1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC

197 454 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 3,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Mã số: B2013 - TN04 - 02

Chủ nhiệm đề tài: TS Hà Thị Kim Linh

THÁI NGUYÊN, NĂM 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Mã số: B2013 - TN04 - 02

Xác nhận của tổ chức chủ trì

(ký, họ tên, đóng dấu)

Chủ nhiệm đề tài

TS Hà Thị Kim Linh

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 3

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1

1.1 Ở nước ngoài 1

1.2 Những nghiên cứu trong nước 3

2 Tính cấp thiết của đề tài 9

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 10

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 11

4.1 Đối tượng nghiên cứu 11

4.2 Khách thể nghiên cứu 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

6 Cách tiếp cận 11

7 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 12

8 Phương pháp nghiên cứu 12

Phần 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH THCS NGƯỜI DTTS 13

1.1 Những khái niệm cơ bản của đề tài 13

1.1.1 Bảo tồn 13

1.1.2 Bảo tồn tiếng DTTS 14

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn tiếng dân tộc 19

1.3 Mối quan hệ giữa tiếng dân tộc và văn hóa 22

1.3.1 Tiếng dân tộc - đặc trưng văn hóa tộc người 22

1.3.2 Tiếng dân tộc trong xu thế phát triển văn hóa hiện nay 24

1.4 Giáo dục bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh là người DTTS ở trường THCS 27

1.4.1 Đặc điểm HS THCS người DTTS 27

Trang 4

1.4.2 Mục tiêu giáo dục bảo tồn tiếng DTTS 28

1.4.3 Nhu cầu bảo tồn tiếng DT cho học sinh người DTTS 28

1.4.4 Nội dung, hình thức bảo tồn tiếng DTTS cho học sinh THCS 30

1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh THCS người DTTS 36

1.5.1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS 36

1.5.2 Chính sách giáo dục ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước 37

1.5.3 Về phía cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên 37

1.5.4 Cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội 38

Kết luận chương 1 38

Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 40

2.1 Khái quát về địa bàn khảo sát 40

2.2 Mục đích, nội dung, phương pháp và đối tượng khảo sát 40

2.2.1 Mục đích khảo sát 40

2.2.2 Nội dung khảo sát 40

2.2.3 Phương pháp khảo sát 41

2.2.4 Đối tượng khảo sát 41

2.3 Kết quả khảo sát 43

2.3.1 Thực trạng nhận thức về bảo tồn tiếng DTTS cho HS THCS 43

2.3.2 Thực trạng 66

2.2.3 Thực trạng khó khăn trong bảo tồn tiếng DTTS 80

Kết luận chương 2 82

Chương 3 BIỆN PHÁP BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH NGƯỜI DTTS TRONG NHÀ TRƯỜNG THCS 83

3.1 Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp 83

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 83

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 83

Trang 5

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng giáo dục 83

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 84

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 84

3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 84

3.2 Biện pháp giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh người DTTS ở trường THCS 85

3.2.1 Hoàn thiện điều kiện pháp lý phục vụ bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh người DTTS 85

3.2.2 Tổ chức sinh hoạt chuyên đề cho giáo viên theo hướng tiếp cận nội dung bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh THCS là người DTTS 86

3.2.3 Đổi mới hình thức tổ chức HĐGD theo hướng tích hợp nội dung giáo dục bảo tồn tiếng tiếng dân tộc cho HS 89

3.2.4 Xây dựng mô hình kết nối giữa bảo tồn tiếng dân tộc và trải nghiệm văn hóa ngôn ngữ cho HS người DTTS 91

3.2.5 Truyền thông bảo tồn tiếng DTTS cho học sinh người DTTS 93

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 95

3.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 95

Kết luận chương 3 98

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99

1 Kết luận 99

2 Khuyến nghị 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤC LỤC 01 105

PHỤ LỤC 02 168

PHỤ LỤC 03 180

PHỤ LỤC 04 186

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DT : Dân tộc DTTS : Dân tộc thiểu số

GD : Giáo dục

HS : Học sinh HSDTTS : Học sinh dân tộc thiểu số THCS : Trung học cơ sở

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Nhận thức về phạm trù “Bảo tồn tiếng dân tộc thiểu số” 43

Bảng 2.2 Nhận thức về bảo tồn tiếng DT của HS người DTTS 44

Bảng 2.3 Nhận thức về vai trò của bảo tồn tiếng DTTS cho HS người DTTS 45

Bảng 2.4 Nhận thức về sự cần thiết của bảo tồn tiếng DTTS 45

Bảng 2.5 Nhận thức về ý nghĩa của bảo tồn và phát huy tiếng DTTScho HS THCS 46

Bảng 2.6 Nhận thức của học sinh người DTTS về ý nghĩa của bảo tồn tiếng DT 47

Bảng 2.7 Nhận thức về bảo tồn tiếng DTTS 48

Bảng 2.8 Thực trạng nhu cầu sử dụng tiếng DTTS trong giao tiếp của HS người DTTS 54

Bảng 2.9 Ý kiến của học sinh người DTTS về bảo tồn tiếng DTTS trong giai đoạn hiện nay 61

Bảng 2.10 Nhận thức cách thức bảo tồn tiếng DTTS cho HS 64

Bảng 2.11 Thực trạng khả năng giao tiếp bằng tiếng DTTS của GV 66

Bảng 2.12 Thực trạng sử dụng tiếng dân tộc trong giao tiếp của HS người DTTS 67

Bảng 2.13 Thực trạng sự quan tâm của nhà trường đối với việc phát huy tiếng DTTS 69

Bảng 2.14 Biện pháp phát huy tiếng dân tộc thiểu số trong nhà trường 72

Bảng 2.15a Thực trạng giao tiếp bằng tiếng DTTS của HS người DTTS 75

Bảng 2.15b Thực trạng giao tiếp bằng tiếng DTTS của HS người DTTS 76

Bảng 2.16 Thực trạng hoạt động triển khai trong trường học bảo tôn tiếng dân tộc cho HS người DTTS 78

Bảng 2.17 Những khó khăn trong bảo tồn tiếng DTTS cho HS 80

Bảng 3.1 Đánh giá về Sự cần thiết của các biện pháp 96

Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 97

Trang 8

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung

Tên đề tài: Bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ thông dân tộc thiểu số khu vực miền núi Phía Bắc

Mã số: B2013 - TN04 - 02

Chủ nhiệm đề tài: TS Hà Thị Kim Linh

Tổ chức chủ trì: Đại học Thái Nguyên

Thời gian thực hiện: 36 tháng (Từ 2013 - 2015)

2 Mục tiêu

Đề tài hướng vào việc phác họa thực trạng công tác bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh DTTS trong các trường học khu vực miền núi Phía Bắc, từ đó đề xuất được biện pháp bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ thông dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ở các vùng dân tộc đồng thời phát huy bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay

3 Tính mới và sáng tạo

Tiếp cận nghiên cứu vấn đề bảo tồn tiếng DTTS cho học sinh THCS trên cơ sở tiếp cận Giáo dục học, Văn hóa học

4 Kết quả nghiên cứu

Hệ thống được những nghiên cứu lý luận về bảo tồn tiếng DTTS cho học sinh người DTTS ở các trường THCS các tỉnh miền núi

Tổ chức khảo sát thực trạng vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc thiểu số trong các trường THCS các tỉnh miền núi Đông Bắc: Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Quảng Ninh

Đề xuất được 5 biện pháp bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh người DTTS khu

vực miền núi Phía Bắc: Truyền thông giáo dục bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh

THCS là người DTTS; Xây dựng được mô hình kết nối về văn hóa ngôn ngữ và trải nghiệm; Hoàn thiện những điều kiện pháp lý về giáo dục bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh người DTTS ở trường THCS; Tổ chức sinh hoạt chuyên đề cho giáo viên theo hướng tiếp cận nội dung bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh THCS người DTTS; Đổi mới hình thức tổ chức HĐGD theo hướng giáo dục bảo tồn tiếng dân tộc cho HS

người DTTS

Trang 9

5 Sản phẩm

5.1 Sản phẩm khoa học: 02 bài báo đăng trên tạp chí khoa học

1 Hà Thị Kim Linh - Chấu Thị Tráng (2014), “Nhu cầu sử dụng tiếng mẹ đẻ trong

giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu số Trường phổ thông dân tộc nội trú - Vị Xuyên, Hà

Giang”, Tạp chí Giáo dục, số 337

2 Hà Thị Kim Linh, “Bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số giai đoạn

hiện nay”, Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 118

5.2 Sản phẩm đào tạo

1 Hoàng Thị Huyền, Các hình thức bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong

dạy học ở trường tiểu học vùng Đông Bắc Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Giáo dục học,

Bảo vệ năm 2013

2 Lê Thị Nhung, Giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh dân tộc thiểu số các

trường THCS tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sỹ Giáo dục học, Bảo vệ năm 2014

5.3 Sách tham khảo: 01 bản thảo sách tham khảo đã nghiệm thu “Bảo tồn tiếng dân

tộc cho học sinh phổ thông dân tộc khu vực miền núi Phía Bắc”

6 Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của

kết quả nghiên cứu

6.1 Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu là căn cứ khoa học cho các nhà quản lý

giáo dục, quản lý xã hội trong quá trình xây dựng và hoạch định các chính sách giáo

dục cho vùng DTTS

6.2 Sách tham khảo có thể là tài liệu cho các nhà khoa học, giảng viên và sinh

viên quan tâm nghiên cứu những vấn đề có liên quan

Trang 10

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1 General information

Project title: Preserving the native language for minority ethnic students in the Northern Mountainous Regions, Viet Nam

Code number: B2013- TN04 - 02

Coordinator: Dr Hà Thị Kim Linh

Implementing institution: Thái Nguyên University

Duration: 36 months (from 2013 to 2015)

2 Objective(s)

The research was to describe the current situations of keeping minority ethnic languages for students at some schools in the mountainous areas in the North of Viet Nam Basing on these results, the researcher suggested measures to save minority ethnic languages for students surveyed, to contribute to improve education quality in the regions and keep local culture having been indentified before

3 Creativeness and innovativeness

In sciences of Education and Culture, the research had been carrying out

4 Research results

To summary the theories researching on saving minority ethnic languages for

students at junior schools in the mountainous areas;

To survey the current situations of saving minority ethnic groups’ languages for minority ethnic students in mountainous areas in the North of Viet Nam We surveyed

in some provinces such as Thai Nguyen, Cao Bang, Bac Kan, Tuyen Quang, Lang Son, Quang Ninh

To suggest five measures to keep the minority ethnic groups’ languages: Educationally communicated with minority ethnic students in mountainous areas to keep the native languages; Designed models to combine between language culture and experience; Reformed some legal bases for educating to save minority ethnic groups’ languages for students in mountainous areas in the North of Viet Nam; Guided teachers the way of saving languages for the minority junior students through some specialised subjects; Renewing the forms of helping students involve in saving the language in mountain areas

Trang 11

5 Products

5.1 Science produces

1 Ha Thi Kim Linh - Chau Thi Trang, The need of using mother tongue in

communication of ethnic minority students in Vi Xuyen - Ha Giang, Journal of

Education, No.337, 2014

2 Ha Thi Kim Linh, Preservation of ethnic languages for students from minorities,

Education Equipment Magazine, No.118, 2015

5.2 Training products

1 Hoang Thi Huyen, The Form of Preserving ethnic languages in teaching at the

primary schools of the North of Viet Nam, Master Thesis of Education Science, Year

finished: 2013

2 Le Thi Nhung, Educating preservation of mother tongues for ethnic minority

students at some junior schools in Quang Ninh, Master Thesis of Education Science

Thesis, Year finished: 2014

5.3 Document books: 01draft of document book

“Preservation of ethnic languages for students from minorities in mountainous areas in the North, Viet Nam”

6 Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of research results

- The research results are sciencific evidences for building and renewing the educational policies to improve education quality in minority ethnic areas in the North

of Viet Nam

- The book is a very useful one type of literartures for lecturers, students who are studying in bachelor degree, master degree, PhD degree and scientists as well

Trang 12

Nhà nghiên cứu Kondrashkina nghiên cứu về vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc trên

cơ sở nghiên cứu chính sách ngôn ngữ đối với người DTTS ở trung Quốc dựa trên việc hệ thống các vấn đề về chính sách ngôn ngữ của nhà nước Trung Hoa, mối liên

hệ giữa chính sách ngôn ngữ và giáo dục song ngữ như là sự cụ thể của chính sách bảo tồn tiếng mẹ đẻ của học sinh là người DTTS Trong công trình nghiên cứu tác giả cho thấy sự phát triển của hệ thống chính sách đối với vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ

Dựa trên các công trình nghiên cứu về vấn đề bảo tồn và phát triển tiếng dân tộc của nhà nước Trung Quốc chủ trương dạy học được tiến hành theo 2 mô hình: Thứ nhất, Hoạt động dạy học cho học sinh được tiến hành bằng 2 thứ tiếng, giáo viên dạy bằng tiếng Hoa và sử dụng tiếng dân tộc để giải thích Tiếng Hoa là ngôn ngữ chính còn tiếng dân tộc được sử dụng nhằm giúp cho việc học tiếng Hoa được tốt hơn Thứ hai, học sinh học tiếng DTTS trước sau đó tiếng Hoa được giới thiệu dần khi họ đã thành thạo ngôn ngữ của họ Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng: Học sinh nhận thấy

dễ học hơn và cũng dễ diễn đạt hơn bằng ngôn ngữ của mình (Shama Jiaga,1991) Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng vấn đề tiếng dân tộc cần được bảo tồn và phát huy không chỉ vì người dân tộc thiểu số thông thạo tiếng dân tộc của mình mà vì cơ hội tiếp nhận tri thức, văn hóa công bằng trong điều kiện xã hội hiện nay, vấn đề đa dạng văn hóa trong điều kiện hiện nay

Trang 13

Tác giả Yuxiang Wang và JoAnn Phillion đã tiếp cận vấn đề về chính sách ngôn ngữ của người DTTS và việc thực hiện những chính sách này ở Trung Quốc - Sự cần thiết cho một nền giáo dục đa văn hóa dưới các nội dung: Những chính sách ngôn ngữ người DTTS, Những yếu tố đằng sau sự thực thi chính sách ngôn ngữ người DTTS ở Trung Quốc, Ngôn ngữ của người DTTS: quyền lợi cá nhân hay quyền lợi quốc gia? Sự ảnh hưởng chiếm ưu thế của tiếng phổ thông Trung Quốc, Ngôn ngữ và văn hóa của người DTTS trong sách giáo khoa nhà trường [38],… Tác giả tập trung phân tích và dẫn chứng cho thấy việc ban hành luật, chính sách đảm bảo cho người DTTS có quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ trong viết, nói, trong giáo dục bị hạn chế bởi ưu thế của tiếng phổ thông Trung Quốc Bên cạnh đó, yếu tố kìm hãm sự thực thi chính sách ngôn ngữ này còn là do sự đói nghèo của người DTTS, vấn đề thiếu giáo viên biết nói cả tiếng mẹ đẻ của người DTTS và tiếng phổ thông Trung Quốc Ngay trong nội dung chương trình giáo dục cũng không thể hiện được sự gắn bó giữa ngôn ngữ của người DTTS, văn hóa của họ dẫn đến việc ngày càng hạn chế số lượng người biết sử dụng ngôn ngữ của tộc người trên thực tế “Ở Trung Quốc có 22 ngôn ngữ của người DTTS có số lượng người biết nói là 10 000 người và hầu hết họ đều là những người cao tuổi” [37]

1.1.2 Nghiên cứu vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc ở một số nước trong khu vực

Đối với Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, ngôn ngữ giảng dạy chính thức trong

hệ thống các trường học là tiếng Lào (Leclerc, 2004f) Ngôn ngữ địa phương không được sử dụng trong giáo dục, tuy nhiên được sử dụng trong ngôn ngữ nói ở nhiều lớp học trong trường hợp giáo viên biết sử dụng ngôn ngữ địa phương (Phommabouth, 2004) [Theo 21]

Singapore là một đất nước đa ngôn ngữ trong đó có 75% dân số nói tiếng Trung Quốc, 15% nói tiếng Melay và 7% nói tiếng Ấn Độ Singapore đã thực hiện rất thành công những vấn đề về chính sách ngôn ngữ như công bố 4 ngôn ngữ là ngôn ngữ quốc gia chính thức (tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Tamil và tiếng Melay) Có hơn 20 ngôn ngữ được dùng ở Singapore với mục tiêu quốc gia là tạo ra một xã hội

đa ngôn ngữ và song ngôn ngữ trong dân cư Tiếng Anh là ngôn ngữ trung gian được

sử dụng giảng dạy ở tất cả các cấp học, bậc học và ba ngôn ngữ chính thức là Tiếng Trung Quốc, tiếng Tamil và tiếng Melay được dạy như ngôn ngữ thứ hai và được gọi

là tiếng mẹ đẻ [Dẫn theo 21]

Không giống với Singapore, Thái lan cũng là một nước đa ngôn ngữ nhưng vấn

đề thực hiện chính sách bảo tồn tiếng dân tộc ở Thái Lan lại rất đặc thù trên cơ sơ quy

Trang 14

định tiếng Thái được coi là ngôn ngữ quốc gia độc quyền, còn tiếng của dân tộc khác lại chỉ được sử dụng trong nội bộ tộc người Với hơn 70 ngôn ngữ được sử dụng trong nước, tiếng Thái chuẩn là ngôn ngữ giảng dạy ở hầu hết các cấp học Việc sử dụng ngôn ngữ khác tiếng Thái bị cấm ở các trường học, tuy nhiên giáo viên vẫn có thể nói tiếng địa phương thoải mái ở các lớp học ban đầu nhằm giúp học sinh DTTS tiếp cận chương trình (Jernudd 1999; Lecturc 2004k; Smalley 1994) Chính sự hạn chế về vấn

đề ngôn ngữ của các tộc người tạo trở ngại đối với học sinh là người DTTS tiếp cận chương trình giáo dục “Hệ thống giáo dục Thái Lan là một hệ thống một mất một còn đối với học sinh không nói được tiếng Thái khi đi học Hệ thống này không hiệu quả và gây cản trở vì xác định đời sống, văn hóa và ngôn ngữ đều là tiếng Thái, không

đề cập đến nơi sống của học sinh hoặc học tiếng gì Hệ thống này làm cho nhiều học

sinh mất 2 năm đến trường để có thể học tốt trên lớp” (Smalley 1994, 293) [Theo 21]

Tác giả Josph Lo Bianco quan niệm rằng: Đối với các nhóm văn hoá có truyền thống là văn hoá giao tiếp bằng lời nói, ngôn ngữ lại còn quan trọng hơn như một kiến thức (duy nhất) của văn hoá đó cùng với các giá trị truyền thống của nó và cũng là hệ quả không thể thay thế được trong việc duy trì và phát triển chính nền văn hoá đó

Có thể nhận thấy các chính sách tiếng dân tộc của các nước đều hướng tới giải quyết mối quan hệ: văn hóa - ngôn ngữ Quá trình chuyển đổi, bảo tồn và sự mất dần của ngôn ngữ tộc người gắn liền với các vấn đề như văn hóa, ngôn ngữ tộc người, bản sắc văn hóa dân tộc Các công trình chủ yếu tập trung khai thác vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc trên cơ sở tiếp cận về chính sách ngôn ngữ đối với người dân tộc thiểu

số, vấn đề giáo dục song ngữ mà tiếng dân tộc như là tiếng mẹ đẻ còn tiếng phổ thông như là ngôn ngôn ngữ thứ 2

1.2 Những nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về tiếng dân tộc và vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ thông đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu

Tác giả Nguyễn Văn Lộc và các cộng sự đã nghiên cứu vấn đề bảo tồn ngôn ngữ của dân tộc thiểu số trong mối quan hệ với bảo tồn và phát triển văn hóa [21] Nhóm tác giả xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận về bảo tồn và phát triển văn hóa ngôn ngữ của dân tộc thiểu số, đánh giá thực trạng giáo dục bảo tồn và phát triển văn hóa, ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị về chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Việt Nam Nhóm tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu

Trang 15

trên cơ sở của tiếp cận các vấn đề về chính sách liên quan đến ngôn ngữ nói chung

và ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số nói riêng Công trình nghiên cứu cũng đã hệ thống được những đặc trưng văn hóa cơ bản của người dân tộc Tày, Nùng, H’Mông,… khu vực miền núi phía Bắc trong sinh hoạt hàng ngày như về các phong tục, lễ tết phổ biến trong năm, quan niệm của con người trong cuộc sống và lao động sản xuất Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Lộc và nhóm nghiên cứu là một công trình nghiên cứu công phu về vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số DTTS ở Việt Bắc trên cơ sở hệ thống một cách đầy đủ các vấn đề về chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa, ngôn ngữ DTTS, các vấn đề về kinh nghiệm của một

số nước trên thế giới về bảo tồn và phát triển văn hóa, ngôn ngữ các DTTS, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số DTTS vùng Việt Bắc; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bảo tồn và phát triển văn hóa, ngôn ngữ của một số DTTS vùng Việt Bắc hiện nay trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Bên cạnh đó vấn đề đánh giá thực trạng công tác bảo tồn tiếng dân tộc của người DTTS mới chỉ được các tác giả khai thác dưới góc độ tiến hành hệ thống hóa các văn bản quy định việc dạy và học bằng tiếng DTTS, chưa đánh giá được thực trạng việc thực thi những chính sách này về mặt hình thức thực hiện, nội dung và biện pháp thực hiện trong các cơ sở giáo dục và đào tạo Nghiên cứu của nhóm tác giả là những căn cứ lý luận và thực tiễn cho công tác bảo tồn và phát triển tiếng dân tộc đối với các DTTS hiện nay

Tác giả Trần Trí Dõi Nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ cho người DTTS, về vấn đề tổ chức giáo dục tiếng phổ thông và tiếng dân tộc (tộc người) trong bài viết

Bàn về cách thức tổ chức giáo dục song ngữ trong nhà trường thuộc địa bàn ngôn ngữ Tày - Nùng ở Việt Bắc Việt Nam Cũng trong bài viết, tác giả nhận định: “cảnh

huống ngôn ngữ ở địa bàn ngôn ngữ Tày - Nùng của Việt Bắc là cảnh huống ngôn ngữ đan xen”, vì là địa bàn đa dân tộc cho nên giáo dục song ngữ ở khu vực này sẽ

là giáo dục tiếng phổ thông và giáo dục tiếng mẹ đẻ của các DTTS do đó “trong môi trường đa dân tộc, người dân có sự phân biệt mục đích tiếp nhận giáo dục tiếng phổ thông và mục đích tiếp nhận tiếng mẹ đẻ” [6]

Nghiên cứu vấn đề dạy tiếng dân tộc cho người dân tộc thiểu số theo hướng tiếp cận các chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam, tác giả Trần Trí Dõi tập trung vào 2 vấn đề: Thứ nhất, phân tích những yếu tố thuộc vào nội dung chính sách ngôn ngữ của vùng dân tộc thiểu số của nhà nước Việt nam đã tác động thế nào đến sự phát triển bền vững của xã hội vùng dân tộc Thứ 2, tìm hiểu thực tế việc thực thi chính

Trang 16

sách ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số trong mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển kinh tế xã hội với trình độ sử dụng ngôn ngữ của địa phương Trên cơ sở đó tập trung làm rõ vai trò, những tác động tích cực của chính sách ngôn ngữ của nhà nước Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS của Việt Nam hiện nay [9] Bên cạnh đó một số công trình khoa học khác của tác giả Trần Trí Dõi quan tâm nghiên

cứu như: Một vài nhận xét về giáo dục ngôn ngữ cho vùng dân tộc miền núi ở Việt

Nam trong chặng đường 55 năm qua; Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía bắc Việt Nam những kiến nghị và giải pháp [10], [11]

Trong những nghiên cứu của mình, tác giả Trần Trí Dõi tiếp cận phân tích các chính sách ngôn ngữ đối với người DTTS trong điều kiện hiện nay trên cơ sở những thuận lợi và hạn chế của việc thực thi các chính sách ngôn ngữ hiện nay trên cơ sở khảo sát nhu cầu tiếp nhận tiếng mẹ đẻ của người DTTS tại một số tỉnh khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam

Đề cập đến vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc như là một vấn đề cấp bách trong xu thế phát triển của xã hội ngày nay tác giả Nguyễn Cao Thịnh trong bài viết “Bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số vấn đề cấp bách trong xu thế hội nhập và phát triển” [27]

đã nhấn mạnh bảo tồn tiếng dân tộc như một nhiệm vụ cấp bách cần thực thi trong giai đoạn hiện nay Vấn đề này đang trở nên cần thiết và cấp bách hơn khi mà số lượng ngôn ngữ trên thế giới đang được thu hẹp dần trong đó Việt Nam không là ngoại lệ

Nghiên cứu việc sử dụng tiếng DTTS trong giáo dục ở một số nước trên thế giới được tác giả Nguyễn Thế Thắng tiếp cận nghiên cứu Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Thế Thắng đã hệ thống hóa các chính sách ngôn ngữ của một số nước Châu Á và Châu Âu, trên cơ sở đó khái quát lên những điểm tương đồng

và khác biệt về sử dụng ngôn ngữ DTTS trong giáo dục trên 3 phương diện: về chính sách, về hình thức giáo dục và các yếu tố khác [24]

Nghiên cứu tìm kiếm các giải pháp triển khai chương trình và SGK mới vào vùng DTTS và miền núi được Nguyễn Anh Dũng tiếp cận theo những định hướng giải pháp cụ thể Công trình khoa học đề xuất được 5 nhóm giải pháp triển khai chương trình SGK vào vùng DTTS và miền núi hiệu quả trên cơ sở tính tới những điều kiện thuận lợi và khó khăn của việc triển khai chương trình SGK vào vùng DTTS

và miền núi cũng như những định hướng đổi mới chương trình giáo dục tiểu học và

trung học cơ sở [14]

Trang 17

Trong bài Các ngôn ngữ nguy cấp và việc bảo tồn sự đa dạng văn hoá, ngôn ngữ

tộc người ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Lợi cho biết trong số 6.500 ngôn ngữ đang

tồn tại trên thế giới, chỉ có chừng 300 đến 400 ngôn ngữ được truyền lại cho các thế hệ tiếp theo, các ngôn ngữ còn lại hoặc chỉ được truyền lại ở một bộ phận nhỏ, hoặc không được truyền lại, đang nằm bên bờ của sự tiêu vong [23] Căn cứ vào sức sinh tồn, những điều kiện xã hội-ngôn ngữ học, tác giả chia các những nguy cấp ngôn ngữ ở Việt Nam thành 5 nhóm:

Nhóm thứ nhất bao gồm các ngôn ngữ hầu như đã bị mất, hiện nay chỉ còn rất ít người sử dụng (trên dưới 10 người) Đó là các ngôn ngữ như: tiếng Cơlao đỏ

ở Trùng Sán, Hoàng SuPhì (người Cơlao đỏ đã chuyển sang nói tiếng Quan Hoả); Tiếng Tống ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (người Tống hiện được xếp vào dân tộc Dao); Tiếng Thuỷ ở Chiêm Hoá, Tuyên Quang (người Thuỷ cũng được coi là thuộc dân tộc Dao); Tiếng Ơđu ở Con Cuông, tỉnh Nghệ An (hầu hết người Ơđu chuyển sang nói tiếng Thái, Khơ mú, hiện chỉ còn vài người nhớ ngôn ngữ này); Tiếng Tu Dí (Bố Y) ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai (người Tu Dí chuyển sang nói tiếng Quan Hoả)

Nhóm thứ hai gồm các ngôn ngữ nguy cấp thực sự, hiện chỉ còn trên, dưới 100 người sử dụng Đó là: tiếng Pu Péo, tiếng Cơlao Trắng ở Đồng Văn - Hà Giang; tiếng

La Chí ở Hoàng Su Phì - Hà Giang; tiếng Laha ở Thuận Châu - Sơn La; tiếng Ta Mit

ở Than Uyên - Lào Cai; tiếng Nùng Vẻn ở Hà Quảng - Cao Bằng; tiếng Đan Lai, Li

Hà, Tày Poong ở Con Cuông - Tân Kì - Nghệ An; tiếng Mã Liềng, Cọi (Krih) ở Hương Khê - Hà Tĩnh; tiếng Rục, Mày, Sách ở Tuyên Hoá - Quảng Bình; tiếng Arem

ở Bố Trạch - Quảng Bình

Nhóm thứ ba gồm các ngôn ngữ có số người sử dụng trên dưới một ngàn người, phạm vi sử dụng tương đối hẹp, chủ yếu trong giao tiếp gia đình, có xu thế bị mất ở thế hệ trẻ, chịu áp lực rõ rệt từ các ngôn ngữ có vị thế cao hơn Đó là các ngôn ngữ như Mảng, Kháng, Xinh Mun thuộc dòng Mon-Khmer và các ngôn ngữ thuộc họ Tạng Miến như: Cống, Sila, Xá Phó, Phù Lá, La Hủ

Nhóm thứ bốn gồm các ngôn ngữ có số lượng người sử dụng từ vài ngàn đến chục ngàn người, chủ yếu được sử dụng trong giao tiếp gia đình thuộc mọi thế hệ, nhưng một

bộ phận có xu thế thay bằng ngôn ngữ khác Đó là tiếng Nà Mẻo ở Tràng Định tỉnh Lạng Sơn và Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang; tiếng Pà Thẻn ở Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang

và ở Bắc Quang tỉnh Hà Giang; tiếng Lôlô ở Bảo Lộc tỉnh Cao Bằng và ở Đồng Văn, Mèo Vạc tỉnh Hà Giang

Trang 18

Nhóm thứ năm gồm các ngôn ngữ có từ một chục ngàn đến vài ba chục ngàn người sử dụng, vẫn được các thành viên trong cộng đồng sử dụng trong giao tiếp hàng ngày và truyền lại cho thế hệ sau Tuy nhiên, các ngôn ngữ này có xu thế dễ bị "hoà" vào các ngôn ngữ có vị thế cao hơn Đó là các ngôn ngữ như Hà Nhì, Giáy, Khơ mú, Chơro, Churu, Pakô, Tà Ôi

Ngôn ngữ dân tộc là biểu hiện của bản sắc văn hoá dân tộc Duy trì và bảo vệ ngôn ngữ các dân tộc là duy trì và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, một công việc có

ý nghĩa sâu sắc Tác giả Nguyễn Văn Lợi viết: "Mất đi sự đa dạng ngôn ngữ cũng có nghĩa mất đi sự đa dạng về trí tuệ Mỗi một ngôn ngữ là công cụ độc nhất vô nhị để phân tích, tổng hợp, tri nhận thế giới bên ngoài, tạo nên tri thức, sự đánh giá của cộng đồng người nói về thế giới Chúng ta quý trọng và tìm mọi cách giữ gìn các nguồn gien quý của các loài sao la, bò xám, tê giác một sừng, Ở Việt Nam, chúng ta cũng quý trọng và ra sức giữ gìn ngôn ngữ các dân tộc, những nguồn gien quý của kho tàng ngôn ngữ, văn hoá, văn minh nhân loại Bảo vệ môi trường, sinh thái tự nhiên là nhiệm vụ cấp bách; bảo vệ môi trường, sinh thái văn hoá cũng vô cùng quan trọng Đối với loài người, các ngôn ngữ đều có giá trị nhân văn như nhau: Kho tàng các ngôn ngữ thế giới là tài sản quý báu của nhân loại" [26]

Như ta biết, muốn duy trì và bảo vệ ngôn ngữ, văn hoá dân tộc thì trước hết phải duy trì và bảo vệ chính những tộc người nói những ngôn ngữ đó Vì vậy, vấn đề duy trì và bảo vệ ngôn ngữ văn hoá không thể tách rời vấn đề phát triển dân tộc mà muốn

duy trì và phát triển dân tộc thì trước hết phải phát triển kinh tế (Trong bài Tình hình

một số ngôn ngữ dân tộc nguy cấp ở Việt Nam và những luận cứ chính sách đối với các ngôn ngữ ấy [7]

Trên cơ sở phân tích tình hình một số ngôn ngữ dân tộc được coi là nguy cấp, Tác

giả Trần Trí Dõi cho rằng: Việc thúc đẩy nền kinh tế-xã hội của các dân tộc và nhóm

tộc người có ngôn ngữ bị suy giảm là một nhu cầu bức bách Muốn cho tộc người Arem chẳng hạn không suy giảm dân số với tỉ lệ 1% năm, đó là vấn đề sản xuất, đó là vấn

đề y tế v.v mà cả cộng đồng phải giải quyết Cũng vậy, muốn những người Ơđu có điều kiện duy trì tiếng mẹ đẻ của mình, cộng đồng nhỏ bé của họ hiện nay phải được phát triển, phát triển tới mức họ có nhu cầu dùng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày; Phải nâng cao chất lượng tiếng mẹ đẻ của họ trong giao tiếp cộng đồng Cách tốt nhất để làm được điều này là duy trì tiếng mẹ đẻ trong hoạt động văn hoá của cả dân tộc Chính văn hoá truyền thống hay bản sắc văn hoá của các dân tộc là cái nền tốt nhất để lưu giữ ngôn ngữ của họ Vì thế, để đảm bảo ngôn ngữ của các dân tộc có

Trang 19

nguy cơ bị suy thoái không bị mai một, một công việc tốt nhất là khơi dậy và làm sống lại hoạt động văn hoá truyền thống của chính họ" [7]

Tại hội nghị quốc tế về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể các dân tộc do UNESCO tổ chức tại Hà Nội, tháng 3/1993, các đại biểu đã đưa ra một số khuyến nghị đối với Chính phủ Việt Nam về bảo tồn và phát huy văn hoá các dân tộc thiểu số:

Cung cấp tài chính kịp thời cho chương trình quốc gia: "Kho tàng chung di sản văn hoá phi vật thể của các tộc người ở Việt Nam"

Ở cấp độ nhà nước, bảo vệ, giữ gìn, phát triển và khôi phục kho tàng văn hoá phi vật thể của các dân tộc thiểu số Những lĩnh vực cần được tập trung chú ý là: khôi phục các lễ hội của các dân tộc thiểu số, thu thập với sự trợ giúp của các phương tiện

kĩ thuật nghe nhìn tư liệu về âm nhạc, múa, văn hoá dân gian của các dân tộc

Khôi phục lại việc dạy ngôn ngữ và chữ viết các dân tộc mà đã bị ngừng trệ do chiến tranh, ở các trường trung học và tiểu học

Dạy trẻ em dân tộc về lịch sử và văn minh của các tộc người

Mở rộng các chương trình truyền thanh, truyền hình về văn hoá dân tộc thiểu số; tổ chức phát thanh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số

Tiếp tục thu thập, bảo tồn và phổ biến các văn bản viết bằng chữ cổ của các dân tộc thiểu số

Bàn về những chủ trường về bảo tồn tiếng dân tộc, Nguyễn Như Ý đã đề cập

"Các chủ trương của Đảng và Nhà nước về ngôn ngữ dân tộc thường chỉ dừng lại ở những tư tưởng, những luận điểm chung nhất, thiếu hẳn các kế hoạch, các chương trình mục tiêu và hệ thống các biện pháp cụ thể cùng các hình thức tổ chức thực hiện thích hợp với từng khu vực, từng dân tộc, đặc biệt là thiếu hẳn một đội ngũ cán bộ được chuẩn bị về kiến thức và phương pháp, sau cùng là một chế độ kiểm tra, đánh giá ở cấp Nhà nước, để triển khai" [31]

Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, Trần Trí Dõi kết luận về vấn

đề giáo dục ngôn ngữ là "phải được đặt trong nhu cầu lợi ích của người thụ hưởng nền giáo dục ấy Chính nhu cầu lợi ích của người thụ hưởng giáo dục song ngữ nhiều khi là yếu tố quyết định chi phối hoạt động giáo dục song ngữ Trong thực hiện giáo dục song ngữ, khi ngôn ngữ thứ hai là tiếng mẹ đẻ của người thụ hưởng thì lợi ích văn hoá là lợi ích nổi trội nhất Nếu không nắm bắt đầy đủ lợi ích này để nhận biết

Trang 20

đầy đủ tính đa dạng của mục đích thụ hưởng thì việc xây dựng một chương trình giáo dục ngôn ngữ sẽ ít khả năng thu được thành công" [8]

Bên cạnh đó nghiên cứu về vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc thiểu số cần phải kể đến các công trình khoa học của các tác giả: Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Xuân Hòa, Hoàng Văn Hành, Bùi Thị Ngọc Diệp Nhìn chung, có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số, nhưng chủ yếu tiếp cận nghiên cứu trong lĩnh vực Ngôn ngữ học, Văn hóa học,… Nghiên cứu bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ thông là người DTTS theo hướng tiếp cận nội dung, hình thức, biện pháp bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh là người DTTS đến nay chưa được tập trung nghiên cứu giải quyết một cách thỏa đáng

2 Tính cấp thiết của đề tài

Lưu giữ và bảo tồn tiếng dân tộc thiểu số trong điều kiện hiện nay - điều kiện Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ quốc tế mà mỗi công dân khi gia nhập xã hội tương lai cần phải được trang bị thì vấn đề lưu giữ tiếng dân tộc thiểu số lại càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết Bảo tồn và phát huy tiếng DTTS trong điều kiện hiện nay một mặt duy trì bản sắc văn hóa của dân tộc nhưng vẫn không làm cho dân tộc đó trở nên lạc hậu, thụt lùi về điều kiện phát triển là một trong những nội dung trọng tâm trong chính sách dân tộc, chính sách giáo dục dân tộc đề cập đến

Đa dạng hoá các hình thức dạy học tiếng dân tộc Người học có thể lựa chọn việc học tập thích hợp: học ở trường, học ở gia đình, ở các lớp học thêm ngoài giờ, học tiếng dân tộc sau khi đã học xong bậc tiểu học Mở các lớp học xoá mù chữ cho người lớn tuổi ở các thôn ấp, làng bản, các lớp học tiếng dân tộc buổi chiều, buổi tối

Dù dạy học theo hình thức nào, nhất thiết phải thực hiện theo nội dung chương trình

và tài liệu dạy học do ngành giáo dục quy định”

Trong xu thế hội nhập và phát triển, nhiều giá trị văn hóa của dân tộc đang có nguy cơ bị mai một do sự xâm lấn của những trào lưu văn hóa từ nước ngoài và vấn

đề Kinh hóa người dân tộc Giữ gìn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tính chất của nền giáo dục XHCN, nền giáo dục mang tính nhân dân, tính dân tộc, tính khoa học hiện đại Giữ gìn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trong nhà trường phổ thông hiện nay nhằm phát triển con người Việt Nam vừa hồng vừa chuyên

Theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo trong nhà trường phổ thông, học sinh vừa phải học tiếng phổ thông nhưng đồng thời cũng cần phải biết giữ gìn và phát huy

Trang 21

tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình (TT số 01/GD-ĐT, 1997); Theo tinh thần chỉ thị

số 38/2004 của Thủ tướng chính phủ về tiếp tục triển khai dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ quản lí, giáo viên vùng dân tộc thiểu số,… Thực hiện nhiệm vụ giáo dục dân tộc thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thì vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc trong xu thế phát triển hiện nay là một trong những hướng cần thiết trên phương diện giáo dục và phương diện văn hóa dân tộc Lưu giữ và bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ thông có thể được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau, theo con đường dạy học hoặc theo con đường

tổ chức các hoạt động giáo dục và sinh hoạt tập thể cho học sinh, thông qua truyền thông giáo dục và các hoạt động xã hội,… Bảo tồn tiếng dân tộc gắn liền với việc thực thi các chính sách ngôn ngữ, trong đó có chính sách ngôn ngữ của DTTS Trên thực tế, việc một nhóm ngôn ngữ nào đó đang dần mất đi vị thế ngôn ngữ hay khẳng định được xu hướng phát triển trong xu thế hiện nay là do những ảnh hưởng trực tiếp

và gián tiếp của nhưng chính sách ngôn ngữ quốc gia

Ở một số trường học nơi có đông học sinh DTTS theo học, giáo viên không biết tiếng dân tộc hoặc có biết cũng chỉ là biết qua loa thì tình trạng này dẫn đến những khó khăn nhất định trong giao tiếp giữa GV và HS bằng tiếng dân tộc Quá trình giao tiếp được thiết lập trong trường học nhằm mục tiêu bài học chủ yếu được duy trì trong mối quan hệ giữa GV và HS người DTTS Trong điều kiện đó, những hạn chế về tiếng DTTS của GV là một trong những trở ngại lớn cản trở việc GV không hiểu HS của mình, là yếu tố khiến các em học sinh không tự tin trong giao tiếp với GV Bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ thông là một nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung, trong xây dựng nền giáo dục Việt Nam theo định hướng XHCN nói riêng trong thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa dân tộc giữa các thế hệ Nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng về việc bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh THCS hiện nay, tìm kiếm, xây dựng được biện pháp, nội dung và điều kiện bảo tồn tiếng dân tộc trong mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường là thực sự có ý nghĩa to lớn Việc đưa vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh như là nhiệm vụ giáo dục của trường học khu vực miền núi phía Bắc là cần thiết

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ thông dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc”

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trang 22

Đề tài hướng vào việc phác họa thực trạng công tác bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh DTTS trong các trường học khu vực miền núi Phía Bắc, từ đó đề xuất được biện pháp bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ thông dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ở các vùng dân tộc đồng thời phát huy bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng bảo tồn tiếng dân tộc của học sinh DTTS ở các trường THCS khu vực miền núi Phía Bắc

4.2 Khách thể nghiên cứu

Bảo tồn tiếng dân tộc của người DTTS

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận của bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh là người DTTS

Khảo sát thực trạng bảo tồn tiếng nói của học sinh là người DTTS khu vực miền núi Phía Bắc

Đề xuất biện pháp bảo tồn tiếng nói của học sinh là người DTTS khu vực miền núi Phía Bắc

6 Cách tiếp cận

Nghiên cứu bảo tồn tiếng dân tộc cho học học sinh phổ thông DTTS khu vực miền núi Phía Bắc được tiếp cận trên quan điểm tiếp cận giá trị văn hóa Tiếng dân tộc là ngôn ngữ thuộc về tộc người như tiếng Tày, tiếng Nùng, do đó bảo tồn tiếng dân tộc thực chất là tìm kiếm biện pháp, điều kiện cụ thể để ngôn ngữ của tộc người (tiếng dân tộc) không bị mai một theo năm tháng, đồng thời góp phần tạo dựng bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện xã hội mới

Nghiên cứu bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh người DTTS được tiếp cận theo quan điểm hoạt động và giao lưu: Vấn đề gìn giữ tiếng dân tộc cho học sinh DTTS phải được thực hiện gắn với hoạt động giao lưu của mỗi cá nhân học sinh Tham gia vào quá trình giao lưu các em phải sử dụng ngôn ngữ để trao đổi thông tin

Nghiên cứu bảo tồn tiếng dân tộc được tiếp cận trên quan điểm kế thừa Trong quá trình hình thành điều kiện và biện pháp bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ

Trang 23

thông cần hình dung chính sách ngôn ngữ DTTS đã được ban hành và thực hiện, các giải pháp xã hội và hình thức tổ chức thực hiện Trên cơ sở kế thừa những kết quả đạt được tiếp tục hoàn thiện và nội dung và hình thức bảo tồn tiếng dân tộc trong phạm

vi mối liên hệ giáo dục nhà trường - gia đình hữu hiệu

7 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh phổ thông là người DTTS Tày, Nùng trong điều kiện của giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình; Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số khu vực miền núi Đông Bắc thông qua các hình thức giao tiếp, trao đổi thông tin thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trong môi trường giáo dục của nhà trường và địa phương dưới sự hướng dẫn tổ chức của giáo viên THCS

- Về khách thể điều tra: Đề tài tập trung nghiên cứu trên học sinh trung học cơ

sở là người DTTS thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh Đề tài còn triển khai điều tra khảo sát trên phụ huynh học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý

8 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa hệ thống lý luận của đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng các phương pháp như phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát sư phạm, phương pháp điều tra giáo dục nhằm thu thập thông tin để đánh giá thực trạng học sinh dân tộc thiểu số nói tiếng dân tộc và đánh giá thực trạng bảo tồn tiếng dân tộc tại các đơn vị giáo dục

- Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm tin học để xử lý các kết quả nghiên cứu

Trang 24

Phần 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC

CHO HỌC SINH THCS NGƯỜI DTTS 1.1 Những khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1 Bảo tồn

Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì bảo tồn là “giữ lại không để cho mất đi” [32]

Bảo tồn có ý nghĩa là gìn giữ và phát triển giá trị nhất định nào đó trong xã hội

để nó không bị biến mất trong xu thế phát triển của xã hội nhưng đồng thời đảm bảo được những giá trị đó cùng tồn tại trong điều kiện hiện nay

Theo Tác giả Dương Phú Hiệp, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á “Bảo tồn văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa, mà trong một chừng mực nào

đó còn là cơ sở cho sự phát triển văn hóa theo đúng hướng Bản thân quá trình phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan Sẽ là sai lầm khi coi bảo tồn văn hóa triệt tiêu sự phát triển văn hóa

và ngược lại phát triển văn hóa sẽ triệt tiêu bảo tồn văn hóa Bảo tồn và phát triển văn hóa có thể được coi là thúc đẩy nhau; bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa Bên cạnh đó, thông qua phát triển văn hóa, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn văn hóa nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình Cũng bởi tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa mà trong quá trình phát triển chứa đựng sự đánh giá, xác lập vị thế của yếu tố văn hóa mới dựa trên nền tảng giá trị đã được bảo tồn” [16]

Tiếp cận khái niệm bảo tồn di sản, tác giả Bùi Quang Thắng đã đưa ra quan điểm bảo tồn phát triển và cho rằng đây là quan điểm đang chiếm giữ vị trí chủ đạo trong giới học thuật ngày nay [23] Quan điểm này không bàn luận tranh cãi: nên bảo tồn ý nguyên như thế nào? Kế thừa những gì từ quá khứ mà đặt trọng tâm là làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong đời sống đương đại

Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo Gregory J.Ashworth, thì được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản văn

hóa Những người theo quan điểm Bảo tồn nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của

Trang 25

quá khứ, nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu biết một cách cụ thể để phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và

sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn

Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến di sản Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham xem di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản Hoặc các nhà nghiên cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… thì cho rằng không thể không đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản Cách tiếp cận của các nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để phát triển du lịch, để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người Còn các tác giả như Corner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý

di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa Ngoài ra, các tác giả như Moore

và Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới Nhìn chung, quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy Như vậy, khái niệm bảo tồn được hiểu là gìn giữ và phát triển những giá trị nhất định trong xã hội ngày này thông qua việc triển khai những cách thức cụ thể

1.1.2 Bảo tồn tiếng DTTS

Trang 26

1.1.2.1 Dân tộc

Khái niệm dân tộc được dùng để chỉ Dân tộc Việt Nam (tất cả những người là công dân Việt Nam, sinh sống trên đất Việt Nam và Việt kiều ở nước ngoài) Tuy thế, dân tộc cũng được dùng để chỉ các cộng đồng tộc người cụ thể như dân tộc Chăm, dân tộc Tày, dân tộc Việt (Kinh), dân tộc Mảng, dân tộc Sán Dìu,… Như vậy trong thực tiễn Việt Nam, dân tộc có hai nội hàm: chỉ dân tộc ở cấp độ quốc gia - Nation (Dân tộc Việt Nam); chỉ cộng đồng tộc người cụ thể - Ethnic/Ethnie (Dân tộc

Chăm,…) [1]

Theo nghĩa rộng dân tộc (nation): cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi Nhà nước, thiết lập trong một lãnh thổ nhất định, ban đầu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnic) của bộ phận tộc người,… Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch

sử, văn hóa, xã hội trong khu vực và bản thân Dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước Theo nghĩa này, “dân tộc đồng nghĩa với quốc gia dân tộc” [5]

Theo J.V Stalin Dân tộc là khối cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch

sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về: tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế và về sự hình

thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa (trích theo Trần Bình) [1] Thuật ngữ Dân tộc (Nation) xuất hiện, bắt nguồn từ tiếng Latinh: Nation là cộng

đồng người có chung một thể chế chính trị, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được điều khiển bởi một nhà nước (Nation - Etat) Cũng có thể hiểu đó là một cộng đồng nhân dân (people) ổn định được phát triển trong lịch sử, với một lãnh thổ riêng, với một nền kinh tế thống nhất, với các đặc trưng văn hóa thống nhất, cùng có tiếng

mẹ đẻ thống nhất và được chỉ đạo bởi một nhà nước (Quan điểm này đã được đại đa

số tán đồng, kể cả Liên hợp quốc) Như vậy, theo các nhà Mác - xít, Dân tộc là một

cộng đồng người hình thành từ các bộ lạc, mà liên minh bộ lạc là bước khởi đầu Dân

tộc ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước [1]

Tồn tại nhiều ý kiến cho rằng, dân tộc hình thành từ thời Chiếm nô hoặc Phong kiến (các xã hội có giai cấp Tiền Tư bản) Ở Việt Nam, sau năm 1954, dựa theo định nghĩa Dân tộc của J.V Stalin, thảo luận về sự hình thành Dân tộc Việt Nam được

Trang 27

khởi đầu từ 1955 và kéo dài suốt hàng chục năm (đến 1965) Các quan điểm đều xoay quanh vấn đề: ở Việt Nam, khi nào cộng đồng dân tộc hình thành; dân tộc Việt Nam

có phải là một cộng đồng tộc người thuộc loại hình dân tộc hay không? Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: dân tộc ở Việt Nam hình thành từ thời kỳ Hùng Vương, tức là

nó hình thành ngay từ trong xã hội Chiếm nô (trước xã hội Phong kiến) Về việc dân tộc Việt Nam có phải là một cộng đồng tộc người thuộc loại hình dân tộc hay không, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đó là loại hình cộng đồng người thuộc Etat Ethnic/Nation Theo cách hiểu này, Dân tộc ngoài các yếu tố cấu thành ngôn ngữ, văn hoá, tự giác tộc người,… còn bao hàm cả các yếu tố chính trị, thể chế Khái niệm dân tộc, trong trường hợp này còn bao gồm cả các yếu tố: cộng đồng chính trị, thể chế xã hội

Như vậy, Dân tộc Việt Nam (Etat Ethnic/Nation) bao gồm nhiều tộc người khác nhau liên kết lại, hay nói cho đúng hơn, Dân tộc Việt Nam là khối cộng đồng quốc gia bao gồm nhiều dân tộc/tộc người (Minority Ethnic groupe) hợp lại [1]

Với nghĩa thứ nhất, DT là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa thứ hai, DT là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - quốc gia DT Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi

sử dụng khái niệm DT theo nghĩa thứ nhất, DT là một tộc người hay một DT trong một quốc gia đa DT

Theo nghĩa hẹp, dân tộc đồng nghĩa với tộc người (ethnic): Là một cộng đồng tộc người (đa số hoặc thiểu số) được hình thành trong lịch sử, ổn định, có ngôn ngữ riêng của tộc người, đồng thời cư trú trên một lãnh thổ nhất định, các thành viên trong tộc người có cùng chung một vận mệnh lịch sử, cùng chung lợi ích về chính trị, kinh

tế và cuối cùng có chung một nền văn hóa mang bản sắc tộc người Dân tộc chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của cư dân cộng đồng đó Theo nghĩa này, DT được hiểu như “một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc” Với nghĩa hiểu này, Việt Nam gồm 54 DT hay 54 tộc người

Trong khi Dân tộc (Nation) phải là một cộng đồng chính trị, bao gồm cư dân của một quốc gia có chung một nhà nước, một chính phủ, có luật pháp thống nhất,… thì Tộc người (Ethnic/Ethnie) là cộng đồng mang tính tộc người, không nhất thiết phải cư trú trên một cùng lãnh thổ, có chung một nhà nước, dưới sự quản lý điều hành của một chính phủ với những đạo luật chung thống nhất Mặc dù các trường phái Dân

Trang 28

tộc học có nhiều quan điểm khác nhau về tộc người, xong tất cả đều thống nhất: Tộc người chỉ các cộng đồng mang tính tộc người bất kỳ, kể cả các cộng đồng tộc người chủ thể của các quốc gia, và các cộng đồng tộc người thiểu số trong các quốc gia, vùng miền, không phân biệt đó là cộng đồng tộc người tiến bộ, hay cộng đồng tộc người còn đang trong quá tình phát triển [1]

Các tiêu chí để xác định tộc người: cùng tiếng mẹ đẻ (có ngôn ngữ tộc người thống nhất); cùng một khu vực lãnh thổ (có lãnh thổ tộc người thống nhất); có nền kinh tế tộc người thống nhất; có các đặc trưng văn hoá thống nhất/văn hoá tộc người;

có Ý thức tự giác tộc người thống nhất

Ở Việt Nam, tiêu chí xác định dân tộc bắt đầu được đề cập từ 1960 Năm 1973 tại Hà Nội đã tiến hành hai cuộc Hội thảo khoa học (vào tháng 6 và tháng 11) Các hội thảo đã thống nhất lấy dân tộc (tộc người) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam Ba tiêu chí để xác định dân tộc/tộc người, được thống nhất

sử dụng:

(1) Có chung tiếng nói (ngôn ngữ mẹ đẻ)

(2) Có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa (đặc trưng văn hóa)

(3) Có cùng ý thức tự giác, tự nhận cùng một dân tộc

Với các tiêu chí này, thành phần dân tộc ở Việt Nam khi đó được xác định bao gồm

59 dân tộc Trong đó ở miền Bắc có 36 dân tộc và ở miền Nam có 23 dân tộc [1]

1.1.2.2 Tiếng dân tộc

Bàn về phạm trù tiếng dân tộc có 2 cách hiểu:

Thứ nhất Tiếng dân tộc được xem như là ngôn ngữ giao tiếp phổ thông, chính thống của một quốc gia Là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong học tập và truyền thông trong phạm vi toàn quốc Theo cách hiểu này, ngôn ngữ của dân tộc là ngôn ngữ của cả một dân tộc lớn trong phạm vi quốc gia

Thứ hai Tiếng dân tộc là nói đến ngôn ngữ được sử dụng trong một bộ phận người - tộc người, những dân tộc thiểu số Mỗi quốc gia bao gồm nhiều tộc người - dân tộc khác nhau Tuy nhiên trong quá trình phát triển, xã hội sẽ lựa chọn một ngôn ngữ

là ngôn ngữ chính thống của quốc gia đó, thường là ngôn ngữ của tộc người có số lượng dân số chiếm đa số Trong trường hợp đó, ngôn ngữ của các nhóm dân tộc khác sẽ trở nên yếu thế hơn - ngôn ngữ DTTS

Trang 29

Bảo tồn tiếng DTTS là một quá trình lưu giữ, phát triển tiếng nói, chữ viết của người DTTS trong cộng đồng thông qua các hình thức và biện pháp cụ thể góp phần giữ gìn và phát huy sự đa dạng của các yếu tố văn hóa dân tộc trong điều kiện hiện nay

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu bảo tồn tiếng nói của học sinh là người DTTS đang học ở các trường THCS Bàn đến khái niệm niệm tiếng dân tộc, đề tài tập trung giải thích:

Thuật ngữ tiếng mẹ đẻ: Tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ của dân tộc mình trong quan

hệ đối lập với các ngôn ngữ khác [32]

Thường được đề cập đến như là ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ tại nhà Hiểu theo

cách tiếp cận này, tiếng mẹ đẻ (mother language) là ngôn ngữ đầu tiên được con

người sử dụng trong giao tiếp, quen thuộc trước khi tiếp xúc với một ngôn ngữ giao

tiếp khác nó (second language)

1.1.2.3 Bảo tồn tiếng DTTS

Bảo tồn tiếng dân tộc là quá trình lưu giữ lại tiếng nói (ngôn ngữ nói) đã tồn tại trong cộng đồng Đối với các nhóm DTTS, nếu tiếng nói (ngôn ngữ) của họ bị mai một (số lượng người biết sử dụng loại ngôn ngữ này trong giao tiếp ngày càng ít) thì nền văn hoá đó cũng sẽ bị mai một theo Tiếng mẹ đẻ của một cá nhân càng phong phú, năng lực văn hoá của cá nhân ấy càng phát triển thì vốn văn hoá của cá nhân đó càng đa dạng Tiếng nói của mỗi cá nhân sẽ là phương tiện cho để họ làm giàu thêm vốn văn hoá của chính họ Do đó, việc làm giàu tiếng mẹ đẻ của mỗi cá nhân trong cộng đồng sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo tồn tiếng nói (ngôn ngữ) của DT

đó

Bảo tồn tiếng DTTS không phải là quá trình lưu giữ lại tất cả những gì đã có, thực chất ngôn ngữ DTTS luôn biến động cùng sự phát triển của xã hội loài người, việc bảo tồn ngôn ngữ là một quá trình làm cho ngôn ngữ của người DTTS có điều kiện tồn tại cùng với sự phát triển của các ngôn ngữ khác

Có hai hình thức bảo tồn được đề cập đến: Thứ nhất, bảo tồn trong trạng thái tĩnh Đây là hình thức bảo tồn được thực hiện qua quá trình tiến hành điều tra, sưu tầm, thu thập các thứ tiếng theo quy trình khoa học nghiêm túc, lưu giữ chúng trong sách vở, các ghi chép, các băng hình và băng tiếng Đây sẽ là căn cứ để các nhà khoa học có thể nghiên cứu, phục hồi các ngôn ngữ đã bị mai một; Thứ hai, Bảo tồn trong trạng thái “động”: Tiếng DT được bảo tồn trong chính đời sống của cộng đồng Cộng

Trang 30

đồng là nơi sản sinh ra các thứ tiếng (các ngôn ngữ khác nhau trong giao tiếp) và là nơi tốt nhất để bảo tồn, phát triển tiếng DT

Có thể hiểu bảo tồn tiếng DTTS là quá trình lưu giữ làm giàu và phong phú tiếng nói, chữ viết của người DTTS trong cộng đồng

Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tiếp cận nghiên cứu Bảo tồn tiếng DTTS là

quá trình tổ chức sư phạm giữa lực lượng tổ chức giáo dục và học sinh người DTTS nhằm lưu giữ, phát huy tiếng DTTS trong học tập, giao tiếp của học sinh người DTTS trong phạm vi trường học góp phần phát huy tiếng DTTS như một nét văn hóa dân tộc, tạo sự đa dạng ngôn ngữ trong điều kiện hiện nay

Như vậy, có thể hiểu bảo tồn tiếng dân tộc là lưu giữ và làm giàu thêm vốn tiếng nói đã có của mỗi tộc người trong một quốc gia đa dân tộc

1.1.2.4 Biện pháp bảo tồn tiếng dân tộc cho HS DTTS

Thuật ngữ DTTS chỉ những dân tộc có ít người, dân tộc có dân số ít là dựa trên

sự so sánh tỉ lệ dân số của từng DT trong một nước Mỗi quốc gia đa DT thường bao gồm nhiều tộc người với nhiều ngôn ngữ cùng với những đặc điểm văn hoá khác nhau

Ở Việt Nam, trừ tộc người Việt, các tộc người còn lại được coi là DTTS

DTTS là dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đông nhất trong một nước

Như vậy có thể hiểu: Biện pháp bảo tồn tiếng dân tộc cho HS DTTS là những

cách thức được triển khai, vận dụng thông qua quá trình tổ chức sư phạm nhằm phát huy việc sử dụng tiếng dân tộc (ngôn ngữ tộc người) của học sinh người DTTS trong học tập, giao tiếp ở trường học theo hướng giữ gìn và phát huy tiếng DTTS như một nét văn hóa dân tộc, tạo sự đa dạng ngôn ngữ trong điều kiện hiện nay

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn tiếng dân tộc

Vấn đề về bảo tồn bản sắc văn hóa của người DTTS luôn được Đảng và Chính phủ quan tâm, điều này được hiện thực hóa trên các văn bản, chỉ thị về vấn đề giáo dục dân tộc của Đảng, chính phủ và ngnafh Giáo dục & ĐT Cụ thể: Quyết định số 53/CP về

"Chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số" của Hội đồng Chính phủ (nay

Trang 31

là Thủ tướng Chính phủ) ban hành ngày 22-02-1980; Điều 4, Luật phổ cập giáo dục

tiểu học quy định về Giáo dục tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt quy định: “Các

dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học" Trong đó có quy định: Tiếng nói, chữ viết

của mỗi dân tộc thiểu số Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước Ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông; Chỉ thị số 38 ngày 9/11/2004 của Thủ tướng chính phủ về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi, cho thấy vấn đề chữ viết và tiếng nói của người DTTS được quan tâm trong rất nhiều năm trong lịch sử phát triển của ngành GD&ĐT

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về một số chủ trương, biện pháp tiếp tục

phát triển Kinh tế - Xã hội miền núi, số 525-TTg ngày 02/11/1993 cũng viết: "Tiếp

tục duy trì từng bước phát triển nâng cao các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng, khai thác và bảo tồn văn hoá lâu đời của cộng đồng các dân tộc Nghiên cứu khôi phục và nâng cao các lễ hội truyền thống lành mạnh"

Nghị quyết Trung ương V, khoá VIII của Đảng về "Xây dựng và phát triển nền

văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" khẳng định: "Nền văn hoá Việt

Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam"

Thông tư số 01/GD-ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 3/2/1997 hướng dẫn

về việc dạy tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số có hướng dẫn cụ thể “Ở những cơ

sở dạy tiếng dân tộc, tiếng dân tộc được giảng dạy như một môn học, bình đẳng với các môn học khác trong nhà trường nhằm mục đích giúp người học tiếp thu nhanh, thuận lợi các kiến thức được truyền đạt bằng tiếng dân tộc và tiếng phổ thông, góp phần bảo tồn và phát triển tiếng nói, chữ viết và vốn văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số”

NQTU 2 Khóa VIII định hướng chiến lược khoa học và công nghệ đến 2020 khẳng định “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” NQTU 5 khóa

VIII khẳng định phương hướng “xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên

tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa vǎn hóa nhân loại, làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình,

Trang 32

từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan

hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”

Trong đó quy định một số việc cần làm trước mắt:

- Xây dựng chương trình bộ môn tiếng dân tộc, biên soạn sách giáo khoa và tài liệu dạy học cần thiệt

- Đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng dân tộc

- Xác định mức độ dạy học tiếng dân tộc cho từng bậc học

Trích văn kiện ĐH Đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam có

ghi “… giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt

đẹp của các dân tộc”

Nghị định số 82 năm 2010 của Chính phủ (82/2010/NĐ-CP) quy định về việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông

và trung tâm giáo dục thường xuyên “Người DTTS có nguyện vọng, nhu cầu học tiếng

DTTS Bộ chữ tiếng DTTS được dạy và học trong nhà trường phải là bộ chữ cổ truyền được cộng đồng sử dụng, được cơ quan chuyên môn xác định hoặc bộ chữ đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn”; Nghị định số 05 ngày 14/01/2011 của Chỉnh phủ về

Công tác dân tộc có quy định tại mục 3 Điều 3 “Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc”

Ở nước ta, người DTTS có nhu cầu sử dụng cả tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ của mình Đồng thời họ cũng nhận thấy vai trò nghiêng về chức năng “phát triển kinh tế xã hội” của tiếng phổ thông và ưu tiên chức năng “nâng cao giá trị văn hóa” cho việc sử dụng tiếng mẹ đẻ đối với người dân tộc Mặc dù tiếng dân tộc là ngôn ngữ đặc trưng của tộc người nhưng vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc của người DTTS lại gặp nhiều khó khăn, rào cản trong điều kiện khi mà việc sử dụng tiếng Việt, tiếng Anh là một trong các điều kiện để trở thành người công dân toàn cầu hiện nay

Đảm bảo quyền bình đẳng cho người DTTS về ngôn ngữ quốc gia và tiếng mẹ

đẻ ở khía cạnh sử dụng cũng như sự thụ hưởng trong giáo dục Theo tác giả Phạm Văn Thông nghiên cứu, tổng thuật các chính sách của nhà nước ta hiện nay đối với

ngôn ngữ các dân tộc thiểu số: “Thừa nhận và đảm bảo về mặt pháp lý quyền có ngôn

Trang 33

ngữ, chữ viết riêng của tất cả các dân tộc ở Việt Nam; Thừa nhận và đảm bảo về mặt pháp lý quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ, quyền bảo tồn và phát triển tiếng nói chữ viết riêng của các DTTS; Tạo điều kiện để các dân tộc sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong các phạm vi và lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; Khuyến khích các DTTS học tiếng Việt, đưa tiếng Việt thực sự trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc, là phương tiện để đoàn kết, củng cố khối thống nhất các dân tộc anh em trong một quốc gia”

1.3 Mối quan hệ giữa tiếng dân tộc và văn hóa

1.3.1 Tiếng dân tộc - đặc trưng văn hóa tộc người

Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những phong tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân [31] Theo nghĩa hẹp, văn hóa được UNESCO quan niệm: Văn hóa là một hệ thống tổng thể những hệ thống biểu cảm (ký hiệu) chi phối cách giao tiếp và ứng xử trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù so với cộng đồng khác [Dẫn theo 25]

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [25] Cũng theo tác giả, trong rất nhiều định nghĩa về văn hóa có thể khái quát lại 3 khuynh hướng lớn về văn hóa: Khuynh hướng 1, văn hóa là kết quả, là những sản phẩm nhất định (Đó có thể là những giá trị, truyền thống, những nếp sống, những chuẩn mực, tư tưởng, ); Khuynh hướng 2, xem văn hóa như những quá trình (đó có thể là những hoạt động sáng tạo, quy trình, phương thức tồn tại, sinh sống và phát triển, cách thức thích ứng với môi trường, cách ứng xử của con người, ); Khuynh hướng thứ 3, xem văn hóa như những quan hệ, những cấu trúc giữa các giá trị, giữa con người với đồng loại và muôn loài [26]

Văn hóa tộc người đặc trưng bởi rất nhiều các yếu tố thuộc về cộng đồng dân tộc bao gồm tín ngưỡng, phong tục, tập quán, nếp sinh hoạt,… bao gồm cả những giá trị vật chất và phi vật chất Theo tác giả Ngô Đức Thịnh, “Văn hóa tộc người thường hình thành các nhóm địa phương, giữa các nhóm này có sự khác biệt về thổ ngữ, văn hóa, trang phục, phong tục tập quán, nghi lễ, trong một số trường hợp,

Trang 34

như các nhóm địa phương của tộc người H’Mông, Dao, thì sự khác biệt ấy là khá lớn thậm chí tiếng nói giữa các nhóm địa phương này cũng rất khác nhau Chính

điều đó tạo cho các cộng đồng tộc người sự đa dạng và phong phú về văn hóa [28] Theo tác giả Phan Hữu Dật "Tộc người là một cộng đồng người được hình thành

trong lịch sử, mang ba tiêu chuẩn chủ yếu sau đây: cùng chung tiếng nói; cùng có chung một ý thức tự giác tộc người biểu hiện ở tên tự gọi chung; có những yếu tố

văn hoá thống nhất [5]

Tộc người là một chủ thể mang tính cộng đồng, sáng tạo nên ngôn ngữ và văn hóa mang đặc trưng của tộc người với ý thức tự giác tộc người Văn hoá tộc người được hiểu theo nghĩa rộng nhất là tập hợp những phương thức hoạt động riêng biệt với những kết quả cụ thể của một cá nhân cũng như của cả một cộng đồng tộc người Trong trường hợp này văn hóa chính là văn hóa của tộc người, được hình thành trong quá trình phát triển của tộc người và là sản phẩm của quá trình phát triển cộng đồng tộc người Trong văn hoá tộc người, các yếu tố đầu tiên được nhận diện là ngôn ngữ, trang phục, tín ngưỡng và nghi lễ, vốn văn học dân gian, tri thức dân gian về tự nhiên

xã hội, về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm lý dân tộc… [38]

Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần làm nên sự phong phú đa dạng trong tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam Bản sắc văn hóa của các dân tộc được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc, điều đó đã tạo nên những sắc thái văn hóa riêng đối với từng dân tộc Sự thống nhất trong đa dạng là đặc điểm

của nền văn hóa cộng đồng các dân tộc ở nước ta Dưới góc độ văn học: văn hoá tộc

người là toàn bộ các giá trị văn hoá vật chất và tinh thần mà chủ thể sáng tạo, người mang chứa (người bảo lưu giữ gìn), người hưởng thụ và người biểu hiện nó là chính tộc người đó [26]

Ferdinand de Saussure (1857-1913), nhà ngôn ngữ học xuất sắc người Thụy

Sĩ, là người được xem là đã có công đem lại cho ngôn ngữ học tư cách một khoa học độc lập, với nhiều luận điểm được đúc kết trong ý tưởng cơ bản của công trình Cours de linguistique générale (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, 1916): thừa

nhận "Phong tục của một dân tộc có tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong một

chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc"

Ngôn ngữ (tiếng nói được sử dụng trong giao tiếp của tộc người) là một yếu

tố thành phần tạo nên bản sắc văn hóa tộc người Khi những điều kiện xã hội thay

Trang 35

đổi, các yếu tố thuộc về xã hội loài người cũng có sự thay đổi theo như: nhu cầu giải trí, nghề nghiệp, thiết chế xã hội và thiết chế văn hóa,… trong đó ngôn ngữ không phải là ngoại lệ Xu hướng phát triển hiện nay của văn hóa các tộc người cũng cho thấy những yếu tố thuộc về bản sắc văn hóa tộc người như: ngôn ngữ, tập tục, tín ngưỡng, nếp sinh hoạt,… đang thay đổi theo xu hướng một mặt chuyển biến những yếu tố (giá trị) mới bên ngoài thành các giá trị nội tại, một mặt vẫn giữ được những yếu tố cốt lõi của dân tộc (tộc người)

1.3.2 Tiếng dân tộc trong xu thế phát triển văn hóa hiện nay

Hiện nay tiếng dân tộc của người DTTS đang dần bị mai một trong xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển kinh tế xã hội và văn hóa Thực

tế cho thấy cộng đồng người DTTS có số lượng hạn chế hơn cộng đồng người dân tộc Kinh (sử dụng Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ), bên cạnh đó ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp và trong giáo dục là Tiếng Việt Đây là ngôn ngữ quốc gia, cũng là ngôn ngữ chiếm ưu thế trong sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay Một đứa trẻ trước khi đến lớp học có thể không biết giao tiếp bằng Tiếng Việt, nhưng nó sẽ biết giao tiếp bằng Tiếng Việt sau một khoảng thời gian nhất định vì việc dạy trẻ được tiến hành theo hướng trẻ tiếp cận dần với tiếng Việt dần thay thế tiếng tộc người ở những bậc học cao hơn Cùng với đó là việc học tiếng Anh, tiếng Anh môn học bắt buộc trong nhà trường do đó các ngôn ngữ này ít nhiều có tác động, ảnh hưởng đến nhu cầu lưu giữ tiếng dân tộc do đó việc ảo tồn tiếng dân tộc đối với thế hệ trẻ người DTTS là một vấn đề

Theo tác giả Nguyễn Văn Khang trong bài viết “Giáo dục ngôn ngữ ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” khẳng định: Giáo dục ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong nhà trường là một nội dung được quy định trong Luật Giáo dục Liên quan đến nội dung này, với tư cách là môn học và tư cách là ngôn ngữ dùng để giảng dạy, tiếng dân tộc thiểu số cần có sự lựa chọn: 1/ lựa chọn tiếng dân tộc để dạy-học; 2/ lựa chọn tiếng dân tộc để làm công cụ giảng dạy [19]

Theo tác giả, đối với vấn đề thứ nhất, bao trùm lên vấn đề này là thái độ ngôn ngữ Thái độ ngôn ngữ là sự đánh giá về giá trị và khuynh hướng hành vi của cộng đồng hay cá nhân đối với một ngôn ngữ nào đó Ở đây, thái độ ngôn ngữ chính là thái

độ đối với việc dạy - học tiếng dân tộc thiểu số hiện nay; thái độ đối với việc lựa chọn ngôn ngữ (trong số các tiếng dân tộc thiểu số) để dạy- học và thái độ đối với việc lựa chọn tiếng địa phương và chữ viết (trong số các phương ngữ, các loại chữ viết của

Trang 36

một tiếng dân tộc thiểu số) để dạy học Thái độ ngôn ngữ này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả dạy- học tiếng dân tộc thiểu số Cụ thể:

- Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập hiện nay, thông tin rộng và đa chiều, nhu cầu về đời sống rất lớn Điều này luôn đặt ra câu hỏi cho các bậc phụ huynh và học sinh: học tiếng dân tộc thiểu số - tiếng mẹ đẻ của mình liệu có giúp ích gì cho đời sống vật chất và tinh thần trong tương lai? Người dân tộc thiểu số, nhất là bậc trí thức

và những người lớn tuổi hiểu rõ về giá trị của việc bảo tồn tiếng nói chữ viết của mình, hiểu rõ về lòng tự tôn dân tộc, những sự đòi hỏi của cuộc sống về vật chất (mưu sinh và cả sự giàu có) và về tinh thần (đang được truyền thông rộng rãi bằng tiếng Việt và tiếng Anh) đang buộc họ phải lựa chọn trong học tập và sử dụng ngôn ngữ, trước hết đó là tiếng Việt và tiếng Anh Bởi ngôn ngữ vừa là điều kiện bắt buộc vừa

là chiếc cầu nối để con em họ có thể tiếp xúc với xã hội rộng lớn, đến với khu công nghiệp, đô thị và những nơi khác ngoài biên giới Trong khi đó, chữ dân tộc thiểu số

ít được sử dụng, ấn phẩm lại không nhiều, Và, nếu cùng một lúc, các em học sinh dân tộc thiểu số vừa học tiếng Việt vừa học tiếng Anh vừa học tiếng và chữ dân tộc thiểu số (không kể các môn học khác) trong điều kiện còn nhiều khó khăn thì lại là

cả một gánh kiến thức đè nặng lên các em Đấy là chưa kể đến các điều kiện khác như làm sao để có được giáo viên người dân tộc, việc lựa chọn ngôn ngữ của dân tộc nào để dạy học tại một trường học có các học sinh thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau Cho nên, nếu có sự ít hứng thú, chểnh mảng trong học tập dẫn đến hiệu quả của môn môn học này không cao thì cũng là điều dễ hiểu

- Ngay cả đối với một ngôn ngữ dân tộc thiểu số thì việc lựa chọn chữ viết và phương ngữ nào để dạy - học có lẽ là một vấn đề liên quan đặc biệt đến thái độ ngôn ngữ Khác với ngôn ngữ chung - tiếng Việt toàn dân, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số đang tồn tại và hành chức dưới dạng các phương ngữ và các loại chữ viết khác nhau tại các địa phương khác nhau Do chỉ có chức năng giao tiếp trong phạm vi nội bộ dân tộc tại các địa phương, lại cách xa nhau về địa lí nên các phương ngữ của một tiếng dân tộc có những điểm khác nhau (thậm chí có một số phương ngữ có sự khác nhau tương đối lớn)

Do không có quy định chính thức về cộng đồng ngữ (ngôn ngữ chung) và chữ viết chung cho mỗi một ngôn ngữ dân tộc thiểu số, nên một tiếng dân tộc có thể cùng một lúc sử dụng nhiều loại chữ viết (chữ viết truyền thống, chữ viết cải tiến, chữ viết

do các nhóm xã hội, cá nhân tự chế tác, ) Đây là một khó khăn thực sự khi đưa một tiếng dân tộc nào đó làm môn học trong nhà trường Bởi vì, việc lựa chọn phương

Trang 37

ngữ nào, chữ viết nào đều liên quan đến thái độ ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số Chẳng hạn, trong quá trình điều tra, khảo sát, chúng tôi thường nhận được những cầu hỏi của người dân như: Sao lại không chọn tiếng nói chữ viết của tôi (bản làng tôi, vùng tôi) mà lại chọn tiếng nói, chữ viết của người khác (bản làng khác, vùng khác)? Tiếng này, chữ viết kia không phải là tiếng nói, chữ viết của chúng tôi; Chúng tôi nghe không hiểu cái thứ tiếng này, không đọc được cái chữ viết này (mặc dù có thể

vẫn hiểu được, đọc được); Vì thế, một bộ sách học tiếng, chữ chung cho một dân

tộc ở các vùng khác nhau đang là cả một vấn đề Nhân tố quan trọng nhất đem lại sức sống cho các ngôn ngữ là chúng có vai trò như thế nào trong đời sống xã hội

[19]

Đối với vấn đề thứ hai - tiếng dân tộc thiểu số với tư cách là công cụ giảng

dạy, tại điểm 1 trong Điều 07 của Luật Giáo dục đã nêu rõ: Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác Cũng tại Điều 04 trong Luật Phổ cập giáo dục tiểu học, 1991 có ghi:

“Giáo dục tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học” (Luật Phổ cập giáo dục, 1991)

Như vậy, tại các vùng dân tộc thiểu số, tiếng dân tộc thiểu số còn có thể được coi là ngôn ngữ công cụ trong dạy - học ở bậc tiểu học Cần nhấn mạnh là, đó là thứ ngôn ngữ công cụ cùng với tiếng Việt để thực hiện chức năng ngôn ngữ công cụ Điều đó có nghĩa rằng, quy định này không có gì mâu thuẫn với điểm 1 trong Điều 7 của Luật Giáo dục 2005 Tuy nhiên, do đặc điểm cư trú đan xen, một lớp học ở bậc tiểu học tại vùng dân tộc thiểu số có thể gồm học sinh của vài ba dân tộc thiểu số (thậm chí nhiều hơn); lực lượng giáo viên là người dân tộc thiểu số còn mỏng và các điều kiện vật chất chưa đủ để có thể chia tách thành các lớp nhỏ, thậm chí rất nhỏ theo từng dân tộc thiểu số; Những nhân tố này ảnh hưởng bất lợi đến việc sử dụng tiếng dân tộc thiểu số với tư cách là ngôn ngữ công cụ mang tính hỗ trợ cho tiếng Việt Theo tác giả, cần căn cứ vào tình hình cụ thể của Việt Nam cũng như tình hình

Trang 38

1.4 Giáo dục bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh là người DTTS ở trường THCS

1.4.1 Đặc điểm HS THCS người DTTS

Học sinh dân tộc thiểu số thường có biểu hiện nhút nhát trong giao tiếp, đặc biệt

là trong khoảng thời gian vừa mới nhập trường Các em gặp nhiều khó khăn trong vấn đề giao tiếp khi đến trường vì một số lý do cơ bản

Học sinh người DTTS gặp khó khăn về rào cản về ngôn ngữ khi giao tiếp bằng tiếng Việt với bạn bè và thầy cô do vốn tiếng Việt của các em phần nào vẫn còn hạn chế Bên cạnh đó các giáo viên đa số đều là người dân tộc Kinh từ nơi khác đến dạy nên khả năng giao tiếp bằng tiếng dân tộc thiểu số của thầy cô còn hạn chế Chính rào cản ngôn ngữ đó là một trong các nguyên nhân khiến các em cảm thấy tự ti trong giao tiếp với bạn bè, với thầy cô giáo, dễ hình thành một khoảng cách tâm lý trong vấn đề giao tiếp của các em ở nhà trường Các em sẽ không dám mạnh dạn bày tỏ quan điểm cá nhân, sợ phát biểu hoặc không dám chia sẻ những khó khăn của mình với bạn bè, thầy cô Trong quá trình học tập, sự khó khăn về ngôn ngữ cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần và khả năng học tập của các em

Ngoài những khó khăn về rào cản ngôn ngữ thì các em còn gặp những khó khăn khác trong giao tiếp do vốn tri thức, vốn kinh nghiệm sống của các em phần nhiều liên quan đến cuộc sống ở khu vực miền núi, lối sống này chịu sự chi phối của phong tục tập quán địa phương, của dân tộc mình Chính những khó khăn, và những ảnh hưởng đó dẫn đến hình thành một xu hướng giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu số đó là các em thường kết bạn và giao tiếp tích cực với những bạn cùng dân tộc hoặc cùng địa phận sinh sống với mình

Hầu hết các vùng dân tộc thiểu số, do đặc điểm sống đan xen lẫn nhau giữa các dân tộc nên môi trường ngôn ngữ ở đây không đơn nhất Người sinh sống ở những khu vực này không hoàn toàn là người thuộc riêng một tộc người nào đó mà có thể là nhiều dân tộc cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ Trong môi trường giao tiếp này, con người có thể giao tiếp với nhau bằng tiếng của một dân tộc nhất định nào đó (ví

dụ như tiếng Tày), tuy nhiên cũng có thể là họ quy ước sử dụng chung một ngôn ngữ trong giao tiếp, sinh hoạt bởi vì tiềng nói/ ngôn ngữ đó chiếm ưu thế hơn hoặc cũng

có thể sử dụng cùng lúc đồng thời nhiều ngôn ngữ trong cùng địa bàn cư trú

Các em học sinh ở độ tuổi THCS có nhu cầu kết bạn, nhu cầu sẻ chia những tâm

sự, tình cảm, xúc cảm thầm kín Chính vì thế mà học sinh THCS người DTTS có nhu

Trang 39

cầu cao trong sử dụng tiếng mẹ đẻ để trò chuyện, tâm sự khi đề cập đến những điều riêng tư với bạn bè

Trong học tập, do sự hạn chế về hiểu biết, về vốn kinh nghiệm sống hoặc hạn chế về khả năng sử dụng tiếng Việt, nên có những trường hợp các em đôi lúc cần sử dụng tiếng mẹ để trình bày một nội dung, một kiến thức nào đó trong bài học Một thực tế có thể dễ dàng nhận thấy đó là, nhờ có kết quả của các chương trình giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ ở các cấp học ban đầu(Mầm non, Tiểu học) và sự hòa nhập cộng đồng mà hiện nay đa số học sinh người dân tộc thiểu số ở cấp Trung học cơ sở đều có khả năng sử dụng tiếng Việt một cách thành thạo, giúp các em về

cơ bản có thể vượt qua rào cản về ngôn ngữ Nhưng bên cạnh đó không thể phủ nhận rằng các em vẫn có nhu cầu giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ của mình

1.4.2 Mục tiêu giáo dục bảo tồn tiếng DTTS

Trên thực tế, tiếng DTTS theo năm tháng và thời gian, cùng với sự vận động phát triển của điều kiện kinh tế xã hội có ít nhiều ảnh hưởng, mai một dần đi trong cộng đồng người DTTS Để gìn giữ và phát huy tiếng DTTS như là một nét văn hóa dân tộc đặc sắc thì bên cạnh những giải pháp về mặt xã hội như truyền thông XH về bảo tồn tiếng DTTS, bản tin tiếng DTTS,… thì việc tiếp cận bảo tồn tiếng DTTS theo hướng giáo dục nhà trường là cần thiết

Giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh DTTS ở các trường THCS giúp việc lưu giữ được ngôn ngữ nói, viết của tộc người trong giao tiếp của các em học sinh người DTTS, đồng thời hòa nhập chương trình giáo dục quốc gia để qua đó bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa của các DTTS, góp phần nâng cao chất lượng GD vùng DTTS

1.4.3 Nhu cầu bảo tồn tiếng DT cho học sinh người DTTS

Bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh người DTTS có ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu về bảo tồn tiếng dân tộc được tiếp cận theo hướng giáo dục ngôn ngữ tộc người cho học sinh được đề cập trên cơ sở nhu cầu ngôn ngữ của chính người DTTS Việc nhận biết người dân địa phương lựa chọn ngôn ngữ nào trong hoàn cảnh đa ngôn ngữ là cần

thiết như tác giả Trần Trí Dõi đã khẳng định “Việc tổ chức giáo dục ngôn ngữ trên

vùng lãnh thổ chỉ thu được kết quả khi hoạt động đó thực sự đáp ứng nhu cầu tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ của người dân trong vùng” [11]

Trên cơ sở nghiên cứu điền dã tại một số tỉnh miền núi Phía Bắc, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng “Nhu cầu tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ là do thực tế sử dụng ngôn

Trang 40

ngữ của người dân quy định Đến lượt nó, nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số lại do chức năng xã hội của ngôn ngữ chi phối” Những kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng sự lựa chọn ngôn ngữ của người dân tộc cũng rất đa dạng

“Khi tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ, có nhóm dân tộc ưu tiên lựa chọn tiếng mẹ đẻ,

có nhóm lại ưu tiên lựa chọn tiếng phổ thông, còn việc lựa chọn ngôn ngữ vùng thường rất ít nhận thấy Sự lựa chọn ấy không chỉ khác nhau ở những dân tộc khác nhau mà ngay trong cùng một dân tộc cũng có sự khác nhau như thế Nó tuỳ thuộc vào lứa tuổi, vào nghề nghiệp và vào môi trường sinh thái ngôn ngữ hay thái độ sử dụng ngôn ngữ”

Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ra rằng: ở thị trấn Đình Cả (huyện Võ Nhai, Thái Nguyên) qua phỏng vấn người Tày chỉ có 73,2% cư dân là nói được tiếng mẹ đẻ (trong đó học sinh là 53,8%, cán bộ công chức là 75,0% và người dân thường là 90,9%) nhưng có tới 100% cư dân nói tiếng phổ thông; còn khi phỏng vấn người Nùng nơi đây thì 100% đều nói tiếng phổ thông và cũng chỉ 73,3% số người nói được tiếng mẹ đẻ (trong đó học sinh là 62,5%, cán bộ công chức là 77,8%

và người dân là 83,3%) Ở thị trấn Cao Lộc (huyện lỵ Cao Lộc, Lạng Sơn) cũng chỉ 78,5% người Tày và 72,3% người Nùng (tỷ lệ học sinh là 42,2%, cán bộ công chức 100% và người dân là 86,6%) nói được tiếng mẹ đẻ, trong khi đó 100% cư dân của hai tộc người này đều nói được tiếng phổ thông Người Thái ở những tỉnh khác cũng

có hiện tượng tương tự như thế

Qua số liệu khảo sát ở các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Mông, Cao Lan, Thái,… ở miền Bắc Việt Nam nhóm tác giả đã công bố, nhóm tác giả kết luận: việc nhận biết chính xác nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số là cần thiết trong giáo dục song ngữ Nói một cách khác, chính nhu cầu sử dụng ngôn ngữ quy định thái độ tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số Tính phức tạp của hoạt động giáo dục song ngữ ở một đất nước có điều kiện đa ngữ đan xen như Việt Nam sẽ giảm thiểu đến mức tối đa khi chúng ta nhận biết chính xác nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số ở những vùng lãnh thổ cụ thể, xác định [11]

Ngày đăng: 23/11/2016, 21:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Bình (2010), "Một số vấn đề về tộc người và dân tộc ở Việt Nam", Tạp chí NCVH, (số 2), Trường ĐHVH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tộc người và dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Năm: 2010
2. Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 202-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và đào tạo (2012), Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2012 -2013 đối với giáo dục dân tộc, CV5212/BGDĐT-GDDT/ HD, ngày 12/8/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2012 -2013 đối với giáo dục dân tộc
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2012
4. Bộ GD &ĐT (1997), Thông tư số 01/GD-ĐT của Bộ Giáo dục và đào tạo về hướng dẫn về việc dạy tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số, ngày 3/2/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ GD &ĐT (1997), "Thông tư số 01/GD-ĐT của Bộ Giáo dục và đào tạo về hướng dẫn về việc dạy tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số
Tác giả: Bộ GD &ĐT
Năm: 1997
5. Phan Hữu Dật (1998), Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
6. Trần Trí Dõi (2006), Những vấn đề về ngôn ngữ học, Báo cáo tại hội thảo khoa học, Nxb Quốc gia, Hà Nội, tr. 211 - 224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về ngôn ngữ học
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Quốc gia
Năm: 2006
7. Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
8. Trần Trí Dõi (2003), Chính sách ngôn ngữ văn hoá dân tộc ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003, tr. 56-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngôn ngữ văn hoá dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
9. Trần Trí Dõi (2000), Chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam và giá trị của nó trong phát triển bền vững vùng lãnh thổ, Hội thảo quốc tế về Đóng góp của KHXH - Nhân văn và sự phát triển kinh tế - Xã hội tr.156-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam và giá trị của nó trong phát triển bền vững vùng lãnh thổ
Tác giả: Trần Trí Dõi
Năm: 2000
10. Trần Trí Dõi (2001), Một vài nhận xét về giáo dục ngôn ngữ cho vùng dân tộc miền núi ở Việt Nam trong chặng đường 55 năm qua, Kỉ yếu HTKH Kỉ niệm 55 năm CMTT và QK2/9, Nxb ĐHQG, Hà Nội, tr. 152-159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về giáo dục ngôn ngữ cho vùng dân tộc miền núi ở Việt Nam trong chặng đường 55 năm qua
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2001
11. Trần Trí Dõi (2004), Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía bắc Việt Nam những kiến nghị và giải pháp, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía bắc Việt Nam những kiến nghị và giải pháp
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
12. Trần Trí Dõi (2004), Một vài ý kiến về vấn đề xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam, http://www.talawas.org, ngày 30/11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về vấn đề xây dựng chính sách giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Năm: 2004
13. Trần Trí Dõi (2008), “Vấn đề lựa chọn ngôn ngữ trong tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ ở một vài dân tộc thiểu số của Việt Nam”, Tạp chí Ngôn ngữ, 11(234)- 2008, tr.10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề lựa chọn ngôn ngữ trong tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ ở một vài dân tộc thiểu số của Việt Nam”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Trí Dõi
Năm: 2008
14. Nguyễn Anh Dũng (2003), Các giải pháp triển khai chương trình và SGK mới vào vùng DTTS và miền núi, Đề tài cấp Bộ: B2003-49-40,Viện chiến lược &Chương tình GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp triển khai chương trình và SGK mới vào vùng DTTS và miền núi
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng
Năm: 2003
15. Phùng Thị Hằng (2006), Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực Đông Bắc Việt Nam, Đề tài KHCN cấp Bộ, ĐH Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Phùng Thị Hằng
Năm: 2006
16. Dương Phú Hiệp (2015), Quan niệm về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị truyền thống Việt Nam với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, http://www.vanhoahoc.vn, ngày 20/8/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị truyền thống Việt Nam với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Năm: 2015
17. Ngô Công Hoàn (1995), Một số vấn đề giao tiếp sư phạm, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giao tiếp sư phạm
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 1995
18. Hà Thị Thu Hương (2007), Mối quan hệ văn hóa Tày - Việt dưới góc độ thẩm mỹ qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản, Luận án tiến sĩ Văn học, ĐHKHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ văn hóa Tày - Việt dưới góc độ thẩm mỹ qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản
Tác giả: Hà Thị Thu Hương
Năm: 2007
19. Nguyễn Văn Khang (2008), “Giáo dục ngôn ngữ ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, tháng 6/2009, tr.73-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục ngôn ngữ ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”," Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 2008
38. Huang xing (2008), Minority language planning of China in relation to use and development, http://www.sil.org/asia/ldc/parallel papers/huang xing.pdf, October 14,2008 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Nhận thức về vai trò của bảo tồn tiếng DTTS cho HS người DTTS - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.3. Nhận thức về vai trò của bảo tồn tiếng DTTS cho HS người DTTS (Trang 56)
Bảng 2.7. Nhận thức về bảo tồn tiếng DTTS - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.7. Nhận thức về bảo tồn tiếng DTTS (Trang 59)
Bảng 2.8. Thực trạng nhu cầu sử dụng tiếng DTTS trong giao tiếp của HS người DTTS - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.8. Thực trạng nhu cầu sử dụng tiếng DTTS trong giao tiếp của HS người DTTS (Trang 65)
Bảng 2.9. Ý kiến của học sinh người DTTS về bảo tồn tiếng DTTS trong giai đoạn hiện nay - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.9. Ý kiến của học sinh người DTTS về bảo tồn tiếng DTTS trong giai đoạn hiện nay (Trang 72)
Bảng 2.14. Biện pháp phát huy tiếng dân tộc thiểu số trong nhà trường - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.14. Biện pháp phát huy tiếng dân tộc thiểu số trong nhà trường (Trang 83)
Bảng 2.16. Thực trạng hoạt động triển khai trong trường học bảo tôn tiếng dân tộc cho HS người DTTS - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.16. Thực trạng hoạt động triển khai trong trường học bảo tôn tiếng dân tộc cho HS người DTTS (Trang 89)
Bảng 2.1.a. Số liệu cụ thể của bảng 2.1 - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.1.a. Số liệu cụ thể của bảng 2.1 (Trang 117)
Bảng 2.7a. Cụ thể số liệu khảo sát theo tỉnh - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.7a. Cụ thể số liệu khảo sát theo tỉnh (Trang 118)
Bảng 2.8a. Số liệu khảo sát cụ thể theo các tỉnh - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.8a. Số liệu khảo sát cụ thể theo các tỉnh (Trang 127)
Bảng 2.9a. Số liệu khảo sát bảng 2.9 thể theo các tỉnh - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.9a. Số liệu khảo sát bảng 2.9 thể theo các tỉnh (Trang 133)
Bảng 2.14a. Thông tin số liệu khảo cụ thể các tỉnh - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.14a. Thông tin số liệu khảo cụ thể các tỉnh (Trang 149)
Bảng 2.15a1. Thực trạng GT bằng tiếng dân tộc của HS DTTS - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.15a1. Thực trạng GT bằng tiếng dân tộc của HS DTTS (Trang 156)
Bảng 2.15.b1. Thông tin cụ thể bảng 2.15.b - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.15.b1. Thông tin cụ thể bảng 2.15.b (Trang 161)
Bảng 2.17a. Số liệu cụ thể của bảng 2.17 - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.17a. Số liệu cụ thể của bảng 2.17 (Trang 166)
Bảng 2.18a. Những khó khăn trong bảo tồn tiếng DTTS - BẢO TỒN TIẾNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Bảng 2.18a. Những khó khăn trong bảo tồn tiếng DTTS (Trang 173)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm