Ở phương diện nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật và tính chân thực của hình tượng người chiến sĩ công an, Ma Văn Kháng đã khẳng định: “Nhân vật chiến sĩ công an của ông là những con ngư
Trang 1
1
Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O
TR¦êNG §¹I HäC S¦ PH¹M Hµ NéI 2
nguyÔn thÞ thu h»ng
thÕ giíi nh©n vËt trong truyÖn ng¾n cña lª tri kû
luËn v¨n th¹c sÜ ng«n ng÷ vµ v¨n hãa viÖt nam
Trang 2và những đóng góp đáng kể của ông đối với nền văn học nước nhà
Là một trong những cây bút xây nền đắp móng cho phong trào sáng tác văn học trong ngành Công an, suốt cuộc đời cầm bút Lê Tri Kỷ không bao giờ
tỏ ra chững lại về sự sáng tạo nghệ thuật Trong các trang viết của mình, cây bút ấy luôn tỏ rõ sự già dặn, từng trải và sâu đằm hơn, hấp dẫn hơn Cùng với
xu thế chung của văn xuôi hiện nay, sáng tác của Lê Tri Kỷ đã bám sát đời sống hiện thực ở nhiều mặt, quan tâm đến con người cá nhân trong cuộc sống thường nhật Ngay từ những sáng tác đầu tay của mình, ông đã tâm huyết và thủy chung trọn đời văn của mình với mảng đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống Và chính ở mảng đề tài này, Lê Tri Kỷ đã đạt được những thành công rực rỡ
1.2 Tài năng của Lê Tri Kỷ được khẳng định qua thời gian và được kết tinh rõ rệt qua số lượng sáng tác mà ông để lại cho đời Sáng tác của ông có nhiều thể loại khác nhau như: Tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện ký, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh Ở thể loại nào, nhà văn cũng tỏ rõ tài năng, thế mạnh của mình trong việc khám phá hiện thực cuộc sống, con người Song truyện ngắn được coi là thể loại mạnh nhất của ông Vì vậy, truyện ngắn của
Lê Tri Kỷ gây được sự chú ý của giới văn học và đông đảo bạn đọc
1.3 Tác phẩm của Lê Tri Kỷ được khẳng định ngay sau khi ông qua đời (1993), hai tập truyện ngắn của ông đã được tặng giải thưởng của Hội Nhà
văn Việt Nam Đó là "Cuộc tình thế kỷ" - Giải A - 1994 và "Không thiện
không ác" - Giải A - 1995
Trang 3
3
Là một nhà văn có nhiều đóng góp như vậy cho nền văn học hiện đại Việt Nam nói chung và văn học trong lực lượng công an nói riêng, nhưng chúng tôi nhận thấy cho đến nay hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
Thực tế đó gợi ý cho chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài: "Thế giới nhân vật
trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ"
2 Lịch sử vấn đề
Là cây bút bước vào đời văn khá muộn màng khi đã ở ngoài độ tuổi 35
nhưng Lê Tri Kỷ được đánh giá là: "Nhà văn tiêu biểu nhất của ngành công
an nhân dân" (Xuân Thiều) Quả đúng như vậy, trong hành trình sáng tác của
mình, Lê Tri Kỷ đã có những đóng góp đáng ghi nhận đối với nền văn học hiện đại Việt Nam Những sáng tác của Lê Tri Kỷ đã thu hút được sự quan tâm của khá nhiều các nhà văn, các nhà nghiên cứu phê bình và bạn đọc phổ cập Đã có rất nhiều ý kiến bàn luận về những sáng tác của Lê Tri Kỷ Có những bài viết chỉ dừng lại ở những ý kiến phác thảo hết sức khái quát và sơ lược song cũng có bài đi vào phân tích một cách khá cụ thể, chi tiết những nhận xét khá tinh tế và xác đáng một số truyện ngắn của Lê Tri Kỷ Dưới đây, chúng tôi xin tập trung điểm lại các ý kiến bàn luận về truyện ngắn của Lê Tri Kỷ Tiêu biểu là bài viết khá tâm huyết và thấu đáo của nhà văn Xuân Thiều
với nhan đề: "Lê Tri Kỷ - Nhà văn tiêu biểu nhất của ngành Công an nhân
dân" in trong cuốn Sáng tác về đề tài an ninh - trật tự lợi thế và chướng ngại
(1997) đã giới thiệu khá chi tiết, đầy đủ về các chức danh, nơi công tác và hoạt động của nhà văn Lê Tri Kỷ Đặc biệt, tác giả đã đạt được với hai tập
truyện ngắn: “Cuộc tình thế kỷ” và “Không thiện không ác” đều đạt giải A
Trong bài viết, nhìn từ góc độ tiếp cận tính đặc thù của loại truyện vụ án, truyện hình sự, Xuân Thiều đã phát hiện, khẳng định tài năng và những đặc
Trang 4
4
sắc trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ: "Với 18 truyện chúng ta sẽ không thấy
nhưng pha ly kỳ, những vụ án phức tạp gợi trí tò mò, những cuộc săn đuổi thủ phạm đầy gay cấn, lối viết truyện hình sự bình thường na ná thông tấn báo chí mà nhà văn Lê Tri Kỷ tỏ ra cao tay hơn, cũng trên nền như thế, ông nói về tình đời tình người" [9; tr.69] Đồng thời, Xuân Thiều cũng khẳng định thành
công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng người chiến sĩ công an "Lê Tri Kỷ
đã có công đem đến cho người đọc một hình tượng người chiến sĩ công an chân thực, Chiến sĩ công an, trước hết là con người,cũng đau đớn, cũng buồn cũng vui, giận hờn, yêu ghét như mọi người khiến ta cảm động và gần gũi"
[9; tr.70] Ngoài ra, Xuân Thiều cũng chỉ rõ thành công về chủ đề cũng như nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ, nhà văn đã đặt
ra những vấn đề nhân sinh đạo lý con người; về cốt truyện của một số truyện ngắn vừa phức tạp, vừa giản dị Ông cũng khẳng định cái tài của Lê Tri Kỷ
trong việc sử dụng ngôn ngữ: "Truyện chỉ là cái cớ để chuyển tải những ý
tưởng đậm đà chất nhân văn, để làm lan tỏa những ý thơ" [9; tr.75] Bên cạnh
đó là bài viết của Giáo sư Hoàng Như Mai với nhan đề: “Những điều suy nghĩ
về tác phẩm của nhà văn Lê Tri Kỷ” in trong cuốn “Kỉ yếu hội thảo nhân dịp
kỉ niệm 20 năm thành lập Nhà xuất bản Công an nhân dân”(2001), Nxb Công
an nhân dân
Bên cạnh đó còn một số bài viết được đăng tải trên báo mạng điện tử
của Nhà xuất bản Công an nhân dân như: Phan Quế với bài: “Nhà văn Lê Tri
Kỷ - Một đời tài hoa và sâu sắc”, Nguồn: Http//www.Nxbcand.vn Bài viết đã
thống kê khá chi tiết đầy đủ các tác phẩm của Lê Tri Kỷ ở các thể loại khác nhau Phan Quế cũng có những phát hiện khá tinh tế, sâu sắc về nghệ thuật tự
sự trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ: “Đọc văn của nhà văn Lê Tri Kỷ không
gặp ở đấy những đao to búa lớn, những mảnh mung ly kỳ hàng chợ, những
Trang 5
5
minh họa khuôn sáo Rất ít những mẹo mực kiểu trinh thám, giật gân, càng không có những trang hình sự kiểu tự nhiên chủ nghĩa”[62] Phan Quế cũng
đi tìm hiểu một vài truyện ngắn đặc sắc của Lê Tri Kỷ như truyện Đêm Văn
Miếu, truyện Mụ Quới Bài viết cũng đánh giá cao những đặc sắc trong văn
phong của nhà văn Lê Tri Kỷ:“Văn ông cẩn trọng, chừng mực, đượm chất
nho gia, có nét tây học và đôi chút hóm hỉnh dân gian giàu chất quê kiểng xứ Quảng” [62]
Bài viết của Hà Hải Hưng: “Chê vẫn chưa giận”, đã đưa ra cảm nhận
về hình ảnh nhà văn Lê Tri Kỷ với tác phong tỉ mỉ, nhiệt tình, cẩn trọng, có phần nghiêm khắc trong những lúc sửa bản thảo của mình hay sửa chữa bản thảo cho tác giả khác Bài viết đưa ra một ví dụ khá hóm hỉnh và hài hước của
Lê Tri Kỷ khi sửa bản thảo cho nhà văn Tôn Ái Nhân lúc mới vào nghề Ông
từng viết vào trang bản thảo của Tôn Ái Nhân: “Nếu tôi có chết sớm hoặc tôi
bị tâm thần thì đó là phải đọc “Trinh sát nội thành” của văn hào Tôn Ái Nhân” [22] Đó là lời nói đùa vui hóm hỉnh cũng là lời nhắc nhở chân tình đề
nhà văn Tôn Ái Nhân trau dồi hơn nữa ngòi bút sáng tác của mình Chính những ý kiến, sự nghiêm khắc cẩn trọng trong văn chương của Lê Tri Kỷ đã
góp phần làm cho tác phẩm “Trinh sát nội thành” của Tôn Ái Nhân được độc
giả đón nhận nồng nhiệt Quả đúng như Nam Cao đã chiêm nghiệm về cách viết văn chương: sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng có thể chấp nhận được nhưng sự cẩu thả trong văn chương là tối kỵ
Bài viết của Dương Duy Ngữ: “Ước mong của nhà văn Lê Tri Kỷ” thì
đưa ra nhận định về sự kết hợp hài hòa giữa con người đời thường và con người chiến sĩ trong hình tượng người chiến sĩ công an của truyện ngắn Lê
Tri Kỷ: “Ở thời điểm ấy, văn học chưa ai mô tả tâm trạng của người chiến sĩ
công an trước việc họ phải hành xử hay hơn ông Không ở trong nghề không
Trang 6
6
viết được” [47] Bài viết còn tái hiện hình ảnh giản dị, gần gũi của Lê Tri Kỷ
từ vóc dáng tới giọng điệu để rồi tác giả phải thốt lên: “Bản thân tôi có cảm
giác ông giống cha tôi, một ông đồ Bắc Hà, một túc nho uyên bác” [47]…
Bài viết của tác giả Nguyệt Hà: “Lê Tri Kỷ đắc địa trong nghiện ngã”,
cũng đưa ra những đánh giá khá sắc sảo về Lê Tri Kỷ Với nhan đề đầy ý
nghĩa “Nhà văn Lê Tri Kỷ không được thưởng là không công bằng” đã cho
thấy phần nào sự cảm nhận về cái tài của Lê Tri Kỷ Bài viết của Ma Văn Kháng và nhà phê bình Tôn Phương Lan là những minh chứng cụ thể ghi nhận những thành công trong văn chương của Lê Tri Kỷ Ở phương diện nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật và tính chân thực của hình tượng người chiến sĩ
công an, Ma Văn Kháng đã khẳng định: “Nhân vật chiến sĩ công an của ông
là những con người có lý trí sáng suốt có tấm lòng nhân hậu, cũng như mọi người, biết buồn, vui, yêu, ghét, cũng sống đủ các cung bậc tình cảm, các kiểu kích của con người”; “Lê Tri Kỷ quan tâm đến thế giới bên trong của con người, ông tập trung bút lực để miêu tả cái phần ẩn chìm trong tâm lý nhân vật” [16]… Bên cạnh đó còn một số ý kiến có tính chất “tạt ngang” như ý
kiến của Nhà nghiên cứu Đinh Xuân Dũng, Bùi Việt Thắng và một số tác giả khác
Ngoài ra, phải kể đến bản luận văn thạc sỹ: “Phong cách truyện ngắn
Lê Tri Kỷ” của Phạm Thị Thái- Trường ĐHSP Hà Nội 2 Bản luận văn đã có
những phát hiện khá tinh tế, sâu sắc về phong cách truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
Từ cấu trúc, cốt truyện, đề tài, giọng điệu, nhân vật đến những thành công về nghệ thuật tạo nên phong cách của nhà văn Lê Tri Kỷ
Các bài viết này đã giúp người đọc hình dung ra hình ảnh người chiến
sĩ công an - nhà văn Lê Tri Kỷ rất gần gũi chân phương, rất yêu nghề cũng như rất tâm huyết với nghiệp văn chương Những tác phẩm của Lê Tri Kỷ có
Trang 7
7
sức cuốn hút mạnh mẽ bởi những vấn đề đặt ra mang tầm thời đại, nêu lên quy luật muôn đời của văn chương nghệ thuật, chứa đựng trong đó tình người, khát vọng lớn lao về một xã hội tốt đẹp
Điểm qua những bài viết, các ý kiến, phê bình về văn chương Lê Tri Kỷ, chúng tôi nhận thấy hầu như chưa có tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống thế giới nhân vật trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ Bởi vậy, đây
là một hướng nghiên cứu còn để ngỏ chưa được chú ý tìm hiểu thích đáng Thực tế đó gợi ý cho chúng tôi đi sâu vào đề tài này Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu - những người thầy đi trước qua truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, chúng tôi mong muốn trình bày cảm nhận của mình về thế giới nhân vật vô cùng đa dạng phong phú của Lê Tri Kỷ Lẽ dĩ nhiên chúng tôi vẫn coi những ý kiến, những bài viết này là những gợi mở vô cùng quý báu, là cơ sở góp phần soi sáng cho người viết khi đi vào giải quyết đề tài này Từ đó, người viết hy vọng đóng góp một phần nhỏ trong quá trình tìm hiểu, khám phá như một cách tiếp cận để hiểu về một cây bút trí tuệ - "con chim đầu đàn" trong văn học của ngành Công an
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, luận văn nhằm tìm hiểu, khám phá, khẳng định thế giới nhân vật phong phú trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ; chỉ ra những nét độc đáo, đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Đồng thời qua đó khẳng định những đóng góp của Lê Tri Kỷ đối với mảng đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
Trình bày những vấn đề lý thuyết về thế giới nhân vật
Trang 8
8
Chỉ ra những đặc điểm nổi bật về thế giới nhân vật đa dạng, phong phú
và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ Từ đó bước đầu khẳng định vị trí tiêu biểu nhất của Lê Tri Kỷ trong bức tranh văn học về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống cũng như những đóng góp đáng ghi nhận của ông đối với nền văn học hiện đại Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu thế giới nhân vật trong những truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thực hiện đề tài này, luận văn tập trung khảo sát, thống kê, phân tích
toàn bộ truyện ngắn của Lê Tri Kỷ được in trong các tập truyện: “Cuộc tình
thế kỷ” (1994), Nxb Công an nhân dân; “Không thiện không ác” (1988), Nxb
Công an nhân dân; “Tuyển tập truyện ngắn Lê Tri Kỷ”(1995), Nxb Công an
nhân dân
- Vì nhiệm vụ của luận văn là tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ nên những tài liệu lý luận về thể loại truyện ngắn liên quan đến đề tài cũng được khai thác, vận dụng
- Trong quá trình khảo sát, chúng tôi sẽ chú ý mở rộng thêm một số tác phẩm của các nhà văn cùng thời và các nhà văn ở thế hệ sau Lê Tri Kỷ cùng viết về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống, để làm nổi bật thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, chúng tôi sử dụng đồng thời các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại: Khảo sát, thống kê toàn bộ hệ thống nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, từ đó tiến hành phân loại nhân vật theo những tiêu chí riêng
Trang 9
9
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Tiến hành phân tích cụ thể các khía cạnh thuộc về vấn đề nhân vật trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ Từ đó, tổng hợp lại rút ra những kết luận cần thiết theo yêu cầu của luận văn
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Tiến hành so sánh, đối chiếu giữa các nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ với nhân vật trong một số truyện ngắn cùng viết về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống của chính tác giả và một số tác giả khác cùng thời cùng viết về đề tài này để thấy được những sáng tạo của Lê Tri Kỷ
- Phương pháp loại hình: Vận dụng những kiến thức lý luận về thể loại truyện ngắn làm tiền đề cho việc đi vào nghiên cứu các vấn đề cụ thể về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
7 Đóng góp của luận văn
- Tìm hiểu thế giới nhân vật truyện ngắn Lê Tri Kỷ, chúng tôi mong muốn bước đầu tìm ra những đặc sắc về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ để bước đầu có một cái nhìn
tương đối hệ thống, toàn diện về một nhà văn từng được tôn vinh là: “Nhà
văn tiêu biểu nhất trong ngành Công an”(Xuân Thiều)
- Đánh giá những đóng góp khá quan trọng của Lê Tri Kỷ ở mảng đề tài đặc biệt vừa có những “lợi thế” vừa có những “chướng ngại” không dễ vượt
qua, đề tài“Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” nói riêng và văn học
hiện đại Việt Nam nói chung Thông qua đó góp phần khẳng định tài năng và
vị trí của Lê Tri Kỷ trong nền văn học hiện đại Việt Nam
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về nhân vật văn học và hành trình sáng tác truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người và các kiểu loại nhân vật trong sáng tác của Lê Tri Kỷ
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
Trang 10
10
NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC TRUYỆN NGẮN CỦA LÊ TRI KỶ
1.1 Quan niệm chung về nhân vật văn học
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học
Trong tác phẩm văn học, nhân vật đóng vai trò hết sức quan trọng Nhân vật là đối tượng trung tâm, là linh hồn của tác phẩm văn học Qua nhân vật, nhà văn bày tỏ quan điểm, tư tưởng nhận thức…trước cuộc đời và con người, gửi gắm những tình cảm, suy tư, trải nghiệm của chính lòng mình, đời mình Đồng thời, thể hiện tài năng, cá tính, phong cách của mình
* Về phương diện thuật ngữ
Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm Trong tiếng Hy Lạp cổ
“nhân vật” (đọc là persona) vốn mang ý nghĩa là “cái mặt nạ” một dụng cụ
biểu diễn của diễn viên trên sân khấu Nhưng sau đó nó trở thành thuật ngữ để chỉ nhân vật văn học
Đôi khi nhân vật văn học còn được người ta gọi bằng các thuật ngữ
khác như“vai” (actor),“tính cách” (character) Tuy nhiên, các thuật ngữ này
có một nội hàm hẹp hơn so với “nhân vật” Thuật ngữ “vai” chủ yếu nhấn
mạnh đến tính chất hành động của cá nhân, thích hợp với loại nhân vật hành
động Còn thuật ngữ“tính cách” lại thiên về chỉ những nhân vật có tính cách
Trong thực tế sáng tác, không phải nhân vật nào cũng hành động, đặc biệt là những nhân vật thiên về suy tư và cũng không phải nhân vật nào cũng có tính
cách rõ rệt Từ đó, có thể thấy các thuật ngữ “vai”, “tính cách” không bao
quát được hết những biểu hiện khác nhau của các loại nhân vật trong sáng tác văn học
Trang 11
11
Như vậy, “nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm phong phú, đủ khả năng
bao quát những hiện tượng phổ biến của tác phẩm văn học ở mọi bình diện và cấp độ
* Khái niệm nhân vật văn học
Thực tế cho thấy, trong giới nghiên cứu phê bình văn học đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhân vật văn học
Các tác giả “Từ điển văn học”(tập 2) định nghĩa: “Nhân vật là yếu tố
cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tâm điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ
đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật, do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm văn học” [26; tr.86] Với định nghĩa này, các nhà
biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật từ khía cạnh vai trò, chức năng của
nó đối với tác phẩm văn học và từ mối quan hệ của nó với các yếu tố hình thức tác phẩm Có thể coi đây là một định nghĩa tương đối toàn diện về nhân vật văn học
Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học”, tác giả Lại Nguyên Ân đề xuất
một quan điểm khác Ông xem xét nhân vật trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học:
“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [7; tr.241]
Như vậy, với quan niệm này, nhân vật văn học sẽ là một trong những yếu tố tạo nên phong cách nhà văn và màu sắc riêng của một trường phái văn
Trang 12
12
học Nhà nghiên cứu này còn chỉ ra những đối tượng tiềm tàng khả năng trở thành nhân vật văn học
Khái niệm “nhân vật văn học” còn được định nghĩa trong cuốn “Từ
điển thuật ngữ văn học” của tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi:
“Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, Chị Dậu, Anh Pha…), cũng có thể không có tên riêng (Thằng bán tơ …) Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ là một con người
cụ thể mà chỉ một hiện tượng văn học nổi bật nào đó trong tác phẩm… Nhân vật văn học là một đơn vị đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [16; tr.235]
Quan điểm trên của nhóm tác giả cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” về
nhân vật văn học có phần thu hẹp hơn
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu khác lại định nghĩa nhân vật dựa trên tiêu chí chức năng phản ánh hiện thực của tác phẩm văn học Nhân vật là phương tiện để nhà văn tái hiện đời sống, mở rộng thế giới nghệ thuật cho tác phẩm:
“Nói đến nhân vật là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học” [23; tr.277]
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, các nhà nghiên cứu, nhà lý luận văn học khi đưa ra những quan điểm, định nghĩa cụ thể về nhân vật văn học có khá nhiều cách định nghĩa về nhân vật Song tựu chung lại, các ý kiến cơ bản gặp nhau trong sự khẳng định: Thứ nhất, đó phải là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng phương tiện văn học Thứ hai, đó là những con người hoặc những con vật, sự vật, đồ vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh gần gũi của con người Thứ ba, đó phải là đối tượng mang tính ước
Trang 13
13
lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn Nghiên cứu về tác phẩm văn chương cần phải tiếp cận nhân vật để chỉ ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và đưa ra kết luận về những đóng góp riêng của nhà văn đó
Những quan niệm về nhân vật văn học trên đây là những chỉ dẫn cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về nhân vật nói chung và nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ nói riêng
1.1.2 Chức năng của nhân vật văn học
Trong tác phẩm văn học, nhân vật đóng vai trò là tâm điểm của sự thể hiện đời sống Nhân vật không chỉ là “tiêu điểm để bộc lộ chủ đề” mà còn là nơi “tập trung giá trị nghệ thuật tư tưởng của tác phẩm” Một tác phẩm không thể thiếu vắng nhân vật Khi nhân vật xuất hiện, cái gọi là “hiện thực cuộc sống” không còn tồn tại như một khái niệm khô khan trừu tượng nữa mà trở nên có hình khối rõ ràng, để từ đó người đọc tưởng tượng, khám phá, suy ngẫm những vấn đề có ý nghĩa về cuộc đời Nói như nhà văn Anh Đức thì sức sống của nhà văn chính là ở việc xây dựng những nhân vật đặc sắc Tất nhiên,
đó không phải là điều đơn giản
Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kỳ vọng về con người
Nhân vật văn học là hình ảnh về con người Trong vai trò của một “người thư
ký trung thành của thời đại” (Banzac), văn học trở thành một phương thức
khái quát, phản ánh và thể hiện cuộc sống - bằng những hình tượng nhân vật
cụ thể - vô cùng hữu hiệu Do vậy, vai trò, chức năng quan trọng đầu tiên phải
kể đến của nhân vật văn học là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định
Trang 14
14
Thứ nhất, nhân vật có chức năng của một chiếc chìa khóa, giúp nhà
văn mở cánh cửa bước vào hiện thực rộng lớn, tiếp cận những đề tài mới mẻ
Sự phát triển của cốt truyện cũng như tình tiết truyện chính là sự xoay quanh các nhân vật trong tác phẩm, qua đó tác giả gửi gắm những giá trị nội dung và
tư tưởng Có thể khẳng định, nhân vật sẽ quyết định việc nhà văn đi sâu vào vấn đề cốt lõi nào của đời sống và thế giới nghệ thuật mà nó tạo nên, vì thế
tư sản (thời tích lũy tư bản ),…
Nhà văn Nga - Xôviết K.AFedin từng hình dung nhân vật giống như
“một công cụ” hữu hiệu giúp người viết nhận ra bản chất của đời sống và giúp độc giả thấu hiểu những quy luật sâu xa đang ngầm chi phối mọi diễn biến lịch sử Quả vậy, nếu không có một nhân vật mang tính cách đa diện của thời
Âu hóa và có số phận may mắn lạ lùng của Xuân Tóc Đỏ thì làm sao Vũ Trọng Phụng có thể thâu tóm thần tình đến vậy bản chất của xã hội (xã hội thực dân nửa phong kiến) mà ông gọi là xã hội “chó đểu” Bởi vậy, lý luận
Trang 15
15
văn học đã chỉ ra tính cách là sự khái quát bản chất xã hội - lịch sử, tâm lý con người bằng hình thức con người cụ thể, là sự thể hiện các phẩm chất xã hội của con người với tư cách là con người xã hội Tính cách là điểm trung tâm của các mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
Thứ ba, nhân vật văn học có chức năng biểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về thế giới và con người Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục
đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập nó trong tác phẩm
Do đó, bên cạnh việc xác định những tính cách của nhân vật trong tác phẩm, cần nhận ra hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật thể hiện
Một chức năng khác của nhân vật trong tác phẩm là chức năng tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong tác phẩm và cốt truyện Nhờ nhân vật mà
kết cấu của nhiều tác phẩm đạt được sự thống nhất, hoàn chỉnh, chặt chẽ và nhiều tiềm năng biểu đạt của các phương tiện ngôn từ được phát lộ, để rồi tự chúng trở thành những phương tiện nghệ thuật độc lập có thể được nghiên cứu riêng như một đối tượng thẩm mỹ chuyên biệt
Với vai trò, vị trí quan trọng như vậy, một lần nữa có thể khẳng định: nhân vật là yếu tố không thể thiếu đối với tác phẩm văn chương Hiểu được đúng đắn chức năng của nhân vật văn học, người viết có thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài này
1.1.3 Các tiêu chí phân loại nhân vật văn học
Nhân vật văn học là hiện tượng hết sức đa dạng Những nhân vật được xây dựng thành công là những sáng tạo độc đáo không lặp lại Tuy nhiên, xét
về mặt nội dung, cấu trúc, chức năng có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau Để chiếm lĩnh thế giới nhân vật đa dạng, có thể tiến hành phân loại dưới nhiều góc độ, theo nhiều tiêu chí khác nhau
Trang 16đề tài trung tâm hay tư tưởng nghệ thuật cơ bản của mình
Nhân vật chính thường được tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách Trong tác phẩm, nhân vật chính
có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra
trong tác phẩm Trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) nhân vật chính là Thúy
Kiều, Kim Trọng, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Thúc Sinh, Hoạn Thư,
Từ Hải, Hồ Tôn Hiến Trong “Tắt Đèn”(Ngô Tất Tố ), nhân vật chính là Nghị
Quế, Chị Dậu Ở những tác phẩm có nhiều tuyến cốt truyện hoặc có quy mô
sử thi đồ sộ, số lượng nhân vật có thể lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm
Đó là trường hợp của những tác phẩm như: “Thủy Hử” (Thi Lại Am), “Tam
Quốc Diễn Nghĩa” (La Quán Trung ),…
* Nhân vật trung tâm
Trong một tác phẩm có nhiều nhân vật chính, nhân vật chính có vai trò quan trọng hơn cả xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm Ở một số tác phẩm, số lượng nhân vật trung tâm không phải chỉ có một bởi do các nhân vật đều có vai trò tương đương nhau trong việc thể hiện
những xung đột cơ bản của tác phẩm Chẳng hạn tác phẩm “Tam Quốc Diễn
Nghĩa” (La Quán Trung), các nhân vật: Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Công,
Trương Phi, Gia Cát Lượng, Tôn Quyền đều là những nhân vật trung tâm
Trang 17bổ sung cho nhân vật chính, không được làm mờ nhạt nhân vật chính Có nhiều nhân vật phụ vẫn được nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác trong tác phẩm tạo nên một bức
tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh (Thầy Thơ Lại trong “Chữ người tử
từ” của Nguyễn Tuân, Thị Nở trong “Chí Phèo” của Nam Cao )…
1.1.3.2 Phân loại theo quan hệ thuận- nghịch giữa nhân vật và lí tưởng (xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật )
Có thể chia ra nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực)
* Nhân vật chính diện: là loại nhân vật mang trong mình những phẩm
chất tốt đẹp, có thể đại diện cho những giá trị tư tưởng, đạo đức thẩm mỹ mà nhà văn cùng thời đại nhân vật đó hướng tới Đó là những nhân vật Chị Út, Chiến, Việt trong tác phẩm của Nguyễn Thi …
* Nhân vật phản diện: là nhân vật có phẩm chất ngược lại với nhân vật
chính diện Nhân vật phản diện bị miêu tả trong tác phẩm với thái độ phê
phán Đó là những nhân vật như Bá Kiến trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, Nghị Quế trong “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố, Giave trong “Những
người khốn khổ”của V.Huygô… Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện
là những phạm trù lịch sử Việc miêu tả và đối lập chúng với nhau chỉ diễn ra khi xã hội có đối kháng giai cấp và khi nhà văn đã xác định rõ lập trường chỉ đứng về một phía nhất định của mình
Trang 18
18
Trong quá trình phát triển của văn học, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các nhân vật chính diện và phản diện cũng khác nhau Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt Ở đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung vào những tính chất tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại Trong các tác phẩm văn học hiện đại nhiều khi khó phân biệt được đâu là nhân vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện Vì vậy, sự phân biệt nhân vật chính diện và nhân vật phản diện ở đây chỉ có tính chất tương đối
1.1.3.3 Phân loại theo hình thức cấu trúc nhân vật
Ở tiêu chí phân loại này, theo gợi ý của E M Forster trong cuốn “Diện
mạo tiểu thuyết” (1927), có thể nói tới nhân vật dẹt, nhân vật tròn Ngoài ra
còn có thể nhắc tới nhân vật tư tưởng, nhân vật tâm lý
* Nhân vật dẹt
Là loại nhân vật không được khắc họa đầy đủ các mặt
Trong các loại nhân vật dẹt, có thể nói tới: nhân vật chức năng (hay mặt lạ), nhân vật loại hình (các thuật ngữ này do L.Ghinzburg đề xuất)
Nhân vật chức năng: Đây là loại nhân vật “được giao cho nhiệm vụ”
thực hiện một chức năng nhất định trong tác phẩm và phản ánh đời sống Nhân vật chức năng chủ yếu xuất hiện trong văn học cổ đại và trung đại (nhất
là cổ tích) Chẳng hạn, nhân vật Bụt trong các câu chuyện cổ tích có chức năng ban hạnh phúc, đem lại nhiều may mắn cho người lương thiện, giúp họ vượt qua những trở ngại của cuộc sống; nhân vật phù thủy có chức năng gieo rắc những rủi ro, những điều xấu, ngăn trở cuộc sống của người lương thiện… Các nhân vật của “Thạch Sanh”, “Tấm Cám”… đều là những nhân vật chức năng
Trang 19
19
Nhân vật chức năng không có đời sống nội tâm Các phẩm chất, đặc điểm nhân vật cố định không thay đổi từ đầu đến cuối, hành động gần như theo những công thức đã vạch sẵn Nhờ đặc điểm này mà các nhân vật chức năng dễ dàng trở thành biểu trưng trong đời sống tinh thần và hình thức hóa trong sáng tác Khi phân tích các nhân vật này cần tìm hiểu vai trò và chức năng mang nội dung xã hội thẩm mỹ của chúng
Nhân vật chức năng không hoàn toàn mất bóng trong văn học các thời đại sau này, chỉ có điều nó không tồn tại ở dạng thuần túy như trước
Nhân vật loại hình: là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã
hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời Đó là nhân vật khái quát chung về “loại” của các tính cách và nhờ vậy được gọi là điển hình
Chẳng hạn như nhân vật Acpagông (Lão hà tiện của Môlie) đã thể hiện tập trung cho thói keo kiệt, Ông Guốcđanh (Trưởng giả học làm sang của Môlie)
là hiện thân cho thói phù phiếm, hiếu danh của các gã tư sản muốn làm quý tộc Hạt nhân của loại nhân vật này là nét khu biệt về mặt tính cách xã hội của một loại người nào đó Đúng như Puskin nhận xét: “Ở Môlie người keo kiệt thì keo kiệt, và chỉ có thế” Nhân vật điển hình loại này luôn đòi hỏi một
cá tính nhất định được thực hiện qua một số chi tiết chân thực, sống động nào
đó chứ không phải là một khái niệm trừu tượng, điều đáng nói là khi đắp da, đắp thịt cho tính cách, nhà văn không quên chủ đích của mình là làm sao gọi
cho đúng cái “thần” của “loại” Nhân vật chị Út Tịch trong “Người mẹ cầm
súng” của Nguyễn Thi mang nhiều đặc điểm của nhân vật loại hình Chị
chính là “khái niệm” về người phụ nữ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” Tuy vậy, vẫn có những nét hấp dẫn nhất định của một cá tính
* Nhân vật tròn
Là nhân vật được khắc họa trên nhiều bình diện, đưa tới cho độc giả cảm tưởng “thực” về nhân vật
Trang 20
20
Nhân vật tròn thực chất là nhân vật tính cách Khi xây dựng nhân vật tính cách, điều nhà văn chú ý trước hết là cá tính làm nên một nhân cách độc lập Cá tính đó luôn có mối liên hệ sống động với môi trường xung quanh Qua việc nhìn vào những mối liên hệ đó người ta nhận ra những quy luật tồn tại của con người Sức hấp dẫn của loại tính cách này nằm ở cá tính cùng cấu trúc phức tạp của nó Nhân vật tính cách thường đa diện, chứa đầy mâu thuẫn
và chính những mâu thuẫn ấy làm cho tính cách không tĩnh tại mà vận động phát triển, đôi khi làm bất ngờ cả người sáng tạo ra nó
* Nhân vật tư tưởng
Trong tác phẩm văn học, có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc của
nó không phải là cá tính, cũng không phải là các phẩm chất loại hình, mà là một tư tưởng, một ý thức Xây dựng loại nhân vật này, các nhà văn nhằm tới việc phát biểu hoặc tuyên truyền cho một tư tưởng nào đó về đời sống Ví dụ
như nhân vật “tôi” trong truyện ngắn “Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu…
đều mang những nét cơ bản của nhân vật tư tưởng
* Nhân vật tâm lý
Ở loại nhân vật này, nhà văn tập trung vào việc tái hiện “hiện thực tâm lý”, vào những hành động bên trong chứ không phải hành động bên ngoài của nhân vật Nhiều khi hiện thực tâm lý đó không làm nên nhân vật mà còn làm nên chính câu chuyện, làm nên những tác phẩm được gọi là “truyện không có cốt truyện” Từ đây, vô số các thủ pháp miêu tả được thể hiện, dẫn đến sự ra đời của thủ pháp “dòng ý thức’ Loại nhân vật này xuất hiện nhiều trong văn
học hiện đại
1.1.3.4 Phân loại nhân vật theo thể loại
Có thể phân thành: nhân vật tự sự, nhân vật kịch, nhân vật trữ tình
Trang 21
21
* Nhân vật tự sự: là loại nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm truyện
Đó là những con người bình thường, hàng ngày được thể hiện một cách tập trung và sống động trong tác phẩm Đây là loại nhân vật hành động, có đời sống nội tâm phong phú
* Nhân vật trữ tình: là nhân vật nghiêng về cảm xúc, không có hành
động, ít được chú ý miêu tả về ngoại hình Mọi tác động của môi trường sống chỉ dẫn đến cảm xúc của nhân vật chứ không dẫn đến hành động
* Nhân vật kịch: là loại nhân vật hành động, xuất hiện vào thời điểm
sóng gió nhất, trong vòng xoáy cuộc đời Mọi tác động của môi trường sống đều dẫn đến hành động của nhân vật
Trên đây là các loại nhân vật thường gặp Trong văn học còn có thể gặp một số loại nhân vật khác nữa Sự phân loại trên đây chỉ có tính chất tương đối vì trong loại này còn có thể bao hàm một số yếu tố của loại kia và ngược lại Không có gì khó hiểu khi ta thấy một nhân vật cụ thể nào đó có mặt trong nhiều “danh sách” khác nhau Thực tế ấy đòi hỏi việc nghiên cứu nhân vật phải tránh sự cứng nhắc, tuyệt đối hóa
1.1.4 Vài nét về nhân vật truyện ngắn và nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới
1.1.4.1 Vài nét về nhân vật truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể loại văn học mà giờ đây khá quen thuộc với đời
sống của người yêu văn chương nghệ thuật Nhưng có lẽ ít ai biết đến nó với
tư cách là một thể loại, một phương thức tự sự Quan niệm về truyện ngắn đã
có rất nhiều ý kiến đưa ra nhằm hiện thực hóa cũng như giúp người tiếp nhận hiểu đúng về nó
Theo các nhà nghiên cứu phương tây thì truyện ngắn ra đời sau tiểu thuyết, vào khoảng thế kỷ XIX Khi nói đến đặc trưng của tiểu thuyết thì bao
Trang 22
22
hàm trong đó cả đặc trưng của truyện ngắn Ở Việt Nam thể loại truyện ngắn phải đến thế kỷ XX mới thực sự hình thành và phát triển mạnh mẽ đạt đỉnh cao vào những năm 30 của thế kỷ này Nhưng thật khó để đưa ra một định
nghĩa chính xác rõ ràng về truyện ngắn “Truyện ngắn là một khái niệm rất
khó xác định cả về phương diện nội dung và hình thức” [10; tr.51] Hay trong
“Truyện ngắn Nam Phong” (trích), (1991), Nxb KHXH, Viện Văn học,
tr.20”) cũng nhận định: “Thật ra thì cho đến tận bây giờ cũng chưa có ai tìm
ra được một định nghĩa thật chuẩn về tiểu thuyết hay truyện ngắn” [10; tr.51]
“bởi truyện ngắn cũng như tiểu thuyết là một thể loại luôn chuyển biến” [10;
tr.51] Nhưng để có cái nhìn toàn diện, rõ nét hơn cả chúng tôi xin đưa ra một vài ý kiến, nhận định về truyện ngắn của một số tác giả tiêu biểu
Nhóm tác giả trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” cho rằng truyện ngắn là “thể loại thuộc phương thức tự sự, phương thức tái hiện đời sống, bên
cạnh hai phương thức là phương thức trữ tình và kịch được dùng để phân loại tác phẩm văn học” [54; tr.358] Truyện ngắn là: “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết tất các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của truyện ngắn là ngắn gọn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu một mạch, đọc một hơi không ngừng nghỉ” [54; tr.310] Nhóm tác giả trong cuốn “Lí luận văn học” (tập 2)
do Trần Đình Sử (chủ biên), ĐHSP Hà Nội (2009) lại đưa ra cách giải thích truyện ngắn theo ý nghĩa nguồn gốc của từ ngữ Họ cho rằng “truyện” theo gốc Hán, ban đầu có nghĩa là giải thích kinh nghĩa, sau là để chỉ bài văn xuôi ghi chép sự tích một đời người nào đó (sách sử học) Sau này được mở rộng
ra có nghĩa là để chỉ tác phẩm văn học và là một bản kể có miêu tả nhân vật,
diễn biến sự kiện thú vị như truyện cổ tích, truyện thần thoại “Truyện ngắn:
tác phẩm tự sự văn xuôi cỡ nhỏ, sáng tác bằng hư cấu Truyện ngắn sở dĩ là
Trang 23
23
do thể hiện cuộc sống qua lát cắt, khoảng khắc nhờ bố cục đặc biệt” [53;
tr.202] Những tác giả gắn bó với sự nghiệp văn chương cũng đã rút ra những quan niệm về truyện ngắn từ kinh nghiệm sáng tác như Tô Hoài ưa thích
truyện ngắn bởi coi nó là “thể loại có tính chiến đấu mạnh”, “truyện ngắn là
cách cưa lấy một khúc đời sống” [44; tr.7-8] Nguyễn Công Hoan lại nhận
thấy “Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng
bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc” [44; tr.14]
Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Nhân vật truyện ngắn cũng mang những đặc điểm chung của nhân vật trong tác phẩm tự sự Bởi vậy, cũng giống như các tác phẩm tự sự khác, nhân vật trong truyện ngắn có một vị trí, vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đó là hạt nhân của sự sáng tạo, là trọng điểm để nhà văn
lý giải tất cả mọi vấn đề của xã hội Nhân vật trong truyện ngắn được xây dựng theo những cách riêng nhằm đáp ứng đến mức cao nhất yêu cầu nhận thức hiện thực theo cả chiều rộng và chiều sâu của thể loại này
Trong cuốn: “Sổ tay truyện ngắn” do Vương Trí Nhàn sưu tầm và biên
soạn, các tác giả đã dành nhiều công sức để tìm hiểu về đặc trưng của truyện ngắn trên nhiều bình diện, trong đó có nhân vật Những nhận định của Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Tuân, Nguyên Ngọc, Đặng Thai Mai… đến các tác giả nước ngoài như Sêkhôp, A.Forangxo, Pautôpxki… về đặc trưng của nhân vật truyện ngắn rất xác đáng, có giá trị lý luận cao Tựu chung lại thì các ý kiến đó đều nhấn mạnh truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ và nhân vật truyện ngắn phải được phân biệt với nhân vật kịch, nhân vật sử thi,
Trang 24ngắn hơn, nội dung các mặt đều đơn giản “Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ
nhỏ” [53; tr.199]; “truyện ngắn thường khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người” [54; tr.371] Cốt truyện thường đơn giản, không nhiều tầng tuyến,
nhiều lớp “cái chính của truyện ngắn là gây ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và
tình người” [53; tr.200]
Truyện ngắn thường có ít nhân vật và cuộc đời của nhân vật cũng thường chỉ được miêu tả như một khoảnh khắc, một mảnh nhỏ nhưng lại có ý
nghĩa trong cả cuộc đời nhân vật… Truyện ngắn thường chỉ “có thể kể về một
cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một“chốc lát”trong cuộc sống nhân vật nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà
ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời” [53; tr.199] Đặc điểm của nhân vật truyện
ngắn có đôi chút khác biệt so với truyện dài và tiểu thuyết, có khi chỉ là một
lát cắt, một mảnh đời “một khúc đời sống” (Tô Hoài), hay không phải ở hệ
thống sự kiện mà ở cái nhìn đời tư Về số lượng và cách khai thác nhân vật ở truyện ngắn chỉ đề cập đến một vài nhân vật cũng như một khía cạnh nhỏ
trong cuộc đời nhân vật: “Nếu như nhân vật chính của tiểu thuyết thường là
một thế giới thì nhân vật truyện ngắn là một mảnh đời nhỏ của thế giới”[53;
tr.200] Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan
hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Nhà văn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất nào đó trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn nhân vật Trong truyện ngắn nếu nhà
Trang 25Nhân vật truyện ngắn thể hiện những thăng trầm đổi thay của thời đại Nhân vật truyện ngắn chủ yếu được khám phá từ chiều sâu tâm lý Qua nhân vật ta thấy được một cách tương đối đầy đủ các khía cạnh đa dạng và phức tạp của cuộc sống, tâm tư, tình cảm con người
Như vậy, có thể nói, với những đặc trưng thể loại riêng, truyện ngắn là một phương thức tự sự khá nhạy cảm, linh hoạt và năng động trong việc nắm bắt và thể hiện vấn đề của con người trong cuộc sống Các nhà viết truyện ngắn lớn xưa nay đều bộc lộ tài năng và phong cách của mình rõ rệt trong lĩnh vực sáng tạo nhân vật Thông qua nhân vật được khắc họa trong các tác phẩm truyện ngắn, người đọc không chỉ thấy rõ bộ mặt của xã hội đương thời, những chuyển biến của thời đại mà sâu sa hơn “đọc” được những vấn đề muôn thuở của thân phận con người
1.1.4.2 Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Văn học là tấm áo khoác của thời đại, “thời đại nào văn học ấy” bởi văn chương là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống ở mỗi thời kì khác nhau Mỗi thời đại khác nhau sẽ có những quan niệm nghệ thuật khác nhau về con người, do đó sẽ có quan niệm khác nhau về nhân vật cũng như cách thức xây dựng nhân vật trong tác phẩm
Sự phản ánh của văn học ở thể loại truyện ngắn trong thời kỳ đổi mới thì khuynh hướng sử thi đã nhường chỗ cho cảm hứng thế sự Với cái nhìn thế
Trang 26
26
sự, đời sống riêng của cá nhân, kinh nghiệm cá nhân được xem là đối tượng khám phá chủ yếu của văn học Tư duy hiện thực về con người giờ đây đã thay đổi dẫn đến sự thay đổi trong hệ thống nhân vật, cũng như nguyên tắc xây dựng nhân vật, nhân vật trở lên đa dạng và phức tạp hơn Cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật cũng đa chiều và linh hoạt hơn Vì vậy, truyện ngắn thời kỳ này vẫn là mảnh đất tương đối trống, tạo điều kiện để các cây bút khẳng định tài năng Các nhà văn thời kỳ đổi mới đã thấy rõ sự đan xen hai mặt tốt - xấu trong mỗi con người “con người trong con người” Cho dù con người có đại diện cho giai cấp nào đi nữa thì cũng không thể hoặc xấu xa, hoặc tốt đẹp một cách tuyệt đối Nếu nhân vật trong truyện ngắn ở giai đoạn trước, con người hiện lên chủ yếu là con người cộng đồng, con người đại diện cho “cái ta” thì ở nhân vật trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới, các nhà văn còn thấy rõ con người ngoài là con người cộng đồng còn là con người cá nhân với chiều sâu bí ẩn của tâm hồn Chính điều này đã góp phần làm cho văn học thời kỳ đổi mới có chiều sâu, sức ám ảnh lớn Các nhà văn đương đại đã bứt
ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của cách xây dựng nhân vật trong truyện ngắn truyền thống để đi tìm những yếu tố, chất liệu mới mẻ trong việc phản ánh đời sống ở bề sâu bí ẩn Nhân vật được soi chiếu ở nhiều chiều, nhiều hướng, đặt trong nhiều mối quan hệ khác nhau, tránh được tính chất phiến diện, giản đơn một chiều Trong truyện ngắn “tính riêng” của mỗi nhân vật trở thành phẩm chất nghệ thuật quan trọng bậc nhất Mỗi nhân vật là một con người cá nhân
cụ thể cần tìm hiểu, khám phá Cái mà nhà văn quan tâm đến nhân vật không còn là các đặc điểm, thuộc tính xã hội của nó nữa mà là cá tính, là những mâu thuẫn nội tại, những nghịch lý đan xen trong bản thân nó
Truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới có sự đột phá lớn về nhiều mặt, nhiều bình diện, kết đọng ở nhiều thành tựu và thể hiện rõ sự ưu việt của mình
Trang 27tạo nên “hiệu ứng” truyện ngắn hay và được gắn với các tên gọi “bội thu”,
“thăng hoa”, “được mùa”, “lên ngôi”, điều đó chứng tỏ truyện ngắn đã được đổi mới Chúng ta có thể nhận thấy sự đổi mới cơ bản của các cây bút này trên nhiều lĩnh vực, xong tập trung nhất vẫn là trong cách tiếp cận và xây dựng nhân vật để phản ánh đời sống
Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới, về cơ bản có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, nếu như trong truyện ngắn giai đoạn trước được khai thác
trong tư cách công dân đơn phiến, được xây dựng thành những nhân vật mang tính điển hình cho một giai cấp, một tầng lớp nào đấy thì nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới được khai thác toàn diện, là con người
đa trị, lưỡng cực với các mối quan hệ xã hội vô cùng phức tạp Nhà văn nhận diện con người đích thực trong nhu cầu tự nhận thức, với nhiều biểu hiện phong phú, đa dạng, có sự hòa hợp giữa con người xã hội - con người tâm linh, con người với sự thống nhất ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát… Đặc biệt, các nhà văn chú trọng thể hiện con người trong đời sống bản năng tự nhiên và đời sống tâm linh bí ẩn, kì diệu, đầy ám ảnh
Thứ hai, nhân vật không có số phận tròn trịa mà bị phân mảnh, đôi khi
bị phá vỡ, chỉ còn những mảnh nhỏ của tâm trạng, những mảnh nhỏ của cuộc đời ngắn ngủi
Trang 28
28
Thứ ba, nhân vật không có tính cách hay số phận điển hình đầy đặn,
nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh mà chỉ là những con người bình thường, vô danh trong cuộc sống Nhân vật là đủ thứ hạng trong xã hội
Thứ tư, nhân vật là những cá thể đời thường, những con người đang
trong quá trình hình thành về nhân cách, được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ xã hội, quan hệ ứng xử, thân phận, đời sống riêng của nó, với “đầy những vết dập xóa trên thân thể và trong tâm hồn”
Thứ năm, nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn có nhiều
cách tân với những thử nghiệm táo bạo, bởi các nhà văn nhận thấy các thủ pháp truyền thống đã không còn đủ khả năng biểu hiện cái đa dạng, phức tạp của con người trong đời sống hiện đại Có thể nói, ở giai đoạn lịch sử mới, các nhà văn có những chuyển hướng mới trong nhận thức, tư duy về bản thể con người Các nhà viết truyện ngắn Việt Nam đã phá vỡ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để tạo ra cái nhìn phức tạp hơn và sâu sắc hơn về con người Phác họa chân dung những con người vừa đời thường vừa trần thế, luôn luôn khao khát cái đẹp và hướng thiện là nét nổi bật mang đậm nét ý nghĩa nhân văn trong quan niệm nghệ thuật về con người của truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới Tìm hiểu những biểu hiện mới của nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới, tác giả luận văn sẽ có thêm cơ sở thực tiễn để nghiên cứu thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
1.2 Lê Tri Kỷ và hành trình sáng tác truyện ngắn
1.2.1 Tác giả Lê Tri Kỷ
Lê Tri Kỷ là nhà văn đầu tiên và xuất sắc nhất của lực lượng Công an
Là một nhà văn bước vào đời văn khá muộn màng (khi đã ở độ tuổi ngoài 35) nhưng Lê Tri Kỷ đã để lại cho đời nhiều tác phẩm văn học có giá trị mang tầm vóc thời đại
Trang 29
29
Lê Tri Kỷ tên thật là Nguyễn Duy Hinh, sinh ngày 14 tháng 6 năm
1924, tại thôn Lưỡng Kim, xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Mảnh đất đầy gió Lào cát trắng này đã nuôi dưỡng ông lớn lên từng ngày, nâng đỡ ông trưởng thành cùng năm tháng trở thành một người chiến sĩ Công an quả cảm, một nhà văn trĩu nặng yêu thương con người, yêu thương cuộc đời Thuở nhỏ, ông
được “học hành tử tế, đã đỗ bậc thành chung dưới thời thuộc Pháp”[9; tr.67]
Ông sớm được tiếp thu nền tư tưởng, văn hóa phương Tây
Sau cách mạng với sức trẻ, tình yêu nghề hòa quyện với trí tuệ, sự dũng cảm can trường, Lê Tri Kỷ đã đảm nhận nhiều chức vụ khác nhau trong nhiều thời kỳ Ông từng công tác ở Ủy ban xã và hoạt động thanh niên cứu quốc Năm 1946 làm Bí thư cứu quốc huyện Gio Linh, sau đó làm Công an huyện Hải Lăng, chánh văn phòng Ty Công an Tháng 11 năm 1949 lên Việt Bắc làm phái viên kiểm tra Nha Công an Trung ương Tháng 11 năm 1951 trở về làm Phó Ty Công an tỉnh Bắc Giang Từ tháng 7 năm 1951 về Bộ làm Phó phòng Nội gián, hoạt động công tác chính trị, phụ trách tuyên truyền, trưởng phòng sáng tác và làm Phó giám đốc nhà xuất bản Công an Nhân dân cho đến lúc nghỉ hưu Người ta nói nghề nghiệp cũng là một cái duyên và cái duyên ấy
đã gắn bó Lê Tri Kỷ suốt cuộc đời “chưa lúc nào ông dời khỏi ngành công
an” [9; tr.67] cho đến lúc về hưu và qua đời ông vẫn là một cây bút Công an
năng nổ…
Nhà văn Lê Tri Kỷ mất năm 1993, ông là người mà khi mất đi những
kỷ niệm mãi còn và cứ lớn dần trong lòng người còn sống Mọi người nhớ về nhà văn Lê Tri Kỷ bằng những tình cảm đẹp, những trang văn hay ông để lại cho đời Song số phận oái oăm thay, trong vài chục năm nhà văn Lê Tri Kỷ cặm cụi âm thầm viết về ngành công an, nơi gắn bó với ông suốt đời như vậy
mà khi hai năm liền được giải thưởng văn học thì cả hai đều chỉ được đặt lên
Trang 301.2.2 Hành trình sáng tác truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
Tác phẩm văn học là cuộc đời, là một phần con người nghệ sĩ, nói như
Xuân Diệu: “Nhà văn tồn tại ở tác phẩm, không có tác phẩm thì coi như nhà
văn đã chết” Bởi mỗi tác phẩm là một“đứa con tinh thần” mà nhà văn
“mang nặng đẻ đau”, họ nâng niu chăm chút từng câu, từng chữ, tỉ mỉ, băn
khoăn trăn trở ngày đêm Chính vì vậy, để có được một tác phẩm thành công
có sức trường tồn với thời gian, thì nhà văn đó phải có sức sáng tạo dồi dào, vốn kinh nghiệm sống dạn dày, có cái nhìn nhiều chiều, tinh tế và sắc bén trong cuộc sống
Từ một văn bản muốn trở thành một tác phẩm văn học cần phải trải qua một quá trình (nhà văn - văn bản - bạn đọc - tác phẩm văn học - nhà văn) Dù rằng như vậy, cũng không thể tách biệt nhà văn và tác phẩm của họ Nhiều khi trong chính cuộc đời của nhà văn đó lại tạo nên những “tín hiệu”, những ý tưởng táo bạo để từ đó sản sinh ra những tác phẩm tuyệt vời Chính môi trường hoạt động trong ngành Công an mà suốt đời ông nặng lòng gắn bó đã
là mảnh đất phì nhiêu màu mỡ để Lê Tri Kỷ gieo trồng, nuôi dưỡng những
“mầm xanh văn học” Môi trường tạo nên một Lê Tri Kỷ vững vàng trong nghiệp vụ mà lại rắn chắc, sắc nét trong từng câu văn Mỗi truyện ngắn của
Lê Tri Kỷ là một sự khám phá , trải nghiệm thú vị về cuộc sống, về con người
Lê Tri Kỷ đến với văn học không phải trong thời trai trẻ, hừng hực khí thế, sôi nổi, gấp gáp, vội vàng, thúc giục, mà Lê Tri Kỷ đến với văn học nghệ
thuật thầm lặng, muộn màng khi tóc đã điểm bạc “Lê Tri Kỷ vào đời văn khá
Trang 31
31
muộn màng, khi đã ngoài 35 tuổi” [9; tr.68], cái tuổi mà người xưa thường
nói đã chín, đã già Chính vì vậy, mà mỗi tác phẩm của ông đều ẩn chứa những vấn đề sâu sắc, những triết lý suy tư về số phận con người, về ranh giới giữa cái thiện và cái ác
Trong các trang viết của mình, Lê Tri Kỷ đã tạo nên cảm giác rằng, ông sinh ra không phải để làm văn Có thể do yêu mến nghề nghiệp, trong quá trình hoạt động ông đi nhiều, khám phá, cảm nhận, chứng kiến biết bao vụ án, bao số phận cuộc đời Từ đó trái tim ông đã rung động không nguôi trước những tình cảm, những mảnh đời của các chiến sĩ công an thầm lặng, trước những trường hợp éo le đầy kịch tính trong xã hội luôn biến động giữa cuộc chiến đấu sống còn giữa ta và địch; cảm thông với gia đình nạn nhân hay chính với những tên tội phạm Và trên hết chính là trái tim người chiến sĩ công an luôn trăn trở, luôn thắc thỏm giữa ranh giới mong manh cái thiện và cái ác trong con người Và như một định mệnh ông cầm bút để nói hộ lòng mình Cũng chính từ đây cái duyên với nghề công an đã mang đến cho Lê Tri
Kỷ một cái duyên mới, cái duyên với văn học nghệ thuật Phải chăng, chính ông cũng không tự nhận biết rằng, đấy là tố chất quan trọng nhất để trở thành nhà văn chân chính Vậy nguyên nhân nào dẫn dắt Lê Tri Kỷ - một người chiến sĩ công an đến với văn chương và gặt hái được nhiều thành công đáng ghi nhận như thế? Đọc Lê Tri Kỷ, tôi cảm nhận có hai lý do, hai động lực thúc đẩy ông sáng tác:
Một là, là cán bộ công an, ông ý thức cần đưa người công an, công việc công an vào văn học để độc giả hiểu thêm, hiểu rõ, hiểu đúng từ đó quan tâm giúp đỡ nghành công an
Hai là, ông yêu mến thiết tha công việc công an “nghề công an” Vì yêu nên ông thấy được, thấu triệt được những cái tốt, cái hay, cái đẹp, đồng thời
Trang 32
32
cũng băn khoăn day dứt về những cái bất cập, thiếu sót, sai, xấu của công an Cái “bầu tâm sự” ấy phải được giãy bày Bởi vậy, viết với Lê Tri Kỷ vừa là trách nhiệm vừa là nhu cầu
Đó là lý do, là động lực nội thân thúc đẩy Lê Tri Kỷ đến với chương nghệ thuật Nghề công an đã trở thành chiếc cầu, nối liền hai con người chiến
sĩ và nghệ sĩ trong con người Lê Tri Kỷ Ông đến với văn học không phải là
vô cớ, là ngẫu nhiên nổi hứng thích làm nghệ sĩ mà xuất phát từ chính nghề nghiệp của mình Trong môi trường đó, ông được tôi luyện “lửa thử vàng” trong lò nung của cách mạng, của nghành công an, môi trường đó đã tạo nên một Lê Tri Kỷ vững vàng trong nghiệp vụ mà lại rắn chắc, sắc nét trong từng câu văn, và tất cả lại hòa quyện bởi trái tim ấm nóng của một trái tim giàu lòng thương người và luôn trắc ẩn với cuộc đời Như vậy, có thể thấy Lê Tri
Kỷ đến với văn chương như một “món nợ” với đời cần trả: “Ông viết văn như
một thứ mệnh lệnh của đời sống và không làm màu với những con chữ Văn chương với ông như một phương tiện tải đạo” [48] Con thuyền văn chương
của Lê Tri Kỷ luôn chở đạo làm người, nhân cách con người, giá trị nhân văn sâu sắc Tất cả được tổ chức khéo léo, tinh tế trong các truyện ngắn của ông Những tác phẩm truyện ngắn đầu tay của Lê Tri Kỷ viết về truyện
người thật, việc thật Có thể kể ra hàng loạt các tác phẩm tiêu biểu như: Phố
vắng, Giờ cao điểm, Một người không nổi tiếng, Những tiếng nói thầm, Câu lạc bộ chính khách Các tác phẩm ấy đã chứng tỏ sự dày dặn trong kinh
nghiệm, trong vốn sống và độ chín của tài năng nghệ thuật Bởi lẽ, các tác phẩm truyện ngắn đầu tay của ông đã khai phá một mảnh đất mới cho văn học đương đại: Sáng tác về đề tài An ninh và xã hội Truyện của Lê Tri Kỷ không
đi theo “vết xe” của các tác giả viết truyện ngắn trước đó Điểm xuất phát của
Lê Tri Kỷ như trên đã nói là từ chỗ đứng, cái nhìn, điều suy nghĩ, tinh thần
Trang 33
33
trách nhiệm của người công an trước cuộc đời Vì thế, ở những sáng tác đầu tay ông khai thác từ thực tiễn xã hội về các vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội nhân văn Từ cốt truyện đến từng tình tiết đều lấy từ cuộc sống hiện thực (nếu có
hư cấu chút ít thì là do yêu cầu bí mật nghiệp vụ, hoặc để bảo vệ danh dự chính đáng cho nhân vật) Chính vì vậy, các sáng tác đầu tay đã tạo sức cuốn hút mạnh mẽ đối với độc giả Và ngay từ những tác phẩm đầu tay, mỗi khi cầm bút, ý thức trách nhiệm của ngành công an cũng như ý thức trách nhiệm của người sáng tác văn chương khiến ông luôn cẩn trọng trong khi viết để có thể tạo nên những tác phẩm chứng minh rằng đề tài an ninh xã hội là một đề tài “không hề thua kém”, “bất cứ đề tài nào” Cũng bởi lẽ đó, là một nhà văn
“ngoại đạo” viết về những vấn đề được coi là “á văn chương”, “cận văn
chương” nhưng Lê Tri Kỷ đã đạt được những thành tích vang dội mà ít nhà
văn làm được Điều đó khẳng định Lê Tri Kỷ đã tạo dựng cho mình vị trí riêng độc đáo Vị trí ấy thể hiện trong các truyện ngắn mà ông để lại cho đời
Và cứ như thế, ông viết một cách miệt mài, vừa viết vừa công tác giống như bất kỳ một cây bút nghiệp dư nào Cho đến cuối đời, nhất là sau khi về hưu, ông viết hay hẳn lên Có thể do không bị rằng buộc với công việc cơ quan, đầu óc rảnh rang thông thoáng hơn, và điều quan trọng nhất là do tài năng và bản lĩnh nhà văn chín hơn, kiên định hơn, ông đã vượt lên những đống tư liệu đồ sộ tích lũy được trong nhiều năm lăn lộn trong nghề Các bài viết này đã giúp người đọc hình dung ra hình ảnh người sĩ công an - nhà văn
Lê Tri Kỷ rất gần gũi chân phương, rất yêu nghề cũng như rất tâm huyết với nghiệp văn chương
Với tay bút già dặn kinh nghiệm, ông đã gửi gắm tư tưởng và tâm hồn
mình trong hai truyện ngắn cuối đời: “Không thiện không ác” và “Cuộc tình
thế kỷ” Suốt cả 18 truyện ngắn trong hai tập, vấn đề và cốt truyện hầu hết là
Trang 34
34
nói về nghành công an Lê Tri Kỷ đã tái hiện một cách tài tình những nhân vật, những câu chuyện xã hội bằng chất liệu ngôn ngữ văn chương, tạo ra một cách nhìn đa diện, toàn cảnh với sự sáng tạo độc đáo về hình ảnh người chiến
sĩ công an Nhân vật người chiến sĩ công an của ông là những con người có lý trí sáng suốt, có tấm lòng nhân hậu, cũng như mọi người, biết buồn, vui, yêu, ghét, cũng sống đủ các cung bậc tình cảm, các chiều kích của con người
Truyện ngắn Lê Tri Kỷ từ đây đã tạo được tiếng vang nhất định trong lòng công chúng, bởi những vấn đề đặt ra mang tầm thời đại, với những triết
lý nhân sinh sâu sắc và vừa tạo nên tính nhân văn của những trái tim thiết tha hướng thiện Lê Tri Kỷ không chỉ tin vào con người mà ông còn tiến xa hơn trong quan niệm nhân sinh nhân đạo của mình Ông kêu gọi con người hãy xóa bỏ mọi thành kiến, mặc cảm do lịch sử để lại sống nhân hậu, yêu thương nhau Trong lời giới thiệu tuyển tập truyện ngắn Lê Tri Kỷ của Nhà xuất bản
Công an Nhân dân viết: “Đối với Lê Tri Kỷ, người cầm bút trước hết phải là
người có tấm lòng nhân ái Ông nhìn đời, nhìn người bằng lăng kính của sự công bằng, nhân hậu và bao dung” [6; tr.4] Hay trong truyện ngắn “Cuộc tình thế kỷ”, Lê Tri Kỷ viết một câu khẳng định: “Con người vẫn có thể giữ cho mình thánh thiện được lắm chứ ?” [9; tr.32] Thể hiện rõ hơn cho quan
niệm này là truyện ngắn: Giấy chứng nhận cho quỷ dữ, Sức mạnh cô đơn,
Khoảnh khắc làm người… tạo được sự cuốn hút với độc giả Mỗi truyện giúp
cho độc giả hiểu thêm, hiểu sâu hơn về xã hội, con người trong những tình huống, ngóc ngách phong phú, phức tạp, éo le… Bởi vậy, đọc truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, người ta nhận ra sự nghiêm túc và sâu sắc của nhà văn Truyện nào ông cũng đặt ra được những vấn đề nhân sinh về đạo lý con người Thấp thoáng sau nhân vật, ta thấy bóng dáng của nhà văn với những nỗi niềm, những câu hỏi không dễ trả lời, đồng thời ta cũng thấy được sự lao động nghệ
Trang 35
35
thuật quên mình với những nung nấu, buồn vui về đứa con tinh thần Vì thế, đọc ông không ai tìm thấy dấu vết sự buông thả, sự dễ dãi trong từng câu, từng chữ, từng dòng, đây là một đặc điểm của các cây bút lão thành được đào tạo chặt chẽ ngay từ thời còn đi học phổ thông Trong suốt chặng đường dài hoạt động lăn lộn với nghề, đi nhiều, biết nhiều ông đã thầm lặng chắt chiu, ươm nhặt từng chút mật để dâng cho đời
Nhìn lại chặng đường sáng tác của Lê Tri Kỷ từ các tác phẩm đầu tay tới những sáng tác cuối đời của ông, ta thấy được bước đi và những thành công của truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới Truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
có sự kế thừa tiếp nối giai đoạn trước với những sáng tạo mới Mỗi tác phẩm truyện ngắn ra đời là một cố gắng và nỗ lực để tác phẩm của mình không đơn điệu, công thức như độc giả thường gặp ở các loại truyện An ninh –Xã hội (cả với những tác phẩm có tên tuổi trên thế giới) Mỗi truyện ngắn của Lê Tri Kỷ mang một đặc sắc riêng, nhưng tất cả đều quy tụ về một tâm điểm giống như mọi huyết mạch nuôi sống cơ thể đều xuất phát từ trái tim và trở về trái tim:
Ấy là cái tâm Điều đó chứng minh rằng: Lê Tri Kỷ không tự thỏa mãn, luôn
tìm tòi, suy nghĩ để tiến tới sự hoàn chỉnh Hai tập truyện ngắn Không thiện
không ác và Cuộc tình thế kỷ là những minh chứng sinh động và đầy sức
thuyết phục cho những tuyên ngôn đúng đắn của ông Có thể nói, hai tập truyện này là những cột mốc quan trọng trong lộ trình nghệ thuật của ông Sự nghiệp văn chương của ông để lại cho đời không nhiều nhưng cũng không phải là ít, điều quan trọng nhất là Lê Tri Kỷ đã trở thành người đầu tiên trong ngành công an tham gia vào Hội Nhà văn Việt Nam Ông đã khẳng định tên
tuổi của mình với giải A hai năm liên tiếp với hai tập truyện ngắn Cuộc tình
thế kỷ (1994) và Không thiện không ác (1995) Lê Tri Kỷ xứng đáng được tôn
vinh là nhà văn tiêu biểu nhất của lực lượng công an nhân dân Với những cố
Trang 36
36
gắng nỗ lực bền bỉ không mệt mỏi, truyện ngắn của Lê Tri kỷ đã đánh dấu những bước phát triển của truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới và làm nên giá trị bền vững, đem đến giải thưởng nhà nước cho nhà văn Lê Tri Kỷ Ở cõi vĩnh hằng kia, hẳn là vong linh ông sẽ cảm nhận được niềm vui lớn khi vào giữa những ngày tháng 5 lịch sử ông được truy tặng Giải thưởng cao quý – Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật Âu cũng là sự đền bù xứng đáng của số phận dành cho một nhà văn tài năng chân chính
Trang 37
37
Chương 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ CÁC
KIỂU LOẠI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA LÊ TRI KỶ
2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ
2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người
Con người và cuộc sống của con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học, nghệ thuật Nhưng riêng lĩnh vực văn học con người được khám phá, mổ xẻ, phân tích bằng con đường riêng, cách riêng của văn học Một nhà văn không thể miêu tả hiện thực nếu không thông qua hình tượng nghệ thuật và không có quan niệm nghệ thuật của mình về con người
Theo Trần Đình Sử, quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là: “Thể
hiện tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lý giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời” [41; tr.29] Bằng ngôn ngữ, văn học đã mô
tả một cách linh diệu nhất những biến thái tinh vi trong đời sống tâm hồn, tình cảm của con người Trong giáo trình Dẫn luận thi pháp học (Nxb Giáo dục,
1998), Trần Đình Sử khẳng định: “Quan niệm nghệ thuật về con người là
nguyên tắc lý giải, cảm thụ và miêu tả con người trong nghệ thuật” [41; tr.30]
Quan niệm nghệ thuật là cắt nghĩa, lí giải về con người trên cơ sở hấp thu các yếu tố thế giới quan nhất định của thời đại, tạo ra một quan niệm của mình về thế giới và con người
M.Gorki cho rằng: “Văn học là nhân học”, có nghĩa rằng văn học lấy
con người làm đối tượng phản ánh, nghiên cứu chính Dù miêu tả thần linh,
ma quỷ, miêu tả đồ vật hoặc giản đơn là miêu tả các nhân vật, văn học đều thể hiện con người Quan niệm nghệ thuật về con người mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ Bởi vậy, viết về con người
Trang 38
38
luôn tiềm ẩn biết bao điều bí mật, để hiểu tận đáy sâu tâm hồn con người là một thách thức đối với người cầm bút Lịch sử văn học là lịch sử khám phá tâm hồn con người và sự khám phá ấy là vô cùng vô tận, không có trang cuối Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở nhân vật, bởi nhân vật văn học là con người được miêu tả trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học Nhân vật biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định và các đặc điểm mà anh ta lựa chọn Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người phải xuất phát từ các biểu hiện của nhân vật, thông qua các yếu tố tạo nên nó
Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn của văn học Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, nêu ra
tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ Cũng cần thấy rằng, quan niệm về con người
là cốt lõi tư tưởng của một nhà văn, là “Thước đo sự tiến bộ nghệ thuật từ xưa
tới nay” [45; tr.34] Văn học càng đi sâu vào con người thì càng thể hiện tầm
nhân văn cao cả
Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với quan niệm về con người mới Sự vận động của thực tế làm nảy sinh những con người mới và miêu tả những con người ấy sẽ làm cho văn học đổi mới Đổi mới cách giải thích và cảm nhận con người cũng làm cho văn học thay đổi căn bản Đối với nhà văn, sự biến đổi trong quan niệm con người sẽ tạo ra khúc ngoặt trong cuộc đời sáng tác của họ Một số tác giả của văn học nước ta đã thể hiện rõ điều này từ khi đất nước diễn ra công cuộc đổi mới và đời sống văn học cũng
Trang 39
39
nằm trong xu thế đó, điển hình là Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… Nguyên nhân dẫn đến sự vận động trong quan niệm con người của văn học nói chung, của nhà văn nói riêng là do yếu tố tác động như thời đại, bản thân nền văn học và cá tính sáng tạo của nhà văn Như vậy, quan niệm nghệ thuật
về con người là cách cắt nghĩa, lí giải về con người trên cơ sở hấp thu các yếu
tố thế giới nhất định của thời đại, tạo ra một quan niệm về thế giới và con người
2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của
Lê Tri Kỷ
Tìm hiểu truyện ngắn Lê Tri Kỷ, ta nhận thấy một yếu tố quan trọng làm nên nét đặc sắc, diện mạo riêng của truyện ngắn Lê Tri Kỷ đó chính là quan niệm nghệ thuật của ông về con người Có thể nói đây là yếu tố cốt lõi tạo cho truyện ngắn của Lê Tri Kỷ có những điểm riêng biệt không thể lẫn lộn Quan niệm nghệ thuật về con người của Lê Tri Kỷ trước tiên được trình bày
qua những phát ngôn trực tiếp Trong “Nghĩ về một loại truyện” in ở phần mở đầu tập “Sống chìm”, ông viết: “Mỗi truyện đời có hàng trăm cách kể, mỗi
người lại có một cách kể riêng… Là cán bộ công an cầm bút, tôi tự nhận thấy mình có trách nhiệm góp phần chứng minh thêm rằng cái chất văn học của đề tài này không hề thua kém - nếu không nói là đậm đà hơn bất cứ loại đề tài nào” [28; tr.7] Vì vậy, mỗi khi cầm bút, ý thức trách nhiệm của ngành công
an cũng như ý thức trách nhiệm của người sáng tác văn chương khiến ông luôn cẩn trọng trong từng từ, từng câu, từng dòng văn để tạo nên những tác
phẩm chứng minh rằng đề tài An ninh - Xã hội là một đề tài “không hề thua
kém bất cứ đề tài nào” Hai tập truyện ngắn “Không thiện không ác” và
“Cuộc tình thế kỷ” là những minh chứng sinh động và đầy sức thuyết phục
cho những tuyên ngôn đúng đắn của ông trong việc thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn
Trang 40
40
Trong suốt cuộc đời cầm bút, nhà văn Lê Tri Kỷ đã sống gắn bó mật thiết thông qua sự từng trải nghề nghiệp trong ngành công an của ông và của bạn bè đồng nghiệp Vì thế, chính mảnh đất màu mỡ của hiện thực cuộc sống
ấy đã trở thành nơi nhà văn gieo trồng, nuôi dưỡng những “mầm xanh văn học”, thể hiện một cách toàn diện quan niệm nghệ thuật về con người đã được định hình từ những ngày đầu ấy
Lê Tri Kỷ nhìn con người với đầy đủ cái mạnh, cái yếu, cái bình thường và cả các thói tật Với ông con người không phải là thánh nhân, không phải là siêu phàm dù người đó là bất cứ ai Hãy hiểu điều đó và nhìn nhận thế giới nhân vật của ông một cách bình dị như con người ở ngoài cuộc sống Qua các truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, ta cảm nhận được một điều tâm đắc của tác giả cũng là một tâm huyết của nhà văn công an gửi đến độc giả: Người công
an là con người thì có điểm mạnh và có điểm yếu, có sự tỉnh táo và có sự ngộ nhận, có việc làm đúng và có việc làm sai nhưng cần thiết là phải có cái tâm Ông suy nghĩ về con người, khám phá về “cái thiện, cái ác”, cái cao cả và cái thấp hèn trong con người thông qua sự từng trải nghề nghiệp của mình Trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ, ông khắc họa tâm hồn, cuộc đời của những người chiến sĩ công an và những con người sa vào tội ác Truyện ngắn của ông luôn
hiện lên nỗi niềm trăn trở với cuộc đời, với những số phận con người “Lê Tri
Kỷ viết truyện về ngành công an, nhưng chúng ta sẽ không thấy những pha ly
kỳ, những vụ án phức tạp tò mò, những cuộc săn đuổi thủ phạm đầy gay cấn,
mà chỉ trên nền truyện như thế Ông viết về tình đời tình người”[9; tr.161]
Lấy đề tài an ninh nhưng truyện ngắn của ông vượt lên trên giới hạn của đề tài, vươn lên tầm cao tư tưởng, giàu tính nhân bản Nổi bật trong đó là thông điệp
về con người: Ông kêu gọi con người hãy xóa bỏ mọi thành kiến, mặc cảm do lịch sử để lại, loại trừ cái ác, hướng về cái thiện, sống nhân hậu và yêu thương