Phải cho đến thế kỉ XX, thơ tình mới được phát triển một cách thực sự sâu rộng với những tên tuổi như Tản Đà, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử,… Sau đó là hàng loạt các nhà thơ trẻ xuấ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lựa chọn đề tài Sự vận động của thơ tình Việt Nam qua hai thế hệ nhà thơ nữ (từ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn tới Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư) cho Luận văn của mình, chúng tôi xuất phát từ những lí do sau:
Thứ nhất, thơ tình là mảng đề tài hấp dẫn đối với các nhà thơ ở mọi thời
đại Bởi tình yêu là một thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp và là nguồn đề tài bất tận của thi ca Hơn nữa, ở các nhà thơ nữ, với trái tim và tâm hồn nhạy cảm riêng mang đặc trưng phái tính lại có cách cảm nhận và thể hiện tình yêu trong thơ rất đặc biệt
Có thể nói, đề tài tình yêu ở thời kì nào cũng có, nó xuất hiện dưới nhiều cách thức biểu hiện khác nhau và ở mức độ khác nhau Từ xa xưa, đã có rất nhiều bài ca dao, dân ca cất lên tiếng nói của tình yêu đôi lứa và điều này được tiếp nối trong dòng văn học trung đại Phải cho đến thế kỉ XX, thơ tình mới được phát triển một cách thực sự sâu rộng với những tên tuổi như Tản
Đà, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử,… Sau đó là hàng loạt các nhà thơ trẻ xuất hiện, trong đó chiếm số lượng không nhỏ là các cây bút nữ như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mĩ Dạ, Anh Thơ, Vân Đài… đã đem đến cho thơ ca nhiều tiếng nói trẻ trung, sôi nổi, đầy ắp những triết lý nhân sinh quan về con người, cuộc sống Đặc biệt, từ năm 1986, khi đất nước đã có nhiều đổi mới trên mọi bình diện thì đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng tình cảm và tư duy sáng tạo nghệ thuật của các văn nghệ sĩ nói chung và các nhà thơ nữ nói riêng Ở mảng thơ tình, sự xuất hiện của các nhà thơ nữ đương đại như Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh,… đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của công chúng cũng như giới nghiên cứu, phê bình bởi những tìm tòi táo bạo theo hướng hiện đại, đi sâu vào vấn
đề bản thể con người
Trang 2Như vậy, cùng với tiến trình lịch sử văn học dân tộc không ngừng tiếp diễn, thơ ca nói chung và thơ tình nói riêng trong những thời kì khác nhau mang những đặc điểm khác nhau Xu hướng vận động của thơ tình (đặc biệt
là thơ tình của các tác giả nữ trong văn học Việt Nam hiện đại) cần được nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan, biện chứng trên cả hai bình diện: những mặt tiến bộ, đổi mới, phát triển theo hướng tích cực và những phương diện hạn chế, thoái lui
Thứ hai, trong nền thơ hiện đại Việt Nam, Xuân Quỳnh (1948-1988) là
một gương mặt tiêu biểu Lại Nguyên Ân từng nói: “Có lẽ từ thời Hồ Xuân Hương qua các chặng đường phát triển, phải đến Xuân Quỳnh nền thơ ấy mới thấy lại được một nữ sĩ mà tài năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện
ở một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào và phong phú như vậy”
Khác với các nữ sĩ làm thơ, Xuân Quỳnh là người đàn bà đã mang chính cuộc đời mình ra làm chất liệu cho từng tác phẩm, cho mỗi tập thơ, cái mà chị viết nhiều nhất chính là về cuộc đời mình và trở thành nhân vật văn học của chính thơ chị Trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Xuân Quỳnh nổi bật lên là một gương mặt tiêu biểu mang bản sắc riêng Trải qua những năm tháng sống và viết, yêu thương và lao động nghệ thuật hết mình, chị đã để lại những vần thơ thể hiện tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ
nữ thông minh, sắc sảo, đầy nữ tính Thơ chị dù viết trong khói lửa đạn bom hay trong hòa bình dựng xây thì vẫn thống nhất trong một cách nhìn, cách cảm riêng Lấy sự chân thực làm điểm tựa cho cảm xúc sáng tạo, các sáng tác của Xuân Quỳnh chính là đời sống của chị, là những tâm trạng thật của chị trong mỗi bước vui buồn của cuộc sống Mảng thơ viết về đề tài tình yêu, hạnh phúc của Xuân Quỳnh ngay từ khi ra đời đã thu hút dược sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học Mảng thơ này thể hiện khá rõ nét “tính cổ điển” của thơ Việt Nam thời kì trước Đổi mới
Trang 3Viết về thơ tình trong thời kỳ này cũng phải kể đến nhà thơ nữ Phan Thị Thanh Nhàn (1943) Chị làm thơ từ rất sớm, đầu những năm 60 đã có thơ đăng báo Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn, Phan Thị Thanh Nhàn đã để lại những dấu ấn khó phai trong lòng độc giả bởi tiếng thơ trữ tình duyên dáng mà ý nhị, kín đáo
Trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình, Phan Thị Thanh Nhàn đã thử nghiệm ngòi bút ở nhiều thể loại, bài viết báo, truyện ngắn, truyện cho thiếu nhi, làm thơ và viết tiểu luận, phê bình…Ở thể loại nào chị cũng đạt được những thành công nhất định Nhưng với riêng thơ, Phan Thị Thanh Nhàn đã thể hiện rõ nhất tài năng và vốn sống của mình Đặc biệt ở mảng thơ tình, chị đã góp một tiếng nói quan trọng vào khát vọng yêu, khát vọng hạnh phúc muôn đời của phụ nữ Đặng Tương Như có lần phát biểu: “Đọc thơ tình Phan Thị Thanh Nhàn thấy hiện lên một phụ nữ yêu hết mình với một tình yêu không đòi hỏi đền đáp, bao giờ cũng lặng lẽ hiến dâng, một tình yêu luôn giày vò, khắc khoải nhưng không bao giờ phản kháng và oán trách”
Thứ ba, thuộc vào thế hệ trẻ cầm bút, Vi Thùy Linh khi xuất hiện đã
nhanh chóng trở thành một hiện tượng trong nền thi ca Việt Nam đương đại Lớn lên vào buổi những thi liệu đã quá già mà người đến với thơ bằng tấm lòng tươi trẻ hãy còn thưa vắng, có lẽ vì thế Vi Thùy Linh không vin dựa vào truyền thống, không sống, không viết “theo kiểu bầy đàn” Chị không thể làm thay đổi cái bản thể đích thực của mình để trở thành một người rụt rè trước những cái đã thành “phong tục” Vi Thùy Linh “dám mới”, thậm chí sốt sắng cải tạo tinh thần của thi ca Dường như chị không viết cái gì khác mình Chị sống bằng chính con người thật của mình trên trang giấy
Người đọc thấy ở Vi Thùy Linh có cái “động” của một người thuộc thế
hệ 8X, mới mẻ và hiện đại Trong tất cả các sáng tác của chị, chúng ta nhận thấy có rất nhiều sự cố gắng nỗ lực để cách tân thơ ca trên mọi phương diện
Trang 4Tuy nhiên sự đổi mới ấy đôi khi vẫn còn chưa thích nghi được ở cách cảm, cách nghĩ của một số người Nó mang đến nhiếu ý kiến trái chiều, gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu cũng như sự tiếp nhận của bạn đọc
Thứ nữa là Phan Huyền Thư (1972), một nhà thơ nữ đương đại cũng
“đình đám” không kém và được xem là một gương mặt thơ nổi loạn và phá cách
Sinh ra trong một gia đình làm nghệ thuật, mẹ là nghệ sĩ ưu tú Thanh Hoa, bố là nhạc sỹ Phan Lạc Hoa, Phan Huyền Thư phần nào được thừa hưởng gen nghệ thuật của những người sinh thành Phan Huyền Thư được ví như “người nối dài sự sống cho chữ” bởi theo chị “chữ cũng là thực thể sống,
nó cũng trẻ, cũng già, cũng ốm đau, xấu xí bệnh hoạn, điên rồ và cũng có lúc lăn đùng ra chết Viết những điều vô nghĩa là tạo ra một nghĩa địa chữ…tôi muốn sự sinh nhiều hơn sự tử Vì thế tôi muốn đi tìm giá trị mới cho chữ” Có lần chị phát biểu: ““Thi sĩ là một danh phận sang trọng mà tôi may mắn được cuộc đời ban tặng, cho dù là thoáng qua hay mờ nhạt tôi vẫn thấy nâng niu Bởi vì làm một bài thơ là cả cuộc đời bạn đã từng sống cộng với những cảm xúc thăng hoa tức thời, nó vật vã trong câm lặng và tuôn trào trong nước mắt, không dễ gì để làm một nhà thơ đích thực.” Và đối với chị, thơ tình là “tiếng nói của kẻ thất tình, của người chưa được thoả mãn ái tình cho nên người ta
có quyền đòi hỏi và bày tỏ những gì người ta muốn cho dù điên hay tỉnh, kiềm chế hay bức xúc, tinh tế hay nồng nàn Cái chính là người nghe có ngồi lại với bạn không hay người ta bỏ chạy Nếu người ta cũng điên lên cùng với bạn thì chúc mừng, vì bạn đã là thiên tài”
(Theo nguồn www.tienve.org/home/authors)
Thêm nữa, thơ Phan Huyền Thư có chút gì đó rất táo bạo, công khai nói những điều mà các thế hệ trước hoặc không dám hoặc chỉ làm lén lút Người đàn bà trong thơ Phan Huyền Thư đầy nữ tính, thứ nữ tính có chút hoang dại,
Trang 5vừa ra lệnh đồng thời vừa hạ mình, cất dấu từ những dịu ngọt nhất cho tới liều độc dược mạnh nhất
Việc xuất hiện một lớp người viết mới như Phan Huyền Thư đã thể hiện rằng thơ không chết, thơ còn sống, thơ còn được nhiều người yêu, quá nhiều người còn phải dùng nó để chia sẻ tình cảm, những vui buồn trong cuộc sống Bản thân chị không nghĩ rằng thế hệ trẻ ngày nay làm nên một cái gì mới hơn thế hệ trước về mặt nghệ thuật Sáng tác của những người viết trẻ có vẻ mới
mẻ hơn thế hệ trước chỉ là họ đang nói cái hiện tại Suy cho cùng thơ ca mang giá trị thời đại, cho nên phải tuân theo quy luật ở chỗ là không thời đại nào giống thời đại nào Xã hội ngày nay đang rất phát triển, các giá trị cũng đổi khác và thơ ca cũng phải “ăn theo” để cho kịp thời đại Phan Huyền Thư đã thể hiện được điều đó
Cuối cùng, đặt các bài thơ viết về tình yêu của các tác giả này cạnh nhau,
chúng ta sẽ thấy được xu hướng vận động của văn học Việt Nam nói chung và của thơ ca Việt Nam đương đại nói riêng Và so với thế hệ của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn thì thế hệ của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư đã có một bước ngoặt Trong bước đi mới đó, có thể nhận định khách quan rằng: thơ của lớp trẻ đã có những mặt kế thừa, phát huy được giá trị truyền thống, làm bước đệm cho những đổi mới, cách tân theo hướng tích cực; song bên cạnh đó, có những phương diện “thoái lui”, đi quá giới hạn của những chuẩn mực thẩm mĩ, đạo đức xã hội và tâm lí tiếp nhận của phần đông người Việt Nam ta
Nhưng cần nhấn mạnh rằng, khi lựa chọn mảng thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi không có chủ đích coi đó là hai “cái mốc” trong sự vận động của thơ tình các tác giả nữ trong văn học Việt Nam hiện đại Chúng tôi lựa chọn sáng tác của bốn nhà thơ này bởi chúng tiêu biểu
Trang 6cho “hai dòng phong cách, xu hướng lớn” của việc sáng tác thơ tình ở hai thời kì: trước và sau Đổi mới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bên cạnh việc điểm lại những bài viết, những công trình nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi tạm chia lịch sử nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh thành hai giai đoạn: trước và sau 1988
- Giai đoạn trước 1988:
Từ bỏ ánh hào quang trên sân khấu, cô diễn viên Xuân Quỳnh hầu như không có một quá trình tu dưỡng về nghề thơ, không có gì hết ngoài trái tim biết yêu Nhưng chính trái tim ấy đã nói lên thành thơ và chị trở thành nhà thơ
nữ lớn nhất thế kỉ này của Việt Nam chỉ bằng trái tim chân thành và vô giá ấy Hơn hai mươi năm cầm bút, thời gian không dài nhưng Xuân Quỳnh đã
để lại một số lượng tác phẩm không nhỏ (Khoảng 10 tập thơ và một số truyện
viết cho thiếu nhi) Từ tập thơ đầu tay “Chồi biếc” đến “Hoa cỏ may” là một
chặng đường thơ không ngừng nghỉ, luôn biết vươn lên trong hành trình khẳng định mình
Tháng 6 năm 1987, trong cuộc gặp mặt các nhà thơ Á- Phi ở Liên Xô, Xuân Quỳnh phát biểu: “Người ta làm thơ đầu tiên là để tự thể hiện, là một hành động khẳng định, rồi là một hành động khai sinh, đáp ứng như cầu sáng tạo, nhu cầu nối liền mình với đồng loại, với các sự vật, vũ trụ và thời gian” Xuân Quỳnh nói “người ta” nhưng để khẳng định mình Với chị làm thơ trước hết là để “tự thể hiện” Và thực sự trong cả cuộc đời cầm bút đầy ý nghĩa của mình, Xuân Quỳnh đã đem đến cái bản ngã của người đàn bà táo bạo và mãnh liệt trong tình yêu để tạo nên dấu ấn của một nhà thơ “bản năng” Nói như
Hoài Thanh, thơ Xuân Quỳnh luôn có cái bạo nhưng là một “cái bạo rất
trong” “Cái bạo rất trong” ấy được thể hiện ở chính tâm trạng cái tôi trữ
tình trong thơ Đó là một tâm trạng luôn xáo động giữa đắm say hạnh phúc và day dứt ưu tư, khao khát và trăn trở, yên bình và bão tố
Trang 7Cùng với sự ra đời các sáng tác của Xuân Quỳnh là sự xuất hiện của các bài viết nghiên cứu, phê bình về thơ chị, đặc biệt là mảng tình yêu Đây là mảng sáng tác thành công nhất trong gia tài sáng tạo khá phong phú và đa dạng của chị
Từ những tập thơ đầu chị đã được đánh giá là một cây bút trẻ nhiều triển vọng Chu Nga trong “Tạp chí Văn học” số 1 năm 1973 đã nói về sắc biếc ở chồi thơ mới nhú này Mượn tên tập thơ đầu tay của Xuân Quỳnh, người viết
muốn nhấn mạnh chất tươi trẻ, hồn nhiên của “Một chồi thơ sắc biếc” [64]
Cũng vào khoảng thời gian này, nhà nghiên cứu phê bình Hà Minh Đức, trong một bài viết về lực lượng thơ trẻ, đã dành cho Xuân Quỳnh những nhận xét rất đúng: “Nghĩ đến lực lượng thơ trẻ, tôi muốn nói đến Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Xuân Quỳnh… Xuân Quỳnh đã đến với thơ từ phần riêng tâm tình, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu tha thiết của tuổi trẻ, lòng gắn bó với nghề nghiệp (…) từ cái riêng đi vào cái chung thơ Xuân Quỳnh dần trở nên phong phú và có bản sắc hơn Xuân Quỳnh luôn chân thật và mềm mại trong cảm xúc, chị nhìn cuộc sống không đơn giản, một chiều…”
Ở các tập thơ “Chồi biếc”, “Hoa dọc chiến hào”, Gió Lào cát trắng” và
“Lời ru trên mặt đất”, Nguyễn Xuân Nam đã phát hiện ra “Vẻ đẹp thơ Xuân
Quỳnh” và dành cho chị những trang ưu ái trong cuốn “Thơ - Tìm hiểu và
thưởng thức” Tác giả khẳng định “vẻ đẹp hồn nhiên, mang đậm nét nữ tính,
dịu dàng, đằm thắm, và nhân hậu nhưng lại không vướng mặc cảm cho mình
là phái yếu của con người Xuân Quỳnh trong thơ Với bản tính ấy thơ tình của chị chủ động, bao dung mà cũng thiết tha dữ dội “như nước lũ mùa xuân chảy xiết” [63]
Đến năm 1984, khi hai tập thơ “Tự hát” và “Sân ga chiều em đi” của chị
ra đời trong bối cảnh hòa bình, khi những cảm xúc thế sự đời tư được bộc lộ một cách rõ nét, cởi mở hơn thì thơ chị thực sự trở thành đối tượng thu hút sự
Trang 8chú ý đặc biệt của giới phê bình, nghiên cứu văn học Sau khi tuyển thơ “Sân
ga chiều em đi” ra mắt bạn đọc, Vương Trí Nhàn trong “Bước đầu đến với văn học” đã đề cập đến vấn đề thi pháp trong thơ Xuân Quỳnh Ở góc độ này,
tác giả đã phát hiện khá sâu sắc về con người Xuân Quỳnh Ngay từ “Chồi
biếc”, mặc dù còn rất trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi thơ, nhưng Xuân Quỳnh đã có
ý thức rất sâu về thời gian Theo năm tháng, ý thức đó càng ngày càng rõ rệt, hằn lên trở thành cảm giác về sự biến đổi Phát hiện này của Vương Trí Nhàn
ở thời điểm ấy rất quan trọng, sẽ mở ra một hướng tiếp cận mới trong việc chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh
Ở giai đoạn trước 1988, so với các bạn cùng trang lứa, Xuân Quỳnh là cây bút được chú ý nhiều nhất Độc giả cũng như các nhà nghiên cứu thấy ở Xuân Quỳnh có những vần thơ mang nét tươi trẻ, hồn nhiên, biết đi từ cái riêng đến cái chung để từ cái chung lại trở về với cái của riêng mình
Giai đoạn sau 1988
Ngày định mệnh 29/8/1988 đã kết thúc một cách nghiệt ngã cuộc đời và chặng đường thơ hơn hai mươi năm của Xuân Quỳnh Người ta chợt nhận ra rằng một sợi dây vô hình mãi bền vững gắn kết cuộc đời chị với những gì chị
để lại trong thơ
Năm 1989, Nhà xuất bản Tác phẩm mới cho ra đời cuốn “Thơ Xuân
Quỳnh” Cuốn sách đã tập hợp một số bài viết về Xuân Quỳnh và chọn in một
số bài thơ tiêu biểu trong gia tài thơ chị để lại Cuốn sách được làm trong sự tiếc thương, trân trọng đối với một tài năng đang độ chín
Sau cuốn sách là hàng loạt những công trình nghiên cứu về cuộc đời, chặng đường thơ Xuân Quỳnh Bên cạnh các công trình mang tính học thuật nghiên cứu về phong cách, đánh giá những thành tựu đóng góp cho thơ ca; những bài báo, tạp chí đi sâu tìm hiểu về những tác phẩm cụ thể tiêu biểu; các cuốn sách tuyển chọn, tập hợp các bài viết của các nhà nghiên cứu, bạn đọc
Trang 9yêu thơ còn thấy có các tập hồi kí, các bài thơ viết về chị như một sự tưởng niệm, tri ân sâu sắc về Xuân Quỳnh
Năm 1993, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản cuốn hồi ký của
Đông Mai - chị ruột của Xuân Quỳnh với nhan đề “Xuân Quỳnh - một nửa
cuộc đời tôi” Tập hồi ký là sự hồi tưởng lại những năm tháng thăng trầm
trong cuộc đời người phụ nữ, người mẹ, người vợ của Xuân Quỳnh Người viết đã giúp chúng ta dựng lại chân dung chị, tính cách chị, là cơ sở để chúng
ta soi chiếu giữa tác phẩm và cuộc đời nhà thơ
Năm 1994, Nhà xuất bản Hội Nhà văn lại cho ra mắt bạn đọc cuốn
“Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - Tình yêu và sự nghiệp” đề cập đến bản sắc
và sức sáng tạo của nhà thơ nữ này Các bài viết được in ở đây là của bạn bè, đồng nghiệp cùng các nhà nghiên cứu trẻ tuổi như Nguyễn Quân, Chu Văn Sơn, Đoàn Thị Đặng Hương, Nguyễn Thị Minh Thái, Lê Minh Khuê, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Lưu Khánh Thơ
Với con mắt họa sĩ, Nguyễn Quân phát hiện trong thơ Xuân Quỳnh đậm đặc các chi tiết, hình ảnh của thiên nhiên Hình ảnh trong thơ thường giản dị, thậm chí không có gì mới lạ nhưng lại không gây cảm giác nhàm chán vì cảm giác tươi mới và cảm động (…) Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh cũng là ngôn ngữ đời thường, không hoa mỹ Thơ chị là loại thơ của hình ảnh thị giác, câu thơ
“rất có duyên mà không làm dáng”
Mảng thơ tình yêu của Xuân Quỳnh có lẽ là nơi dừng và gặp gỡ của rất nhiều cây bút, là nơi các tác giả khẳng định tài năng của chị Nguyễn Thị Minh Thái gọi vẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh là vẻ đẹp “đẫm tình” Qua bài viết
“Một giọng thơ tình ám ảnh”, tác giả đã nhận xét “ Những câu thơ giống hệt
như những giọt nước sau cơn mưa qua, còn đọng lại trên lá cây Chỉ cần một làn cảm xúc chợt đến, khẽ chạm vào lá, là những câu thơ ấy sẽ rơi rụng ngay
Trang 10xuống vùng tâm thức và mồn một hiện lên giữa lòng ta… có lẽ cái khát vọng tình yêu” từng thiêu đốt thơ Xuân Quỳnh cũng thiêu đốt luôn cả người đọc”
Lưu Khánh Thơ qua sự “Cảm nhận về thơ Xuân Quỳnh” cho rằng, Xuân
Quỳnh viết về tình yêu bằng một chất thơ trong sáng, nồng nàn, da diết Ở nhà thơ nữ này luôn có sự khát khao về một tình yêu muôn thuở, một hạnh phúc đời thường bình dị Người viết đã lý giải nỗi khắc khoải, lo âu trong thơ Xuân Quỳnh cũng chính do sự khao khát này Nhưng “không phải vì thế mà tình yêu trở nên hư vô huyền bí Trái tim nồng nhiệt của một phụ nữ suốt đời khao khát tình yêu rất biết nâng niu quý trọng niềm hạnh phúc đã có thật trong đời” [28, tr.35] Đây là một phát hiện rất xác đáng về con người Xuân Quỳnh trong thơ Đoàn Thị Đặng Hương với bài viết tuy ngắn gọn nhưng đã dựng được
bức phác thảo chân dung “Người đàn bà yêu và làm thơ” [28] Với sự đồng cảm của tâm hồn phụ nữ, người viết dường như nghe thấy trong những câu thơ của Xuân Quỳnh hằn lên nỗi đau của một người đã sống hết mình, làm việc hết mình, yêu hết mình, một niềm khát khao, một sự vật lộn với số phận
để hiến dâng cho cuộc đời, cho nghệ thuật Cùng với những nhận xét sắc sảo, mang tính khái quát cao, tác giả còn cho rằng Xuân Quỳnh là một trong tiếng thơ rất sớm của một người con gái, một người đàn bà đã “chủ động yêu và đòi quyền được yêu” [28, tr.64]
Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Trọng Hoàn, mỗi người một cách tiếp cận nhưng đều gặp nhau trong nhận xét: thơ tình yêu Xuân Quỳnh là niềm khao khát yêu đương, khắc khoải kiếm tìm
Như vậy, điểm lại tình hình nghiên cứu thơ Xuân Quỳnh ở trên, chúng ta thấy ở mỗi công trình bài viết đều có một hướng khai thác khác nhau song đều có chung một điểm đó là đề tài tình yêu, hạnh phúc đời thường, khát vọng tình yêu và giọng điệu thơ nữ tính Từ đó ta có thể khẳng định rằng thơ Xuân Quỳnh có bản sắc riêng, giọng điệu riêng được bắt nguồn từ một tài năng với một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm
Trang 11Đối với Phan Thị Thanh Nhàn, lâu nay việc nghiên cứu về thơ của chị còn rất hạn chế, dường như chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính chất chuyên biệt mà mới chỉ dừng lại ở những loại bài phân tích về từng bài thơ và loại bài tìm hiểu, nghiên cứu về cả tập thơ, giai đoạn thơ
Tập thơ đầu “Tháng giêng hai” của chị ra đời, in chung với Thúy Bắc
năm 1969 đã nhận được cảm tình yêu mến của bạn đọc nhưng chưa có tiếng nói đánh giá từ những người làm công tác nghiên cứu, phê bình
Đến khi ba bài thơ Hương thầm, Xóm đê, Bản mới được giải nhì cuộc thi
thơ của báo Văn nghệ năm 1969-1970, thì Phan Thị Thanh Nhàn mới tạo được tình cảm trong giới văn nghệ sỹ và để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng đông đảo độc giả Nhà thơ Xuân Diệu, trong bài phát biểu nhân kết thúc cuộc thi thơ báo văn nghệ năm 1969-1970 đã dành cho Phan Thị Thanh Nhàn nhiều lời khen tặng
Trong bài “Đọc Hương Thầm” (Tác phẩm Mới - số 4/1976), tác giả Thu
Văn nhận định: Phan Thị Thanh Nhàn không sắc sảo nhưng có một hồn thơ
dễ cảm “như một bông hoa dịu nhẹ, khiêm nhường, phảng phất, kín đáo” Tác
giả nhìn thấy ở Phan Thị Thanh Nhàn khả năng phát hiện tinh tế những vẻ đẹp của đời sống, tiếng thơ ấm áp ân tình, đề tài bình dị, cảm xúc khỏe khoắn được dẫn dắt bởi con tim hơn là lý trí Bên cạnh đó tác giả cũng thấy những hạn chế của Phan Thị Thanh Nhàn “thiếu rung động có suy nghĩ và chiều sâu”, cảm xúc tràn lan, kết thúc gò gẫm…
Nhà phê bình Thiếu Mai trong bài “Một nét thơ đáng yêu” (Tạp chí Văn
học, số 1/1978) cũng đã chỉ ra bản sắc riêng của thơ Phan Thị Thanh Nhàn đó
là sự “dịu nhẹ, duyên dáng mà kín đáo” Tác giả cũng nhận xét về sự chân
thành trong cảm xúc, về tình yêu với Hà Nội, tình yêu với đất nước, con người của Phan Thị Thanh Nhàn
Gần đây, nhất là sau khi chị được nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, các báo không chuyên về lĩnh vực văn học và thông tin trên
Trang 12internet có nhiều bài viết về Phan Thị Thanh Nhàn như: tác giả Hạnh Đỗ
(Tiếp thị và Gia đình - tháng 1/2008) có bài nói về giá trị của “Hương thầm”; tác giả Hồ Điệp trong bài “Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn: vẹn nguyên như
thủa hương thầm” (http:/www.phongdiep.net…); tác giả Trần Hoàng Thiên
Kim trong bài: “Phan Thị Thanh Nhàn: thơ mình mình đọc câu nào cũng
thương” (An ninh thế giới cuối tháng - số 81, tháng 4/2008); tác giả Nguyễn
Thị Hồng Ngát với bài: “Phan Thị Thanh Nhàn - người chị thơ và đời”
(http://trannhuong.com ); tác giả Nguyễn Kim Anh với bài “Nhà thơ Phan
Thị Thanh Nhàn không… thanh nhàn” (http://antgct.cand.com ) Đa phần
các bài đi vào khai thác cuộc sống đời tư, tìm hiểu về công việc, xuất xứ những bài thơ cũ, đánh giá về nhân cách, phẩm giá của nhà thơ chứ không bàn tới chính tác phẩm của chị Tuy nhiên họ đều nhận thấy ở thơ Phan Thị Thanh Nhàn những phẩm chất đáng quý
Phan Thị Thanh Nhàn viết khá nhiều về thơ tình, theo năm tháng, những bài thơ tình của chị có sự chuyển biến, từ nhẹ nhàng, ý nhị, tươi tắn chuyển sang giàu tính trải nghiệm, suy tư, trăn trở nhưng độ lượng hơn Nhưng dù thế nào, những bài thơ của chị vẫn rất chân thành, gần gũi và vì thế chiếm được chỗ đứng trong lòng bạn đọc
Vi Thùy Linh “một hiện tượng của thơ ca Việt Nam hiện đại” và cũng là một hiện tượng gây nhiều tranh cãi của văn học Việt Nam đương đại Khi những bài thơ đầu tay của chị ra đời và được đăng tải đã nhận được những luồng dư luận rất khác nhau, thậm chí trái chiều nhau gay gắt, “người khen thì
cổ vũ hết lời mà người chê thì cũng bầm dập đến điều” Việc tìm hiểu về thơ
Vi Thùy Linh mới chỉ dừng lại ở mức độ các bài viết mang tính nhận định, đánh giá chung về một số phương diện trong sáng tác của chị (như vấn đề bản năng, chất libido,…) được đăng tải trên các báo, tạp chí và các trang mạng
Khi đọc KhÁt của Vi Thùy Linh, nhà thơ - nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo
đã cảm nhận ở cô “cái tôi” đầy cá tính và sống động: “Một thiếu nữ đa tình?
Trang 13Một phận kiếp đa đoan? Một tâm hồn dám sống? Là tất cả mà không là gì cả Mạnh mẽ, thành thật và tận hiến cho tình yêu, nghệ thuật Thơ phóng sinh ý tưởng ra ngoài gông cùm của thành kiến truyền kiếp, đập cánh quyết liệt vào hiện đại Thơ phá tung cánh cửa vờ vĩnh che chắn trái tim trụy lạc, trưng cầu ánh sáng Đó là Vi Thùy Linh với tuyên ngôn “Không bao giờ hóa trang để nhập vai người khác” Còn Nguyễn Việt Chiến khi đọc tập thơ này đã viết bài
“Thơ Vi Thùy Linh cơn cuồng lưu từ những mê - lộ - chữ” và nhận thấy “Vi
Thùy Linh có một đời sống nồng cháy đam mê và nhiều nỗi đau Trong những bài thơ định mệnh của mình, Vi Thùy Linh như là một người dệt tầm gai nhẫn nại đan dệt những cảm xúc của mình với nỗi đau vô hình trong tay - ngôn - ngữ luôn bị trầy xước, rớm máu bởi những nỗi đau vô hình trong thi
ca và hữu hình trong tình yêu, đời sống con người”
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên khi đọc tập “Đồng tử” thấy Linh là “Người “tận lực tham ô tuổi trẻ” để sống thơ” (Tạp chí Văn học số 9, 2005) “Vẫn một niềm khao khát của Linh như ngày nào, khao khát vừa ngây
thơ vừa đau đớn mà hạnh phúc Tôi (và ta) gặp lại ở đây những khát vọng cháy bỏng và thăng hoa trong thơ Linh về tình yêu Thế là đủ cho Linh hát
ca và hoan lạc Một niềm hoan lạc sống đời thơ”
TS Nguyễn Đăng Điệp trong bài nghiên cứu “Màu yêu trong Đồng tử
Linh” lại chú ý tới thi phẩm trong tập thơ, nhà nghiên cứu cho rằng: đã có thể
nói đến trường chữ của Vi Thùy Linh vì đây là thơ đánh dấu 10 năm “nàng Vi
tự nguyện dấn thân vào nghệ thuật” Cụ thể là với ý thức vượt thoát khỏi sự sáo mòn của chữ nghĩa và niềm tin vào sức mạnh vô song của tình yêu đã
giúp nữ thi sĩ có nhiều câu thơ đẹp, lạ, giàu sức gợi Đặc biệt “dày đặc trong
thơ Vi Thùy Linh là những động từ gây cảm giác mạnh nhằm diễn tả niềm khao khát hòa trộn… Như con ngựa không chịu bó mình vào những dây cương thể loại và những nguyên tắc về vần điệu thông thường, Vi Thùy Linh lấy hơi thở tình yêu làm chỗ dựa để kiến tạo nhịp điệu câu thơ” [21]
Trang 14Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã thấy một “Hiện tượng Vi Thùy Linh (in trên báo Sinh viên Việt Nam, 9/2003, rút trong tập phê bình, tiểu luận “Giăng lưới bắt chim”, Nxb Hội Nhà văn, 2005 - Giải thưởng Phê bình Hội Nhà văn
Hà Nội, 2006) “Nhiều người nói với tôi rằng Vi Thùy Linh là biểu tượng sex
trong thơ Tôi không thấy thế Vi Thùy Linh là một biểu tượng trong trắng đấy chứ… Vi Thùy Linh là một hiện tượng trong thơ Việt Nam Một tiếng thơ lạ”
Nhà thơ, Dịch giả Dương Tường nhận xét: “Vi Thùy Linh là một cơn lốc -
lốc ý tưởng, lốc chữ (chứa chất nổ), lốc tình (đôi khi là khoái cảm) Cơn lốc không kiềm chế đó đương nhiên gây sốc, khiến nhiều người ngộ nhận những cố gắng trong thơ cô và lầm lẫn cho sự bất chấp những ước lệ và kiêng kị và phạm húy Với tôi, Vi Thùy Linh là một biểu tượng giải phóng phụ nữ trong thơ”
Trần Đăng Khoa trong bài viết “Đọc lại thơ tình Vi Thùy Linh (1.1.2007)
đã đưa ra một cái nhìn tổng thể “Khi bàn về thơ Vi Thùy Linh, có người đã
gọi chị là nhà thơ đổi mới Tôi không nghĩ thế Bởi nói đến những nhà thơ đổi mới, thì chí ít, họ cũng có những cái cũ để mà đổi thành mới Nhiều thi sĩ thành danh đã dũng cảm đập vỡ mình ra, rồi nhào lặn lại thành một gương mặt khác, với một vẻ đẹp hoàn toàn khác Vi Thùy Linh đâu phải thế Chị sinh
ra đã có gương mặt riêng, tiếng nói riêng Chị không có nợ nần gì với quá khứ, cũng ít tiếp nhận những giá trị của quá khứ Và trong tâm khảm tôi tin,
Vi Thùy Linh cũng chẳng có ý thức quyết tâm làm người tiên phong đổi mới thơ ca Đối với chị hình như đó là một việc rất xa lạ Chị chỉ sống đúng như những gì mình có Nghĩ theo cách của riêng mình Rồi cất lên tiếng nói cũng của chính mình Tất cả đều hồn nhiên và giản dị… Thơ Vi Thùy Linh là thế Ngổn ngang và rậm rạp trong những suy nghĩ trăn trở của ngày hôm nay… Phải nói Vi Thùy Linh là người dũng cảm, tự tin Thơ chị có nội lực Chị vin vào nội lực ấy mà đứng dậy trên hai chân của mình và sáng bằng nước mắt
Trang 15Đọc thơ chị, ta luôn có cảm giác rợn ngợp như đang đứng trước một ngọn núi lửa mới tuôn trào với một sức mạnh không thể ngăn cản nổi Lẫn trong ngổn ngang đất dỏ, nham thạch là không ít những thỏi quặng quý”
Với Phan Huyền Thư, cũng giống như Vi Thùy Linh, việc tìm hiểu về thơ chị cũng chỉ dừng lại ở những bài viết theo nhận định, đánh giá chung hoặc những bài phỏng vấn trên các báo và tạp chí, internet Thế hệ của Phan Huyền Thư được đánh giá là thế hệ trẻ hôm nay phân thân với cái tôi đầy mãnh liệt Thơ Phan Huyền Thư, nhất là mảng thơ tình yêu rất táo bạo, mạnh
mẽ Tìm hiểu về thơ chị, thấy rõ ở mỗi thời đại có giọng thơ của mình Cũng bởi, bản chất của thơ là không đứng lại “Thơ là nghệ thuật của từ, lịch sử thơ
ca là lịch sử ngôn từ”(Zhirmunski) Vì vậy, chị được ví như nhà thơ đang lao động trên cánh đồng chữ, đó là lao động căng thẳng, hứng thú và sáng tạo Khi mười một tuổi, chị đã thích làm thơ lục bát, khi mười bốn tuổi thì làm thơ sonnet, đến mười bảy tuổi lại kiên quyết ra tay với thơ bậc thang đang “mốt”, khi biết yêu thực sự thì lại mê thơ Đường luật, bây giờ thì thích thơ tự do Trong một bài phỏng vấn, chị cũng tâm sự: “Không làm thơ tôi mới bị mất cân bằng bởi có quá nhiều điều mình muốn nói mà không nói ra được, quá nhiều điều muốn làm mà không được phép làm Vì thế tôi làm thơ là tôi được
là mình mà không gây hại cho ai, không lấy đi của ai điều gì, không phải tranh giành bon chen trong cuộc sống” Ở mảng thơ tình, Phan Huyền Thư rất mạnh bạo đưa ngôn ngữ “sex” vào trong thơ Thơ nói về tình yêu, về chuyện chăn gối thời nào cũng có, nhưng để tình dục bước chân mạnh mẽ vào văn chương thì phải tìm ở ngôn ngữ thơ ca hiện đại Phan Huyền Thư diễn đạt những chuyện đó bằng nghệ thuật thi ca ở cấp độ ứng xử văn hóa giữa người với người, khiến tự nhiên nó có một vẻ đẹp riêng, một vẻ nhân văn riêng Chúng tôi cũng xin được thống kê một số bài viết nổi bật như sau:
Trang 16Thơ Phan Huyền Thư - nằm
Nhà thơ Phan Huyền Thư-
người nối dài sự sống cho
chữ (phỏng vấn)
Hà Thanh Vân, nguồn www.tienve.org/home/authors
Lao động và nỗi buồn trong
tập thơ Nằm nghiêng của
Phan Huyền Thư
Đào Duy Hiệp, nguồn www.tanvien.net
Nhìn chung, các bài viết hầu hết đều tập trung nhấn mạnh đến ý thức phái tính, khát vọng tình yêu khác xa với truyền thống của thế hệ các cây bút
nữ đương đại, vấn đề tính dục và việc thể hiện những khát khao nhục cảm một cách hăm hở, không ngần ngại trong thơ của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư Bên cạnh việc ghi nhận những tín hiệu mới, tích cực trong việc đổi mới, cách tân thơ của họ, không ít tác giả đã chỉ ra những điểm cực đoan trong nghệ thuật biểu hiện của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư
Qua quá trình tổng hợp, thống kê và phân tích tư liệu, chúng tôi nhận thấy, việc khảo sát mảng thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và
Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư - hai thế hệ tác giả với hai phong cách thơ hoàn toàn khác biệt, tiêu biểu cho hai giai đoạn khác nhau của thơ ca Việt Nam hiện đại - trong tương quan so sánh một cách có hệ thống cũng chưa được tiến hành một cách cụ thể
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện Luận văn này, chúng tôi hướng tới các mục đích cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thấy được những điểm tương đồng, gặp gỡ trong cách thức
cảm nhận, thể hiện và viết về tình yêu của hai thế hệ - tiêu biểu cho “hai dòng
Trang 17phong cách, hai xu hướng lớn” trong việc sáng tác thơ tình thời kỳ trước và sau Đổi mới
Thứ hai, thấy được sự khác biệt giữa thơ tình ở thế hệ trưởng thành trong
thời kì kháng chiến chống Mỹ và thế hệ các nhà thơ trẻ đương đại Mục đích của luận văn là tìm ra những phương diện kế thừa, phát triển cũng như những mặt hạn chế, thoái lui của thơ tình các nhà thơ thuộc thế hệ nhà thơ trẻ đương đại nói chung so với thơ tình của các cây bút thuộc thế hệ thời kháng chiến chống Mĩ nói chung
Thứ ba, qua sự tìm hiểu, phân tích, so sánh đó để hình dung được một
cách khách quan hơn về xu hướng vận động, “diễn biến” của thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung và của thơ tình các tác giả nữ nói riêng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Khám phá cái “tôi” trong thơ tình vận động từ nhuần nhị truyền
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung chọn lọc, khảo sát các sáng tác thuộc mảng thơ tình yêu của bốn tác giả Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư trong các tập thơ sau
Thơ Xuân Quỳnh:
Chồi biếc (trong tập Tơ tằm - Chồi biếc, in chung với Cẩm Lai, Nxb
Văn học, 1963)
Trang 18Hoa dọc chiến hào (Nxb Văn học, 1968)
Gió Lào cát trắng (Nxb Văn học, 1974)
Lời ru trên mặt đất (Nxb Tác phẩm mới, 1978)
Sân ga chiều em đi (Nxb Văn học, 1984)
Tự hát (Nxb Tác phẩm mới - Hội Nhà văn Việt Nam, 1984)
Thơ viết tặng anh (Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1988) Hoa cỏ may (Nxb Tác phẩm mới - Hội Nhà văn Việt Nam, 1989) Thơ Phan Thị Thanh Nhàn:
Hương thầm (Nxb Văn học, 1973)
Chân dung người chiến thắng (Nxb Tác phẩm mới, 1977)
Bông hoa không tặng (Nxb Tác phẩm mới, 1987)
Nghiêng về anh (Nxb Hội nhà văn,1992)
Thơ Vi Thùy Linh:
Khát (Nxb Hội Nhà văn, 1999)
Linh (Nxb Thanh niên, 2000)
Đồng tử (Nxb Văn nghệ, 2005)
Vili in love (Nxb Văn nghệ, 2008)
Phim đôi - Tình tự chậm (Nxb Thanh niên, 2010)
Thơ Phan Huyền Thư:
Nằm nghiêng (Nxb Hội Nhà văn, 2002)
Rỗng ngực (Nxb Văn học, 2005)
Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát, có sự liên hệ, đối chiếu với các sáng tác của một số nhà thơ nữ khác như Lâm Thị Mĩ Dạ, Ý Nhi, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Ly Hoàng Ly,…
6 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như sau:
Trang 19- Phương pháp so sánh: Được áp dụng ở nhiều cấp độ như: so sánh các
tác phẩm của cùng một tác giả ở các thời kì sáng tác khác nhau, so sánh các bài thơ tình của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư với các bài thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, so sánh các sáng tác của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư với sáng tác của các nhà thơ cùng thế hệ,…
- Phương pháp loại hình: Kết hợp cả hai phương thức cơ bản:
+ Phân loại các hiện tượng (hình ảnh, hình tượng, cách thức biểu hiện cái “tôi” trữ tình, giọng điệu,… trong thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư) trên cơ sở của việc chứng minh các nhóm hiện tượng giống nhau theo một tiêu chuẩn nào đó
+ Chứng minh cho sự tồn tại của một loại hình văn học nhất định, biện
hộ cho sự tồn tại và hiệu quả thẩm mĩ của nó trong các sáng tác thơ ca về đề tài tình yêu của bốn tác giả nữ (nhìn rộng ra là của các tác giả nữ thuộc thế hệ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và của các nhà thơ trẻ đương đại cùng thế hệ với Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư)
Phương pháp tiếp cận liên văn bản:
Phương pháp tiếp cận này sẽ cho ta thấy rất rõ rằng, mỗi văn bản đang khảo sát đều tồn tại trong sự liên hệ với các văn bản khác xuất hiện trước hoặc cùng thời với nó Đó là sợi dây liên hệ giữa thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn với thơ tình của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư cũng như mối liên hệ của chúng với các văn bản khác Từ đó, chúng ta sẽ thấy được tính kế thừa, tính hệ thống, tiến trình của sự vận động thơ ca nói chung
Để Luận văn có tính khoa học và hệ thống, chúng tôi đã kết hợp một số phương pháp nghiên cứu như: thống kê, phân tích, chứng minh,… nhằm tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và triệt để hơn
Trang 207 Đóng góp mới của đề tài
Thực hiện các nhiệm vụ trên Luận văn sẽ làm nổi bật được những nét đặc sắc của thơ tình Việt Nam qua hai thế hệ nhà thơ nữ Kết quả của Luận văn khẳng định bản sắc riêng độc đáo của từng ngòi bút, mặt khác thấy được
sự tương đồng, gặp gỡ trong cách thức cảm nhận và thể hiện về tình yêu của bốn nhà thơ nữ Và cuối cùng là qua sự khảo sát, so sánh thấy được xu hướng vận động, diễn biến của thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung và của thơ tình các tác giả nữ nói riêng
Người viết cũng mong rằng kết quả của Luận văn sẽ đóng góp một phần phục vụ cho công việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập thơ nói chung trong nhà trường hiện nay
Trang 21NỘI DUNG Chương 1
SỰ VẬN ĐỘNG TỪ NHUẦN NHỊ TRUYỀN THỐNG ĐẾN PHÁ CÁCH HIỆN ĐẠI CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HAI THẾ HỆ
1.1 Những điểm tương đồng trong phương thức thể hiện cái “tôi” của bốn nhà thơ
Cái “tôi” là đơn vị tồn tại của cái chủ quan, là hình thức tự ý thức của cái chủ quan Trong thơ, cái “tôi” trữ tình có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng, cái “tôi” trữ tình là hình thức tự ý thức của tác phẩm trữ tình
Theo Lê Lưu Oanh, trong cuốn “Cái tôi trữ tình trong thơ - Qua một số hình
tượng thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990” đưa ra khái niệm: Theo nghĩa hẹp,
cái “tôi” trữ tình là hình tượng cái tôi, cá nhân cụ thể, cái tôi - tác giả - tiểu sử với những nét rất riêng tư; là loại nhân vật trữ tình đặc biệt khi tác giả miêu
tả, kể chuyện, biểu hiện về chính mình Theo nghĩa rộng, cái “tôi” trữ tình là nội dung, đối tượng, phẩm chất của trữ tình Còn theo Vũ Tuấn Anh, trong
cuốn “Sự vận động của cái tôi trữ tình và tiến trình thơ ca” cũng chỉ ra: Cái
“tôi” trữ tình đó là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới
và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo, mang tính thẩm mỹ nhằm truyền đạt năng lượng tinh thần ấy đến với người đọc
Có thể nói rằng “cái tôi trữ tình chính là sự tự ý thức của cái tôi được biểu hiện trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật, cái tôi của hành vi sáng tạo, là quan niệm về cái tôi được biểu hiện thông qua các phương tiện trữ tình”
Và như vậy, cái tôi trữ tình không đồng nhất và trùng khớp với cái tôi nhà thơ mà là sự thể hiện toàn bộ đời sống tinh thần và tư duy sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Nó là kết quả của sự chọn lọc, kết tinh và thăng hoa những
Trang 22suy tư, cảm xúc và trải nghiệm của cái tôi nhà thơ Đặc biệt, ở thơ tình cái
“tôi” chủ thể giữ vai trò quan trọng, là chìa khóa tối cần thiết để người đọc giải mã những quan niệm, khát vọng tình yêu cùng những bài học triết lý nhân sinh mà các nhà thơ gửi gắm trong đó
1.1.1 Thiên tính nữ nghiêng hẳn về hy sinh, dâng hiến, vị tha trong tình yêu
Với Xuân Quỳnh, những sáng tác viết về đề tài tình yêu là những sáng tác thành công nhất của chị, nhà thơ bộc lộ tâm trạng thật trong mỗi bước vui buồn của cuộc sống Đó cũng là nơi Xuân Quỳnh nói lên được niềm vui, nỗi khổ của chính mình trong cuộc hành trình kiếm tìm hạnh phúc Tiếng nói ấy không chỉ là lời bộc bạch cho bản thân tác giả mà đó còn là lời giãi bày thay cho những ai đang yêu, đã yêu Và cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh là cái được tác giả sáng tạo ra và có đời sống riêng tách biệt, độc lập với nhà thơ Nhưng cái tôi trữ tình ấy đã thể hiện nỗi lòng trạng thái tâm lý của Xuân Quỳnh trong tình yêu Nó được sinh ra từ chính cuộc đời “không yên định” của chị và bộc lộ quan niệm về tình yêu của chính nhà thơ Theo thời gian và năm tháng, tình yêu của chị cũng chín dần và thơ tình của chị ngày càng đi vào chiều sâu, cái “tôi” trong thơ tình không còn vẻ mộng mơ, sôi nổi như lúc ban đầu mà ngày càng đượm thêm vẻ nồng nàn, tha thiết
Cái tôi trữ tình trong thơ tình Xuân Quỳnh táo bạo, mạnh mẽ, chủ động trong mọi nấc thang của tình yêu Đó là người phụ nữ thoắt táo bạo đấy những lại ngại ngùng, e dè ngay được Cho nên có khi chị dấu mình đi, mượn hình ảnh (không phải là mình) để thổ lộ điều thầm kín:
Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được
Trang 23Nhưng có khi cái tôi trữ tình bỗng nhiên vứt luôn cái vỏ nhân hóa vay
mượn ấy đi để cho trái tim tự thốt lên lời:
“Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương”
Trái tim đầy ắp tình yêu đẩy tâm thức người phụ nữ lên cao độ, bắt buộc thi sĩ phải giải tỏa bằng cách thổ lộ và không ngại ngùng, e ấp Không còn những thẹn thùng giữ kẽ trong tình yêu mà chỉ còn lại những tiếng nói thổ lộ
về tình yêu với nỗi nhớ và lời thề thủy chung muôn đời của cái tôi trữ tình
Đó là một cái tôi trữ tình táo bạo mãnh liệt mà không vấp váp vội vàng Nồng nàn, đắm say, tha thiết yêu và được yêu là thế, nhưng ở Xuân Quỳnh, tình yêu luôn đồng nghĩa với tấm lòng vị tha, sẵn sàng hi sinh và dâng hiến Tình yêu với Xuân Quỳnh không chỉ có những phút giây đắm say mà chị còn hướng đến “bao bọc người yêu trong cái tình thương lớn mà một người đàn bà mạnh
mẽ nhất, nhân hậu nhất mới có thể có được” (Nguyễn Hòa Bình) Người đọc không khỏi chạnh lòng, xúc động trước những câu thơ chân thành, sâu lắng của chị:
Ước chi làm chiếc nón che anh Đêm gió lạnh em xin làm ngọn lửa
Áo ướt ai phơi, balô ai xếp hộ Mong sao trời ngừng mưa!
(Không đề - Xuân Quỳnh)
Trang 24Còn với Phan Thị Thanh Nhàn, cái tôi trữ tình cũng đắm say, khát khao yêu thương, hạnh phúc không kém, thậm chí cũng luôn sẵn sàng hi sinh vì tình yêu Mang trong mình một trái tim đầy nhiệt huyết, yêu thương, một tấm lòng nhân hậu, bao dung, tràn đầy nữ tính, Phan Thị Thanh Nhàn viết về tình yêu với rất nhiều cung bậc khác nhau
Anh ơi! Nếu ví được cao xa như thế
Em cũng chẳng là trời đất gì đâu Nhưng anh có có biết không? trời đất
Sẽ chẳng là gì nếu thiếu nhau
(Trời và đất - Phan Thị Thanh Nhàn)
Số phận đã không cho chị cuộc sống bình yên Cái thuở “hương thầm”
chị có một gia đình hạnh phúc Chồng chị là cán bộ nghiên cứu, nhưng lại yêu văn chương Anh chị đã quen nhau từ lớp bồi dưỡng viết văn ở Quảng Bá Đọc thơ nhau, làm bạn với nhau rồi yêu nhau Kỷ niệm ngọt ngào của tình yêu khiến chị có những lời thơ trong trẻo Vậy mà đã 30 năm có lẻ, chị phải một mình nuôi con Người chồng yêu thương ra đi khi chị còn quá trẻ, một mình vật lộn với cuộc sống trong thời bao cấp để nuôi con khôn lớn Nhiều lúc chị cũng thèm muốn, khát khao:
Ước gì gặp lại anh
Dù chỉ trong phút cuối
Để nói một lời thôi
Em đã yêu anh nhất
(Phan Thị Thanh Nhàn) Sau thời kì Đổi mới, cái tôi nồng nàn say đắm khát khao yêu vẫn được tiếp nối mạnh mẽ với nhiều biểu hiện sinh động ở thế hệ Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư
Trang 25Đọc KhÁt (Vi Thùy Linh) ta thấy tình yêu rất mới Trên 2/3 nội dung của
KhÁt là dành cho tình yêu Đọc thơ của Vi Thùy Linh thấy rõ một điều đó là
tình yêu không vụ lợi, một tình yêu không theo kiểu trào lưu, một tình yêu không sắc màu “thị trường” Đó là tiếng lòng của một cô gái đang yêu mãnh liệt, khát khao dâng hiến đến tận cùng:
Anh yêu của em
Em yêu anh cuồng điên Yêu đến tan cả
Ào tung ký ức
(Người dệt tầm gai - Vi Thùy Linh) Anh là suy nghĩ của em khi mỗi ngày thức dậy
Anh là niềm vui và nỗi buồn, là những gì trong em đang có
Anh là đỉnh cao khát vọng dâng hiến
là hơi thở của em…
(Sóng - Vi Thùy Linh)
Nói một cách công bằng, Vi Thùy Linh đã nói được thành thật nhất, chính xác nhất những cảm xúc của người con gái khi yêu Với những động từ mạnh mẽ như “cuồng điên”, “ào tung”, “tan”… được sử dụng với tần suất lớn càng diễn tả nỗi ước mong đến cực độ được nhập cuộc vào tình yêu
Đối với Phan Huyền thư, cái tôi trữ tình cũng đã thể hiện tình yêu nồng nàn, say đắm, khát khao yêu và được yêu:
Như ngựa non tập phi nước đại
Em hí lên hân hoan trong vũ điệu Thảo nguyên
Gió liếm vào gáy đêm một mùi cỏ thơm Của sương âm thầm làm giọt
Em là con ngựa đau chẳng khiến tàu thèm bỏ cỏ Bờm rối tung vó ức chăng đầy
(Ngựa đêm - Phan Huyền Thư)
Trang 26Phan Huyền Thư luôn khát khao biểu hiện cái tôi trước cuộc đời, cái tôi bản thể mang tính khác biệt, chị luôn muốn tạo sự độc đáo riêng biệt trong lối
tư duy, diễn đạt và hình ảnh Chính vì thế mà trong thơ tình của mình chị luôn lấy những hình ảnh độc đáo và khác lạ Hình ảnh giường”, “khăn tắm”, “áo lót”, “ngực lép”, “bồn tắm”… được nhà thơ sử dụng rất đắt Với trái tim nhạy cảm của một nhà thơ, chị được nhận xét là một người đa tình Chị cũng đã yêu hết mình, cháy hết mình với những dòng thơ tình khát khao, dâng hiến:
Mỗi sáng Anh đi lại trong ý nghĩ của em
…
Mỗi sáng Anh dao động ý nghĩ em
(Thất vọng tạm thời - Phan Huyền Thư)
Tình yêu đã chiếm lĩnh mọi suy nghĩ của “em”, càng khát khao đến tình yêu, cái tôi trữ tình càng muốn thể hiện rằng ở thời điểm nào mình cũng nghĩ
về “anh”, nghĩ về tình yêu mà mình đang khát khao chờ đợi và sẵn sàng dâng hiến
Cả hai thế hệ nhà thơ nữ đã mượn cây bút để làm nổi bật được tâm trạng khát khao yêu, mong chờ được yêu, sẵn sàng hi sinh, dâng hiến cho tình yêu Đây chính là nét đẹp trong mỗi con người nhưng quan trọng hơn nó chính là sức mạnh để cho những người phụ nữ như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư dám sống, dám yêu và có những vần thơ nồng nàn, khát khao như thế
1.1.2 Cái “tôi” trữ tình táo bạo mạnh mẽ trong tình yêu
Trong xã hội phong kiến với nhiều hủ tục, luật lệ hà khắc, người phụ
nữ phải sống theo những chuẩn mực, lễ giáo “tam tòng tứ đức”, không được phép thể hiện cái “tôi” Nhưng đến thời kì hiện đại, người phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới, làm chủ cuộc sống cũng như thể hiện những khát
Trang 27vọng, phấn đấu cho riêng mình Cùng với đó, tiếng nói thơ ca của phái nữ, đặc biệt là trong lĩnh vực thơ tình, cũng trở nên cởi mở hơn Người phụ nữ tự
do thể hiện trực tiếp mọi khát vọng tình yêu và hoàn toàn chủ động trong mối quan hệ tình yêu Những vần thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn
và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư đều thể hiện sinh động điều này Tuy có những sắc thái biểu hiện cụ thể khác nhau nhưng cái “tôi” trong thơ của hai thế hệ đều rất mạnh mẽ, quyết liệt, “hiện đại” và chủ động trong tình yêu Tình yêu có sức hút mạnh mẽ và kỳ diệu Lâm Thị Mỹ Dạ đã từng lo lắng băn khoăn và e ngại về “nửa cuộc đời kia” mà chị đang kiếm tìm:
Em sẽ chờ như thể một tình yêu
(Huyền thoại - Đoàn Thị Lam Luyến)
Với Xuân Quỳnh, cái tôi trong thơ tình Xuân Quỳnh là một cái tôi rất mạnh dạn trong tình yêu, biết vượt qua những vấp váp, khổ đau, biết thứ tha
và đi qua những lỗi lầm để tiếp tục sống, tiếp tục yêu Người phụ nữ trong thơ chị đã chủ động đến với tình yêu, không ngần ngại bày tỏ ước vọng tình yêu
Trang 28Một trái quả tình yêu luôn được chủ nhân - là cái tôi trữ tình tự mình coi sóc cẩn thận và tin tưởng chắc chắn vào sự bất tử của nó:
Người đàn bà trong thơ tình yêu Xuân Quỳnh đang ráo riết cố định một niềm tin trước thử thách của thời gian, của lòng người Chị đặt tình yêu dài lâu và cao hơn cả là sự sống của con người, bất chấp luật sinh tử tạo hóa Vượt lên lẽ tử - sinh, còn - mất, ánh sáng ngọn lửa tình yêu không bao giờ có ngày “tận thế” Trái tim có thể ngừng đập sự sống về mặt sinh học nhưng linh hồn của một trái tim tình yêu thì mãi mãi bất tử tạo nên một tình yêu tồn tại đến muôn đời
Trong tình yêu, trái tim của người phụ nữ “có lúc nhỏ vô cùng vẫn ôm
trùm hết thảy” (Trái tim phụ nữ - Bích Ba), vì trái tim ấy luôn cố gắng vượt
lên chu vi bé nhỏ hạn hẹp của nó để tạo nên những điều kì diệu Vì thế mà cô
thanh niên xung phong trong Sợi nhớ sợi thương của Thúy Bắc dám “em
dang tay em xòe tay” hòng che chở cho người thương ở bên kia Trường Sơn
Cô muốn làm bầu trời chống đỡ những đợt mưa dài, khi ấy cô toàn tâm toàn ý hướng về tình yêu:
Rợp trời thương Màu xanh suốt
Em nghiêng hết
Về phương anh
Nhân vật trong thơ tình yêu Xuân Quỳnh không chỉ “đời hơn” mà còn táo bạo hơn rất nhiều Cho dù cũng chỉ là “người trần mắt thịt” không biết
Trang 29tương lai có thể có một bóng tùng bách che chở cho cuộc đời mình không, nhưng cái tôi trữ tình vẫn hăm hở, hồ hởi dấn thân vào con đường kiếm tìm hạnh phúc, dẫu cuộc đời nhiều bất trắc, gian truân:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ Sóng không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể
để tìm đến hạnh phúc đích thực:
Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la Thuyền đi hoài không mỏi Biển vẫn còn xa xa
(Thuyền và biển - Xuân Quỳnh)
Căn nguyên của quyết tâm kiếm tìm mãnh liệt ấy phần lớn là do trái tim của Xuân Quỳnh là trái tim tình yêu thực sự Để rồi chị đi xuyên qua không gian, vượt qua thời gian mải miết kiếm tìm mỗi sớm mai thức giấc:
Ta đi đến tận cùng xứ sở Đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu
(Thơ tình cho bạn trẻ - Xuân Quỳnh)
Vượt qua bao không gian, trải qua những “tận cùng đau đớn” dường như cái tôi trữ tình đã tìm được tình yêu của đời mình Mỏi gối, chồn chân, lao tâm khổ tứ, trái tim người phụ nữ vẫn không nguôi ngoai khát khao Đó là
Trang 30trái tim nguyện yêu đến chết và đến hết cuộc đời Nếu bốn ngăn trong trái tim của người khác mỗi ngăn đảm nhận một chức năng riêng trong hoạt động điều hòa, tuần hoàn máu thì trái tim cái tôi trữ tình trong thơ tình yêu Xuân Quỳnh
cả bốn ngăn đều mang thêm một chức nghiệp: biết yêu và khát khao Hình như trong trái tim ấy nhịp đập sinh học không phải do sự co bóp của các phân
tử máu mà là sự co bóp của “các phân tử yêu” Vì thế cái tôi trữ tình có một tình yêu táo bạo, chủ động, mạnh mẽ, quyết liệt, hiện đại bằng tất cả sự táo bạo, chủ động, mạnh mẽ, quyết liệt, hiện đại của người khác gộp lại
Sự mạnh mẽ, quyết liệt, chủ động trong thơ tình của Phan Thị Thanh Nhàn mặc dù không nhiều song cũng gây ấn tượng:
Nếu anh thật yêu em Sao anh không tặng hoa Nếu anh thật yêu em Sao anh không bỏ vợ
Cái tôi trữ tình trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn cũng có những đòi hỏi thật đáng yêu và táo bạo Khi yêu đàn bà thường nhẹ dạ và chân tình nên hay cầu toàn, có thể chỉ trong một chút khoảnh khắc của cuộc sống thôi mà cũng khó được toại nguyện Đã có lúc chị phải trăn trở:
Hay là yêu một chút Cho đỡ buồn rồi thôi
Hay cưới xin nghiêm túc
Đỡ đần nhau cuối đời
(Ngày tháng không quên - Phan Thị Thanh Nhàn)
Thiên chức đàn bà có lúc khiến chị muốn có một bến đỗ bình yên, nhưng sự nhạy cảm và tinh tế của người phụ nữ làm thơ dường như luôn khiến chị thấu hiểu tận cùng cái thói phong tình của kẻ khác giới
Sự chủ động, mạnh mẽ, quyết liệt đó trong tình yêu đến Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư tiếp tục được khai thác và thể hiện một cách “bạo liệt”, cụ
Trang 31thể và sinh động hơn Đây chính là một trong những nét hiện đại của thơ tình
Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư
Vi Thùy Linh đã không ngần ngại nói thẳng một cách mạnh mẽ về sự khát khao tình yêu thậm chí chị bày tỏ một tình yêu gắn với những khát vọng bản năng:
Em yêu anh như yêu hơi thở Vắng anh, em thở vào bàn tay, hơi thở có khói của nước mắt
và áp chặt bàn tay lên ngực
(Anh - Vi Thùy Linh)
Không như nàng Tô Thị chờ chồng, ôm hi vọng và nhẫn nhục chịu đựng, tình yêu đích thực phải có hai mặt trao và nhận, tận hiến và tận hưởng Nhân vật trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh yêu nồng nàn bao nhiêu thì cũng đòi hỏi được đền đáp lại bấy nhiêu:
Em mãi mãi muốn anh xiết chặt Đừng đánh thức em như trong truyện cổ
Em không hề mở mắt bởi tiếng khô khốc từ những hàm răng
va nhau qua cái hôn quá vội
(Anh và thời gian - Vi Thùy Linh)
Tất cả nhân vật trữ tình trong tập thơ KhÁt đều là những phụ nữ đang yêu hoặc đã yêu một cách cuồng nhiệt Họ được tôn vinh, được vỗ về, được yêu thương Họ luôn ý thức vượt thoát “tổ kén” của quá khứ, “tổ kén” kìm hãm những khát vọng riêng tư của người phụ nữ, cái “tổ kén” chối bỏ quyền đòi hạnh phúc, chối bỏ vị trí bình đẳng của họ đối với nam giới trong hành trình tìm kiếm và chiếm lĩnh tình yêu
Người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh sống rất thật với cảm xúc của bản thân Họ luôn chủ động trên con đường kiếm tìm hạnh phúc:
Giá như đôi mắt em lá khoai để nỗi nhớ buồn không ở lại
Trang 32Để em tìm đường anh về
Và trái tim em làm tổ giữa đời anh Quỳ trong đêm, em cởi mình…
(Nói với anh - Vi Thùy Linh)
Phan Huyền Thư rất mạnh mẽ và hiện đại trong thơ tình yêu Sự chủ động khát khao biểu hiện cái tôi trước cuộc đời, cái tôi bản thể mang tính khác biệt Phan Huyền Thư cho rằng: “ Nếu như khoảng 10 năm trước đây, nhắc đến nhà thơ là nhắc đến một khái niệm đi mây về gió, nghèo kiết xác và hay mơ mộng hão huyền thì giờ đây chúng tôi nổi loạn, cứng đầu, lập dị… Nhà thơ bây giờ đồng nghĩa với cá tính và khác lạ” Chính vì những suy nghĩ
đó mà cái tôi trong tình yêu rất quyết liệt, hiện đại:
Ngủ vùi trong anh Nhịp tim còn lảnh lót
đòi gỡ đòi buộc đòi tỉnh dậy đòi
do dự miên man;
(Do dự - Phan Huyền Thư)
Sự quyết liệt, chủ động trong tình yêu của người phụ nữ khi yêu luôn muốn “đòi” được sở hữu, “đòi‟ được hòa nhập vào nhịp tim của người mình yêu, “đòi” được làm tất cả vì tình yêu Đó cũng là điều mà không phải ai cũng làm được như Phan Huyền Thư
1.1.3 Tâm hồn phụ nữ đầy mặc cảm trước những bất trắc của đời sống và tình yêu
Thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư đều rất nhiều tâm trạng Bên cạnh những vần thơ hân hoan khi
Trang 33viết về hạnh phúc ngọt ngào, đắm say của tình yêu, người đọc còn thấy ở trong đó những suy tư, trăn trở, bất an, lo lắng của những nhà thơ nữ
Chu Văn Sơn đã từng gọi Xuân Quỳnh là nhà thơ của cái đẹp “lâm nguy”, bởi trong thơ tình yêu của chị, người ta bắt gặp cái tôi trữ tình - một phương thức thể hiện cái tôi tác giả luôn gắng gỏi đến hao mòn kiệt sức để cố níu giữ tình yêu, cái mà chị hằng tôn thờ đang có nguy cơ vượt thoát và tan
vỡ Nhưng dường như cái “tôi” ấy càng khát khao cháy nhiêu thì càng mang nhiều nỗi âu lo, dự cảm bấy nhiêu Trong cuộc đời đầy biến động, tình yêu quả là một cái gì đó thật mong manh, dễ vỡ và bao giờ cũng kèm theo đó nỗi khắc khoải không yên:
Em âu lo trước xa tắp đường mình Trái tim đập những điều không thể nói
(Tự hát - Xuân Quỳnh)
Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi
(Nói cùng anh - Xuân Quỳnh)
Ngay từ thuở ban đầu, khi tiếng thơ còn đầy sôi nổi, tưởng rằng chỉ có sự đắm say tin tưởng; nhưng thực chất, trong đó, người ta vẫn thấy gợi lên nỗi phấp phỏng, âu lo (tuy còn mơ hồ, chưa định hình rõ nét):
Mùa thu nay sao bão mưa nhiều Những cửa sổ con tàu chẳng đóng Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm
Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh
(Tự hát - Xuân Quỳnh)
Với Phan Thị Thanh Nhàn, đó là nỗi cô đơn đến tan nát cõi lòng, những
dự cảm chua xót, đắng cay và đơn độc:
Trang 34Bởi lòng tôi đã chết Bởi tình tôi đã tàn
Và bỗng nhiên nước mắt
Cứ bơ vơ chảy tràn
(Tạ lỗi - Phan Thị Thanh Nhàn)
Cái tôi trữ tình sống trong tình yêu nhưng dường như lúc nào cũng lo âu, bất ổn Cuộc sống cần có “anh” nhưng lại là niềm hy vọng mong manh, cứ ngỡ có anh bên cạnh, “cầm tay” rồi mà lại tan biến thành giấc mơ Sự hụt hẫng, mong mỏi trong tình yêu đã khiến cái tôi mang nhiều dự cảm, suy nghĩ Bản chất của tình yêu là hướng tới sự hòa đồng tuyệt đối, tình yêu càng mãnh liệt, càng muốn nó vĩnh hằng, bất biến Nhưng nỗi ám ảnh thời gian và ý thức sâu sắc về sự hữu hạn của kiếp người, nhất là giới hạn về quyền lực của tuổi trẻ, nhan sắc ở người phụ nữ lại buộc nhà thơ phải hoài nghi day dứt
Cái “tôi” trong thơ Vi Thùy Linh là một cái “tôi” luôn sống với những xúc cảm mãnh liệt, sẵn sàng thiêu đốt tới tận cùng Tuy nhiên, cũng có lúc, tình cảm lắng lại, bớt đi cái vẻ hoan ca, cái “tôi” ấy trở về với những miền sâu của tâm thức, không tránh khỏi “những phút xao lòng”, thiếu sự tin tưởng vào đích đến cuối cùng cũng như sự vĩnh hằng của tình yêu:
Không có chân trời cuối cho đường bay tình yêu Tạm vắng nhau nhiều đêm giương cánh
Chỉ có ân tình không gian tượng thanh
(Tình tự ca - Vi Thùy Linh)
Phan Huyền Thư cũng đã có lúc chới với:
Tay em không vươn tới những năm hai nghìn không chạm được người đàn ông gần nhất
(Van nài - Phan Huyền Thư)
Ngày ngày thất hứa Anh dũa nỗi buồn em muộn màng vô vọng
(Độ lượng - Phan Huyền Thư)
Trang 35Như vậy, với một tâm hồn chung của người phụ nữ, các chị đã bày tỏ sâu sắc những nỗi niềm, những suy tư, sâu lắng với những dự cảm âu lo trên con đường tình yêu Điều đó chứng tỏ càng khát khao yêu bao nhiêu kể cả khi đang yêu, khi đã có hạnh phúc nhưng họ vẫn lo sợ một ngày nào đó tình yêu sẽ xa rời họ Đó là những con người có trái tim nhạy cảm, đa cảm mang đặc trưng phái tính
1.1.4 Ý thức về thân phận và vị thế của “đàn bà” trong tình yêu
Với phẩm chất dịu dàng, đằm thắm, kín đáo, nhân hậu của người phụ nữ Việt các chị đã thể hiện trong thơ một cái “tôi” đầy nữ tính với tấm lòng bao dung, độ lượng, chấp nhận nhận về mình những thiệt thòi kể cả đắng cay để
có được hạnh phúc Nhưng trong những phút giây tĩnh lặng, trái tim nhạy cảm, mềm yếu đã không tránh khỏi cảm giác tủi thân, xót xa cho bản thân mình Cảm giác đó không phải đến thơ tình của thế hệ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư mới xuất hiện mà từ những bài ca dao xưa đã có những lời than thân, trách phận:
Thân em như tấm lụa đào
Đến Hồ Xuân Hương, bà cũng đã nhiều lần cất lên tiếng nói thương cảm cho thân phận người phụ nữ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Bánh trôi nước - Hồ Xuân Hương)
Đồng cảm với những nỗi xót xa, thiệt thòi mà người phụ nữ phải chịu, những nhà thơ nữ đã thấu hiểu và có những lời thơ đầy xúc động, cảm thông, chia sẻ Những vần thơ ấy khiến chúng ta, người đọc không khỏi nghĩ suy, đồng cảm với những nỗi ngậm ngùi của người phụ nữ:
Trang 36Anh là mặt trời em chỉ là hạt muối
Em bây giờ không anh…
(Một mình - Phan Thị Thanh Nhàn)
Xích đu rỗng đu lên đêm sâu
Em ngồi che khuyết bằng em Dòng xanh xao vì không được chảy Gió lên cơn vỡ cửa chắn hẹp hòi
(Bị động mùa thu - Vi Thùy Linh)
Nằm nghiêng ở trần thương kiếp nàng Bân ngón tay rỉ máu Nằm nghiêng
khe cửa ùa ra một dòng ấm
cô đơn Nằm nghiêng cùng sương triền đê đôi bờ
ỡm ờ nước lũ
(Nằm nghiêng - Phan Huyền Thư )
Trong xã hội ngày nay, người phụ nữ có quyền chủ động trong tình yêu song họ vẫn là người sẵn sàng nhận về mình những thiệt thòi để có thể bảo vệ, gìn giữ, duy trì hạnh phúc, tổ ấm của mình Vì thế trong những câu thơ của Xuân Quỳnh, Thanh Nhàn hay Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư vẫn giấy lên
sự xót xa, ngậm ngùi cho những thiệt thòi mà người phụ nữ phải chịu đựng
Trang 37Trong thơ của các chị về mặt này có nhiều điểm tương đồng và gặp gỡ trong xúc cảm, song ở mỗi phương diện cụ thể, giữa chúng lại có những sắc thái biểu hiện khác nhau Trên cùng một chất nền nhưng hai thế hệ đã có cách thể hiện và khai thác khác nhau Đây cũng chính là yêu cầu, quy luật của sáng tạo nghệ thuật, là điều kiện để tác phẩm có thể tồn tại theo thời gian, đứng vững trong lòng công chúng
1.2 Cái “tôi” trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh và Phan Thị Thanh Nhàn -
sự kết hợp hoàn hảo giữa truyền thống, nhuần nhị, dân tộc và mới mẻ, mạnh mẽ
Trong những năm tháng gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, thơ ca trở thành một thứ vũ khí tinh thần, một sức mạnh gián tiếp tham gia vào cuộc chiến đấu Thời kỳ này xuất hiện rất nhiều nhà thơ tên tuổi như Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ
Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn… Đặc biệt thế hệ các nhà thơ nữ đã góp một phần không nhỏ tiếng nói thơ ca cổ vũ, động viên, khích lệ nhân dân trong cuộc kháng chiến đó Các sáng tác của họ đã thể hiện sâu sắc cảm hứng lớn về quê hương, đất nước trong những năm tháng chiến tranh với rất nhiều biểu hiện cụ thể mang chiều sâu tư tưởng, giá trị nhân sinh Đồng thời với cái nhìn mang thiên tính nữ các chị đã nói lên được giá trị hạnh phúc đời thường được sinh
ra ngay từ trong chiến tranh khói bom lửa đạn
Sau khi đất nước thống nhất, thơ nữ tiếp tục nở rộ với những sáng tác của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Đoàn Thị Lam Luyến…Sau bao nhiêu năm sống trong chiến tranh với những mất mát đau thương, người phụ nữ được trở về sống “đúng nghĩa” của mình Họ được sống với thiên chức làm vợ, làm mẹ Chính vì thế trong thời kì này cảm xúc chính trong thơ lại là cảm xúc của người đàn bà trong tình yêu, tổ ấm gia đình Đã xuất hiện hình ảnh những người phụ nữ dám sống hết mình cho tình yêu:
Trang 38Nhưng em sẵn sàng làm chiếc que Dám đốt cả trái tim diêm sinh bé xíu Cháy đến tận cùng của thân tăm trắng trẻo
Dù kiếp tàn nhưng hiểu: đã được yêu
(Diêm - Nguyễn Kim Anh)
Cùng với đó là những bộn bề lo toan cho cuộc sống hàng ngày:
Em đối mặt với ồn ào của đời thường Chẳng nhàn hạ gì hơn con gà đi kiếm ăn Con chim đi tha rác
(Đối mặt với đời thường - Nguyễn Thị Hồng Ngát)
Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn đã thể hiện tính truyền thống của thơ
nữ thời kì kháng chiến chống Mỹ trên nhiều bình diện cụ thể khác nhau song tập trung chủ yếu ở hai phương diện: Thứ nhất là cái tôi luôn ngập tràn tình yêu thương, tấm lòng bao dung vị tha, tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng sống, cống hiến, hiến dâng hết mình cho tình yêu Thứ hai là cái tôi rất mạnh mẽ, táo bạo hiện đại trong tình yêu nhưng vẫn luôn giữ được sự nhuần nhị, nữ tính, truyền thống
1.2.1 Tâm hồn phụ nữ với những thiên hướng điển hình: yêu thương, vị tha, hy sinh, dâng hiến
Với Phan Thị Thanh Nhàn, không phải đã không có lúc chị muốn tìm một
bờ vai để nương tựa, sẻ chia, nhưng việc đi tìm một người đàn ông cho riêng mình thật khó Với người đàn bà làm thơ, tìm được người đồng cảm và sẻ chia
đã khó huống hồ với chị đã yêu và đam mê, trọn lòng cho tình yêu ấy Bởi thế
mà chị dễ bị tổn thương khi động chạm vào kỷ niệm, biết là không thể mà chị vẫn nhắn gửi với người ấy:
Nếu anh đi với người yêu Chỉ xin anh nhớ một điều nhỏ thôi
Trang 39Con đường ta đã dạo chơi Xin đừng đi với một người khác em
(Con đường - Phan Thị Thanh Nhàn)
Còn với Xuân Quỳnh, tình yêu thương, lòng vị tha, tinh thần trách nhiệm
và sẵn sàng dâng hiến luôn tràn ngập trong thơ chị:
Xin cho em được chia sẻ cùng anh
Vị bứa ngọt, vị măng vầu đắng ngắt Trận gió núi tiếng suối ngàn đêm vắng Mái rạ vàng trong nắng lúc chia tay
(Kỷ niệm của người lính cũ - Xuân Quỳnh)
Xuân Quỳnh khát khao được thâu trọn trái tim người mình yêu, mong ước có một mái ấm gia đình hạnh phúc, có một người chồng làm chỗ dựa cho cuộc đời chị Chị sẵn sàng chia sẻ mọi vui buồn đắng cay trong cuộc sống cùng người mình thương yêu Những khát khao này đủ để chứng minh cho tình yêu thiết tha cháy bỏng mà Xuân Quỳnh dành cho tổ ấm của mình Chị chủ động trở thành người che chở cho tình yêu Xuân Quỳnh không chỉ làm thơ hát ru con, hát ru trẻ thơ, người phụ nữ đầy vẻ đẹp nữ tính ấy còn hát ru chồng những đêm chồng khó ngủ:
Anh không ngủ được ư anh
Lặng sao cái gió mặt hồ
(Hát ru chồng những đêm khó ngủ - Xuân Quỳnh)
Để chồng có giấc ngủ ngon, Xuân Quỳnh đã lựa lời dịu nhẹ với hy vọng
sẻ chia, gánh đỡ những trăn trở, ưu tư của chồng Có thể nói trong thơ Việt Nam, hát ru chồng là một tứ thơ độc đáo, trước Xuân Quỳnh chưa từng có Lời ru đó như mang tâm hồn nữ tính của dân tộc Nó bảo tồn, nuôi dưỡng sự lạc quan,
Trang 40lòng nhân hậu vị tha Lời ru khiến cho tất cả trở thành đối tượng yêu thương của Xuân Quỳnh
1.2.2 Cái “tôi” trữ tình vừa kín đáo, chừng mực, truyền thống vừa mạnh
mẽ, nồng nàn, chủ động
Dù tỏ ra táo bạo, mạnh mẽ, hiện đại trong cách thể hiện tình yêu nhưng cái
“tôi” trữ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn vẫn có sự khiêm nhường,
vẻ nhuần nhị, đằm thắm và nét nữ tính truyền thống
Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn là bài thơ đã làm lên tên tuổi chị khi
mới là cô gái 26 tuổi Bài thơ là biểu tượng cho một tình yêu nhẹ nhàng, trong sáng, đầy nữ tính nhưng cũng không kém phần khao khát của mối tình đầu:
Cô gái chẳng dám trao
Người phụ nữ trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn thật nhẹ nhàng, nữ tính
Khát khao được yêu nhưng còn ngần ngại, e dè Hương thầm đúng là mối tình
trong sáng của những tâm hồn chưa tì vết Phải khéo và tinh tế lắm mới diễn tả được cái tình ý nhị, đẹp đẽ như vậy Sau này, những bài thơ chị làm cho những