Lấy đối tượng nghiên cứu là 06 tiểu thuyết được giải thưởng văn học của Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 làm cứ liệu để nghiên cứu sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ở phương diện ngh
Trang 1Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Trà My - người đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy, cô trong tổ Lí luận văn học, phòng Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…, đã luôn động viên, giúp đỡ tôi để luận văn được hoàn thành
Hà Nội, tháng 7 năm 2013
Tác giả
Lương Xuân Thành
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Dự kiến đóng góp 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 TRẦN THUẬT VÀ ĐỔI MỚI TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SỬ THI 10
1.1 Về khái niệm “trần thuật” 10
1.2 Đổi mới trần thuật trong tiểu thuyết sử thi 11
1.2.1 Cái nhìn chung về tiểu thuyết sử thi 1945 – 1986 11
1.2.2 Những nét đổi mới cơ bản trong tiểu thuyết sử thi 2004 – 2009 16
CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT 20
2.1. Khái niệm cảm hứng và cảm hứng trần thuật 20
2.1.1 Khái niệm “cảm hứng chủ đạo” 20
2.1.2 Cảm hứng trần thuật trong tiểu thuyết sử thi 20
2.1.2.1 Cảm hứng sử thi 20
2.1.2.2 Cảm hứng thế sự - đời tư 22
2.1.2.3 Cảm hứng bi kịch 26
2.2 Điểm nhìn trần thuật 31
2.2.1 Sự dịch chuyển, thay đổi điểm nhìn trần thuật 33
2.2.2 Sự luân chuyển điểm nhìn giữa người kể chuyện và nhân vật 35
2.2.3 Các phương thức trần thuật chủ yếu 38
Trang 32.2.3.2 Thủ pháp đồng hiện 41
CHƯƠNG 3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 44
3.1 Ngôn ngữ, lời văn trần thuật 45
3.1.1 Ngôn ngữ đặc tả không gian chiến trường 45
3.1.2 Ngôn ngữ trữ tình giàu chất thơ 48
3.1.3 Ngôn ngữ dân dã đời thường 50
3.2 Lời văn trần thuật của người kể truyện 52
3.2.1 Lời văn miêu tả 52
3.2.1.1 Lời văn miêu tả thiên nhiên 52
3.2.1.2 Lời văn miêu tả nhân vật 66
3.2.2 Lời văn kể 68
3.2.3 Lời phân tích, bình luận 71
3.2.4 Lời độc thoại nội tâm 72
3.2.4.1 Lời độc thoại nội tâm khắc họa tâm lý, tính cách nhân vật 75
3.2.4.2 Tổ chức độc thoại nội tâm dưới dạng lời nói nửa trực tiếp 75
3.2.5 Các phép tu từ trần thuật 77
3.2.5.1 Biện pháp so sánh 78
3.2.5.2 Biện pháp nhân hoá 83
3.2.5.3 Biện pháp tương phản 86
3.3 Giọng điệu 88
3.3.1 Giọng xót xa thương cảm 89
3.3.2 Giọng hoài nghi chất vấn 97
KẾT LUẬN 102
TƯ LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ gian khổ,
ác liệt rồi đến chiến tranh biên giới Tây Nam, cả dân tộc ta đã phải đổ biết bao máu và nước mắt để gành lại độc lập tự do và chủ quyền đất nước Mà chiến tranh thì luôn gắn liền với mất mát đau thương, chiến tranh đã trở thành nguồn cảm hứng cho văn học sáng tạo ra những tác phẩm mang ý nghĩa vừa phản ánh cuộc sống, vừa đi sâu tìm hiểu, khám phá và phân tích tâm trạng, tình cảm của con người Chính vì thế đề tài chiến tranh luôn là một đề tài chiếm vị trí quan trọng của văn học Việt Nam
Sau năm 1975, chiến tranh không còn là đề tài chiếm vị trí quan trọng
số một như trước nữa Tuy nhiên nó vẫn là đề tài thu hút nhiều thế hệ cầm bút, kể cả thế hệ nhà văn trẻ, sinh ra và lớn lên khi chiến tranh đã trở thành lịch sử Nhiều nhà văn hôm nay vẫn tiếp tục quan tâm tới đề tài này bởi không
ở đâu, trong tình huống nào, con người bộc lộ rõ nét như trên chiến trường Vì thế tìm hiểu về văn học chiến tranh luôn là việc cần thiết
Cuộc vận động sáng tác văn học của Bộ Quốc phòng diễn ra 5 năm một lần, cuộc thi gần đây nhất, 2004 - 2009 đã thu được nhiều thành tựu đáng khích lệ Trong đó, đáng kể hơn cả là thành tựu ở thể loại tiểu thuyết có thể nói những tác phẩm này góp thêm cái nhìn mới, cái nhìn đa diện, cái nhìn khá đầy đủ, trung thực về chiến tranh Do vậy, qua những tác phẩm này chúng ta phần nào thấy được sự vận động của văn học Việt Nam hôm nay nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng
1.2 Tiểu thuyết là thể loại văn học tiêu biểu cho loại hình tự sự, đóng vai trò chủ lực trong nền văn học hiện đại Với đặc trưng thi pháp, phương thức trần thuật riêng của mình, tiểu thuyết chiếm lĩnh, khái quát hiện thực
Trang 5cuộc sống một cách đa chiều và phong phú Sự vận động của tiểu thuyết đánh dấu chân thực sự vận động của một nền văn học Trong sự vận động chung của nền văn học Việt Nam hiện nay, tiểu thuyết đang nỗ lực chuyển mình nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại Nhiều cây bút tiểu thuyết đã có ý thức cách tân trong cách nhìn và trong lối viết, có những tác phẩm thành công hoặc đang trên đường tìm tòi, thể nghiệm Tất cả đều hướng tới việc làm mới, làm hấp dẫn văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng
Lấy đối tượng nghiên cứu là 06 tiểu thuyết được giải thưởng văn học của Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 làm cứ liệu để nghiên cứu sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ở phương diện nghệ thuật trần thuật, chúng tôi
hy vọng phần nào làm sáng tỏ những tìm tòi đóng góp của các tác giả về một trong những nghệ thuật cơ bản của tiểu thuyết sử thi
1.3 Là một giáo viên làm công việc giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông, thông qua đề tài này chúng tôi mong muốn hiểu hơn về chiến tranh
để từ đó giảng dạy sâu hơn về tiểu thuyết sử thi, sâu hơn về cách sống, lẽ sống của con người Việt Nam
Trang 6Ngay từ năm 1994, Tôn Phương Lan trong bài viết Chiến tranh qua những tác phẩm văn xuôi được giải (của Hội nhà văn và Bộ quốc phòng,
1994) đã nhận thấy “con người trở thành đối tượng của cả người viết lẫn người đọc và hiện thực chiến tranh với đầy đủ tính chất ác liệt của nó đã hiện lên qua số phận và thế giới nội tâm của con người Được xây dựng trong nhiều mối quan hệ đời thường, có tốt - xấu, có yêu thương - căm giận có cả cái thấp hèn, nhân vật trong các tác phẩm văn họ nên gần gũi với con người hiện tại… Người lính, hình ảnh lý tưởng của các tiểu thuyết dưới đây thì bây giờ họ vừa mang vẻ đạp , phẩm chất cao quý của anh bộ đội cụ Hồ đồng thời lại có cả những biểu hiện đời thường thậm chí cả những sai lầm, hèn nhát, phản bội Nhân vật kẻ thù cũng được “cải tạo cấu trúc bên trong với một quan niệm nghệ thuật toàn diện hơn, miêu tả theo bút pháp hiện thực tỉnh táo” Tôn Phương Lan đưa ra nhận định chung về đổi mới tiểu thuyết “… việc
đi vào khám phá những diễn biến tâm lý trong quy luật phát triển tình cảm của từng nhân vật và đưa ra cách giải mã khác nhau trước một hiện thực đời sống phức tạp, bộn bề, nơi mà các số phận cụ thể của từng con người khác nhau gắn kết vào số phận của dân tộc, đã trở thành một hướng tìm tòi phổ biến vào những năm trước và sau 1990”(Tạp chí văn họ số 12, 1994)
Đi tìm sự đổi mới quan niệm về con người từ đó khám phá sự đổi mới
một số thủ pháp nghệ thuật khác, trong bài: “Sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới” (Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 1 – 2002), tác giả Lý Hoài Thu viết: “Đề tài chiến tranh với quy mô hiện thực
rộng lớn nhiều tầng, nhiều mảng, nhà văn vẫn xoáy sâu vào những vấn đề cốt yếu của đời sống thông qua tiêu điểm nhân vật… Cũng là người lính, người
mẹ, người vợ nhưng giờ đây họ được soi rọi từ nhiều góc độ khác nhau, được đặt vào trong nhiều vòng quay của cuộc đời, kể cả những vòng xoáy nghiệt ngã nhất Nhân vật không còn mờ nhạt đơn điệu mà có sự kết hợp giữa hình
Trang 7dạng và nội tâm, giữa ý thức và vô thức, giữa dục vọng bản năng và ước mơ thánh thiện… Thế giới của nhân vật tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đa phần nhuốm màu bi kịch, ai cũng có những giai đoạn gập ghềnh chông gai, những nỗi niềm trắc ẩn, những thua thiệt mất mát, nhưng đó là những bi kịch mang ý nghĩa thức tỉnh, luôn hướng tới hoàn thiện nhân cách”
Cụ thể hơn khi bàn về cách kể, cụ thể là nghiên cứu về kết cấu và
phương thức trần thuật, trong tập phê bình “Đi cùng văn học” nhận xét về Những bức tường lửa, tác giả Nguyễn Thanh Tú nhấn mạnh đến kết cấu phá
vỡ truyền thống… kết hợp với tăng cường bổ sung điểm nhìn”, các điểm nhìn dịch chuyển, luân phiên tạo nên cái nhìn đa chiều “Nhà văn cho xuất hiện bốn điểm nhìn chính, vận dụng thủ pháp lắp ghép của điện ảnh”, “Câu văn ngắn có chỗ bị phá ra vỡ vụn, không thấy sự làm văn, làm dáng của câu văn” Đáng chú ý và ghi dấu ấn ở bạn đọc đó chính là “giọng điệu ngợi ca tôn kính (sử thi) lẫn suồng sã, dân dã thông tục (giải sử thi)” Năm 2009, cũng tác giả
này, trong cuốn Văn học và người lính nhận định: “Các nhà tiểu thuyết hôm
nay đã không quan niệm kẻ thù không chỉ ở phương diện thú tính mà còn nhìn
họ ở cả phần nhân tính Điều ấy góp phần nới rộng thêm, làm sâu sắc thêm quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết hôm nay” Bàn về vấn đề dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh từ 1986 – 1996, Nguyễn thị Xuân Dung nhận xét: “Trong tiểu thuyết về chiến tranh từ 1986 – 1996 ta thấy hầu như tác phẩm nào cũng có đề cập đến chuyện bản năng, tình yêu – tình dục của con người và thể hiện nó một cách tự nhiên chân thực Điều đó càng phản ánh một cách rõ hơn bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con người trong hiện thực tàn bạo ấy, qua đó hợp lý hóa đời sống bản năng của con người, đè cao nó trong tinh thần nhân văn cao đẹp, lên
án, phê phán chiến tranh là một thế lực phi nhân tính đã tước đoạt, cướp mất quyền được sống với chính những nhu cầu bình thường và thiết yếu của họ
Trang 8Đây là một biểu hiện mới, một cách tân mới về mặt quan điểm khi viết về chiến tranh đã qua Dục vọng bản năng của con người được miêu tả khá nhiều nhưng không phải để phê phán mà là tố cáo chiến tranh với sự tàn phá hủy diệt nghê ngớm của nó không cho con người có quyền được sống như chính
họ khao khát Vì thế, đó là biểu hiện của tư tưởng nhân văn cao đẹp, là tiếng nói cho khát vọng của con người Cùng với cách nhìn này, Nguyễn Thanh Tú
trong Văn học và người lính cũng khẳng định “Tiểu thuyết hôm nay phá vỡ
bức tường kiêng kỵ đó để đi sâu vào miền bản năng của người lính để tìm hiểu những vẻ đẹp, tình cảm riêng tư những khát khao tình dục rất đời thường của con người”
Sự đổi mới của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hiện nay các nhà nghiên cứu hầu hết đầu xuất phát từ vấn đề điểm nhìn Nhận định chung về tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Mai Hải Oanh cho rằng “Bên cạnh những tác phẩm thiết tạo điểm nhìn quen thuộc là những hình thức điểm nhìn mới trong
đó đáng chú ý là biểu hiện tương nổi bật; sự dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật; sự luân phiên điểm nhìn người trần thuật và nhân vật; gấp bội điểm nhìn” Cùng quan điểm trên, khi tìm hiểu điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, Trần Tố Loan, đã chỉ ra rằng “Nguyễn Đình Tú rất có ý thức trong việc đặt điểm nhìn không gian, thời gian, nhưng có thể nói điểm nhìn tác giả và nhân vật mới là điểm nhấn đáng chú ý nhất trong nghệ thuật kể chuyển của anh” Về điểm nhìn không gian để “nhìn ngắm” nhân vật
của mình vào trong đó Ở Bên dòng Sầu Diện trường nhìn của nhà văn đặt vào
thị trấn An Lạc – thị trấn Nét Mặt Buồn nằm lọt thỏm giữa núi Cô hồn và dòng Sầu Diện, trong đó có những không gian nhỏ như xóm đáy, xóm khơ
me, phố tứ phủ
Trong không gian ám ảnh và có tên gọi gắn với huyền thoại ấy, nhà văn
kể câu chuyện về cuộc đời nhân vật Minh Việt từ khi ra đời.Về điểm nhìn thời
Trang 9gian trong các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú thường là hiện tại – quá khứ hoàn thành, quá khứ - hiện tại tiếp diễn Tuy nhiên, điểm nhìn tác giả và nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú mới là điểm được Trần Tố Loan đánh
giá cao Ở Bên dòng Sầu Diện nhà văn đã để cho các nhân vật luân phiên kể
chuyện của mình lúc xưng tôi, lúc xưng tên Ngoài việc dịch chuyển điểm nhìn từ người trần thật sang nhân vật chính tác giả còn sử dụng điểm nhìn của các nhân vật phụ hỗ trợ cho dòng tự sự chính”
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều có nhận định rằng tiểu thuyết sử thi hôm nay đa dạng, phong phú về hình thức biểu hiện, chân thực, táo bạo với nhiều suy ngẫm nhiều đào xới, khám phá hơn trong nội dung Tiểu thuyết về
đề tài chiến tranh hôm nay đã vượt qua giới hạn lịch sử của tiểu thuyết sử thi giai đoạn 1945-1975 để tiếp cận với những mảng mầu đời sống chưa được khám phá trong và sau chiến tranh
Một trong những công trình nghiên cứu khá sâu và gần đây nhất về tiểu
thuyết chiến tranh được giải của Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 là luận văn Tiểu thuyết Việt Nam 2004 – 2008 về đề tài chiến tranh của Nguyễn Thị Duyên
Người viết đã khái quát những đặc điểm của thể loại tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh trong những năm gần đây trên các phương diện: thế giới nhân vật, kết cấu và phương thức trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ Luận văn của Nguyễn Thị Duyên đã ít nhiều chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh trên cứ liệu những tiểu thuyết được giải thưởng của Hội nhà văn Bộ Quốc phòng từ 2004 – 2008 Tiếp đến là luận văn
“Đổi mới kết cấu tiểu thuyết 2004 – 2009 về đề tài chiến tranh” của Lê Thị
Thu Huyền cũng đi theo hướng này, đi tìm những đổi mới về mặt tổ chức kết cấu của tác phẩm ở cấp độ hình tượng nhân vật người lính và nhân vật kẻ thù, đổi mới ở cách thức tổ chức thời gian, không gian; và đổi mới ở các hình thức
tổ chức điểm nhìn, ở giọng điệu và cảm hứng trong tác phẩm
Trang 10Luận văn: “Sự vận động của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975 – từ góc nhìn nhân vật” của Ngô Thị Hải Vân đã đưa ra cái nhìn khái quát
những đặc điểm về nội dung cũng như nghệ thuật của thể loại trên một số phương diện: Hình tượng người lính – những nét đổi mới cơ bản từ phương diện loại hình nội dung Và Hình tượng người lính – những nét đổi mới chủ yếu từ phương diện hình thức
Về Nghệ thuật trần thuật trong những tiểu thuyết giai đoạn 2004 - 2009
vẫn chưa có một công trình, bài viết nào bàn đến một cách cụ thể, chuyên biệt, phần lớn các nhà nghiên cứu mới chỉ đề cập đến vấn đề này một cách khái quát hay nhỏ lẻ qua một số ý kiến ngắn hoặc qua một vài mục nhỏ trong công trình nghiên cứu của mình mà thôi
Từ kết quả của các bài viết, của các nhà nghiên cứu, các nhà phê bình cũng như các thế hệ đi trước, chúng tôi tiếp nhận một cách có chọn lọc những gợi mở, những số liệu, nhận xét đánh giá để triển khai nghiên cứu một cách
toàn diện và hệ thống hơn vấn đề Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết
2004 - 2009 về đề tài chiến tranh trên cứ liệu 06 tiểu thuyết đạt giải thưởng
Văn học của Bộ Quốc phòng
3.3 Nhận diện và cắt nghĩa sự xuất hiện của các yếu tố cấu thành của trần thuật trong tiểu thuyết: cảm hứng, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật
Trang 114 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ của một luận văn cao học, chúng tôi xin chỉ tập trung nghiên cứu 06 tiểu thuyết được nhận giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng từ
2004 đến 2009 Cụ thể là các tác phẩm sau:
Thượng Đức (Nguyễn Bảo Trường Giang)
Mùa hè giá buốt (Văn Lê)
Xiêng Khoảng mù sương (Bùi Bình Thi)
Màu rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy)
Tiếng khóc của nàng Út (Nguyễn Chí Trung)
Bên dòng Sầu Diện (Nguyễn Đình Tú)
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết 2004 – 2009 viết về đề tài chiến tranh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp lịch sử - hệ thống
Đặt tiểu thuyết về đề tài chiến tranh trong bối cảnh nền văn học thời kì đổi mới nói chung, tiểu thuyết Việt Nam nói riêng để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn
Đề tài được đặt trong hệ thống các tác phẩm đạt giải của Bộ Quốc phòng từ 2004 – 2009 để xem xét, đánh giá, phát hiện những đóng góp về nghệ thuật trần thuật
5.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Việc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật của tác phẩm cần phải có thao tác phân tích, tổng hợp để làm rõ những đặc điểm và giá trị biểu hiện
Trang 125.3 Phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh
Để việc phân tích, đánh giá có căn cứ xác thực, khi cần thiết chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại để tìm ra những điểm đặc sắc của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết chiến tranh
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo; Nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương I: Trần thuật và đổi mới trần thuật trong tiểu thuyết sử thi Chương II: Cảm hứng và điểm nhìn trần thuật
Chương III: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TRẦN THUẬT VÀ ĐỔI MỚI TRẦN THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT SỬ THI
1.1 Về khái niệm “trần thuật”:
Chúng tôi nhận thấy cho đến hôm nay (2012) thuật ngữ trần thuật vẫn được giới nghiên cứu chủ yếu lấy từ cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, 1992,
Nxb Giáo dục, của nhóm chủ biên: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi làm công cụ để cắt nghĩa đối tượng nghiên cứu, dĩ nhiên chúng tôi cũng không thể khác, vẫn lấy từ điển này làm công cụ tra cứu:
“Phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định” Cũng từ điển này nói rõ “thành phần của trần thuật không chỉ là lời thuật, mà chức năng của nó không chỉ là
kể việc Nó bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả…” Về vai trò, thì “trần thuật gắn liền với toàn bộ công việc bố cục, kết cấu tác phẩm Tác phẩm dù kể theo trình tự nhân quả hay liên tưởng, kể nhanh hay chậm, kể ngắt quãng rồi bổ sung, thì trần thuật là cả một hệ thống
tổ chức phức tạp nhằm đưa hành động, lời nói nhân vật vào đúng vị trí của nó
để người đọc có thể lĩnh hội theo ý định tác giả…”
Như vậy, xét đến cùng trần thuật là cách kể, thể hiện ở các phương diện sau: người kể (chỉ có người ấy kể thì mới câu chuyện mới hay, mới lôi cuốn); hình thức kể (tự sự, trữ tình, kịch); nội dung kể (kể cái gì); kể lúc nào (câu
Trang 14chuyện ma quái thì kể về đêm sẽ tăng cường thêm sự rùng rợn); lời văn kể, giọng điệu kể…
1.2 Đổi mới trần thuật trong tiểu thuyết sử thi:
1.2.1 Cái nhìn chung về tiểu thuyết sử thi 1945 – 1986
Vẫn theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết sử thi là những tác
phẩm “có dung lượng lớn, thể hiện những đề tài lịch sử dân tộc Những tác phẩm này vừa là tiểu thuyết, đồng thời vừa có nhiều thuộc tính gần gũi với thể loại sử thi cổ đại hoặc trung đại…” Chúng tôi hiểu tiểu thuyết sử thi là những tác phẩm lấy nội dung lịch sử - dân tộc làm đề tài sáng tạo với cảm hứng chủ yếu là cảm hứng anh hùng, ngợi ca sự nghiệp cách mạng và những con người anh hùng của dân tộc Như vậy sự phát triển của tiểu thuyết sử thi Việt Nam luôn gắn liền với những biến động lịch sử của dân tộc, của thời đại Văn học
là tấm gương phản ánh lịch sử nhưng có lẽ tiểu thuyết sử thi là thể loại nhạy cảm hơn cả với bước đi của lịch sử, với những sự kiện lịch sử
Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 1948 với bản báo cáo Chủ nghĩa Mác
và vấn đề văn hóa Việt Nam đã mở ra một triển vọng, một hướng đi cho nền
văn học mới Đó cũng chính là tiền đề lý luận để tiểu thuyết sử thi Việt Nam hình thành và phát triển Chúng ta đã có những thành quả đầu tiên của thể loại
văn học này với Vùng mỏ (Võ Huy Tâm), Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) Các tác phẩm này đều giành được Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam các năm 1951 - 1952 và 1954 - 1955 Được viết với cảm hứng ngợi ca hồn nhiên nên tiểu thuyết sử thi giai đoạn này mới chỉ dừng lại
miêu tả những cái bên ngoài của sự kiện, của nhân vật, nhất là hình tượng nhân vật tập thể chứ chưa đi sâu vào lý giải bản chất bên trong sự kiện hay phân tích tính cách nhân vật Dưới cái nhìn của ngày hôm nay chúng ta dễ thấy các tác giả thời đó ý thức rất cao về nhiệm vụ chính trị, về tinh thần dân tộc nhưng ý thức về giai cấp còn mơ hồ, nói như nhận xét của Ban chấm Giải
Trang 15thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1945 - 1955 là các tác phẩm “chưa nêu rõ vấn
đề đấu tranh chống phong kiến, vạch rõ những quan hệ và sự câu kết giữa đế
quốc và giai cấp phong kiến” (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại - Nxb Giáo dục)
Thành công của các tác phẩm này là miêu tả khá sinh động sức mạnh của quần chúng tập thể, cao hơn là sức mạnh của toàn dân tộc đang cùng một lòng đứng lên đánh giặc Pháp theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, đã góp phần tích cực trong việc phản ánh cổ vũ động viên cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện gian khổ và cực kỳ anh dũng của quân dân ta trong những năm đầu đánh Pháp Có thể nói sự hồn nhiên trong tư duy (cả về nội dung và hình thức) là một đặc điểm riêng của tiểu thuyết sử thi được viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Đỉnh cao của tiểu thuyết sử thi viết về cuộc kháng chiến chống Pháp là
Đất nước đứng lên (1956) của Nguyên Ngọc Sự bứt phá về đối tượng miêu
tả, về nội dung phản ánh và cách biểu hiện của tác giả là rất đáng khâm phục Tác phẩm lấy bối cảnh cuộc kháng chiến của dân tộc BaNa (Tây Nguyên) đánh Pháp kiên cường bất khuất nhưng người đọc nhận thấy đó là cả một cuộc đấu tranh vĩ đại được thu nhỏ của cả dân tộc Việt Nam này Thành công của tác phẩm ngoài tính điển hình phổ quát còn phải kể đến một tư duy tiểu thuyết khá già dặn ở chỗ nhà văn đã xây dựng một tính cách anh hùng của nhân vật Núp với quá trình phát triển biện chứng lô gích, được viết bởi một
bút pháp sử thi vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất thơ Đất nước đứng lên
xứng đáng là một đỉnh cao không chỉ của văn học kháng chiến chống Pháp
mà còn là của cả dòng tiểu thuyết sử thi Việt Nam viết về hai cuộc kháng chiến vĩ đại
Sự xuất hiện của Đất nước đứng lên và âm hưởng vang dội của tiếng
súng Đồng Khởi đầu những năm 60 của thế kỷ XX là những “cú hích” để tiểu
thuyết sử thi phát triển mạnh mẽ Hàng loạt tiểu thuyết ra đời: Một truyện chép
Trang 16ở bệnh viện (1959), Trước giờ nổ súng (1960), Sống mãi với Thủ đô (1961), Cao điểm cuối cùng (1961), Những người cùng làng (1961), Làng tề (1962), Một chặng đường (1962), Trên mảnh đất này (1962), Phá vây (1963), Đất lửa
(1963) Theo thống kê của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, riêng trong 3 năm
1960, 1961, 1962 có hơn 20 cuốn tiểu thuyết xuất bản, mỗi cuốn phát hành
trên dưới một vạn bản (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại - Nxb Giáo dục, 2000,
trang 143) Nhưng có lẽ nguyên nhân quan trọng hơn cả là vị thế dân tộc lúc này đang ở tầm cao của vũ đài chính trị thế giới Sau khi chúng ta thắng Pháp với trận Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”, cả thế giới nhìn chúng ta với con mắt cảm phục, ngưỡng mộ Đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược miền Nam Cả nước ta lại đoàn kết thành một khối “xẻ dọc Trường Sơn
đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu) Chưa bao giờ
“không khí sử thi” lại bừng bừng mạnh mẽ như lúc bấy giờ Những tiểu thuyết sử thi nguyên khối, tinh chất, không pha tạp ra đời như là một sự tất
yếu: Vào lửa (1966), Hòn Đất(1966), Cửa sông (1967), Gia đình má Bảy (1968), Ở xã Trung Nghĩa (1969), Rừng U Minh (1970), Đường trong mây (1970), Vùng trời (1971), Đất Quảng (1971), Dấu chân người lính (1972), Thôn ven đường (1973), Mẫn và tôi (1972), Cảm hứng sử thi hào sảng đã
tạo ra những nhân vật đậm chất lý tưởng Nhân vật như một vầng hào quang trên bầu trời sử thi tỏa chiếu ánh sáng lý tưởng soi dọi, hướng bạn đọc đi về phía cái cao cả, cái anh hùng Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ, đỉnh cao của
tiểu thuyết sử thi Việt Nam từ 1945 đến 1975 Dấu chân người lính (Nguyễn
Minh Châu) có thể coi là một thành tựu của văn học Việt Nam hiện đại, ngoài
sự thành công xây dựng những điển hình anh hùng thời chống Mỹ (Kinh, Lữ), tiểu thuyết còn thể hiện đợc cả tinh thần của thời đại: cả dân tộc một lòng đứng dậy đánh giặc
Trang 17Sau 1975 đất nước sạch bóng ngoại xâm, cả nước bước vào thời kỳ mới
và bắt đầu phải đối phó với bao nỗi khó khăn ngổn ngang phức tạp của thời bình Có thể coi những năm từ 1975 đến 1985 là thời kỳ văn học diễn ra sự đổi thay ở chiều sâu với những trăn trở vật vã tìm tòi thì từ năm 1986 đến
1992 là thời kỳ đổi mới diễn ra rõ rệt trong đời sống văn học mà biểu hiện cụ thể là hàng loạt những tác phẩm gây xôn xao dư luận bởi những cách viết
mới về những vấn đề mới: Thời xa vắng (1968), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Thân phận của tình yêu (1990), Bến không chồng (1990), Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990), Ăn mày dĩ vãng (1992), Tiểu thuyết sử thi
cũng nằm trong mạch vận động chung ấy của văn học nhưng do đặc trưng thể loại mà sự biểu hiện cách tân lại mang những sắc thái riêng Những bộ tiểu
thuyết như Đất trắng (1979, 1984), Đất miền Đông (1984 1985), Người cùng quê (1985), Mảnh đất tình yêu (1987), Chim én bay (1988), Ông cố vấn (1988), Ăn mày dĩ vãng (1992), là những tác phẩm thể hiện rõ hơn cả những
dấu hiệu tìm tòi đổi mới của thể loại Cảm hứng sử thi vẫn là cảm hứng chủ đạo nhưng nó không còn địa vị độc tôn mà xen vào đó là những “tạp âm”, rõ
hơn cả là cảm hứng bi kịch Độ lùi thời gian cho phép nhà tiểu thuyết nhìn về
chiến tranh bằng nhiều góc độ khác nhau Lúc này đã cho phép họ không né tránh những tổn thất, mất mát, hi sinh, đầu hàng, phản bội Đó là những điều thường có trong chiến tranh Vấn đề là nhà văn viết với thái độ nào, tâm thế
nào Với cảm hứng bi kịch về một hiện thực dữ dội khốc liệt, tiểu thuyết Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh đã miêu tả một hiện thực chiến tranh như nó
vốn có, hết sức trung thực hầu như không tô vẽ, thêm bớt giúp bạn đọc có cái nhìn sâu hơn, thật hơn về chiến tranh như sự hi sinh mất mát quá lớn hay sự phản bội đầu hàng không thể ngờ (Tám Hàn là một chỉ huy cấp cao mà vẫn ra
“chiêu hồi” địch) Nhưng đọc xong cuốn tiểu thuyết người đọc không thấy sự
bi quan, phủ nhận chiến tranh từ phía tác giả, chỉ thấy một sự thật về chiến
Trang 18tranh để rồi thêm kính trọng những người đã ngã xuống, những người đã đi ra
từ bom đạn, nhờ họ mới có những ngày hòa bình hôm nay Với cảm hứng bi kịch nhân văn, Chim én bay đã dựng lại một hình tượng nhân vật Quy luôn có
cái nhìn về hai phía quá khứ và hiện tại, quá khứ là cảnh trừng trị kẻ ác ôn mà
có khi Quy là người trực tiếp nhận nhiệm vụ, hiện tại là những cảnh trả thù rất tầm thường như cảnh bà con rượt đuổi tên xã trưởng có nợ máu với dân, cảnh đám trẻ con truy bắt một đứa trẻ khác vì bố nó ngày trước là ác ôn Tiểu thuyết vươn tới một tầm ý nghĩa nhân văn mới mẻ, sâu sắc và mang tính phổ quát: phải trừng phạt cái ác để cứu lấy con ngời nhng con người không thể sống trong cái vòng luẩn quẩn của sự thù hận mà phải biết rũ bỏ và hóa giải hận thù, cùng nhau “sống để yêu thương”
Để lại ảnh hưởng sâu sắc về cách viết, cách kể và cả tư tưởng phải nói
đến Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) Xét theo đặc trưng thể loại tác phẩm
này không phải là tiểu thuyết sử thi, nó chỉ là một tiểu thuyết viết về chiến tranh Chúng ta thừa nhận tài năng của tác giả thể hiện ở phương diện đổi mới cách viết, kỹ thuật viết Về mặt này tác phẩm xứng đáng đuuợc Giải thưởng Hội nhà văn 1991 Ngoài sự cách tân ở hình thức biểu hiện tiểu thuyết hấp dẫn bạn đọc ở chỗ đưa ra một cái nhìn mới về chiến tranh Trước đó, về cơ bản cái nhìn của văn học Việt Nam về chiến tranh là cái nhìn một chiều, cái
nhìn sử thi Đến Nỗi buồn chiến tranh thì xuất hiện cái nhìn ngược lại, cái nhìn phản sử thi Mà trong quy luật tiếp nhận, có một cái nhìn mới lạ bao giờ
cũng gây sự chú ý, người quan tâm đến vấn đề đổi mới cách viết thì ủng hộ, người quan tâm đến nội dung viết về cái gì thì dị ứng Cho nên tác phẩm tạo
ra những dư luận trái chiều, phân hóa trong giới bạn đọc là điều dễ hiểu Với
cảm hứng bi kịch tàn nhẫn nhà văn nhìn về chiến tranh chỉ thấy sự tàn bạo,
chỉ thấy những “nỗi buồn”, chết chóc, bi quan, không nhìn thấy đó là cuộc chiến tranh
Trang 191.2.2 Những nét đổi mới cơ bản trong tiểu thuyết sử thi 2004 - 2009
Tiểu thuyết sử thi 1945 - 1975 miêu tả nhân vật sử thi đẹp một cách lý tưởng với những phẩm chất cao cả nên đã tạo ra một “khoảng cách sử thi” giữa nhân vật với đời thường, tất nhiên với cả bạn đọc Trong tiểu thuyết sử thi hôm nay cấu trúc hình tượng nhân vật sử thi được nhận thức lại, quan niệm mới hơn, phức tạp, đa dạng, đa diện hơn và tỉnh táo hơn Trước đây dư-ờng như có quan niệm đã là tập thể cách mạng, con người cách mạng thì không có ai xấu, cái xấu thì nay được miêu tả khác, tập thể anh hùng cũng không thiếu những kẻ đào ngũ, cơ hội, cũng có những sai lầm nghiêm trọng
do quan niệm ấu trĩ, giản đơn (Những bức tường lửa, Thượng Đức), nhân vật người anh hùng cũng không ít “tì vết” trong lý lịch (Khúc bi tráng cuối cùng), trong tính cách (Những bức tường lửa), bồng bột, chủ quan khinh địch (Th- ượng Đức), đố kỵ, háo danh (Xiêng Khoảng mù sương) có lẽ nhờ vậy mà
nhân vật thật hơn, đời hơn Tiểu thuyết sử thi hôm nay cũng quan niệm cởi
mở, nhân ái hơn với hình tượng nhân vật kẻ thù Nhân vật thiếu tá Hồng Nhị
(Ngày rất dài), tướng Phạm Ngọc Tuấn (Khúc bi tráng cuối cùng), trung tá Nguyễn Quốc Hùng (Thượng Đức), là những kẻ có lý tưởng, có học thức,
có tài năng quân sự, mẫn cán, nhiệt tình, giàu lòng tự trọng, không sa đọa trác táng, luôn sống hết mình với một cá tính mạnh Rõ ràng nhân vật kẻ thù đã đ-ược quan niệm như là một con người tốt đúng nghĩa Dưới góc độ thể loại thì muốn thể hiện loại hình tượng con người nào nhà văn sẽ tìm đến thể loại tương ứng Mỗi thể loại có thế mạnh riêng, đối với việc thể hiện hình tượng người lính thì đề tài chiến tranh cách mạng là sự hợp lý hơn cả, bởi nhiệm vụ chính của người lính là đánh giặc Có một nguyên lý này: đổi mới thể loại thì trước hết là đổi mới về quan niệm nghệ thuật về con người Có một quan niệm về hình tượng người lính trong tiểu thuyết hôm nay, đó là quan niệm
con người chính là con người Trước 1975 các nhà văn có xu hướng đẩy nhân
Trang 20vật vào miền“không khí vô trùng” nên nhân vật đẹp quá, lý tưởng quá, gần với người trời mà xa với thực tế Có lẽ nên hiểu có hiện tượng ấy là do không khí xã hội đã vọng vào tác phẩm chứ đấy không phải là căn bệnh minh họa, ở thời ấy thì phải có những nhân vật ấy Cái thời con ngươì sống với nhau trong
vắt thì có những nhân vật như Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng của
Nguyễn Minh Châu là đúng thời
Nhưng hôm nay thì đã khác, mới mẻ và linh hoạt, sống động hơn nhiều Người lính trong tiểu thuyết hôm nay đã được giải phóng ra khỏi công thức lý tưởng hoá hôm qua để trở về với đúng nghĩa con người bình thường Các nhân vật dù ở cương vị chỉ huy nhưng cũng đầy khuyết tật của con người, cũng nóng vội, chủ quan, duy ý chí, cũng nói tục chửi bậy, cũng trai nọ gái kia “tình cảm dạt dào lắm”, cũng run sợ hoang mang khi thất bại hay đứng
trước cái chết… Đó là Hoàng Đan, Hoàng Thủy (Thượng Đức), Hóan (Xiêng Khoảng mù sương), một quyền bí thư huyện ủy (Tiếng khóc của nàng Út), Nguyên Bình (Bên dòng Sầu Diện) Thậm chí có người tuyệt vọng đến mức
tự tử như tiểu đòan phó Lê Văn Duyệt, trung đội trưởng Đổng tự bắn vào tay
để khỏi phải ra trận (Phòng tuyến Sông Bồ)…Khi nhà văn trả hình tượng
người lính về đúng bản chất con người của hình tượng thì điều đó đồng nghĩa với viêc miêu tả đúng bản chất khốc liệt của chiến tranh Đã là con người thì
ai cũng muốn sống, ai cũng muốn hưởng thụ, ai cũng có tính nọ tật kia… mà chiến tranh thì là một thứ thuốc thử để con người hiện ra đúng với bản chất Qua đó bạn đọc hôm nay hiểu hơn thực chất của những mất mát hy sinh của người lính hôm qua, để sống cho xứng đáng với quá khứ
Nhưng cũng có sự đổi mới thiếu lôgich trong cấu trúc hình tượng, có khi đưa người lính về đời thường lại thấy nhân vật ngu ngơ quá Ví như trong
Mùa hè giá buốt nhà văn để cho Việt lấy vợ lúc 16 tuổi, vợ (Lụa) 20 tuổi, điều
ấy ở thời đó (1948) không lạ, nhưng lạ ở chỗ trong đêm tân hôn Việt đần đến
Trang 21mức để cho vợ dạy cách làm chồng cứ như dạy một đứa trẻ, điều ấy thật không hợp với tâm lý e thẹn của người phụ nữ, không đúng với cấu trúc tâm sinh lý của một chàng trai đã 16 tuổi Đây không phải là sự lạ trong cách tân, đây chỉ là sự lạ đơn giản, thiếu nghệ thuật nhằm lôi kéo sự chú ý của người đọc Việt không ghét bỏ vợ mà trong thời bình, tám năm trời, nhà chỉ cách
“hơn ba mươi giờ đồng hồ cuốc bộ” Việt không về nhà Tính cách có phần vô cảm ấy thật không phù hợp với sự nổi tiếng của cán bộ chỉ huy là phó tham mưu trưởng Phân khu Nguyễn Sỹ Việt sau này
Sự đổi mới thể loại rõ nhất ở loại nhân vật kẻ thù, mà tác phẩm có công
đầu là Thượng Đức Đây cũng là quan niệm con người chính là con người,
bên ta có kẻ xấu người tốt thì bên địch cũng thế, cũng có người hay kẻ dở, và trong một con người cái tốt cái xấu cũng lẫn lộn Các nhân vật trung tá
Nguyễn Quốc Hùng, trung tá Lầu, thiếu tá Tín… (Thượng Đức), trung tướng Tòan, chuẩn tưởng Đảo, thiếu tướng Hiếu… (Xuân Lộc) tuy là kẻ thù nhưng
vẫn có bản chất rất người, thông minh, lịch sự, học vấn cao, có tình thương… Đây không phải là cái nhìn sai trái mà là cái nhìn đúng về con người Thì ra những con người lầm đường lạc lối kia, họ chỉ đi lạc con đường lý tưởng chứ không hoàn tòan đánh mất tính người Ở ngày hôm nay rất cần những cái nhìn nhân văn ấm áp ấy để con người quên đi quá khứ lầm lạc, để con người tin hơn vào tình người, tình đời
Các tác phẩm Thời hậu chiến, Màu rừng ruộng, Biển xanh màu lá (tiểu thuyết), Mười ba bến nước, Khúc dạ cổ (truyện ngắn), Lẽ sống (bút ký)… lại
có một quan niệm con người đời tư khá rõ Hết giai đoạn cầm súng, nhân vật
Hoàng Trầm (Thời hậu chiến) trở về với đời thường nhưng vẫn giữ bản chất
người lính Nhà văn đã tự đặt mình vào thế khó khi phải giải quyết sự hài hòa của lôgich tính cách nhân vật đang ở môi trường lính chiến sang sống ở môi trường đời tư với bao biến cố Và tác giả đã không đủ sức, mâu thuẫn giữa
Trang 22những quan hệ xã hôị mới với người lính Hoàng Trầm được giải quyết quá dễ dàng làm cho bạn đọc chưa thấy hết tính phức tạp vốn quá ư bề bộn ngổn ngang của cuộc sống
Từ cái nhìn tổng quan về bức tranh văn học sử về tiểu thuyết sử thi, kết hợp với cách hiểu về các khái niệm lý luận chúng tôi hiểu đổi mới trần thuật
là bắt đầu từ sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người Từ có cái nhìn này về con người mà có cách trần thuật tương ứng trong tiểu thuyết
Trang 23CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT
2.1. Khái niệm cảm hứng và cảm hứng trần thuật
2.1.1 Khái niệm “cảm hứng chủ đạo”
Theo Từ điển thuật ngữ văn học “cảm hứng chủ đạo” mang trạng thái
tình cảm mãnh liệt say đắm, xuyên xuốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một
tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc người tiếp nhận tác phẩm
Bêlinxki cho rằng “cảm hứng chủ đạo” là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra tác phẩm đích thực Lý luận văn học hiện đại xem cảm hứng chủ đạo là yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, thái độ tư tưởng, cảm xúc của người nghệ sỹ đối với thế giới được mô tả Như vậy muốn tìm hiểu trần thuật phải xem xét cảm hứng chi phối cách trần thuật Theo chúng tôi trong tiểu thuyết sử thi hôm nay, cụ thể là trong 06 cuốn đạt giải văn học của Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 có ba loại cảm hứng cơ bản: Cảm hứng sử thi; Cảm hứng
bi kịch; Cảm hứng thế sự - đời tư
2.1.2 Cảm hứng trần thuật trong tiểu thuyết sử thi
Chúng tôi quan niệm mỗi một phương thức trần thuật đều có cảm hứng nhất định nào đó chi phối Có thể coi các loại cảm hứng sau là cảm hứng chủ đạo trong 6 cuốn tiểu thuyết của đối tượng nghiên cứu
2.1.2.1 Cảm hứng sử thi
Cảm hứng sử thi là cảm hứng về cái lý tưởng, cảm hứng về cái hoành tráng, kỳ vĩ, lớn lao Cảm hứng sử thi trong tiểu thuyết 2004 - 2009 không nằm ra ngoài quỹ đạo của tiểu thuyết sử thi trước đó là ca ngợi sự nghiệp giải phóng, ca ngợi những con người anh hùng vĩ đại hết lòng xả thân vì lý tưởng độc lập tự do của dân tộc
Trang 24Thi pháp học hiện đại lấy quan niệm nghệ thuật về con người là khái
niệm hạt nhân mang tính chìa khóa để mở ra các lớp văn bản Điều này hòan toàn có lý, vì văn học cũng là con người, xem nói gì về con người là đã phần nào đánh giá được cái dở hay của tác phẩm rồi Nhìn vào văn xuôi hôm nay
ta thấy xuất hiện hình tượng trung tâm là con người cách mạng ở cả ba khoảng không thời gian, thời đánh Pháp, thời đánh Mỹ và hôm nay- thời bình nhưng vẫn phải làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Đây là hình tượng được ưu tiên trong đối tượng miêu tả ở hầu hết các tác phẩm Dù rồi đất nước ta sẽ giàu mạnh, văn minh nhưng càng giàu có càng không được quên quá khứ Cũng như trong giáo dục con người, nếu không chú trọng giáo dục đạo đức thì rất dễ đào tạo ra những con người thông minh nhưng lại độc ác Thế cho nên những đoạn văn miêu tả hình ảnh quần chúng cách mạng xả thân để có ngày độc lập tự do phải nên đưa vào sách giáo khoa: “Những bà mẹ lao lên trước mũi xe ủi của thằng địch, tay cầm cuốc, tay xách can xăng: - Mày cứ nghiến vào đây Tao chết mày chết Những chị ôm con nhỏ trong lòng lăn ra ngay trước xe bọc thép của địch Những đoàn học sinh, sinh viên trẻ măng phơi phới tuổi xuân rầm rập xuống đường biểu tình đấu tranh Súng địch xả
vào họ…” (Thượng Đức) Đây là chỉ một ví dụ trong muôn vàn ví dụ mà các
tiểu thuyết ca ngợi con người hôm qua để giáo dục con người hôm nay Đừng nói con người thời chiến tranh mới đậm chất lý tưởng vì ở thời nào cũng vậy,
đã là con người thì ai cũng có lý tưởng, vấn đề là lý tưỏng gì Con người thời chiến tranh là lý tưởng đánh giặc cứu nước Đó là những thanh niên như
Thạch, Trí, Nghiệp, Nhiên, Phương…trong tiểu thuyết Xuân Lộc hăm hở
được ra trận với suy nghĩ: “…không đi chiến đấu vào lúc này, sợ học xong không còn thời cơ…” Văn xuôi hôm nay đã góp phần làm sống lại một quan niệm cực kỳ nhân văn ở thời đánh giặc: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”
Trang 252.1.2.2 Cảm hứng thế sự - đời tư
Tiểu thuyết hôm nay quan tâm đến việc xây dựng hình tượng người lính như những số phận cá nhân hơn là với hình tượng của một người anh hùng Con người không chỉ là nhân chứng cho các biến cố lịch sử mà chính các biến cố ấy trở thành phương diện để các nhà văn khám phá bản chất, số phận nhân vật
Trong tác phẩm Mùa hè giá buốt, Nguyễn Sĩ Việt là một người chỉ huy
tài năng, đầy bản lĩnh nhưng người anh hùng này cũng được Văn Lê rất chú ý khắc họa những nét đời thường Động cơ ra trận của Nguyễn Sĩ Việt trước hết lại là việc chạy trốn khỏi sự đòi hỏi tình dục quá mạnh mẽ của Lụa, vợ anh Ngày còn ở nhà, do sự sắp đặt của bà mẹ, Việt lấy vợ từ năm mười sáu tuổi Lụa hơn anh sáu tuổi: „Cô là người khai sáng, mở cửa cuộc đời anh Cô đã làm thay đổi cuộc đời anh, đưa anh trở về với bản năng cội rễ của con đực, đó
là sự truyền giống Cô dạy anh làm chồng Cô biến anh từ một gã thanh niên mới lớn trắng tinh, hời hợt, khờ khạo thành một người đàn ông hoen ố, bụi bặm và đầy ham muốn” Tiểu thuyết Việt Nam trước 1975, chúng ta không hề gặp động cơ ra trận của người lính kiểu này Họ ra trận hầu hết đều xuất phát
từ lòng yêu nước, căm thù giặc chứ không vì một lí do hết sức riêng tư, đời thường như vậy
Vinh - nhân vật chính trong Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy, ra trận
cũng là một sự chạy trốn Anh chạy trốn khỏi nỗi buồn, nỗi xót xa khi người con gái anh thương mến đi lấy chồng Lấy một ông chồng già đã có tám đứa con Đám cưới diễn ra khi bà vợ cả vừa mất, còn đắp chiếu để đấy: “Vâng, tôi muốn đi khỏi cái làng Bùi tin hin ngột ngạt Trong mọi con đường ra đi không con đường nào danh dự bằng con đường đi lính” Vinh đã nghĩ như thế
Ngoãn là một trong những nhân vật chiếm khá nhiều trang viết trong
Thượng Đức Là một tiểu đoàn phó dũng cảm, năng động, bản lĩnh nhưng ít ai
Trang 26ngờ được một trong những động cơ vào bộ đội của anh lại là để “rửa” lí lịch cho gia đình, cho tương lai của mấy đứa em, vì gia đình anh có “lí lịch phức tạp” Ông nội làm lí trưởng, bố nghiện thuốc phiện phá gia chi tử, nhà nghèo, cơm bữa có bữa không, quần áo rách buộc túm đằng trước đằng sau, vậy mà vẫn mắc vào tội “con cháu lí tưởng” Anh nghĩ chỉ có đi bộ đội mới làm cho lí lịch gia đình anh được trong sáng, hai thằng em mới có tương lai tốt đẹp hơn
Trung đội trưởng Nguyên Bình trong Bên dòng Sầu Diện của Nguyễn Đình
Tú cũng được bạn đọc nhớ tới là một nhân vật số phận hơn là một người lính Ngoài mấy trang miêu tả lần đầu tiên Nguyên Bình cầm súng tấn công vào nhà Phán Qúy, cứu Tuấn Thành và khoảng gần ba trang kể lại trận Nguyên Bình tham gia tiêu diệt đội Com-măng-đô, còn lại hình ảnh người lính này rất
mờ nhạt Có thể lấy một đoạn trong câu chuyện của con trai Nguyên Bình viết
về ông để thấy rõ con người số phận của ông là thế nào: “tạm bỏ đi cái lí lịch oai hùng trận mạc một thuở của ông, bỏ đi bao nhiêu danh hiệu cao quý mà ông treo trên tường kia nữa, sẽ thấy ông hiện lên là một con người đầy rẫy những mâu thuẫn và cũng đáng thương như bao số phận khác mà thôi… Quá khứ của ông phức tạp hơn tôi tưởng Bảy mươi năm của một đời người chất chứa bao chuyện buồn vui”
Người lính trong văn học 1945 – 1975 là con người cao cả, con người
xả thân nhưng ở ngày hôm nay thì hình tượng này được bổ sung theo hướng đưa hình tượng trở về với đời thường với sự hèn nhát, cơ hội, sai lầm
Chiến tranh ác liệt đó chính là “thuốc thử” để phân biệt sự hèn nhát và can đảm, yếu hèn và bản lĩnh Hèn nhát là luôn nghĩ và sợ hãi cái chết Các nhà văn thường đặt nhân vật đối diện với cái chết để soi rọi nhân cách, bản chất của mỗi nhân vật Trong đội ngũ cách mạng, có những người hết lòng vì
sự nghiệp chung nhưng bên cạnh đó lại có những kẻ ích kỷ chỉ biết nghĩ cho bản thân mình Sự lo lằng cho bản thân không phải là xấu nhưng đi ngược lại
Trang 27lợi ích chung trong khi đất nước có chiến tranh thì đó là điều đáng bị lên án Thật đáng tiếc trong số đó lại có những người giữ những trọng trách quan trọng, những người đứng trong hàng ngũ lãnh đạo Cũng chỉ vì nghĩ đến lợi
ích riêng mình mà Lê (Thượng Đức), chính ủy trung đoàn 6 sư đoàn 304 ra
sức thúc giục bộ đội đánh địch liên tục, mỗi đêm đánh một trận Lê muốn chứng minh với cấp trên rằng mình không những giỏi chính trị mà còn giỏi quân sự nữa Hành động đó của Lê đã khiến “bộ đội thương vong tùm lum”, mải tấn công không phòng thủ, địch phục kích đơn vị khiến tiểu đoàn phó Mao, đại đội trưởng Tài, trung đội trưởng Từ hi sinh, điều Ngoãn – một người chỉ huy có tài lại ở tuyến sau bởi những lời Ngoãn nói với Lê trong cơn nóng giận Thực chất Lê là người chỉ huy vô trách nhiệm, chỉ nghĩ đến lợi ích của riêng mình Điều đó thật đáng trách
Các tiểu thuyết đều đề cập đến vấn đề “kị húy” là bản năng, tình dục
Có cả những trang văn “đậm đà mùi vị sắc dục mà không hề vướng bận cảm
giác thô lậu” như Ma Văn Kháng cảm nhận trong tiểu thuyết Xiêng Khoảng
mù sương của Bùi Bình Thi Đó là cảm giác đầu đời của chàng trai mới lớn như Vinh trong Màu rừng ruộng Trước khi ra trận, Vinh có tình cảm đặc
biệt với chị Miền – người con gái xinh đẹp nhưng quá lứa lỡ thì trong làng
Vô tình chứng kiến cảnh chị Miền trong vòng tay của anh lái xe Sản, Vinh đau đớn, hụt hẫng: “Đêm ấy Vinh nằm mơ Giấc mơ luôn chấp chới khuôn mặt chị Miền Giấc mơ khiến Vinh rùng mình, thấy có một thứ gì đó tháo
thoát khỏi cơ thể bẫng hẫng như máu rút” Minh Việt trong Bên dòng Sầu Diện , lần đầu vô tình “chạm phải hai vật tròn mềm ẩn sau làn áo ngực của cô bạn gái” cũng khiến anh rùng mình Toàn trong Thượng Đức, khi đi trinh sát
cùng Cẩm Linh chỉ một vài câu nói trêu đùa mà “cậu nhỏ” của anh giở chứng ngóc đầu dậy khiến anh ngượng ngùng không dám đi tiếp…
Trang 28Tình yêu muôn đời không có tội, chỉ có những thế lực ngăn trở tình yêu mới đáng bị lên án Bản năng của con người cũng đáng được thông cảm khi
họ bị đặt vào một hoàn cảnh quá nghiệt ngã và tàn khốc, khi còn người không thể dự đoán và tự định đoạt cho số phận của mình Tình yêu của trung đội
trưởng Vũ Duy Bình và Chiến, cô thanh niên xung phong (Mùa hè giá buốt)
là một ví dụ Lần đầu tiên gặp nhau, ban đầu chỉ là sự động viên an ủi khi Bình biết đơn vị của Chiến gồm hơn ba chục chị em mà nay chỉ còn mười ba người Chiến muốn được yêu, muốn được một người con trai ôm thật chặt vào lòng rồi sau đó chết cũng mãn nguyện
Nổi bật nhất là tính chất giải sử thi ở hình tượng nhân vật người lính Trong các tiểu thuyết giai đoạn 1945 – 1975, người lính chủ yếu được khắc họa ở phương diện con người công dân, con người chính trị Họ là những người anh hùng mang phẩm chất của nhân vật sử thi, mang tầm vóc của núi sông của lịch sử, họ thường đại diện cho một thế hệ, với sức mạnh bất khả chiến bại, họ luôn chiến thắng hoàn cảnh Vẫn những người lính ấy nhưng sau
độ lùi của lịch sử, họ được nhìn nhận đánh giá một cách chân thực hơn, toàn diện và sâu sắc hơn Họ vẫn là những người lính sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp chung, chiến đấu ngoan cường và hi sinh anh dũng… Thế nhưng bên cạnh con người đạo lí còn có con người tự nhiên, bên cạnh con người công dân còn có con người cá nhân, con người số phận, con người bi kịch, bên cạnh con người chiến thắng có con người bị “chấn thương”… Tuy còn một số hạn chế nhưng mười hai tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng
2004 – 2009 đã góp phần làm nên bức tranh toàn diện hơn về nhân vật người lính Đưa họ “trở về” với đời thường hơn, với chất “người” nhiều hơn vì vậy
mà thuyết phục độc giả hôm nay hơn
Trang 292.1.2.3 Cảm hứng bi kịch
Chúng tôi chú ý tới hình tượng con người bi kịch, trong văn xuôi trước
1975 không xuất hiện, nhưng hôm nay, do độ lùi thời gian mà các nhà văn được phép xây dựng và khai thác Xét đến cùng chiến tranh là bi kịch, con người luôn là nạn nhân của chiến tranh nên có hình tượng này như là một lẽ đương nhiên Những cảnh con người bị tàn sát, bị tra tấn cực kỳ khủng khiếp
bởi kẻ thù trong Tiếng khóc của nàng Út làm bạn đọc hôm nay đau đớn quá,
xót xa quá… Dĩ nhiên những người lính vẫn là những người hứng chịu bi kịch khủng khiếp nhất của chiến tranh Chỉ riêng mặt trận Sài Gòn, xuân Mậu Thân 1968 chúng ta mất đi hàng chục ngàn chiến sỹ Chúng ta thấm thía sự
hy sinh của người lính nhưng cách diễn đạt của nhà văn Văn Lê trong một câu
nói mở đầu cuốn Mùa hè giá buốt: “Họ ra trận mà phải chờ nhau hy sinh mới
có được vũ khí để chiến đấu ” có gì đấy nghiệt ngã quá!
Chiến tranh đồng nghĩa mất mát hi sinh, chiến tranh đã cướp đi sinh mạng xương máu của con người thậm đi cướp đi cả tâm hồn và tinh thần của
họ Trong chiến tranh mỗi người có một số phận khác nhau hoàn cảng khác nhau tạo nên nhiều gam màu trong cuộc sống Từ một cán bộ cách mạng cao cấp có uy tín, được nhân dân kính trọng, đồng đội tin cậy được đặt trong tình
huống éo le nhạy cảm Đó là Hoàng Thủy bí thư huyện Đại Lộc trong Thượng Đức.Vợ con họ hàng của anh đang bị kẹt trong ấp Hà Tân Rất nhớ vợ thương
con nhưng với cương vị là một bí thư huyện ủy anh không thể, anh phải rất thận trọng mười mấy năm nay anh không thể bén mảng đến thăm Lệnh ngừng bắn được tạm thời được ký kết Nhưng tiếng súng vẫn nổ, giữa ta và địch đang ở trong thế giằng co giành đất giành dân Trong hoàn cảnh nhạy cảm vì quá nhớ vợ thương con anh viết lá thư về thăm không ngờ lá thư đó lại đưa anh vào tình huống không thể giải thích: bí mật của chiến dịch đã bị lộ Hoàng Thủy bị nghi ngờ làm lộ bí mật giết chết vợ con để được yêu Cẩm
Trang 30Linh Một âm mưu thâm độc của quận trưởng Ngô Quốc Hùng đã được thực hiện và kết quả đúng như y mong muốn, Hoàng Thủy đã bị nghi ngờ và không được tham gia vào cuộc chiến để chờ tổ chức xác minh Quá bế tắc anh
đã để lại một bức thư tuyệt mệnh và gieo mình xuống dòng sông Hà Sống để quyên sinh Rất may, Cẩm Linh đã kịp đến
Cảm hứng bi kịch cũng bao trùm suốt Mùa hè giá buốt Nó được hiện
lên qua các tình huống Tiểu đoàn Nguyễn Sĩ Việt được lệnh tấn công trong khi anh biết lực lượng của mình chưa đủ sức, thiếu cả về quân sĩ và súng ống đạn dược, tấn công sẽ chịu nhiều thương vong nặng nề nhưng không thể không thực hiện chỉ thị của cấp trên Anh cảm thấy đau đớn và thương xót trước những hi sinh của những người chiến sĩ Nhưng anh không thể phủ nhận rằng con đường thăng tiến của anh có góp phần từ xương máu của họ Tiếu đoàn trưởng Nguyễn Sĩ Việt rơi vào cả trạng thái bi kịch trong tình yêu Anh yêu say đắm Bích Vân nhưng anh biết rằng tình yêu lúc này là không hợp thời, thậm chí còn xúc phạm đến đồng đội của anh đang từng giờ từng phút hi sinh ngoài kia, nhưng con người tự nhiên, con người bản năng lại lôi kéo anh… Nếu không phải vì chiến tranh anh đâu phải dằn vặt, giằng xé về những hạnh phúc đáng ra con người phải được hưởng Kết thúc tác phẩm là cái chết của anh, cái chết của Bích Vân, cái chết của đứa con chưa biết đến sự sống là
gì và cả biết bao đồng đội của anh nữa Chiến thắng để có được cái giá phải trả là quá đắt…
Nhân vật Nguyễn Bá trong Thượng Đức là một mẫu nhân vật mang cấu
trúc của cái bi kịch Ban đầu là một cán bộ hoạt động bí mật nhưng bị lộ, Nguyễn Bá bị bắt vì sợ chết lo bảo toàn tính mạng nên không kiên gan được Tuy nhiên khi bị địch bắt nhưng anh vẫn cố kéo dài thời gian để đồng đội thoát khỏi vòng vây Nguyễn Bá đã tìm cách cứu thoát được vợ con Hoàng
Trang 31Thủy Đó chính là tình xưa nghĩa cũ mà Nguyễn Bá giành cho Hoàng Thủy đồng thời cũng là giành cho lương tâm mình
Chiến tranh vô cùng khốc liệt, gianh giới giữa sự sống và cái chết là rất mong manh Chính trong thời điểm khốc liệt nhất cũng chính là lúc thật nhất của con người Ai cũng có lúc thỏa mãn cho riêng, suy nghĩ cho bản thân
mình Như Oánh trong Thượng Đức “chao ôi tướng tá để làm gì” chỉ huy tiểu
đoàn để làm gì khi cấp trên cấp dưới o ép nhau, sống dở chết dở Một mình chịu trách nhiệm về mạng sống của mình không đủ sao? Lại còn gánh cho cả mấy trăm người…chợt Oánh rung mình nghì đến cái chết của cả ban chỉ huy tiêu đoàn 7 Trời ạ! Tiểu đoàn anh vào thay thế cũng chẳng tránh được vận hạn như tiểu đoàn 7”
Cả bốn tiểu thuyết đều chú ý xây dựng những nhân vật bi kịch, nhân vật bị chấn thương Đó là sự đau đớn của một người lính đã bắn nhầm vào
chính người chỉ huy của mình Tỉnh đội trưởng Lê Quang Phùng (Thượng Đức) có vóc dáng cao to như người Tây Khi trận đánh đã kết thúc, anh cùng
một tốp bộ đội đi lom khom trong chiến hào Một chiến sĩ của anh bị thương ngay từ đầu nằm lại trong chiến hào ngỡ anh là thằng Mỹ đang tìm đường tẩu thoát Anh ta đã bắn một tràng AK xuyên qua lồng ngực Lê Quang Phùng Về bệnh viện dã chiến một lúc thì Phùng tắt thở Khi nhận ra việc bắn lầm, người chiến sĩ đã giật súng ngắn của thủ trưởng mình định tự sát May mọi người ngăn kịp Với sự vô tình lầm lẫn của mình, liệu anh chiến sĩ ấy có tiếp tục sống thanh thản được hay không? Lỗi lầm ấy sẽ đeo đẳng anh đến bao giờ?
Khuôn mặt đời sống vốn phong phú, đa dạng, bi kịch của con người theo đó cũng muôn màu muôn vẻ Và bi kịch của người lính trong chiến tranh cũng đa dạng không kém.Có khi là bi kịch tình yêu thời chiến, yêu nhau mà phải lén lút, vụng trộm vì trong quan điểm con người thời đó nó không “hợp thời”, “nó vừa lạc lõng, vừa bị xúc phạm đến linh hồn đồng chí, đồng đội”
Trang 32Hoặc tình cảnh người lính ra trận, người yêu của mình thay lòng đổi dạ, bị kẻ khác lợi dụng, hoặc người lính bị thương cụt hai chân trở về khiến người yêu hoảng sợ và xa lánh…Những mối tình nhuốm đầy màu sắc tội nghiệp như
Việt và Bích Vân, Chung Cầm và bác sĩ Khương (Mùa hè giá buốt); Ngoãn
và Hân, Qùy và Thắm (Thượng Đức); Bường và Thơm, Toàn và nàng Út, Đua
và Xuân (Tiếng khóc của nàng Út), Nguyên Bình và Mến, Minh Việt và Cói (Bên dòng Sầu Diện)…
Chất bi kịch còn được thể hiện ở cách miêu tả những nét tâm linh huyền thoại Một trong những tác phẩm đậm màu sắc tâm linh là tiểu thuyết
Mùa hè giá buốt của Văn Lê Mở đầu tác phẩm là tiếng cú kêu, một âm thanh
mà từ trước đến nay dân gian đều cho là điềm gở, nhất là tiếng cú ấy lại xuất hiện vào đêm trước của đợt Tổng tấn công Mậu Thân lần hai của tiểu đoàn Bến Nghé Cái âm thanh „Ha…ha…ha…ha” lặp đi lặp lại nhiều lần làm cho thượng úy Nguyễn Sĩ Việt ớn lạnh: “Chưa bao giờ anh nghe thấy tiếng kêu của loài lại dị biệt, quái đản như thế Anh có cảm giác như chính ma quỷ sai loài cú đến đây cười cợt, trêu ghẹo anh Tiểu đoàn trưởng linh cảm thấy tai họa đang lởn vởn ở trong ngôi làng này Lần đầu tiên trong đời anh cảm thấy bồn chồn, lo sợ thực sự” Vào đêm xuất phát tấn công, Việt cũng loáng thoáng nghe tiếng cú kêu, nó không giống tiếng lợn hét, không giống tiếng cú cười
“mà như những tiếng nấc cục “Hấc…h…ấ…c…” Tiếng cú lặp đi lặp lại đôi
ba lần rồi chết lặng, để lại trong không gian một bầu không khí đầy trắc ẩn”[48.35] Điềm báo ấy đã đúng khi vào mặt trận, những trái đạn của địch đã xóa đi từng mảng người trên mặt đất, người lính này ngã xuống, người sau lại vọt lên thay chỗ Rất lâu sau, Việt vẫn không thoát khỏi được nỗi ám ảnh nặng
nề, bởi anh phải chứng kiến quá nhiều cái chết của đồng đội Rất nhiều lần Văn Lê để cho nhân vật mình sống trong linh cảm Cấp trên yêu cầu thay đổi
lộ trình hành quân, lí do thay đổi không được tiết lộ “nhưng Việt cảm thấy có
Trang 33một điều gì bất ổn đã xảy ra từ phía cơ quan chỉ huy” “Linh cảm thấy chuyện chẳng lành”… Việt là một người chỉ huy, anh không thể chỉ dựa vào linh cảm
để đưa ra các phương án cho mỗi trận đánh Tuy nhiên, linh cảm của Việt ở đây đều đúng Như vậy ta thấy những linh cảm đó trước hết đều xuất phát từ kinh nghiệm chiến đấu của mỗi người lính, họ đã trải qua những tình huống như thế và họ sẽ nhận ra nếu gặp lại Tuy nhiên những linh cảm đó còn xuất phát từ tiềm ẩn bản năng của mỗi người mà chúng ta khó có thể giải thích
Giấc mơ cũng là một bằng chứng của linh cảm Ở Mùa hè giá buốt,
không dưới một lần tác giả đề cập tới giấc mơ của các nhân vật Vân bị lạc đơn vị, cô mệt mỏi thiếp đi bên cạnh của những người lính mới hi sinh Trong giấc ngủ chập chờn, cô lờ mờ nghe thấy tiếng gọi của mười mấy chiến sĩ, họ gọi cô dậy và báo sắp có máy bay nhưng mắt cô cứ díp lại, họ phải hắt ca nước vào người, cô mới giật mình tỉnh dậy Ngay lúc đó, một bày trực thăng
Mỹ ào tới ném bom thật và cô kịp chui nhanh vào hầm Khi pháo nổ dứt hẳn, Vân chui ra khỏi hầm và cảm thấy chột dạ về giấc mơ vừa rồi: “Mười mấy nấm mộ chôn ở xung quanh gò, phải chăng là hình ảnh của những người lính
đã hiện lên trong giấc ngủ muộn màng của cô? Phải chăng sự cảnh báo theo cách của họ đã giúp cô tránh khỏi tai ương vừa rồi?” Sáng ra cô kinh hoàng nhận thấy chiếc bồng của mình bị trúng tới hai viên đạn Khi ăn lót dạ cô còn lầm rầm khấn vái, mời những người lính ăn cùng
Giấc mơ thứ hai của Việt Trong giấc ngủ chập chờn, được, mất anh thấy con Riềng xuất hiện từ một đám mây trắng với bộ lông màu xanh, nó lao xuống căn hầm anh đang nằm và cắn gấu quần anh giật mạnh rồi chạy ra ngoài chiến hào Anh bừng tỉnh Đúng lúc ấy máy bay địch tới đánh bom Anh chỉ kịp gào lên một tiếng đơn độc “b…o…m” rồi quăng mình ra ngoài chiến hào Anh bị thương, căn hầm của anh biến mất Anh không hiểu sao thay vì bò sâu vào trong hầm anh lại quăng mình ra chiến hào: “Rất có thể
Trang 34con Riềng đã chết và linh hồn nó đã cứu sống anh” Giấc mơ thứ ba là của mẹ Việt Cái đêm Lụa, vợ anh chết vì bị lũ cuốn, cô đã “báo mộng” cho mẹ anh Trong giấc mơ của bà, Lụa về quần áo ướt sũng, cô khóc bảo rằng cô bị nạn ở sông Cái, hiện trôi dạt về làng Thanh Giang Bà tỉnh dậy, hốt hoảng cho người đi tìm thì vớt được xác Lụa dạt vào ngay bên gốc nhãn, cuối làng Thanh Giang Giấc mơ thứ tư là của Việt Việt được nghỉ phép về làm lễ cầu hồn cho Lụa, vào cái đêm cuối cùng trước khi trả phép, Việt thấy Lụa về nhà
Cô mỏng manh, uyển chuyển, trong suốt như một đám mây Cô dặn Việt:
“Sau này, nếu mình có thương ai thì đừng thương vào thời tao loạn Thương nhau thời buổi như vậy, làm chồng cũng đau, làm vợ cũng buồn” Việt tỉnh dậy, Lụa đã hóa thành gió mây giữa bầu trời Lời dặn của Lụa, Việt đã không làm được Anh đã yêu Vân khi cuộc chiến bước vào thời kì khốc liệt nhất Và rồi cả anh, cả Vân và đứa con còn chưa biết sống là gì cùng ra đi vào một ngày đầy máu và nước mắt Giấc mơ thứ năm là của Vân Bước vào chiến dịch đợt hai, tâm trạng Vân trở nên bất an một cách khó hiểu Vừa mới chợp mắt, cô đã giật mình choàng dậy vì giấc mơ Trong mơ, cô thấy Việt bị thương vào bụng rất nặng Toàn thân anh đầy máu Cánh tay cô cũng bị đứt rời và bàn tay ấy túm chặt lấy Việt không buông Giấc mơ khiến cô hoang mang, bứt rứt, lo sợ xa xôi Chỉ sau đấy ít lâu, cả anh và cô cùng ra đi trong một “mùa hè giá buốt” Giấc mơ thứ sáu và cũng là giấc mơ cuối cùng trong tác phẩm là giấc mơ của Việt khi anh bị thương, lịm đi và rơi vào trạng thái hôn mê Trong cơn mê anh thấy mình trên một chiếc cam nhông vào thành phố, trong tiếng reo mừng hòa bình như sấm dậy Trong đoàn quân diễu mừng hòa bình, anh gặp lại tất cả đồng đội đã hi sinh
2.2 Điểm nhìn trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, điểm nhìn là: “vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm Không thể có nghệ thuật nếu
Trang 35không có điểm nhìn bởi nó thể hiện sự chú ý quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với đời sống Sự đổi thay của nghệ thuật bắt đầu từ sự thay đổi điểm nhìn”
Điểm nhìn trần thuật được hiểu là vị trí người trần thuật quan sát, cảm thụ và miêu tả, đánh giá đối tượng Người ta có thể nói đến điểm nhìn qua các bình diện vật lý, tâm lý (điểm nhìn bên trong hay bên ngoài, giới tính, lứa tuổi…), qua trường nhìn (của tác giả hay của nhân vật)… Điểm nhìn nghệ thuật là điều không thể thiếu trong các tác phẩm tự sự, đặc biệt là trong tiểu thuyết
Nếu trước đây tiểu thuyết viết về chiến tranh thường chỉ có một điểm nhìn duy nhất là điểm nhìn của nhà văn, nhà văn là người biết hết - điểm nhìn toàn tri, thì tiểu thuyết hôm nay lại rất linh hoạt trong điểm nhìn, có sự đan xen nhiều điểm nhìn khác nhau, điểm nhìn của nhà văn thường bình đẳng với điểm nhìn của nhân vật Bên cạnh điểm nhìn tác giả, điểm nhìn nhân vật còn
có cả điểm nhìn tâm linh… Điều này làm cho chiến tranh được soi rọi từ nhiều phía, chân thực hơn, trọn vẹn hơn
Trong tiểu thuyết hiện đại, điểm nhìn trần thuật không đơn nhất hay bất biến từ đầu đến cuối Cùng một sự kiện, nhà văn đứng ở nhiều vị trí khác nhau để tường thuật, bình giá Có khi điểm nhìn của đối tượng đồng thời được thể hiện ở những không gian và thời gian khác nhau Có khi điểm nhìn lại được di chuyển trực tiếp từ người kể chuyện sang nhân vật hay từ nhân vật này sang nhân vật khác Vì thế, nhân vật và các mối quan hệ của nó được soi chiếu ở nhiều góc độ, nhiều thời điểm, nhiều tư cách Điểm nhìn trần thuật gắn bó mật thiết với ngôi kể nhưng rộng hơn ngôi kể Có khi nhà văn lựa chọn một ngôi kể thống nhất từ đầu đến cuối tác phẩm, nhưng trong các tình huống, các không gian, thời gian nhất định, ngôi kể đó lại được kết hợp với
Trang 36điểm nhìn của một hoặc nhiều nhân vật khác (Mùa hè giá buốt, Thượng Đức,…) Cũng có khi trong cùng một tác phẩm, tác giả lại sử dụng nhiều ngôi
kể khác nhau, nhiều cái “tôi” cùng đứng ra kể chuyện (Màu rừng ruộng, Bên dòng Sầu Diện…)
2.2.1 Sự dịch chuyển, thay đổi điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn nghệ thuật bao gồm điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong Điểm nhìn bên ngoài là trường hợp người kể chuyện đứng từ bên ngoài
để quan sát câu chuyện Đó là người đóng vai trò quan sát, kể lại những gì mắt thấy tai nghe, không bình luận, không nhận xét gì thêm Do đó từ điểm nhìn bên ngoài quan hệ giữa người kể chuyện và đối tượng được kể có một khoảng cách rất lớn Điểm nhìn bên trong còn gọi là điểm nhìn chủ quan hay điểm nhìn tâm lí là sự quan sát nhân vật từ cảm nhận nội tâm Khoảng cách giữa người nhìn và đối tượng được nhìn rất ngắn, thậm chí bằng không Người kể chuyện tỏ ra thấu suốt tâm tư, tình cảm của nhân vật tạo nên một thế giới nội tâm phong phú cho tác phẩm Sự đan xen và dịch chuyển điểm nhìn chính là một cách thức để tạo nên tính phức điệu của tiểu thuyết, từ đó tạo nên
sự phong phú cho không gian nghệ thuật để văn bản nghệ thuật trở thành một cấu trúc đa tầng cùng một lúc có thể vang lên nhiều tiếng nói khác nhau
Mùa hè giá buốt của Văn Lê là tác phẩm thống nhất một ngôi kể nhưng
lại có sự thay đổi linh hoạt, sự đan xen nhiều điểm nhìn khác nhau Khi miêu
tả các trận đánh, tác giả thường sử dụng điểm nhìn của người kể chuyện như:
“Cuộc trao đổi, bàn bạc trong ban chỉ huy tiểu đoàn vào lúc sôi nổi thì cuộc tấn công lần thứ hai của quân Mỹ đã lại bắt đầu Sau cuộc mật tập không thành công hồi đêm, quân Mỹ bố trí lại lực lượng, đưa xe tăng và bộ binh vào trận Dưới ánh nắng trong vắt của buổi sớm mai, được sự dẫn dắt của máy bay trinh sát, xe tăng và bộ binh Mỹ bò lổm ngổm như cua trên cánh đồng, tổng cộng hơn chục chiếc Chúng bố trí đội hình xen kẽ giữa xe tăng và xe
Trang 37bọc thép, xe tăng thì lùi sâu một chút Khi miêu tả những gì đã qua nhà văn lại
sử dụng điểm nhìn bên trong của nhân vật, chẳng hạn những suy nghĩ của tiểu
đoàn trưởng Nguyễn Sỹ Việt: “Cuộc chiến đấu trôi qua đã rất lâu nhưng tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sỹ Việt vẫn không sao thoát khỏi được nỗi ám ảnh nặng
nề, bởi anh đã phải chứng kiến quá nhiều cái chết diễn ra tại căn cứ biệt kích
ấy Anh không thể giải thích được tại sao, khi anh phát lệnh xung phong, các đại đội đã tràn lên như bầy sói hung hãn đạp qua những vũng máu, đạp qua
cả xác đồng đội mình tại chỗ cửa mở để tràn vào căn cứ? ” Có thể thấy,
việc dịch chuyển linh hoạt các điểm nhìn bên ngoài và bên trong như vậy khiến cuộc chiến hiện ra từ nhiều góc độ hơn Nó không chỉ là cuộc chiến giữa ta và địch, nó còn là cuộc chiến giữa người với người Chiến thắng nào cũng phải trả giá nhưng cái giá máu xương thì bao giờ cũng là đắt nhất, xót xa nhất Nếu không nghĩ tới cái giá đó mà tìm mọi cách để chiến thắng thì con người đã mất đi phần người của nó
Cùng một sự việc nhưng với các nhân vật khác nhau cũng có những cách nhìn nhận khác nhau, điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong của
một nhân vật cũng có sự khác biệt Trong Mùa hè giá buốt khi tiểu đoàn của
Việt nhận được lệnh tấn công Sài Gòn vào những ngày giáp tết Mậu Thân có những cách nhìn rất khác nhau về trận đánh: Chính trị viên Cao Đăng Tình thay mặt đơn vị nhận lệnh từ Bộ chỉ huy Phân khu về tỏ ra rất phấn khởi, lạc
quan: “Kì này thằng Mỹ phải chết”, làn da trên gương mặt vốn xanh xao, vàng
vọt của anh chợt hồng lên, rực rỡ Đồng chí trung tướng Nguyễn Văn Vịnh thì quả quyết đây sẽ là trận đánh cuối cùng của lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam Nhiều chiến sĩ reo hò đập bỏ xoong nồi vì cho rằng sẽ chiến thắng, không cần phải dùng đến những chiếc xoong chảo méo mó đó nữa Riêng Việt vẫn cảm thấy bất ngờ về cấp độ chiến dịch Quyết tâm đã có nhưng việc nhà binh mà chỉ tính một phương án là thắng thì thật là nguy hiểm Anh cảm
Trang 38thấy chờn chợn khi nghe giọng nói sang sảng khí thế của chính trị viên, anh không hài lòng với tinh thần lạc quan sớm và có phần hơi quá của chiến sĩ
nhưng anh cũng không tỏ thái độ gì: “Trong thời điểm hiện tại, mọi hành động, lời nói dù là của ai đi chăng nữa mà làm giảm ý chí, tinh thần chiến đấu cả bộ đội, đều bị coi là “có vấn đề”, bị “cô lập”, thậm chí bị đình chỉ công tác Dĩ nhiên, tiểu đoàn trưởng không muốn mình bị cấp trên liệt vào loại cán bộ như thế, nhưng anh vẫn áy náy không yên” Mặc dù băn khoăn về
chiến dịch nhưng Việt vẫn không dám làm trái lệnh cấp trên, anh vẫn đi làm nhiệm vụ hiệp đồng tác chiến với đơn vị bạn Việc đan xen điểm nhìn của nhiều nhân vật và sự dịch chuyển điểm nhìn như vậy khiến cho sự việc được soi chiếu từ nhiều góc độ khác nhau Lạc quan để chiến đấu là điều cần thiết nhưng lạc quan một cách quá trớn thường dễ dẫn đến những sai lầm Trên thực tế trong trận đánh vào Sài Gòn lần đó, tiểu đoàn của Việt chưa nổ súng
đã tổn thất nặng nề bởi kế hoạch bị thất bại
2.2.2 Sự luân chuyển điểm nhìn giữa người kể chuyện và nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học người kể chuyện là “hình tượng ước lệ
về người trần thuật trong tác phẩm văn học chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Trong các tác phẩm tự sự,
người kể chuyện là yếu tố không thể thiếu, bởi người kể chuyện là chủ thể của hành vi kể, là người nói trong tác phẩm Tiểu thuyết truyền thống thường đề cao vai trò của người kể chuyện trong việc tổ chức tác phẩm, dẫn dắt, định hướng người đọc, đồng thời nói hộ tác giả những quan niệm về cuộc sống, về văn chương
Với nhu cầu gia tăng tính đối thoại, tiểu thuyết hiện đại xuất hiện nhiều người kể chuyện với nhiều điểm nhìn khác nhau Vai trò của người kể chuyện
và nhân vật trở nên bình đẳng Nói cách khác là tác giả đã tin tưởng giao cho nhân vật được quyền phát ngôn và những phát ngôn ấy cũng hàm chứa cái
Trang 39nhìn bình đẳng với chủ thể trần thuật Từ đó ta có thể nhận ra mối quan hệ tương tác giữa điểm nhìn của người kể chuyện và nhân vật trong tác phẩm Hai điểm nhìn này có khi song song tồn tại, có lúc hoà nhập vào nhau tuỳ theo chủ ý của người sáng tạo
Bên dòng Sầu Diện là một trong số những cuốn tiểu thuyết có sự
chuyển đổi linh hoạt điểm nhìn giữa người kể chuyện và nhân vật Bên cạnh lời kể chuyện ngôi thứ ba, tác giả để cho các nhân vật luân phiên kể chuyện của mình Mở đầu tác phẩm, Minh Việt kể về sự ra đời của mình trong một cái buồng thông với một chái bếp lúc nào cũng tỏa ra mùi cháo lòng nồng nặc Chương một và hai được trần thuật từ ngôi thứ ba nhưng thông qua điểm nhìn của Nguyên Bình kể về tuổi học trò, về chuyện đi làm cách mạng, chuyện cứu Tuấn Thành, chuyện Nguyên Bình bị thương và được Mến cứu Chương ba cũng được trần thuật từ ngôi thứ ba nhưng lại qua điểm nhìn của nhân vật Mến Những biến động của thị trấn An Lạc đã tác động sâu sắc đến cuộc đời
cô Mến là con nuôi của bà Cả Ngật, cô lớn lên vô tư, hồn nhiên cho đến khi
gặp Nguyên Bình bị thương và có con với anh: “Cô lớn lên giữa lúc chiến tranh đang chụp xuống quanh cô nhưng cô chẳng hiểu gì về nó Cô là người đứng giữa hai làn đạn mà không biết mình thuộc về phía nào Ở cô chẳng có cái gọi là ý thức chính trị gì hết Cô chỉ biết cô thuộc về người đàn ông có đôi mắt rất hiền đã từng nhìn cô mê dại bên hồ nước cạn trên ngọn núi Cô Hồn năm nào Cô đã có con với người ấy” Nhưng đến ngày hoà bình, Nguyên
Bình đã không chấp nhận cô và Minh Việt là đứa con của anh Chương bốn lại được trần thuật từ ngôi thứ nhất, Minh Việt kể về tuổi thơ của mình được
bà, mẹ và cha Phăng chăm sóc Khi thị trấn An Lạc được giải phóng, Minh Việt mới hai tuổi, hai mẹ con đi tìm bố nhưng bị bố từ chối không nhận, hai
mẹ con lại mở hàng cháo kiếm sống cùng những người dân xóm Đáy Mẹ Minh Việt bị chết do bệnh lị, cậu lại sống với bà Quản
Trang 40Sau chương năm người kể chuyện ở ngôi thứ ba nhưng kể chuyện chủ yếu dưới điểm nhìn của Minh Việt Đó là chuyện anh về ở với bố mợ, chuyện Minh Việt yêu Cói, chuyện anh phải vào bệnh viện tâm thần, chuyện anh đi
bộ đội và trở về… Ngoài việc luân chuyển điểm nhìn như trên, đến cuối truyện, tác giả còn “phức tạp hoá” điểm nhìn trần thuật, các điểm nhìn của nhân vật chính được bổ sung bằng những điểm nhìn của các nhân vật phụ như câu chuyện của Đạo, em cùng cha khác mẹ với Minh Việt cũng như câu chuyện của bé Ly con gái anh Khi đi bộ đội, Minh Việt không được biết đến cuộc sống của gia đình anh thì câu chuyện đó đã được tái hiện trong hai
chuyện ngắn được giải của Đạo là “Bố và anh trai” và “Chị Vân” Qua cái nhìn của bé Ly trong “Kịch chiến Đầm Gâu” đã thể hiện được khát vọng sống
hoà bình của một cô bé bị nhiễm chất độc màu da cam đang chờ chết Qua tác phẩm của mình Nguyễn Đình Tú đã góp phần lớn cho sự đổi mới của tiểu thuyết hiện đại bằng sự phong phú, linh hoạt của điểm nhìn trần thuật
Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thuỵ là câu chuyện về cuộc đời của nhân
vật Vinh, chàng thanh niên mới lớn ở làng Bùi Câu chuyện xoay quanh nhân vật Vinh gắn bó với làng Bùi quê anh và làng Sập cùng núi rừng Tây Nguyên nơi anh và đội tìm hài cốt liệt sĩ K20 hoạt động Câu chuyện được tái hiện chủ yếu từ điểm nhìn của Vinh song cũng có sự thay đổi điểm nhìn, đặc biệt là ở
phần “Khu rừng Say”, đó là câu chuyện về nàng Ythan xinh đẹp, về chàng
Krol dũng mãnh, về tình yêu âm thầm mà lớn lao của Kíp với cô giáo Phương… Sự thay đổi điểm nhìn giữa các nhân vật giúp câu chuyện thêm sâu
sắc và phong phú Chỉ đến cuối truyện, ở phần Biên tái mới xuất hiện nhân
vật “tôi” - người kể chuyện Nhưng ở đây lại có tới hai nhân vật “tôi”, một nhân vật “tôi” là người đã dựa vào những dòng ghi chép của Vinh và lời kể của anh Tấn, đội trưởng đội qui tập K20 về sự hi sinh của Vinh rồi dựng lại toàn bộ câu chuyện Nhân vật “tôi” còn lại chính là anh Tấn, đội trưởng của