Hiện nay vấn đề tư duy thể loại hay đổi mới tư duy tiểu thuyết đang là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm chú ý của không ít các nhà nghiên cứu lý luận phê bình và những cuộc bàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ HỒNG HOAN
TƯ DUY TIỂU THUYẾT TRONG
GẶP GỠ CUỐI NĂM VÀ THƯỢNG ĐẾ THÌ CƯỜI CỦA NGUYỄN KHẢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ HỒNG HOAN
TƯ DUY TIỂU THUYẾT TRONG
GẶP GỠ CUỐI NĂM VÀ THƯỢNG ĐẾ THÌ CƯỜI CỦA NGUYỄN KHẢI
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lý Hoài Thu
HÀ NỘI, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn: PGS TS Lý Hoài Thu, người đã
hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Cô đã cung cấp tài liệu và truyền thụ cho tôi những kiến thức mang tính khoa học và hơn nữa là phương pháp nghiên cứu khoa học Sự quan tâm, bồi dưỡng của cô đã giúp tôi tự tin và giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình hoàn thành luận văn cũng như trong quá trình học tập và nghiên cứu của tôi Đối với tôi cô luôn là tấm gương sáng về tinh thần làm việc không mệt mỏi, lòng hăng say với khoa học, lòng nhiệt tình quan tâm bồi dưỡng thế hệ trẻ
Nhân dịp này cho phép tôi được chân thành cảm ơn Ban Chủ Nhiệm Khoa Ngữ Văn Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 và các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Học viên
Trần Thị Hồng Hoan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình nghiên cứu luận văn về đề tài: Tƣ duy tiểu thuyết
trong Gặp gỡ cuối năm và Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, tôi đã
thực sự cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu đề tài để hoàn thành luận văn Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành là do sự nỗ lực của bản thân cùng với
sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình và hiệu quả của PGS TS Lý Hoài Thu Đây
là đề tài không trùng với các đề tài khác và kết quả đạt được không trùng với kết quả của các tác giả khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Học viên
Trần Thị Hồng Hoan
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 01
1 Lí do chọn đề tài 01
2 Lịch sử vấn đề 03
3 Mục đích nghiên cứu 08
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 08
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 09
6 Phương pháp nghiên cứu 09
7 Đóng góp của đề tài 09
8 Cấu trúc của luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ TƯ DUY TIỂU THUYẾT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHẢI ……11
1.1 Khái lược chung về tư duy tiểu thuyết 11
1.1.1 Tư duy 11
1.1.2 Khái lược về tiểu thuyết 12
1.1.3 Tư duy tiểu thuyết 14
1.2 Hành trình sáng tác của Nguyễn Khải 17
1.2.1 Những chặng đường sáng tác 17
1.2.2 Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khải trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại 20
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT VÀ KẾT CẤU HAI TRONG TIỂU THUYẾT GẶP GỠ CUỐI NĂM VÀ THƯỢNG ĐẾ THÌ CƯỜI CỦA NGUYỄN KHẢI DƯỚI GÓC NHÌN TƯ DUY TIỂU THUYẾT 32
2.1 Nhân vật trong hai tiểu thuyết của Nguyễn Khải 32
2.1.1 Vài nét về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới 32
Trang 62.1.2 Nhân vật trong hai tiểu thuyết “Gặp gỡ cuối năm” và “Thượng đế
thì cười” của Nguyễn Khải 35
2.2 Kết cấu trong hai tiểu thuyết của Nguyễn Khải 45
2.2.1 Vài nét về kết cấu tiểu thuyết 45
2.2.2 Kết cấu trong hai tiểu thuyết “Gặp gỡ cuối năm” và “Thượng đế thì cười” của Nguyễn Khải 46
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT VÀ KHÔNG GIAN - THỜI GIAN TRONG HAI TIỂU THUYẾT GẶP GỠ CUỐI NĂM VÀ THƯỢNG ĐẾ THÌ CƯỜI CỦA NGUYỄN KHẢI DƯỚI GÓC NHÌN TƯ DUY TIỂU THUYẾT 52
3.1 Nghệ thuật trần thuật 52
3.1.1 Điểm nhìn trần thuật 52
3.1.2 Giọng điệu trần thuật 56
3.2 Thời gian và không gian nghệ thuật 68
3.2.1 Thời gian nghệ thuật 69
3.2.2 Không gian nghệ thuật 73
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tư duy nghệ thuật là yếu tố có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động sáng tạo văn học Nó phản ánh những nhận thức của nhà văn về thể loại từ đó quy định đến hầu hết các yếu tố của sáng tạo nghệ thuật: từ quan niệm về tác giả - tác phẩm - người đọc, quan niệm về hiện thực, về con người,
về thể loại đến việc lựa chọn vấn đề phản ánh và các yếu tố thuộc về thi pháp thể loại Những đổi mới trong nghệ thuật tiểu thuyết luôn bắt nguồn từ những đổi mới về tư duy thể loại Nhận thức được vai trò quan trọng của tư duy thể loại trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật chính là lí do đầu tiên đưa chúng tôi đến với đề tài này
1.2 Tiểu thuyết là một trong những thể loại có vai trò quan trọng góp phần làm nên diện mạo của một nền văn học Nó cũng là thể loại có những biến chuyển mạnh mẽ nhất và “nòng cốt thể loại chưa hề rắn lại” (Bakhtin) Hiện nay vấn đề tư duy thể loại hay đổi mới tư duy tiểu thuyết đang là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm chú ý của không ít các nhà nghiên cứu lý luận phê bình và những cuộc bàn luận xung quanh vấn đề này vẫn chưa đi đến hồi kết Những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, giới nghiên cứu văn học của nhiều nước trên thế giới đã có những cuộc bàn luận sôi nổi về các vấn
đề như: Tiểu thuyết có khủng hoảng hay không và nếu có thì vì sao khủng hoảng? Tiểu thuyết có chết không và nếu có thì sao lại chết? Tiểu thuyết có đang phát triển không và nếu có thì xu hướng phát triển của nó như thế nào?
Có phải tiểu thuyết đã cạn kiệt? Tiểu thuyết sẽ đi về đâu… Bên cạnh những câu hỏi lớn về tiểu thuyết, hàng loạt những tên gọi tiểu thuyết mới xuất hiện: Tiểu thuyết mới, tiểu thuyết mới mới, phản tiểu thuyết, siêu tiểu thuyết, tiểu thuyết trừu tượng, tiểu thuyết tự sinh, tiểu thuyết phi lí…Đến nay thế kỉ XX
Trang 8đã khép lại hơn một thế kỉ nhưng những câu hỏi ấy vẫn còn giữ nguyên tính thời sự
Hòa cùng xu hướng đó, cho đến thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, văn học Việt Nam vẫn đang trăn trở tìm lời đáp cho câu hỏi: Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu? Có hay không vấn đề khủng hoảng trong tiểu thuyết Việt Nam
đương đại? Hội thảo về Đổi mới tư duy tiểu thuyết Việt Nam năm 2002 của
Hội Nhà Văn được tổ chức phần nào cũng để tìm lời đáp cho những vấn đề nóng bỏng của hiện trạng tiểu thuyết đương đại
Đi tìm đáp án cho hàng hoạt câu hỏi trên, góp thêm một cái nhìn mới, một nhận định mang tính lí luận và hệ thống về tiểu thuyết Việt Nam đương đại (thông qua tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khải) là nhiệm vụ và cũng là mục đích lớn nhất mà luận văn đặt ra Để trả lời cho những câu hỏi trên, việc nghiên cứu về tư duy tiểu thuyết là một vấn đề có tính cấp thiết và có ý nghĩa
lý luận cũng như thực tiễn
1.3 Trong số những nhà văn có nhiều đóng góp quan trọng cho quá trình đổi mới văn học sau 1975, chúng ta phải kể đến Nguyễn Khải Với hơn nửa thế kỷ sáng tác, Nguyễn Khải đã để lại một sự nghiệp văn học tương đối lớn, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền văn xuôi hiện đại và đương đại Những đóng góp ấy đã được ghi nhận bởi sức sống, sự hấp dẫn từ các tác phẩm của ông với độc giả và được cụ thể hoá qua những phần thưởng
cao quý như: Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam (năm 1982 và năm 1988); giải thưởng văn học ASEAN (năm 2000); giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II (năm 2000) Là nhà văn sớm định hình phong cách nghệ thuật riêng
nhưng Nguyễn Khải đã không sáng tác theo một khuynh hướng nào cố định
mà ông luôn viết và thể nghiệm những hướng đi mới, cách viết mới Đó là lý
do bạn đọc thường nhận ra sau mỗi tác phẩm của ông một Nguyễn Khải vừa quen mà vừa lạ Người ta quen nhắc đến ông với một phong cách văn xuôi
Trang 9triết luận, đậm tính thời sự, tính thông tấn… Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm nêu trên, những tiểu thuyết của Nguyễn Khải giai đoạn sau năm 1978 còn thể hiện một tư duy tiểu thuyết rõ nét Đó là một nét đẹp mới, góp phần quan trọng làm nên diện mạo riêng của nhà văn và diện mạo chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Năm 1984, Nguyễn Khải khiến bạn đọc bất ngờ khi cho ra mắt cuốn tiểu
thuyết Gặp gỡ cuối năm thì đến năm 2002, ở độ tuổi ngoài 70 nhà văn còn gây xôn xao dư luận với tiểu thuyết Thượng đế thì cười Đây là hai tác phẩm có ý
nghĩa quan trọng, khép lại toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông, là sự tổng kết cả
đời văn và cả một đời người Với vị trí đặc biệt đó, Gặp gỡ cuối năm và
Thượng đế thì cườikhông chỉ có ý nghĩa với chính nhà văn mà còn là tác phẩm
được đông đảo bạn đọc đón nhận Đã có không ít công trình nghiên cứu, khóa luận, luận văn về hai tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khải nhưng chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải Đó chính là hướng mở để chúng tôi thực hiện đề tài này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những bài nghiên cứu, những ý kiến liên quan đến vấn đề tư duy tiểu thuyết
Năm 2002, cuộc hội thảo khoa học về Đổi mới tư duy tiểu thuyết đã đặt
ra nhiều vấn đề về tư duy tiểu thuyết:
* Nhà văn Hoàng Quốc Hải cho rằng: Đổi mới tư duy tiểu thuyết là đổi mới tư duy của chính nhà văn
* Nhà thơ Phạm Đức kêu gọi: Muốn đổi mới tư duy tiểu thuyết, trước hết phải đổi mới tư duy tiếp nhận văn học
* Nhà văn Hoàng Công Khanh lưu ý bạn đồng nghiệp về một số “ngón nghề” hiện nay của việc sáng tác tiểu thuyết Đó là cần viết một cách mới lạ,
có tốc độ, ngẫu hứng, tự nhiên, tránh gò gẫm
Trang 10Rõ ràng, đổi mới tư duy tiểu thuyết là yếu tố quyết định tương lai của tiểu thuyết
Ngoài ra, Tư duy tiểu thuyết còn được bàn đến trong rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau Nổi lên là một số công trình sau:
1 Nguyễn Thị Hải Phương (2011), Những trăn trở về đổi mới tư duy tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam hiện nay (nhân đọc Đổi mới tư duy tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, 2002), http://stdb.hnue.edu.vn
2 Nguyễn Bích Thu (2011), Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, http://tailieu.vn
3 M Kundera (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch, NXB
Đà Nẵng
4 M Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư
dịch, Trường viết văn Nguyễn Du - Hà Nội
5 Bùi Việt Thắng (2006), Tiểu thuyết đương đại, NXB Quân đội Nhân
Dân
6 Phùng Văn Tửu (1990), Tiểu thuyết Pháp hiện đại - những tìm tòi đổi mới, NXB Khoa học Xã hội
7 Nguyễn Thị Bình (2007), Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975: một cái
nhìn khái quát, Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 2).8
8 Nguyễn Thị Bình (2005), Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết
Việt Nam những năm gần đây, Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 11).9
9 Hoàng Quốc Hải (2002), Lại bàn về đổi mới tư duy,
http://www.geocities.com
10 Cao Thị Hồng (2009), Đổi mới tư duy xung quanh vấn đề văn học
và hiện thực, Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 168, tr.72 - 77
11 Mai Hương (2011), Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn xuôi, http://tailieu.vn
Trang 11Qua việc khảo sát tư liệu, chúng tôi bước đầu nhận thấy việc nghiên cứu về tư duy tiểu thuyết là một trong những yêu cầu có tính bức thiết Vấn đề đổi mới tư duy tiểu thuyết cũng đã vẽ lên bức tranh toàn cảnh về hiện trạng tiểu thuyết Việt Nam đương đại Tuy nhiên, sự đầu tư nghiên cứu về tư duy tiểu thuyết vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu và phát triển
2.2 Những bài viết liên quan đến hai tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khải
Số lượng tác phẩm và chất lượng sáng tạo nghệ thuật suốt nửa thế kỷ đã xếp ông vào vị trí xứng đáng của nền văn học nước nhà Từ những sáng tác ra
đời mới vào nghề như: Xung đột, Mùa lạc,Nguyễn Khải được giới nghiên cứu
phê bình đánh giá là một ngòi bút thông minh, sắc sảo trong khám phá và nắm bắt hiện thực, sự mẫn cảm với cái hằng ngày, với những gì đang diễn ra, với
những vấn đề hôm nay đã khiến những trang viết sắc sảo, đầy “chất văn xuôi”
của Nguyễn Khải không những luôn luôn có độc giả mà còn khơi gợi được hứng thú tranh luận, trở thành nơi “giao tiếp đối thoại” với đông đảo bạn đọc
Cùng với sự ra đời của hàng loại tác phẩm nghệ thuật khẳng định tài năng sáng tác của Nguyễn Khải, người đọc còn có thể tìm thấy một số lượng khá lớn, khá phong phú những bài nghiên cứu, phê bình về Nguyễn Khải được công bố dưới nhiều dạng khác nhau và đề cập tới nhiều phương diện khác nhau của sáng tác Nguyễn Khải
Nghiên cứu một cách khái quát và toàn diện về tác gia, tác phẩm
Nguyễn Khải có bài viết của Phan Cự Đệ trong cuốn Nhà văn việt Nam 1945
- 1975 (tập 2), của Đoàn Trọng Huy trong Giáo trình Văn học Việt Nam 1945
- 1975 (phần tác giả) Ngoài ra còn phải kể đến “lời giới thiệu” của Vương
Trí Nhàn trong tuyển tập Nguyễn Khải (3 tập) và bài Nguyễn Khải:Một đời
gắn bó với thời đại và dân tộc của Bích Thu
Những công trình trên đã đưa đến cho người đọc một hình dung khá cụ thể về Nguyễn Khải cả ở sự nghiệp sáng tác, giá trị tác phẩm cùng với phong
Trang 12cách riêng của ông Hầu hết các tác phẩm đều khẳng định: Nguyễn Khải là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam sau 1945
Những tiểu thuyết của Nguyễn Khải đã tạo được sự chú ý của công chúng độc giả Các bài viết đã tập trung khẳng định những đặc điểm cơ bản trong sáng tác của Nguyễn Khải: Khả năng phát hiện vấn đề, ý thức tìm tòi lật xới hiện thực, kiểu nhân vật tư tưởng, sở trường tổ chức đối thoại, nghệ thuật
kể chuyện hấp dẫn Ở đây, chúng tôi chỉ xin đề cập đến những bài viết có liên
quan đến vấn đề tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải qua Gặp gỡ
cuối nămvàThượng đế thì cười
Trong một cuộc bàn luận về sáng tác Nguyễn Khải nhân đọc tiểu thuyết
Gặp gỡ cuối năm, hai nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân và Trần Đình Sử cùng
đi tìm nguyên nhân: vì sao sáng tác của Nguyễn Khải gây được sự chú ý của
độc giả Theo Lại Nguyên Ân thì người đọc thích Nguyễn Khải bởi “chất văn xuôi” Đó là tính hiện thực của tác phẩm Nguyễn Khải khi viết về những “con
người, những sự việc, những vấn đề của hôm nay”, “đề tài nhằm thẳng vào đời sống hiện tại” Cái hiện tại, cái hôm nay luôn là trung tâm chú ý của nhà
văn Nguyễn Khải Nhất trí với ý kiến đó, Trần Đình Sử chỉ ra rằng: “Cái nhìn tỉnh táo của Nguyễn Khải giúp người đọc nhận thức cuộc sống và con người một cách đích thực”
Cũng đề cập đến tư duy tiểu thuyết, Nguyễn Thị Bình trong bài viết
Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyếtđã chỉ ra tài năng của Nguyễn Khải “giỏi
phát hiện ra những vấn đề ẩn sau các sự vật, hiện tượng tưởng như thật đơn giản, quen thuộc”, “là người kể chuyện có duyên, hài hước hóm hỉnh” [3, tr
69-75]
Nhà nghiên cứu Đoàn Trọng Huy trong bài viết Vài đặc điểm phong
cách nghệ thuật Nguyễn Khải đã nhận ra tính chất đa giọng điệu trong sáng
tác Nguyễn Khải: “nhà văn thường đứng ở nhiều góc độ, nhiều bình diện để
Trang 13tả và kể Không chỉ kể bằng giọng của mình, bằng lời của người dẫn truyện, tác giả còn biết biến hóa thành nhiều giọng khác nhau” [16, tr 92-93] Như
vậy, yếu tố giọng điệu - một trong những đặc trưng của tư duy tiểu thuyết cũng được nhà nghiên cứu Đoàn Trọng Huy đề cập đến
Vương Trí Nhàn trong bài viết Trở lại cái thời lãng mạn - về tiểu
thuyết Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải cho rằng: “Thượng đế thì cười
vẫn là cuốn sách trong đó một con người mang quá khứ của mình ra để kể với
bạn đọc” Ở bài Khi Nguyễn Khải cười cùng thượng đế (Tạp chí Văn nghệ
Quân đội, số 607/ 2004), tác giả Nguyễn Quốc Trung lại có những đánh giá
rất cao về tác phẩm Ông cho rằng: “tác phẩm trong một chừng mực nào đó
đã góp thêm một cách thể hiện mới” Ngoài ra, Nguyễn Quốc Trung cũng đặc
biệt nhấn mạnh đến những cách tân về ngôn ngữ và giọng điệu của tác phẩm
Trên cơ sở khảo sát các bài viết, các bài nghiên cứu về hai tiểu thuyết Nguyễn Khải, chúng tôi có thể rút ra một số nhận xét sau:
* Số lượng các bài viết này rất nhiều, đăng tải dưới dạng điểm sách hoặc phê bình Loại bài viết này phần lớn nêu lên những suy nghĩ, cảm nhận
về nội dung hay nghệ thuật, về những phương diện đổi mới của tiểu thuyết
Nguyễn Khải cụ thể là hai tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm và Thượng đế thì
cười Qua đó góp phần khẳng định xu thế đổi mới tất yếu của thể loại cũng
như của nền văn học Việt Nam
* Tìm hiểu các công trình nghiên cứu của những người đi trước chúng tôi thấy: Việc nghiên cứu những tiểu thuyết Nguyễn Khải đã lật xới lên được nhiều vấn đề Đã có những nghiên cứu sâu sắc về tác giả, tác phẩm tiêu biểu nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện dấu
hiệu đổi mới của tư duy tiểu thuyết Nguyễn Khải quaGặp gỡ cuối năm và
Thượng đế thì cười Đó chính là hướng mở để chúng tôi thực hiện đề tài này
Trang 143 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích:
- Khẳng định vai trò và vị trí của Nguyễn Khải đối với công cuộc đổi
mới văn học Việt Nam hiện đại và đương đại
- Chỉ ra dặc điểm tư duy cũng như những đóng góp của nhà văn Nguyễn Khải cho tiểu thuyết Việt Nam, cho văn học Việt Nam
- Trau dồi thêm kiến thức cho bản thân về đề tài tư duy tiểu thuyết trong văn học Việt Nam đương đại và giá trị tư tưởng cũng như nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Khải
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn “Tư duy tiểu thuyết trong Gặp gỡ cuối năm và Thượng đế
thì cười của Nguyễn Khải”có nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu tổng quan về tiểu thuyết và hành trình đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
- Phác họa diện mạo tiểu thuyết Nguyễn Khải và đặt nó trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại để thấy được những nét chung và sự khác biệt
- Phân tích và luận giải các vấn đề liên quan đến đổi mới tư duy thể loại
tiểu thuyết Nguyễn Khải cụ thể là tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm và Thượng đế
thì cười
- Chỉ ra dấu ấn tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải trên một số phương diện về thi pháp thể loại như: nghệ thuật xây dựng nhân vật; kết cấu; nghệ thuật trần thuật (điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật); thời gian và không gian nghệ thuật
Trang 155 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khải
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hai tiểu thuyết sau:
1 Nguyễn Khải (1984), Gặp gỡ cuối năm, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội
2 Nguyễn Khải (2003), Thượng đế thì cười, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội
Ngoài ra, để thực hiện đề tài này chúng tôi cũng nghiên cứu tìm hiểu thêm một số tiểu thuyết khác của nhà văn Nguyễn Khải giai đoạn trước 1978
và một số tác phẩm của các nhà văn cùng thời trong sự tương quan so sánh để thấy được sự tương đồng và khác biệt
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu áp dụng lý thuyết của tự sự học (narratology), loại hình học thể loại (typology of genres), thi pháp thể loại (poetist of genres), thuyết tiếp nhận - phản hồi của người đọc (reader-
respone)
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
chính như: phương pháp so sánh, phương pháp loại hình, phương pháp tiểu
sử, phương pháp phân tích - tổng hợp…
7.Đóng góp của đề tài
Về mặt khoa học:
Luận văn góp phần làm rõ vấn đề tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết
Việt Nam đương đại qua tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm và Thượng đế thì cười
của nhà văn Nguyễn Khải Đồng thời khẳng định những nét độc đáo trong giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của hai tiểu thuyết này
Trang 16Về mặt thực tiễn:
Luận văn góp phần nhận diện và khái quát diện mạo tiểu thuyết Nguyễn Khải nhằm tìm ra những cách tân của thể loại tiểu thuyết Việt Nam đương đại Từ đó, luận văn hứa hẹn sẽ là tư liệu tham khảo có ý nghĩa đối với những người quan tâm đến các vấn đề lý luận về tư duy tiểu thuyết và mảng sáng tác của nhà văn Nguyễn Khải
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai thành ba chương như sau:
Chương 1:Khái lược chung về tư duy tiểu thuyết và hành trình sáng
tác của Nguyễn Khải
Chương 2:Nhân vật, kết cấu trong hai tiểu thuyết “Gặp gỡ cuối
năm” và “Thượng đế thì cười” của Nguyễn Khải dưới góc nhìn tư duy tiểu thuyết
Chương 3: Nghệ thuật trần thuật và không gian - thời gian trong hai
tiểu thuyết “Gặp gỡ cuối năm” và “Thượng đế thì cười” của Nguyễn Khải dưới góc nhìn tư duy tiểu thuyết
Trang 17PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ TƯ DUY TIỂU THUYẾT VÀ
HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHẢI
1.1 Khái lược chung về tư duy tiểu thuyết
1.1.1 Tư duy
Chúng ta đều biết, tư duy trong thực tế luôn là một quá trình nhận thức tổng hợp chứ không phải đơn thuần chỉ là hoạt động của lý trí Nếu không có cảm xúc bản năng, trực cảm và tâm linh hỗ trợ thì quá trình tư duy cũng không thể hiện ra được Song quá trình tư duy cũng mang trong nó yếu tố chủ quan, có người dựa nhiều trên lý trí, có người dựa nhiều trên tình cảm Đôi khi ở nhà văn xuất hiện những khả năng đặc biệt và tư duy của họ cũng có lúc dựa chủ yếu trên trực cảm và tâm linh Về mặt lôgic học thì tư duy là quá trình sử dụng những kiến thức đã biết để tạo nên những kiến thức mới Bởi vậy, bản thân quá trình tư duy cũng là quá trình tạo nên cái mới Nếu thực nghiệm và quan sát chỉ cho phép ta nhận thức được những hiện tượng đơn lẻ, thì từ nhiều hiện tượng đơn lẻ đó thông qua tư duy ta có được những kiến thức khái quát, tổng hợp hơn Quá trình này đã tạo nên sự biến đổi về chất trong kết quả cũng như trong hành động nhận thức Các nhà khoa học tư duy bằng lôgic, còn các nghệ sĩ tư duy bằng hình tượng Tư duy lôgic lấy suy luận của lý trí làm trung tâm Còn tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, được thực hiện thông qua xúc cảm nhưng vẫn nằm dưới tầm kiểm soát của lý trí Trong các loại hình tư duy nghệ thuật thì tư duy văn chương gần với đặc trưng tư duy chung của con người, nó có nhiều điểm tương đồng với tư duy khoa học ở chỗ đó đều là các loại hình tư duy trừu tượng Tư duy của sáng tạo văn học nghệ thuật nói chung cũng như tư duy sáng tạo tiểu thuyết nói riêng
rõ ràng bao hàm trong nó sự vận động không ngừng của toàn bộ thế giới nội
Trang 18tâm sâu thẳm của con người Vấn đề đặt ra ở đây là người viết tiểu thuyết phải khai thác cho được kho báu nội tâm vô tận đó của con người và chính điều này sẽ góp phần biến đổi về chất cho mỗi tác phẩm văn học của họ
1.1.2 Khái lược về tiểu thuyết
Theo từ điển Thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử -
Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) thì “tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”
Ở châu Âu, tiểu thuyết xuất hiện vào thời kỳ xã hội cổ đại tan rã và văn học cổ đại suy toàn Cá nhân con người lúc ấy không còn cảm thấy lợi ích và nguyện vọng của mình gắn liền với cộng đồng xã hội cổ đại, nhiều vấn đề của đời sống riêng tư đặt ra gay gắt Giai đoạn phát triển mới của tiểu thuyết châu
Âu bắt đầu từ thời Phục Hưng (thế kỷ XIV - XVI) và đến thế kỷ XIX dưới sự xuất hiện của các nghệ sĩ bậc thầy như Xtăng-đan, Ban-dắc, Gô-gôn, L.Tôn-xtôi, thể loại này đã đạt tới sự nảy nở trọn vẹn Mầm mống tiểu thuyết ở Trung Quốc cũng xuất hiện sớm, vào thời Ngụy Tấn ( thế kỷ III - IV) dưới dạng ghi chép những việc, những người ngoài giới hạn kinh sử Tiểu thuyết ở Việt Nam phát triển muộn Mãi tới đầu thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện của
Nam triều công nghiệp diễn chí, của Hoàng Lê nhất thống chí, nước ta mới có
tác phẩm có quy mô tiểu thuyết (nhiều hồi, hàng trăm nhân vật, bao quát một
khoảng thời gian dài hàng trăm năm) Tuy nhiên, xét về nhiều mặt, Nam triều công nghiệp diễn chí của Hoàng Lê nhất thống chí, vẫn thuộc phạm trù tiểu
thuyết cổ điển phương Đông Phải sang đầu thế kỷ XX, nhất là với dòng văn học lãng mạn và hiện thực phê phán, ở Việt Nam mới có tiểu thuyết hiện đại
Trang 19Trong quá trình vận động và phát triển, diện mạo của tiểu thuyết không ngừng thay đổi Tuy vậy, vẫn có thể rút ra một số đặc điểm như sau của thể loại tiểu thuyết:
So với các thể khác của loại tự sự như ngụ ngôn, anh hùng ca (sử thi),
thì đặc điểm tiêu biểu nhất của tiểu thuyết là cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời
tư Đặc trưng này thoạt đầu được hình thành ngay trong tiểu thuyết cổ đại
Càng về sau đời tư càng trở thành tiêu điểm để miêu tả cuộc sống một cách tiểu thuyết Tùy theo từng thời kỳ phát triển, cái nhìn đời tư có thể sâu sắc tới mức thể hiện được, hoặc kết hợp được với các chủ đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc Nhưng yếu tố đời tư càng phát triển thì tính chất tiểu thuyết càng tăng, ngược lại, yếu tố lịch sử dân tộc càng phát triển thì chất sử thi càng đậm đà
Nét tiêu biểu thứ hai làm cho tiểu thuyết khác với truyện thơ, trường ca,
thơ trường thiên và anh hùng ca là chất văn xuôi, tức là một sự tái hiện cuộc
sống, không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lý tưởng hóa Miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời, đang sinh thành, tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái nhỏ Chất văn xuôi như vậy thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết Xtăng-đan, Ban-dắc, Gô-gôn, L.Tôn-xtôi, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…
Thứ ba, cái làm cho nhân vật tiểu thuyết khác với các nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung cổ là ở chỗ: nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm trải”, tư duy, chịu nhiều đau khổ, dằn vặt của cuộc đời trong khi các nhân vật kia thường là nhân vật hành động Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, con người đang trưởng thành
do cuộc đời dạy bảo Những Luy-xiêng Xo-ren, Gô-ri-gôn của Ban-dắc,
An-na Ka-rê-ni-An-na của L Tôn-xtôi, Thứ của Nam Cao đều là những con người nếm trải và tư duy, vì vậy mà rất “tiểu thuyết”
Trang 20Thứ tư, thành phần chính yếu của tiểu thuyết không phải chỉ là cốt truyện và tính cách nhân vật như ở truyện vừa và truyện ngắn trung cổ Ngoài
hệ thống sự kiện, biến cố và những chi tiết tính cách, tiểu thuyết miêu tả suy
tư của nhân vật về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, trình bày tường tận tiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ giữa người và người, về đồ vật, môi trường, nội thất… Xét về phương diện này thì
Sống mòn của Nam Cao là tác phẩm rất tiểu thuyết
Thứ năm, tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách về giá trị giữa người trần thuật và nội dung trần thuật của anh hùng ca, để miêu tả hiện thực như cái
hiện tại đương thời của người trần thuật Chính đặc điểm này làm cho tiểu thuyết trở thành một thể loại dân chủ, cho phép người trần thuật có thể có thái
độ thân mật thậm chí suồng sã đối với nhân vật của mình
Cuối cùng, với các đặc điểm đã nêu, tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn
học khác Tiểu thuyết thế kỷ XIX - XX đã cung cấp nhiều mẫu mực về sự
tổng hợp đó Chẳng hạn tiểu thuyết sử thi - tâm lí của L Tôn-xtôi (Chiến tranh và hòa bình), tiểu thuyết kịch của Đốt-xtôi-ép-xki, tiểu thuyết trữ tình của Hê-ming-uê (Chuông nguyện hồn ai), tiểu thuyết sử thi của Sô-lô-khôp
(Sông Đông êm đềm), tiểu thuyết trí tuệ của T.Man Ngoài ra, còn có thể nói tới tiểu thuyết tư liệu, tiểu thuyết chính luận
Chính hiện tượng tổng hợp trên đã làm cho thể loại tiểu thuyết cũng đang vận động, không đứng yên Nhà nghiên cứu Xô Viết Ba-khơ-tin cho
rằng, tiểu thuyết là “thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi”
1.1.3 Tư duy tiểu thuyết
Tư duy tiểu thuyết tất yếu phải chi phối hoạt động sáng tạo đặc thù của thể loại Đặc trưng của tiểu thuyết là thể loại có khối lượng nội dung lớn, có lượng tín hiệu nghệ thuật phong phú, bởi vậy trong mỗi tác phẩm không chỉ
Trang 21phản ánh cuộc sống khách quan sôi động mà luôn có nhu cầu thể hiện sự đa dạng trong xúc cảm nội tâm Đây rõ ràng là những đặc trưng không thể thiếu của quá trình sáng tạo tiểu thuyết Việc khai thác thế giới nội tâm của bản thân nghệ sĩ sẽ tạo cho tác phẩm có được các đặc trưng riêng góp phần định hình phong cách sáng tạo nghệ thuật cho mỗi nhà văn Việc khai thác và làm nổi rõ thế giới nội tâm của nhân vật sẽ làm cho nhân vật trở nên thật hơn, sống hơn và có chiều sâu Đây là công việc đặc thù của nghệ thuật sáng tạo tiểu thuyết, nó cho thấy tiểu thuyết không chỉ là một câu chuyện đơn thuần,
mà nó thực sự là một cuộc sống, đầy ắp những xúc cảm và suy tư đang vận động không ngừng trên mỗi trang viết Và chỉ có như vậy, tiểu thuyết mới thực sự cuốn hút và thuyết phục bạn đọc Theo chúng tôi, để đổi mới tư duy tiểu thuyết chúng ta cần luôn nhìn lại phương pháp sáng tạo hiện thực mà chúng ta đã và đang sử dụng trong sự biến đổi không ngừng của cuộc sống,
bổ sung và mở rộng để cho phương pháp đó hoàn thiện hơn, có khả năng phản ánh sinh động hơn sự biến đổi không ngừng của cuộc sống hiện thực Trong quá trình này ta nên coi những gì đang xảy ra trong thế giới nội tâm của con người cũng là một kiểu hiện thực cần được khai thác và phản ánh Chính điều
đó góp phần làm sung mãn và sâu sắc thêm cho hình tượng nghệ thuật và thông qua đó không gian đổi mới và sáng tạo nghệ thuật cũng sẽ không ngừng được mở rộng
Có thể nói đổi mới tư duy tiểu thuyết là đổi mới quá trình nhận thức hay nói một cách đúng hơn là tổ chức lại, là huy động toàn bộ năng lượng sáng tạo nội tâm, phát huy đến mức cao nhất nguồn năng lượng này để nhận thức và phản ánh thế giới khách quan cũng như chủ quan ngày một sinh động hơn và cũng sâu sắc hơn Nhận thức hiện thực cuộc sống vẫn luôn là một công việc thiết yếu trong mọi quá trình sáng tạo nghệ thuật và càng quan trọng hơn đối với người sáng tạo tiểu thuyết bởi dung lượng phản ánh của tiểu
Trang 22thuyết phải luôn vừa rộng, vừa sâu, vừa đa chiều và phức tạp nhất trong các loại hình nghệ thuật Vấn đề mở rộng không gian hiện thực cho sáng tạo văn học Việt Nam là điều kiện tiên quyết để đưa văn học Việt Nam lên đến những đỉnh cao mới
Đổi mới tư duy tiểu thuyết cũng đòi hỏi phải đổi mới tư duy của chính nhà văn
Đó là sự đổi mới trong nội dung, trong phương pháp sáng tạo nghệ thuật, sự cách tân hiện đại trong sáng tác, vốn luôn là công việc thường nhật của mỗi người cầm bút Những nhà văn có tài là những người có một mô hình riêng cho sáng tạo Tiểu thuyết chẳng thể mới, nếu người nghệ sĩ không có ý thức tự giác sáng tạo cho nó một diện mạo, cấu trúc mới Chỉ những nhà văn
có quan niệm riêng về thể loại, mới có thể thực hiện sự cách tân như vậy Sự đổi mới trên bất cứ phương diện nào của thể loại đều bắt nguồn từ tư duy của người viết Nói cách khác, sự đổi mới về chất liệu, cấu trúc tiểu thuyết bao giờ cũng phản ánh một sự đổi mới khác - đổi mới tư duy tiểu thuyết Phải có bước đổi mới về tư duy thì mới có đổi mới về sản phẩm sáng tạo Đổi mới tư duy ở chủ thể sáng tạo đều có tính cá nhân, vừa có quan niệm chặt chẽ với tồn tại xã hội Sự đổi mới về tư duy tiểu thuyết là sự đổi mới về tư duy nghệ thuật
và ý thức cầm bút của người nghệ sĩ
Đổi mới tư duy tiểu thuyết còn đòi hỏi đổi mới ngôn ngữ bởi ngôn ngữ là công cụ của tư duy Và trong lĩnh vực tiểu thuyết, ngôn ngữ cũng là một hiện thực, nên nó còn là đối tượng để tư duy, ngôn ngữ cũng là sản phẩm của tư duy, nên nó còn là mục đích của tư duy Từ quy luật ấy thông qua tác phẩm tiểu thuyết, ta sẽ thấy được những vấn đề trong đời sống, trong nghệ thuật mà nhà viết tiểu thuyết quan tâm trăn trở trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật của mình
Trang 23Như vậy, việc đổi mới tư duy tiểu thuyết rõ ràng là một tiến trình lâu dài, đa dạng, đa chiều, luôn đòi hỏi những nỗ lực lao động sáng tạo không ngừng của mỗi nhà văn và độc giả Quá trình đổi mới tư duy tiểu thuyết đang nằm ngay trong sự sáng tạo thường nhật của mỗi nhà văn và kết quả được thể hiện trong việc cho ra đời những thành tựu tiểu thuyết mới Điều đó đang và
sẽ là những cơ sở hiện thực quan trọng, có sức thuyết phục, giúp chúng ta mạnh dạn tin vào một tương lai tươi sáng hơn của tiểu thuyết Việt Nam
1.2 Hành trình sáng tác của Nguyễn Khải
1.2.1 Những chặng đường sáng tác
Sau hơn một nửa thế kỷ lao động sáng tạo, Nguyễn Khải đã để lại một khối lượng khá lớn tác phẩm, thuộc nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, ký, tạp văn Dù thuộc thể loại nào thì ngay từ khi mới ra đời tác phẩm của ông cũng thường tạo được dư luận và được giới lý luận phê bình chú ý Bạn đọc chờ đợi ở ông một thái độ mạnh dạn, nhìn thẳng vào những vấn đề quan trọng và phức tạp của thực tiễn Giới nghiên cứu phê bình nhận thấy ở nhà văn một cách tiếp cận hiện thực độc đáo, cái nhìn sắc sảo và tinh tế nhiều khía cạnh của đời sống, đặc biệt những thân phận, những trạng thái tâm lý của con người Tác phẩm của ông là đề tài cuốn hút sự suy nghĩ, tìm hiểu của nhiều cây bút thuộc thế hệ nghiên cứu phê bình trẻ tuổi xuất hiện vào những năm đất nước mở ra thời kỳ đổi mới
Nguyễn Khải là nhà văn quân đội Tuy cụ thân sinh thuộc hàng quan lại thời thực dân phong kiến, nhưng nhà văn của chúng ta từ nhỏ đã sớm phải đối mặt với cuộc mưu sinh và sớm có ý thức về tư cách làm người Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã làm thay đổi cuộc đời ông Trong tiểu
thuyết Thượng đế thì cười, ông viết: “không có cách mạng thì đến làm người
tầm thường cũng khó, nói gì làm một nhà văn” Cho nên, khi tiếp xúc với
những cái mới mẻ của cách mạng, con người trẻ tuổi đó đã tự nguyện đứng
Trang 24trong đội ngũ với tất cả tấm lòng nhiệt thành, sôi nổi đóng góp sức mình cho cuộc kháng chiến Khi đến với nghề văn, Nguyễn Khải là nhà văn sớm có ý thức dùng văn học để phục vụ sự nghiệp cách mạng, để góp phần làm cho cuộc sống của con người ngày một tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn
Trong một lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Khải tự chia sáng tác của mình thành hai giai đoạn: “Từ năm 1955 đến 1977 tôi sáng tác theo một cách,
từ 1978 đến nay theo một cách khác”
Đúng là bên cạnh những nét khá ổn định, nhất quán, phong cách văn xuôi Nguyễn Khải không ngừng được điều chỉnh, làm mới và mỗi giai đoạn sáng tác của ông đều có những nét khác cơ bản
1.2.1.1 Chặng trước năm 1978
Ở chặng này nhà văn tập trung đi sâu vào hai đề tài chính: đề tài nông thôn và công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc Bên cạnh đó ông còn khai thác đề tài chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc
Ở đề tài nông thôn và xây dựng CNXH tác giả tập trung khẳng định
vẻ đẹp của những con người lao động mới, những con người gắn kết cộng đồng trở thành nhu cầu máu thịt của mỗi cá nhân như nhân vật cô Đào (
Mùa lạc); Tấm (Đứa con nuôi);… Nguyễn Khải đã miêu tả bộ mặt đầy sức
sống của nông thôn miền Bắc với những vẻ đẹp mới mẻ trong các mối quan
hệ đầy tin cậy giữa tập thể với cá nhân, giữa cấp trên và cấp dưới, tình đồng chí, tình bạn bè… vừa tỏ thái độ không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực không mang tinh thần CNXH như lối làm ăn kiểu trục lợi cá nhân
như Tuy Kiền trong (Tầm nhìn xa); Mơ trong (Chủ tịch huyện) Bằng ngòi
bútnghiên cứu, Nguyễn Khải chỉ ra rằng đầu óc tư hữu và tâm lí nông dân gia trưởng thâm căn cố đế dưới nhiều biến tướng tinh vi đang cản trở con đường tiến lên sản xuất lớn
Trang 25Ở đề tài chiến tranh và cách mạng, Nguyễn Khải đã khắc họa nổi bật
vẻ đẹp của con người Việt Nam: Lòng yêu nước, tinh thần kỉ luật, niềm khát khao khẳng định phẩm giá trước kẻ thù, tỉnh táo trong nhận thức, thông minh tháo vát trong hành động và đức tính kiên nhẫn, khiêm nhường Ông ít diễn tả khía cạnh mất mát hay mặt trái của chiến tranh mà khám phá sức mạnh tinh thần tiềm ẩn trong mỗi con người, đặt họ vào các tình huống thử thách để họ bộc lộ tài trí, nhân cách Các tác phẩm đều ít nhiều tạo được không khí nhờ các chi tiết đặc sắc và nhờ giọng kể sôi nổi, hóm hỉnh giàu màu sắc hùng biện Tuy nhiên nhiệt hứng ngợi ca khẳng định rõ ràng đã làm cho các trang viết về chiến tranh thiếu cái chân thực, góc cạnh, cái dữ dội khốc liệt của những số phận làm nên chiều sâu đời sống
Các tác phẩm tiêu biểu ở chặng này: Tiểu thuyết Xung đột (in báo năm 1957), in thành sách năm 1959, tập 2 in năm 1960; Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960); Một chặng đường (truyện ngắn, 1962); Tầmnhìn xa (truyện, 1963); Hãy đi xa hơn nữa (tiểu thuyết, 1963); Ngườitrở về (1964); Họ sống
và chiến đấu (1966); Hoà vang (1967); Đường trong mây (tiểu thuyết, 1970); Ra đảo (tiểu thuyết, 1970); Chủ tịch huyện (truyện, 1972); Chiến sĩ
(tiểu thuyết, 1973);…
1.2.1.2 Chặng sau năm 1978
Do đòi hỏi của hoàn cảnh lịch sử và thị hiếu công chúng, văn học sau năm 1975 có nhiều biến đổi, chủ nghĩa đề tài mất ý nghĩa khi quan niệm về hiện thực được mở rộng Thay vì coi trọng biến cố lịch sử, văn học lấy con người làm tâm điểm khám phá, ngòi bút Nguyễn Khải trẻ lại với niềm say
mê “cái hôm nayngổn ngang, bề bộn” Ông chiếmlĩnh nhiều vùng đất mới
mà vùng đất nào cũng để ông không ngừng trăn trở về số phận con người,
về giá trị làm người Bên cạnh đó thì cái tôi tiểu sử của tác giả cũng xuất hiện đậm đặc đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao góp phần vào việc đổi mới văn
Trang 26học Tiểu thuyết và truyện ngắn là hai thể loại tiêu biểu cho sáng tác ở giai
đoạn này của ông
Các tác phẩm tiêu biểu ở chặng này: Cha và con và … (tiểu thuyết, 1979); Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết, 1984); Thời gian của người (tiểu thuyết, 1984) Một cõi nhân gian bé tí (truyện ngắn, 1989); Một người Hà Nội (tập truyện ngắn, 1990); Một thời gió bụi (truyện ngắn, 1993); Sư già chùa thắm và viên đại tá về hưu; Hà Nội trong mắt tôi (tập truyện, 1995); Sống ởđời (truyện ngắn, 2002); Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, 2004);…
Với số lượng tác phẩm của mình, Nguyễn Khải xứng đáng trở thành một trong những cây bút hàng đầu của văn xuôi Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Ông đã đóng góp những tiếng nói mới mẻ, những khám phá về chiều sâu của cuộc sống cho sự đổi mới của văn học Hành trình sáng tác của Nguyễn Khải tiêu biểu cho quá trình vận động của văn học hơn nửa thế kỷ qua
1.2.2 Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khải trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.2.2.1 Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam (1900 đến 1945)
Tiểu thuyết hiện đại của thế giới đã có lịch sử phát triển gần ba thế kỷ Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam mới manh nha trong quá trình hiện đại hóa văn
học quốc ngữ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Mặc dầu Thầy Lazarro Phiền
(Nguyễn Trọng Quản) xuất hiện năm 1887 chỉ mới “có yếu tố của tiểu thuyết” nhưng được xem là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, mở một khoảng trời cho hai mươi năm sau - 1922 - có thêm một cánh
chim bay về: Ai làm được (Hồ Biểu Chánh), và phải đợi thêm 13 năm sau tiếp theo nữa - 1925 - khi Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách góp mặt, tiểu thuyết
Việt Nam mới gây được một đợt sóng thổn thức trong lòng người đọc Ảnh hưởng của truyện Tàu, truyên Tây trong sáng tác ở thời kỳ này là điều khó
Trang 27tránh khỏi Bằng Giang viết: “Truyện Tàu nổi lên trong bối cảnh văn hóa còn nghèo nàn ở thập kỷ đầu thế kỷ XX như một anh chàng khổng lồ”
Dù hầu hết các tác phẩm tiểu thuyết giai đoạn 1900 - 1930 chưa có sức sống lâu bền, nhưng lịch sử phát triển của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại vẫn kịp thời ghi nhận tên tuổi Hồ Biểu Chánh (64 tiểu thuyết đã in và một cuốn đang viết dang dở thì ông qua đời), Hoàng Ngọc Phách (tác phẩm duy
nhất Tố Tâm) và những ngòi bút Nguyễn Trọng Quản, Đặng Trần Phất… đã
làm quang mây một vùng trời để giai đoạn kế tiếp (1930 - 1945) - hoàn tất quá trình hiện đại hóa văn học quốc ngữ - làm rõ diện mạo tiểu thuyết Việt Nam với những ngôi sao: Nhất Linh, Khái Hưng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan Dù sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn hay hiện thực; bằng ngôn từ trau chuốt, giàu âm hưởng trữ tình hay ngôn từ
chắt lọc từ lời ăn tiếng nói hàng ngày, những tác phẩm Bướm trắng, Đoạn tuyệt (Nhất Linh); Nửa chừng xuân (Khái Hưng); Sống mòn (Nam Cao), Số
đỏ (Vũ Trọng Phụng); Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng (Nguyễn
Công Hoan)… đều lấp lánh tư tưởng nhân văn Người đọc không hiếu kỳ theo dõi sự kiện “hồi sau sẽ rõ” của tiểu thuyết chương hồi mà đau đáu vào cái riêng tư của những phận người - những người bình thường chứ chẳng phải tài
tử giai nhân, anh hùng mặc khách, giang hồ lãng tử xa vời Sự khẳng định cái tôi trong tiểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945 là sự khẳng định cái tôi khao khát yêu thương, giãi bày; đã cất lên tiếng nói dõng dạc phê phán những mặt trái của xã hội nửa phong kiến, nửa thực dân, đòi được sống trong công bằng, được tôn trọng nhân phẩm
1.2.2.2 Dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam (giai đoạn 1945 - 1975)
Cách mạng tháng Tám thành công, một đội ngũ nhà văn cách mạng được hình thành bao gồm những cây bút vốn thuộc nhiều khuynh hướng sáng
Trang 28tác khác nhau đã thành danh trước năm 1945 và lực lượng sáng tác mới chỉ bắt đầu sự nghiệp văn chương trong kháng chiến
Ba mươi năm chiến tranh, nhà văn là người lính Đã là “lính” thì phải
có “vũ khí” Với nhà văn, họ làm “vũ khí tự tạo” Thời chiến vũ khí mang tính
cơ động cao là thơ và truyện ngắn Tiểu thuyết là vũ khí hạng nặng, tốn nhiều giấy in, nặng nề trong vận chuyển phát hành Những nhà văn không có nhiều
thời gian để viết khi các nhà thơ cùng thế hệ với họ đồng thanh “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật) Độc giả càng không có nhiều thời gian để đọc khi “Trước mặt là đạn bom, sau lưng cũng đạn bom” (Văn Lê),
và sự hối thúc “Đi ta đi chiến trường vẫy gọi” (Chính Hữu) Thế nhưng trong
hoàn cảnh ấy, tiểu thuyết vẫn ra đời với những ngòi bút mang trách nhiệm công dân cao
Trước hết là chùm trái đầu mùa: Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Vùng
mỏ (Võ Huy Tâm), Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) Đây được coi là những tiểu
thuyết đầu tiên được sáng tác bằng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
Tiểu thuyết “được mùa” hơn ở những năm sau, 1955 - 1975
Về đề tài kháng chiến chống Pháp, có: Vượt Côn Đảo (Phùng Quán), giàu chất anh hùng ca; Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc) mang khuynh hướng sử thi; Trước giờ nổ súng (Lê Khâm) - bài tình ca chiến đấu hữu nghị Lào - Việt; Một chuyện chép ở bệnh viện (Bùi Đức Ái) - con đường đến với
cách mạng của một người phụ nữ vốn hiền lành, nhẫn nhục…
Về đề tài kháng chiến chống Mỹ có thể kể đến: Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu); Mẫn và tôi (Phan Tứ); Hòn đất (Anh Đức); Chiến sĩ
(Nguyễn Khải)…
Về đề tài xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc có Truyện anh Lục (Nguyễn Huy Tưởng); Xung đột, Chủ tịch huyện (Nguyễn Khải); Cái sân gạch (Đào Vũ)…
Trang 29Nhìn chung tiểu thuyết trong giai đoạn 1945 - 1975 được sáng tác theo khuynh hướng sử thi, tràn ngập cảm hứng ngợi ca Điều đó được xác định là
tất nhiên trong kháng chiến Các nhà văn “đã thật sự thấm nhuần ý thức văn học là một vũ khí, nhà văn là một chiến sĩ, sáng tác là một hành động đấu tranh Họ không thể đứng ngoài cuộc, không nỡ đi bên lề đường khi Tổ quốc cất tiếng thiết tha”, “Họ phải xông xáo, phải kịp thời Bản thảo vừa xong trang cuối cùng đã phải in” [27, tr.139 - 140] Đó là những con chữ bứt ra từ
máu thịt, mang cảm xúc sôi nổi chân thành của các nhà văn thế hệ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Cho nên sau ngày đất nước thống nhất, tiểu thuyết Việt Nam tất tả cho ra đời những vụ mùa mới, có điều kiện phản ánh
“cái hôm qua” và “cái hôm nay” toàn diện hơn và sâu sắc hơn Nhưng chắc chắn những tiểu thuyết ra đời sau cách mạng tháng Tám - 1975 vẫn đánh dấu một giai đoạn đặc biệt trong văn học, mang hơi thở nóng bỏng của một thời cả nước đâu cũng là tiền tuyến, tạo nền móng vững chắc cho thể loại tiểu thuyết phát triển mạnh trong hòa bình Chúng ta tin rằng có nhiều đề tài sẽ được khai thác lại với những khám phá tinh tế hơn để có những tác phẩm xứng đáng với tầm vóc dân tộc
1.2.2.3 Dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam (giai đoạn 1975 đến nay)
Từ 1975 - 1985 là giai đoạn về cơ bản chuyển động trên đường ray cũ, khuynh hướng sử thi, cảm hứng ngợi ca giữ vai trò lĩnh xướng và đó là đặc trưng thi pháp của nhà văn - chiến sĩ Bước vào thập niên tám mươi, văn học Việt Nam đã bộc lộ những cảm hứng mới trong sáng tác Nhiều tác gia - tác phẩm trước cách mạng tháng Tám hoặc sáng tác ở miền Nam dưới chế độ Sài Gòn trước đây từng bị phủ định hoàn toàn, một số tác phẩm trong ba mươi
năm chiến tranh từng bị phê phán gay gắt như Màu tím hoa sim (Hữu Loan); Tây Tiến (Quang Dũng); Lời mẹ dặn (Phùng Quán),… nay được phép in ấn,
phổ biến rộng rãi, nhiều tác phẩm được chọn lọc đưa vào giảng dạy trong nhà
Trang 30trường Sự xuất hiện các công trình nghiên cứu, biên khảo, hồi ký về một số
nhân vật và sự kiện văn chương quan trọng trong quá khứ là “động lực thúc đẩy dần dần sự thay đổi nhận thức chúng ta về toàn bộ di sản quá khứ, trong
đó có phần nào di sản nửa đầu thế kỷ XX Và trở lại quá khứ hoàn toàn không phải vì quá khứ mà chính vì hiện tại và tương lai” [25, tr.106]
Tiểu thuyết được mùa với Bến không chồng (Dương Hướng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng),Mảnh đất lắm người nhiều ma(Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bi kịch thời bình (Dương Trọng Dật), Một cõi nhân gian bé tí, Thượngđế thì cười (Nguyễn Khải)… Có những tác phẩm thu hút sự khen ngợi của dư luận như Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân)…
Nhìn chung, tiểu thuyết từ năm 1986 trở lại đây mang khuynh hướng thế sự Từ tự vấn dẫn đến cảm hứng phê phán, cảm hứng soi rọi vào cuộc chiến tranh hôm qua và cuộc sống hôm nay với cái nhìn thấu cảm từng thân phận người; những tiêu cực, những góc khuất được phơi bày trung thực đến chua xót Tiểu thuyết trong giai đoạn đổi mới muốn đào xới đến cùng sự thật của cao thượng và thấp hèn nhưng không phủ định chế độ mà là vạch ra những non nớt, ấu trĩ, định kiến của một thời Các nhà tiểu thuyết đã quan tâm đến số phận con người - không phải con người chung chung, con người rụt rè tách ra đám đông rồi vội quay lại hòa trong đám đông mà là cá nhân có đời tư,
có cá tính, có thể là nhân vật tích cực hay tiêu cực nhưng người nào ra người nấy chứ chẳng cần điển hình cho một tập thể, một tầng lớp, một “hạng” người nào hết Thời chiến tranh, lấy thân mình ngăn xe tăng địch, lấp lỗ châu mai, chèn pháo… là hành động phi thường khẳng định phẩm chất anh hùng Trong hòa bình, trên mặt trận không tiếng súng, nhìn quanh toàn “phe ta” cả thì cuộc
Trang 31đấu tranh vì cái thiện, vì sự trong sạch của xã hội, vì sự ổn định của đất nước…gian nan, phức tạp vô cùng
Tiểu thuyết hôm nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh
mẽ Thuận lợi trước nhất là “người nghệ sĩ có quyền sáng tạo và hoàn toàn chịu trách nhiệm về mình trước nhân dân và Tổ quốc”; thứ hai là hai cuộc
chiến tranh vệ quốc trải dài suốt ba mươi năm để lại những tư liệu quý, những niềm tự hào xứng đáng cho các nhà văn thuộc thế hệ sau tìm cảm hứng sáng tác; thứ ba, chính cuộc sống thời bình, giữa ngổn ngang lo toan, lẫn lộn xấu tốt, đồng tiền khuynh đảo những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp trở thành đề tài vô tận để nhà văn khám phá, đào đãi, để trao cho đời những tác phẩm có giá trị Đó là điều mới mẻ của tiểu thuyết hôm nay Chính vì vậy có ý kiến cho rằng giai đoạn đất nước từ 1975 đến nay đã tạo nên sự sống động tươi mới chưa từng có trên mảnh đất phê bình văn chương
1.2.2.4 Đóng góp của Nguyễn Khải
Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu đều chớm vào tuổi thanh niên khi cách mạng tháng Tám thành công, bước ngay vào quân ngũ và trở thành nhà văn khoác áo lính Nếu Nguyễn Minh Châu gắn bó nhiều hơn với đời thường, sắc sảo khi phân tích từ hoàn cảnh hiện thực đến bộc lộ chân tướng của mỗi nhân vật, có cái nhìn ưu ái, thấu cảm con người trong cuộc đời, tạo nên cái mạch trầm tư, nhân hậu trong tác phẩm; nếu Nguyên Ngọc không chỉ quá xuất sắc khi viết về đất và người Tây Nguyên mà còn là cây bút kết hợp đến tinh tế sự giàu có của trí tuệ, cá tính sắc sảo đến ương bướng của người đất Quảng và một tâm hồn phóng khoáng, lãng mạn thì Hà Minh Đức
cho rằng Nguyễn Khải “giỏi phát hiện vấn đề, khai thác sâu sắc tâm trạng nhân vật, nhạy cảm với nhiều mối quan hệ của nhân vật với thời cuộc, môi trường hoạt động, hoàn cảnh gia đình và thân phận riêng, văn mạch tiềm ẩn nhiều câu hỏi, nhiều triết lý” [43, tr.14]
Trang 32Thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Khải là nhà văn hiếm hoi: viết đều tay, giai đoạn nào của đất nước
cũng có tác phẩm Riêng về tiểu thuyết có thể kể đến: Xung đột (khi hòa bình vừa lập lại ở miền Bắc); Chủ tịch huyện, Chiến sĩ, Đường trong mây, Ra đảo (trong kháng chiến chống Mỹ); Cha và Con và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Vòng sóng đến vô cùng, Điều tra về một cái chết (giai đoạn mười năm sau ngày thống nhất đất nước); Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười (giai đoạn đổi mới) Vị trí vững chắc của Nguyễn Khải là kết quả của
quá trình lao động bền bỉ, say mê, sợ đi trên lối mòn của chính mình Trả lời
phỏng vấn trên Báo văn nghệ (16 - 2 - 1999), Nguyễn Khải nói: “Từ năm
1955 đến 1977 tôi sáng tác theo một cách… Từ năm 1978 đến nay sáng tác theo một cách khác” Theo cách nói quen thuộc của một số nghệ sĩ thời nay là
“tự làm mới mình” Đây là điều nói dễ, làm khó bởi bản thân nhà văn phải
“mới” trong quan điểm sáng tác, phương pháp tiếp cận hiện thực, thao tác nghiên cứu con người… bằng tư duy tiểu thuyết vận động theo kịp với biến động của đời sống Nguyễn Khải thành công, tác phẩm của ông được đón đợi,
có lẽ vì ông có “năng lực quan sát, óc phân tích sắc sảo, cách xử lí đúng đắn
và thoải mái những vấn đề quan trọng và phức tạp” (Nguyễn Văn Hạnh), một khả năng “tư duy nghệ thuật đang nghiên cứu, khảo sát, phân tích đời sống và con người đồng thời với nó” (Trần Đình Sử),… Có thể nói, nếu “cả một thời gian dài chúng ta nghiêng về khai thác, khẳng định con người trong tính giai cấp và trước lợi ích dân tộc, mà coi nhẹ con người cá thể Con người không chịu để tước mất hoặc tự đánh mất tính cá thể Con người với cái tôi riêng bị xem là cô đơn, nhỏ bé, thậm chí là lạc lõng, là đi trái, là đi ngược với những lợi ích chung Thế nhưng chính đây lại là nơi chứa đựng sự phong phú và bộc
lộ rõ mặt xã hội, mặt riêng biệt của thế giới con người Chính đây là nơi mà con người có cơ hội khẳng định sự tồn tại đích thực của mình” [25, tr.103] thì
Trang 33Nguyễn Khải bằng trái tim nhạy cảm tinh tế của mình đã cố gắng tìm đến ngóc ngách ẩn giấu trong cái tôi nhân vật, tranh luận, đối thoại với nhân vật,
là cái điều mà Chu Nga nhận xét: “Tác phẩm của anh hấp dẫn chúng ta căn bản bằng những vấn đề, những suy nghĩ thông minh, những nhận xét sắc sảo đôi khi làm giật mình người đọc” [29, tr.68] Còn nhà văn Nguyên Ngọc lý giải: “Anh không viết được ca ngợi, cái tạng của anh là moi tìm, là lục lọi, vặn đi vặn lại vấn đề, không bằng lòng với những câu trả lời của chính mình,
và luận lý, tự luận lý, suy ngẫm”
Xung đột được viết sau chuyến đi của nhà văn về một vùng Thiên Chúa
giáo toàn tòng ở Hải Hậu (Nam Định), trong đó nhà văn phản ánh lại cuộc đấu tranh quyết liệt của bộ đội, cán bộ, nhân dân, diễn ra trong từng xóm ấp,
trong từng gia đình ở thôn Hỗ với bọn phản động đội lốt tôn giáo Xung đột
được xem là tác phẩm “đóng dấu” tên tuổi Nguyễn Khải vào văn học cách mạng và được các học giả nhận định nhà văn đang hình thành phong cách văn xuôi hiện đại tỉnh táo
Trong Chủ tịch huyện, Nguyễn Khải chứng minh người cán bộ không
thể tự mình trói buộc trong một cơ quan, một tập thể mà phải mở rộng tầm nhìn trước biến động của tâm tư con người và nhu cầu của đời sống, có như vậy mới tích lũy được vốn sống, nâng cao tri thức khả năng lãnh đạo, tránh được những định kiến hẹp hòi hoặc vì dốt nát mà sinh ra bảo thủ, dị ứng với cái mới Mẫu cán bộ như vậy cần cho bộ máy công quyền của chúng ta hôm nay và tương lai nữa
Chiến sĩ dựng lên một chiến trường quy mô lớn, dữ dội, khốc liệt, một
anh lính lái xe tăng đi lạc đơn vị và đồng đội, phải vượt qua thử thách để giữ lấy cốt cách của người chiến sĩ Nguyễn Khải phát hiện ra sức mạnh của người lính từ vô vàn tình huống, chi tiết bình thường, nó bật lên một ý nghĩa
Trang 34thâm trầm: “tình cảm con người ta ghê gớm thật, nó nghiêng về phía nào là toàn bộ sức mạnh trút về phía ấy” (lời Thịnh trong Chiến sĩ)
Chưa tròn mười năm sau ngày thống nhất đất nước, Nguyễn Khải viết
kịch, truyện ngắn đều tay và cho ra đời tiểu thuyết Cha và Con và…, Gặp gỡ
cuối năm, Thời gian của người Với Gặp gỡ cuối năm, Nguyễn Khải muốn
khẳng định thắng lợi của cách mạng đã là một thực tại hiển nhiên mà những người gắn bó sâu sắc với chế độ Sài Gòn không thể chối bỏ Họ khư khư gắn
bó với quá khứ bất hợp tác với cách mạng, u uất, thu mình trong nỗi buồn chiến bại thì bánh xe lịch sử vẫn tiến về phía trước Chọn thái độ nào để trước
hết chính mình được sống thanh thản là do họ tự lựa chọn Với Cha và Con
và…, Thời gian của người, Nguyễn Khải tiếp tục nói về tôn giáo như đã từng
viết qua Xung đột nhưng với cái nhìn khoáng đạt hơn Nếu trong Xung đột,
các tu sĩ Thiên Chúa giáo và lực lượng cách mạng hiện lên như một mâu thuẫn mang tính đối kháng, những người Kitô vừa muốn giữ đạo vừa muốn đến với cách mạng phải trải qua bao giằng xé, vật vã thì trong hai tác phẩm sau này, Nguyễn Khải có những lý giải lý tình hơn: giáo hữu cũng là một tế
bào trong cơ thể của dân tộc, “… giáo hữu là nền tảng, là cội nguồn Cách mạng cũng từ đấy mà có, Hội thánh cũng từ đấy mà có, bổn phận của linh mục cũng từ đấy mà có” (Cha và con và…)
Điều dễ nhận thấy ở Nguyễn Khải là trong “cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn” (Gặp gỡ cuối năm), ông thường nhìn lại những đứa con
tinh thần của mình không phải với đôi mắt âu yếm “con vua vua dấu, con châu chấu châu chấu yêu” mà ngẫm ngợi băn khoăn về những điều mình viết chưa “tới”, cái nhìn của mình vào thời điểm thai nghén một số tác phẩm còn
phiến diện Cha và con và… là một cách ông nói thêm về Xung đột; Gặp gỡ cuối năm là sự biểu lộ thái độ điềm tĩnh, khách quan hơn sau khi gay gắt trong kịch Cách mạng, mặt khác nhấn mạnh “cái quyết liệt của tồn tại hôm
Trang 35nay” Trên cái nền trăn trở của Gặp gỡ cuối năm sang Thời gian của người,
Nguyễn Khải lại suy tư về cái hữu hạn của đời người trong cái vô hạn của
thời gian, nhưng “mỗi đời người đều có khoảng thời gian mãi mãi đứng nguyên đó, không trôi đi, không biến mất, chốc chốc lại chớp lên chiếu sáng tất cả” (Thời gian của người) Cái “khoảng thời gian” không trôi đi, không
xóa nhòa ấy là thời gian ghi dấu ấn tồn tại của một con người từng sống có ích dù họ đã nằm yên trong quá khứ và hiện tại đã thuộc về cái “khoảng thời
gian” của người khác rồi Thượng đế thì cười là khoảng lặng mà từ cái hôm
nay của mình, ông nhìn lại một quãng đời gắn bó với văn chương với bao vui buồn, tự hào xen day dứt Ngaỳ 15 - 01 - 2008, ngày “con người suy nghĩ”
Nguyễn Khải vĩnh viễn ngừng “triết lý”, nhà văn Nguyên Ngọc viết: “Có lẽ rồi đến một lúc nào đấy, các nhà nghiên cứu văn học thâm thúy sẽ lần lại các bước đường tư tưởng và sáng tác của Nguyễn Khải Theo tôi đây là con đường rất tiêu biểu của chuyển động văn học ta suốt một thời kỳ lịch sử dài
và không hề đơn giản, dễ dàng, tiêu biểu nhất là ở Nguyễn Khải Chính vì đấy đúng là cái tạng của anh và cũng vì anh là người tài năng nhất, cũng trung thực nhất với chính mình”
Hoài Thanh cho rằng: “Nhà văn cũng phải hành động như mọi người, hành động bằng việc làm và hành động bằng ngòi bút” [11, tr.96] Nguyễn
Khải lại là người duy nhất chỉ có một “việc làm” là “hành động bằng ngòi
bút” vì ông “chỉ khôn ngoan trong ngón nghề viết lách thôi” (Nguyễn Đăng
Mạnh) Là nhà văn có hạnh phúc cứ tung một tác phẩm ra là có ngay ý kiến phản hồi, khen đã đành nhưng bị phê phán thẳng thừng đi nữa thì Nguyễn Khải cũng không bao giờ có phản ứng tức thời Một thái độ bình tĩnh, tôn trọng người khác và tự tin ở một nhà văn tên tuổi, như ông từng chia sẻ: tác
phẩm văn học là “một mảnh của đời sống chung” nên sự quan tâm của dư
luận là sự chấp nhận tác phẩm đã thực sự tham gia vào đời sống chung bằng
Trang 36cái mảnh riêng của nó, mỗi nhà văn cần có “tư tưởng riêng của mình”, “tiếng nói đặc biệt của chính mình” mà những gì cần thể hiện thì đã nằm trong tác
phẩm cả rồi; “tư tưởng”, “tiếng nói” của nhà văn cũng chỉ có giá trị khi được thể hiện bằng tác phẩm Điều đó rất khác với một số cây bút ưa “độp” lại những người có ý kiến nghịch với mình bằng những bài phản biện, những câu trả lời phỏng vấn bức xúc đến nóng nảy, thiếu kiềm chế, và xem sự tranh cãi
ồn ào, kéo theo báo chí và dân cư mạng vào cuộc là cách lăng xê tên tuổi
Trong Những chặng đường văn Nguyễn Khải, Hà Công Tài nhận xét:
Văn của Nguyễn Khải giàu tính chính luận Tác giả là người viết cẩn trọng, muốn miêu tả được nhiều nhất trong tác phẩm cái ngổn ngang bề bộn, nhiều màu vẻ của cuộc sống hôm nay Đọc Nguyễn Khải là đối thoại với nhân vật
để cùng suy nghĩ, trăn trở Văn ông là lối văn hiện đại của thế ký XX Nhân
vật của ông là nhân vật của thời đại, thời cuộc Với Nguyễn Khải - Đời người
đời văn, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: Tác phẩm của Nguyễn Khải đem đến
cho người đọc những hứng thú về trí tuệ Mỗi lần đọc Nguyễn Khải ông cứ tin rằng thể nào trí khôn của mình cũng mở mang thêm một điều gì đó Dù viết về Nguyễn Khải có những ý kiến tương đồng và dị biệt - điều bình thường và cần thiết cho hoạt động sáng tác và lý luận phê bình văn học - thì những nhà văn, nhà nghiên cứu đều thừa nhận ông là một trong những cây bút
hàng đầu của văn học cách mạng Việt Nam Theo Phan Cư Đệ: “Nguyễn Khải
là một cây bút trí tuệ, thông minh, một cây bút có tài năng, tiêu biểu cho thế
hệ các nhà văn xuôi hình thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp”; Nguyễn Văn Hạnh cho rằng: “Mỗi tác phẩm của Nguyễn Khải lại khẳng định thêm một phong cách, củng cố thêm nghệ thuật của anh để cho người ta phải
hi vọng và chờ đợi”; Vũ Tú Nam nhận xét: “Nguyễn Khải thật có phong thái một người viết tiểu thuyết”; Tuyết Nga khẳng định: “Nguyễn Khải là một nhà văn có nhiều đóng góp cho văn học đương đại Tác phẩm của ông phản ánh
Trang 37kịp thời, sâu sắc hiện thực lịch sử cũng như đời sống tinh thần của con người thời đại Văn của ông luôn hấp dẫn, mới mẻ, độc đáo Các tác phẩm của ông không chỉ đánh dấu những bước đi của đời sống hiện thực mà còn của cả những tìm tòi trăn trở của nhà văn trên con đường sáng tạo” [31, tr.11]
Góp trên 10 tác phẩm trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam từ
1945 đến nay và không bị dòng chảy ấy nhấn chìm, Nguyễn Khải đã khẳng định những trang viết của ông đủ sức đồng hành cùng văn học đất nước Dù sáng tác trong hoàn cảnh nào, với lối viết thông minh, đầy tính triết lý, Nguyễn Khải đã tìm cho mình một cách riêng để đến với số phận của mỗi con người Nhiều nhân vật và nhiều vấn đề trong tác phẩm Nguyễn Khải không chỉ là của hôm nay mà còn có ý nghĩa với mai sau và đem lại nhiều ý nghĩa sâu sắc
Trang 38CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT VÀ KẾT CẤU TRONG HAI TIỂU THUYẾT
“GẶP GỠ CUỐI NĂM” VÀ “THƯỢNG ĐẾ THÌ CƯỜI”
CỦA NGUYỄN KHẢI DƯỚI GÓC NHÌN TƯ DUY TIỂU THUYẾT
2.1 Nhân vật trong hai tiểu thuyết của Nguyễn Khải
2.1.1 Vài nét về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
Sang thế kỉ XX, khi các tiểu thuyết gia hiện đại phương Tây, đặc biệt là
ở Pháp không chú trọng đến nhân vật, họ cho rằng tiểu thuyết của các nhân vật đã thuộc về quá khứ khi hoàn cảnh xã hội đã đổi khác, trong bối cảnh hỗn độn của cuộc sống, cá nhân không còn giữ được sức mạnh tuyệt đỉnh, vì thế tiểu thuyết không dung nạp loại nhân vật Trong tác phẩm của họ, thay vì
nhân vật là “đồ vật” hoặc chỉ còn là duy nhất dòng chảy của ngôn từ “nhân vật chỉ còn là những đại từ mơ hồ” Nhân vật đã không còn là nhân vật theo
đúng nghĩa của nó Nó chỉ là những mảnh vỡ manh mún, hay chỉ là một suy nghĩ thoảng qua, một dòng ý thức, một sự ám ảnh… các nhà văn không quan tâm đến cái gọi là nhân vật điển hình tính cách Trung tâm hứng thú của họ là việc vạch ra và tái hiện một cách sinh động những chất liệu tâm lí mới mẻ, là khám phá những gì đang diễn ra trong miền nội tâm khuất tối, những bí mật sâu thẳm nhất của con người Các nhà văn đương đại đã bứt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết truyền thống để đi tìm những yếu tố, chất liệu mới mẻ tiềm tàng, khả năng trong việc phản ánh đời sống ở bề sâu bí ẩn
Còn ở Việt Nam thế kỉ XX, chứng kiến những bước phát triển, thay đổi sâu sắc và tất cả để phù hợp với hoàn cảnh xã hội đã sản sinh ra nó Trong dòng chảy sống động hôm nay, thật khó tìm thấy sự tĩnh lặng của cuộc sống
và tâm hồn trong mỗi âm thanh tích tắc của chiếc đồng hồ thời đại Văn học Việt Nam sau 1975 đã có những bước nhảy đáng kể, trong đó có sự khám phá
Trang 39quá trình “nổ tung bên trong của ý nghĩ” con người Trước đổi mới, cảm hứng chủ đạo là ngợi ca những con người “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,mà lòng phơi phới dậy tương lai” Những anh lính giải phóng quân, những cô thanh
niên xung phong… được tập trung khắc họa, ngợi ca, họ là những con người trung tâm với những phẩm chất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Có những
con người “đẹp không tì vết” họ trở thành những con người lí tưởng của cả
một thời đại Nhưng sau đổi mới, các nhà văn với chủ trương đưa văn học về
gần với cuộc sống và coi đó là “mảnh đất vĩnh hằng khám phá những quy luật của các giá trị nhân bản” Các nhà văn nhận ra rằng: hình như cuộc chiến tranh ảnh hưởng sôi nổi hôm nay được văn xuôi, thơ ca tráng lên một lớp men “trữ tình” hơi dày cho nên ngắm nó ta thấy mong manh bé bỏng và óng chuốt quá khiến người ta ngờ vực Với nhận thức đó, văn học Việt Nam sau
1986 đã có sự chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư, thay vì những câu chuyện
về chiến tranh là những câu chuyện về tình đời, tình người Và có chăng chiến tranh cũng chỉ là những cái vỏ, cái cớ để bộc lộ nỗi lòng về nhân tình thế thái
ngày hôm nay Các nhà văn chân chính “tự thay máu” cho chính mình Và thể
loại tiểu thuyết đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực, con người trong giai đoạn mới một cách nhanh nhạy và sắc bén Sau chiến tranh văn học sẽ trở về với những gì mà trong chiến tranh nó không hoặc ít được nói tới đó chính là số phận của con người Các nhà văn đã hướng ngòi bút của mình miêu tả số phận những con người bình thường với những bi kịch của cuộc đời họ Đó là bi kịch giữa khát vọng và thực trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm, giữa cái nhân bản và phi nhân bản Không chỉ vậy các nhà văn đã nhìn nhận con người như một cá thể bình thường Nhân vật
trong tiểu thuyết là những con người với trăm ngàn mảnh đời khác nhau “đầy những vết dập xóa trên thân thể, trong tâm hồn” Có thể nói, trong tiểu thuyết
Trang 40Việt Nam những năm đổi mới không chỉ đi sâu vào thân phận con người mà còn đề cập đến những khát vọng con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời thường của cuộc sống riêng tư Khi con người trở về với cuộc sống đời thường mối quan hệ giữa sự nghiệp chung và hạnh phúc riêng, giữa con người cá nhân và con người xã hội phải được giải quyết hài hòa, gắn bó
Tiểu thuyết thời kì đổi mới đã không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình yêu nhục thể là lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân Miêu tả những con người tự nhiên, khai thác yếu tố tích cực của con người tự nhiên cũng là một khía cạnh nhân bản của văn học Các nhà văn đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con người đích thực Ngòi bút nhà văn khơi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người, khai thác
“con người ở bên trong con người”
Như vậy nếu như nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam trước đổi mới (đặc biệt là giai đoạn 1945 - 1975) được khai thác trong tư cách công dân đơn phiến, được nhìn nhận đánh giá theo quan điểm chính trị, thì nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại được khai thác toàn diện hơn, phức tạp hơn
và sâu sắc hơn Con người xuất hiện trong hàng loạt các tiểu thuyết là con
người trần thế với tất cả chất người tự nhiên của nó: con người tư tưởng, con người trí tuệ,con người có sự hòa hợp giữa con người tự nhiên - con người xã hội - con người tâm linh, con người với sự thống nhất giữa ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát
Tóm lại, trên lĩnh vực tiểu thuyết nhà văn đã khắc họa chân dung những con người vừa đời thường vừa trần thế, vừa đẹp đẽ, thánh thiện luôn khao khát cái đẹp và hướng tới cái thiện Đó chính là nét nổi bật mang đậm ý nghĩa
nhân văn khi nhìn nhận con người tạo nên tiếng nói đa thanh đầy “hòa âm” và
“nghịch âm” trong tiểu thuyết