – chính trị và quá trình tranh chấp trong lịch sử ở Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc

2.2 Luật pháp quốc tế với cơ sở lịch sử: Hệ thống bản đồ Việt Nam, Trung Quốc, các quốc gia - tổ chức phương Tây liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa

Xét theo vị trí địa lí của 2 Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa theo luật pháp Quốc

tế thì:

Trang 3

- Quần đảo Trường Sa cách Vũng Tàu 305 hải lí, cách Cam Ranh là 250 hải lí, cách đảo Phú Quốc 240 hải lí, cách Bình Thuận 270 hải lí, cách Đài Loan 960 hải lí

- Quần đảo Hoàng Sa có nghĩa là "cát vàng" cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) của Việt Nam khoảng 200 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 km Trong lịch sử, quần đảo này mang tên là Bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng

Tại quần đảo Trường Sa, có rất nhiều các bãi đá ngầm và do ngầm nên không có người sinh sống và không thể được xem là đảo được… Nên lợi dụng việc thuỷ triều xuống, Trung Quốc cho đắp cát, xi măng, cốt thép lên để biến thành đảo nổi và cắm mốc chủ quyền Sau đó, đòi chủ quyền cả hai Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa là điều

vô lí và trái với Luật pháp quốc tế

Do đó, đối chiếu với trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, theo tập quán pháp lí phương Tây lúc bấy giờ, sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này là một sự thật thể hiện bằng các hành động cụ thể về sự quản lí, chỉ đạo của các Nhà nước Việt Nam đương thời một cách nhất quán, liên tục, hoà bình phù hợp với cơ sở pháp lí quốc tế đương thời Sau đó, chủ quyền của Việt Nam tiếp tục được khẳng định dựa trên các cơ sở pháp lí quốc tế có giá trị phổ biến là Tuyên bố của Viện Pháp luật Quốc tế Lausanne năm 1888, Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Công ước về Luật Biển 1982 mà các thành viên ký kết kể cả những nước đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều phải tôn trọng và thực thi

Đối với hệ thống bản đồ của Việt Nam, hai quần đảo này được ghi rõ trên Ðại

Nam nhất thống toàn đồ, vẽ năm 1834, triều Minh Mạng – “Đại Nam Nhất thống toàn đồ” được đăng tải trên trang website của Ủy ban Biên giới - Quốc gia Đây là tài liệu chính thống do nhà nước công khai và đã được thẩm định rõ ràng trong suốt chiều dài lịch sử để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại 2 Quần đảo này Dưới hai tên Hoàng Sa (màu vàng trên bản đồ) và Vạn Lí Trường Sa (màu xanh trên bản đồ) Điều này chứng minh rằng Đại Nam nhất thống toàn đồ phân biệt rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa Ngoài ra

“Bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ” còn liệt kê

ra khoảng 92 địa danh đương thời Riêng hình vẽ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Vạn lí Trường Sa thì vẽ giống hệt các bản đồ Tây phương trong 4 thế kỷ XVI – XVII – XVIII – XIX và vị trí 2 Quần đảo này đặt sát bờ biển Quảng Nam – Khánh Hòa hơn Chúng ta chưa hề thấy một bản đồ thế giới nào ghi bờ biển Paracel là ở nam Trung Hoa, ở Phi Luật Tân hay ở Mã Lai Bản đồ chính thức của Việt Nam Đại Nam nhất

Trang 4

thống toàn đồ hoàn toàn thống nhất với các bản đồ thế giới trong suốt 5 thế kỷ qua, chủ yếu về vị trí địa lí của Hoàng Sa – Trường Sa

Đối với hệ thống bản đồ Trung Quốc, “Trung Hoa bưu chính dư đồ” do Tổng cục Bưu chính, thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào

năm 1933 Hình được lấy từ trang website của Viện Văn hoá và giáo dục Việt Nam

Bản đồ này được phát hành dưới sự trợ giúp của Tổng cục Bưu chính của nhà Thanh Triều Do đó bản đồ mang danh nghĩa là quốc gia ban hành để quản lí đất nước Bản đồ không chỉ có giá trị pháp lí cao mà còn có tính giá trị lịch sử

để xác định chủ quyền cương vực của quốc gia đó Bản đồ này xuất bản ở các nước Anh, Ðức, Úc, Canada, Mỹ và Hong Kong giai đoạn 1626 – 1980 Điều đáng chú ý trong những bản đồ trên là: đảo Hải Nam là điểm cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc Tất cả những bản đồ này đều được cơ quan nhà nước của Trung Quốc lúc bấy giờ lưu hành chính thức nên được coi là tài liệu mang tính chất quốc gia Do vậy có thể hiểu: trong lịch sử, Trung Quốc chưa hề xác lập chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa Những bản đồ hành chính Trung Quốc từ đời Tống đến đời Thanh mà ngày nay còn tìm thấy đã khẳng định giới hạn cực Nam lãnh thổ Trung Quốc đời nào cũng là đảo Hải Nam Bản đồ Trung Quốc đề cập ở trên đều là bằng chứng chứng minh một sự thật khách quan: Các quần đảo ở Biển Đông (Nam Hải) chưa bao giờ là lãnh thổ Trung Quốc Vì thế mà cương giới cực Nam của Trung Quốc trong các bản đồ này luôn chỉ giới hạn lãnh thổ Trung Quốc đến đảo Hải Nam là kết thúc, mà không hề thể hiện gì đến Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Điều này chứng tỏ rằng cho đến khi nhà Thanh phát hành bản đồ này vào năm 1908 và sau này chính quyền Trung Hoa dân quốc tái bản vào các năm 1919 và 1933, thì hai quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa của Việt Nam vẫn nằm ngoài cái gọi là “chủ quyền lịch sử” phi pháp của Trung Quốc

Đối với hệ thống bản đồ mang tính khách quan và quan trọng là của các quốc gia - tổ chức phương Tây Nhìn vào bản đồ

“Petroleum News SE Asia, Hong Kong” năm 1979 Hình được lấy

từ trang website của Viện Văn hoá

và Giáo dục Việt Nam Bản đồ dầu khí Trung Quốc cũng do phương Tây vẽ năm 1979 (tức thế kỷ 19)

Trang 5

không hề có Hoàng Sa, Trường Sa Bản đồ này do Phương Tây vẽ Một số nhà hàng hải

- các tổ chức địa lí phương Tây mặc dù không phải là đại diện cho một chính quyền, một quốc gia nào đó, nhưng với vị thế của họ tại thời khắc lịch sử đó, việc họ thể hiện trên bản đồ là khách quan và trung thực Chúng ta dễ dàng nhận thấy được lãnh thổ Trung Quôc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam Những khu vực không thuộc lãnh thổ Trung Quốc thì đương nhiên không được thể hiện trên bản đồ Điều đó hoàn toàn chứng minh chủ quyền hai Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam và chưa từng thuộc của Trung Quốc, do đó mặc dù Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa nhưng điều đó không thể chứng minh chủ quyền của Trung Quốc được Bởi lẽ trong lịch sử, Hoàng Sa chưa hề thuộc chủ quyền của Trung Quốc Trong bài nghiên cứu còn đính kèm thêm các bản đồ của các quốc gia - tổ chức Phương Tây đều vẽ bản đồ lãnh thổ của Trung Quốc chỉ giới hạn lại đảo Hải Nam, và không nêu bất kì thông tin gì thêm về Hoàng Sa - Trường Sa

Tóm lại, tất cả các hệ thống bản đồ hành chính của Việt Nam, Trung Quốc, các quốc gia - tổ chức Phương Tây đều chứng minh cùng một kết luận Cực Nam cuối cùng của Trung Quốc dừng tại đảo Hải Nam Khi xét đến bản đồ, thì bên thứ ba được xem là

có gái trị cao vì nó thể hiện tính khách quan và độ chính xác cao Trong trường hợp chủ quyền của Việt Nam về hai Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thì cả ba bên: Việt Nam, Trung Quốc, phương Tây đều chứng minh được chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo đó Điều đó góp phần chứng minh được đường lưỡi bò của Trung Quốc hoàn toàn không có giá trị, và các bản đồ hiện đại của Trung Quốc miêu tả rằng hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thuộc Trung Quốc là vô giá trị, vi phạm luật quốc tế và xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam

2.3 Chứng minh sự vô lí của Trung Quốc về yêu sách “đường lưỡi bò” theo luật quốc tế

“Đường lưỡi bò” hay “đường chữ U ” đều là cách gọi khác nhau của các học giả trên thế giới để chỉ ra yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực Biển Đông “Đường lưỡi bò” này ban đầu thật chất có 11 đoạn, và được chính quyền Trung Hoa Dân Quốc

vẽ vào năm 1947 và sau đó được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tiếp tục sử dụng nhưng đã bỏ bớt đi 2 đoạn - đây chính là khu vực của Vịnh Bắc Bộ và ngày đã ký được Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000 Đường đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc không phải là một con đường có tính ổn định và xác định Từ 11 đoạn nó đã phải

bỏ đi 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ vì quá vô lí Tính chất không liên tục của đường này được các tác giả Trung Quốc giải thích để cho “những điều chỉnh cần thiết trong tương lai” Một con đường như vậy rõ ràng không thể nào lại được coi là “biên giới quốc gia” theo luật pháp quốc tế

Theo luật pháp quốc tế đương đại thì một đường đòi hỏi không rõ ràng đối với một vùng biển rộng lớn như vậy thì không thể nào được coi là hợp pháp được Trung Quốc đã giải thích bản đồ này được vẽ từ năm 1947, tuy nhiên thời điểm này luật quốc

tế chỉ mới công nhận lãnh hải chỉ có 3 hải lí thì Trung Quốc lại có yêu sách toàn bộ

Trang 6

Biển Đông? Như vậy, xét theo cả hai góc độ Luật biển 1982 hay luật pháp quốc tế đương đại thời điểm đó đều chứng minh sự vô lí của đường lưỡi bò

Dựa vào bản đồ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc kết hợp cùng Công ước Luật Biển 1982, yêu sách đó vô lí và không có giá trị, bởi vì trong suốt quá trình lập pháp của mình, Trung Quốc hoàn toàn không có bất kì tuyên bố nào khẳng định yêu sách “đường lưỡi bò” của mình, đồng thời Trung Quốc lại vẽ một cách mơ hồ và không có toạ đồ chính xác Điều này là không phù hợp quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, không phù hợp với cách vẽ bản đồ chuẩn quốc tế

Do đó, chiếu theo Luật Biển 1982 thì “đường lưỡi bò” không những vô giá trị mà còn vi phạm nghiêm trọng đến công ước này Từ việc xác định đường cơ sở, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế… như thế nào thì trong Công ước Luật Biển 1982 đều quy định rõ ràng Do đó đường lưỡi bò hoàn toàn không có giá trị pháp lí và sai sự thật Ngoài ra sự phi lí của đường lưỡi bò dựa trên các bản đồ hành chính của Việt Nam, Trung Quốc và các tổ chức ở phương Tây được thể hiện rõ, bởi vì:

- Thứ nhất, các bản đồ lịch sử của Việt Nam và kể cả Trung Quốc đều chứng minh rằng hai Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và phía Trung Quốc không hề đề cập đến vấn đề hai Quần đảo này Xét về các bản đồ lịch sử- hành chính của Việt Nam thì trong suốt chiều dài lịch sử, hai Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa luôn gắn liền với chủ quyền của Việt Nam và đó là lãnh thổ thiêng liêng của

cả dân tộc Còn vể phía Trung Quốc, tấm bản đồ cổ nhất vào năm 1904 "Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ" là cơ sở pháp lí không thể chối cãi bởi vì điểm giới hạn cực nam cũng chỉ đến đảo Hải Nam và không thể hiện đường lưỡi bò hay hiển thị hai quần đảo trên nằm trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc Việt Nam hoàn toàn đủ cơ sở pháp lí để kiện Trung Quốc nếu xâm phạm đến Trường Sa – Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Nếu Trung Quốc không chấp nhận bằng chứng này tức là phản lại tổ tiên họ Thêm một minh chứng nữa là bản đồ dầu khí do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa xuất bản năm 1975 và được Hoa Kì tái bản năm 1980 chỉ giới hạn cực nam Trung Quốc đến đảo Hải Nam mà không hề có "đường lưỡi bò" hay Hoàng Sa, Trường Sa Một bản đồ chính thống của Trung Quốc về tài nguyên năng lượng, đặc biệt là về dầu khí và than, của nước này cũng không hề có Hoàng Sa, Trường Sa như họ đòi hỏi chủ quyền bằng "đường lưỡi bò" hết sức phi lí hiện nay.Các văn kiện chính thức của nhà

nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên nhất thống chí (1294), đến Đại Thanh nhất thống chí (1842) đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai

huyện, đảo Hải Nam” và điều này được thể hiện qua hàng loạt các bản đồ hành chính của Trung Quốc và kể cả phương Tây cũng ghi nhận lại điều này

- Thứ hai, áp dụng bản đồ của bên thứ ba để tăng tính thuyết phục, hàng loạt các bản đồ hàng hải của công ty Đông Ấn, của Hà Lan, của Anh đều thể hiện rằng vị trí cực nam cuối cùng của Trung Quốc dừng lại tại đảo Hải Nam, không thế hiện đường lưỡi

bò trên đó, và cũng không xác định hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thuộc Trung Quốc

Trang 7

Một điều vô lí được thể hiện bởi chính Trung Quốc khi công bố rằng đường lưỡi

bò được vẽ vào năm 1947, như vậy tại sao tại hội nghị San Francisco, phía đại diện Trung Quốc không phản bác lại khi phía Việt Nam tuyên bố chủ quyền một lần nữa về hai quần đảo này Và tại sao khi phê chuẩn Công ước Luật Biển 1982, Trung Quốc không đưa ra ý kiến Đặc biệt, bản đồ dầu khí của Trung Quốc đã âm thầm tố cáo chính Trung Quốc khi nó được vẽ và công bố vào năm 1979, vậy câu hỏi đặt ra ở đây rằng: Nếu Trung Quốc đã công khai đường lưỡi bò 1947 rồi thì tại sao trong bản đồ dầu khí của lãnh thổ Trung Quốc vào năm 1979 không thể hiện đường lưỡi bò đó? Do đó cho thấy rằng kết hợp với hệ thống bản đồ hành chính Việt Nam, Trung Quốc, các quốc gia

và tổ chức phương Tây đã bác bỏ bản đồ “đường lưỡi bò” của Trung Quốc và tất cả càng làm tăng tính pháp lí của Việt Nam, khi tất cả các sử liệu, bản đồ cổ cho đến hiện đại đều thể hiện rằng Hoàng Sa - Trường Sa thuộc Việt Nam

3 Kết luận

Dựa trên hệ thống bản đồ lịch sử của Việt Nam, Trung Quốc, các quốc gia và các

tổ chức địa lí của Phương Tây đã được công bố và sưu tập, kết hợp cùng với luật pháp quốc tế - mà ở đây áp dụng là Công ước Luật Biển của Liên Hiệp Quốc, sẽ là một trong những lợi thế lớn để Việt Nam có thể giải quyết tranh chấp chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Bởi vì bản đồ mang tính chất pháp lí, bản thân nó có tính khoa học và được xem là tư liệu lịch sử nên khi giải quyết tranh chấp đương nhiên bản đồ sẽ trở thành bằng chứng để chứng minh chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam Tất cả các bản đồ, dù là Việt Nam hay Trung Quốc và kể cả những tổ chức địa lí phương Tây đều xác định rõ điểm cuối cùng của lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam

và thực tế chính Trung Quốc cũng đã công nhận trong lịch sử Tuy nhiên từ năm 1947 cho đến nay, Trung Quốc lại áp dụng “đường lưỡi bò” để thực hiện yêu sách của mình tại Biển Đông là điều hoàn toàn không có cơ sở và vi phạm nghiêm trọng đến Công ước 1982 Với những phân tích trên kèm theo phân tích từ hệ thống bản đồ, đã chứng minh lí lẽ của Việt Nam mạnh hơn Trung Quốc, vì Việt Nam đã sử dụng hai quần đảo này liên tục trong ba thế kỷ, sử dụng một cách hoà bình mà không có bất kì quốc gia nào phản đối kể cả Trung Quốc

Giải pháp hiện thời và thực tiễn nhất là đem ra khối ASEAN hoặc Liên Hiệp Quốc để giải quyết Liên Hiệp Quốc là giải pháp có thể hữu hiệu hơn, vì đem ra cơ quan này có tính cách khoảng đại, cho phép Mỹ, Nga, Nhật Bản và các quốc gia khác tham dự vào Hơn nữa, trường hợp Liên Hiệp Quốc không giải quyết được hoặc nếu có vấn đề vẫn không thể giải quyết được thì có thể mang ra Toà án Quốc tế và yêu cầu Toà cho ý kiến mà không cần nhất thiết phải có ý kiến chấp thuận của các quốc gia Thủ tục cho ý kiến của Toà không phải là một bản án bắt buộc các bên phải thực hiện nhưng nó lại tác động rất mạnh đến dư luận của thế giới Cuộc tranh chấp hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cần phải giải quyết càng sớm càng tốt Để càng lâu, nó càng đe doạ đến sự hoà bình của khu vực Đông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Văn Kết, Lê Huỳnh Hoa (2012), Vai trò của tài liệu lưu trữ dưới góc nhìn của Luật pháp quốc tế trong việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa - Trường

Sa, Tạp chí Văn thư lưu trữ Việt Nam

2 Nguyễn Việt Long (2012), Lẽ phải – Luật quốc tế và chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb Trẻ, TPHCM

3 Lưu Văn Lợi (1995), Cuộc tranh chấp Việt- Trung về hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

4 Monique Chemillier- Gendreau (1998), Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa, Nguyễn Hồng Thao dịch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

5 Nguyễn Nhã (2002), Quá tình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, luận án tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn TPHCM

6 Nhiều tác giả (2009), Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lí: Hoàng Sa - Trường Sa

là của Việt Nam, Nxb Trẻ, TPHCM

7 Nhiều tác giả (1975), Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb Tri thức, Hà Nội

8 Nguyễn Quang Thắng (2009), Hoàng Sa- Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, Nxb Tri thức, Hà Nội

Ngày đăng: 24/11/2016, 00:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w