1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1 bắc ninh

62 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT ĐINH MẠNH HẢI SỬ DỤNG NGOẠI KHÓA MỘT SỐ MÔN THỂ DỤC TỰ CHỌN PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHUNG CHO NAM HỌC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG TRUNG HỌC P

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

ĐINH MẠNH HẢI

SỬ DỤNG NGOẠI KHÓA MỘT SỐ MÔN THỂ DỤC TỰ CHỌN PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHUNG CHO NAM HỌC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THUẬN THÀNH SỐ 1 - BẮC NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : SƯ PHẠM GDTC

Hướng dẫn khoa học

Th.S DƯƠNG VĂN VĨ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Đinh Mạnh Hải

Sinh viên lớp K38B - GDTC Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng!

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Sinh viên

Đinh Mạnh Hải

Trang 3

CÁC DANH TỪ VIẾT TẮT

BCH TW: Ban Chấp hành trung ƣơng

ĐHTDTT1: Đại học thể dục thể thao 1 GD-ĐT: Giáo dục Đào tạo

GDTC: Giáo dục thể chất GD-ĐT: Giáo dục – Đào tạo

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6

1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về Giáo dục Thể chất và Thể thao Trường học 6

1.2 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh THPT 9

1.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông 9

1.2.2 Đặc điểm sinh lý học sinh trung học phổ thông 10

1.2.3 Giáo dục thể chất đối với học sinh 12

1.3 Phương pháp phát triển các tố chất thể lực chung 13

1.3.1 Phát triển tố chất sức nhanh 14

1.3.2 Phát triển tố chất sức mạnh 15

1.3.3 Phát triển tố chất sức bền 16

1.3.4 Phát triển tố chất khéo léo (hay khả năng phối hợp vận động) 17

1.3.5 Phát triển tố chất mềm dẻo 18

1.4 Đặc điểm chương trình GDTC ngoại khóa tại trường THPT Thuận Thành số 1 Bắc – Ninh 19

1.5 Các cơ sở lý luận, quan điểm của TD tự chọn 19

1.5.1 Cơ sở lý luận 19

1.5.2 Quan điểm lựa chọn các môn TD tự chọn cho trường THPT Thuận Thành số 1 Bắc – Ninh 20

CHƯƠNG II NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 22 2.1 Các nhiệm vụ nghiên cứu 22

2.2 Các phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Phương pháp đọc tài liệu tham khảo 22

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 23

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 23

2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 24

2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 24

2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 24

2.3 Tổ chức nghiên cứu 26

2.3.1 Thời gian nghiên cứu 26

Trang 5

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 27

2.3.3 Đối tượng nghiên cứu 27

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đánh giá thực trạng công tác GDTC và sử dụng các môn thể dục tự chọn phát triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông Thuận Thành số 1 Bắc - Ninh 28

3.1.1 Thực trạng hoạt động GDTC trường học của trường THPT Thuận Thành số 1 Bắc - Ninh 28

3.1.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên trường THPT Thuận Thành số 1- Bắc Ninh 28

3.1.3 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động TDTT 29

THPT Thuận Thành số 1 Bắc - Ninh 30

3.1.4 Thực trạng giảng dạy môn học GDTC của trường THPT Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh 30

3.1.5 Phỏng vấn nhu cầu nâng cao thể lực chung cho đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá các môn thể dục phát triển thể lực cho học sinh nam khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh 33

3.2.1 Lựa chọn nhóm môn TD phát triển thể lực chung 33

3.2.2 Nghiên cứu lựa chọn các test đánh giá sự phát triển thể lực chung cho nam học sinh trường THPT Thuận Thành Số 1 Bắc – Ninh 36

3.3 Đánh giá hiệu quả môn thể dục tự chọn phát triển tố chất thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1 Bắc – Ninh 40

3.2.1 Kết quả trước kiểm tra thực nghiệm 40

3.3.2 Tổ chức thực nghiệm 41

3.2.3 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm 43

3.2.4 So sánh Kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm của các nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 44

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Thuận Thành số

1 Bắc Ninh (n = 8) 29

Bảng 3.2 Thực trạng cơ sở vật chất TDTT của trường 30THPT Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh 30

Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn đánh giá về nhu cầu và thực tế thể lực học sinh nam khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1- Bắc Ninh (n = 20) 32

Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn một số môn TD phát triển thể lực chung cho học sinh nam khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh (n = 20) 35

Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn lựa chọn phương tiện đánh giá đối tượng nghiên cứu (n = 20) 37

Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra 2 nhóm nghiên cứu trước thực nghiệm 40

Bảng 3.7 Tiến trình giảng dạy trong 6 tuần (12 giáo án) 43

Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm nghiên cứu 44

Bảng 3.9a So sánh Kết quả kiểm tra các tốt chất thể lực chung của nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm (n = 35) 45

Bảng 3.9b So sánh Kết quả kiểm tra các tốt chất thể lực chung của nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm (n = 35) 46

Biểu đồ 1: Biểu đồ diễn biến thay đổi thành tích chạy 30m XPC của nam học sinh khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh 47

Biểu đồ 2: Biểu đồ biểu diễn sự thay đổi thành tích bật xa tại chỗ của nam học sinh khối 11 trường THPH Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh 47

Biểu đồi 3: Biểu đồ diễn biến sự thay đổi thành tích nằm ngửa gập bụng của nam học sinh khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1- Bắc Ninh 48

Biểu đồi 4: Biểu đồ diễn biến sự thay đổi thành chạy tùy sức 5 phút của nam học sinh khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1- Bắc Ninh 48

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm xây dựng đất nước ta thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Sự nghiệp đổi mới nói chung, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng đang đặt ra nhưng yêu cầu ngày càng cao đối với sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực Sau hàng trăm năm sống dưới chế độ thực dân phong kiến, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh chống ngoại xâm, nhân dân ta bước vào công cuộc xây dựng đất nước với hạ tầng cơ

sở kinh tế rất nghèo nàn, đời sống nhân dân lao động còn có nhiều khó khăn, sức khỏe con người cũng giảm sút nghiêm trọng

Để thực hiện xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, một mặt phải tạo

ra một đội ngũ đông đảo lao động trí tuệ có trình độ chuyên môn cao, có lập trường chính trị vững vàng và đạo đức trong sáng, mặt khác phải tạo ra một nguồn nhân lực có thể lực ngày một cường tráng, đáp ứng với nhịp độ lao động công nghiệp ngày càng tăng cao Để tạo ra được một đội ngũ lao động phát triển toàn diện về trí tuệ và thể chất, đó là trách nhiệm của nhiều ngành kinh tế, văn hóa xã hội y tế, trong đó có ngành giáo dục thể thể thao

Từ sau khi cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, đặc biệt là sau ngày thống nhất đất nước (1975) Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm to lớn tới công tác thể dục thể thao nói chung giáo dục thể chất trong nhà trường nói riêng, coi sức khỏe là một trong những vốn quý nhất của con người

Điều 41 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 đã “Quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học”.[5]

Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học”.[2]

Trang 8

Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII và Chỉ thị 192/CT của Chính phủ đã chỉ rõ: Sự cần thiết phải coi trọng việc cải tiến nội dung phương pháp và điều kiện tập luyện, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

và điều kiện tập luyện, giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp từ bậc phổ thông đến đại học.[9]

Mục tiêu giáo dục thể thể chất trong nhà trường phổ thông gắn liền và góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục và đào tạo, giữ vị trí quan trọng và then chốt trong chiến lược phát triển sự nghiệp TDTT Về phương diện báo

cáo chính trị đại hội Đảng VIII đã nêu rõ: “Công tác thể dục thể thao cần coi trọng, nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường đại học và trung học phổ thông”.[1]

Để thực hiện được mục đích giáo dục thể chất trong các trường phổ thông là: Góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo toàn diện đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật, quản lí kinh tế văn hóa xã hội, phát triển hài hòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp Ngày 23/1/1989, Bộ trưởng Bộ Đại học Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đã ra quyết định số 203/quyết định - TDTT, ban hành chương trình giáo dục thể chất mới, nhằm giải quyết các nhiệm vụ

1 Giáo dục dạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần cho tập thể, ý thức tổ chức kỷ luận, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất

và bảo vệ tổ quốc

2 Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tập luyện TDTT,

kĩ năng vận động và kĩ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp

3 Góp phần duy trì và củng cố sức khỏe của học sinh phát triển cơ thể một cách hài hòa

Trang 9

Trong chương trình giờ học TDTT nội khóa là hình thức cơ bản của giáo dục thể chất, được tiến hành trong kế hoạch dạy học, với thời gian 150 tiết, được chia làm hai phần:

- Phần cứng (bắt buộc)

- Phần mềm (tự chọn)

Mặc dù có chương trình cải tiến, nhưng thể lực chung của học sinh hầu như chưa được cải thiện đáng kể Tình hình phát triển thể chất, sức khỏe và thể lực của học sinh các trong trường trung học phổ thông, như Bộ giáo dục

và đào tạo đánh giá ở thập kỷ 90 là đáng lo ngại: hàng năm, có tới 38,8% trường hợp học sinh mắc các bệnh thông thường phải nghỉ học hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến học tập Trong đó trường Trung học phổ thông Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh được xếp loại thể lực yếu

Một trong những nguyên nhân của hiện trạng đó là việc dạy và học môn thể dục ở nhiều trường mới chỉ là dừng ở hình thức, chủ yếu cho có được điểm số đánh giá mà chưa chú trọng thực chất, chưa quán triệt sâu sắc và đồng nhất ý nghĩa từng nội dung giáo dục thể chất là:

- Trang bị kiến thức lý luận TDTT thì trang bị đến đâu?

- Trang bị kỹ năng TDTT thì trang bị đến trình độ nào?

- Giáo dục về thể chất, phát triển thể lực phải được coi trọng ra sao? Tất cả những vấn đề trên có quan hệ chặt tới việc phân chia tỷ lệ nội dung giáo dục môn học Bởi vì, nếu tăng tỷ lệ nội dung giáo dục kỹ năng thì chỉ giúp cho học sinh nắm bắt về kỹ thuật, động tác tốt, song để nâng cao sức khỏe, phát triển tố chất thể lực thì phải tăng tỷ lệ nội dung giáo dục thể lực Trong khi đó mục đích đào tạo giáo dục thể chất các trường Trung học phổ thông, nhu cầu đòi hỏi không lớn Phần nhiều, các kỹ năng TDTT đã được trang bị ở các trường Trung học cơ sở, chỉ cần hoàn thiện chúng ở cấp học

Trang 10

thời gian chương trình giáo dục thể chất quá ít ỏi với 90 tiết, thì tất cả sẽ dẫn tới làm giảm sút hiệu quả tăng cường và phát triển thể chất cho học sinh Do

đó, khó có thể thực hiện được mục đích giáo dục thể chất trong các trường học phổ thông là phải tăng cường thể lực cho học sinh

Mặt khác, việc nâng cao thể chất cho học sinh nếu chỉ dựa vào 90 tiết học chính khóa cũng khó có thể nâng cao và phát triển thể chất Do vậy, việc nâng cao chất lượng hiệu quả tập luyện các giờ tập ngoại khóa đóng một vai trò rất quan trọng Bởi vì, giờ học ngoại khóa trong ba năm là 120 tiết theo chương trình giáo dục của Bộ giáo dục đào tạo Số giờ học còn lớn hơn giờ chính khóa, có thể phát huy tính tự giác, tăng tính tập luyện của học sinh

Trường trung học phổ thông Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh phần đông

là học sinh nam, là một trường áp dụng thử nghiệm sớm chương trình cải cách giáo dục thể chất Qua thực hiện chương trình, chúng tôi thấy chương trình của Bộ giáo dục mới đề ra nội dung học môn học để lựa chon cũng như quỹ thời gian chương trình được chia làm hai phần, phần cơ bản và phần tự chọn song chương trình của Bộ giáo dục đưa xuống chưa có chỉ đạo và định hướng

cụ thể về tỉ lệ và thời gian thực hiện các nội dung giáo dục trong giờ học bắt buộc Từ đó các giáo viên quán triệt khác nhau, phần lớn mỗi giáo viên chỉ dành 10 - 15 phút cho tập luyện thể lực, còn khoảng 70% thời gian cho giáo dục kĩ năng Về giáo dục ngoại khóa mới chỉ dừng lại ở hình thức phổ biến nội dung rèn luyện thân thể,yêu cầu phương pháp tập luyện, đồng thời trang

bị một số dụng cụ tập luyện phục vụ cho tập luyện ngoại khóa của học sinh, chưa có sự động viên khích lệ và quản lý của giáo viên bộ môn, việc tập luyên ngoại khóa của học sinh thông quá các môn học mà các em yêu thích Do vậy khẳng định hoạt động tập luyện mang tính tự phát, tự nguyện dẫn đến việc tập luyện ngoại khóa thấp

Trang 11

Xuất phát từ thực tiễn đó, để nâng cao hiệu quả giảng dạy, học tập nhất

là phát triển thể lực cho nam học sinh khối 11, xác định phương pháp và biện pháp phát triển thể lực cho đối tượng nêu trên là hết sức cần thiết Vì vậy tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự

chọn phát triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh”

*Giả thuyết khoa học:

Việc đưa một số nhóm môn thể dục tự chọn gây được hứng thú cho người tập thì hiệu quả tập luyện sẽ tốt hơn Từ đó sẽ phát triển được thể lực

chung cho nam học sinh khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về Giáo dục Thể chất và Thể thao Trường học

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến sự nghiệp phát triển TDTT vì sức khỏe nhân dân, Bác kêu gọi toàn dân thường xuyên rèn luyện thân thể giữ gìn sức khỏe và nâng cao thể lực Bác Hồ tin yêu thế hệ trẻ, quan tâm và chăm sóc đến sự phát triển thể chất của thế hệ trẻ, ngày về thăm Trường Trung cấp TDTT Trung ương (nay là Trường Đại học TDTT Bắc Ninh), Bác đã căn dặn:

" Các cháu học TDTT không phải để đạt ông kiện tướng này, bà kiện tướng

nọ Cái chính là người cán bộ phục vụ đắc lực cho nhân dân, đem hiểu biết của mình ra hướng dẫn mọi người cùng tập luyện để nâng cao sức khỏe đẩy lùi bệnh tật ".[7]

Định hướng về công tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ trong

những năm tới, Nghị quyết Trung ương II khóa VIII đã khẳng định: "Giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện, không chỉ phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức lối sống mà phải là con người cường tráng về thể chất Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội của tất cả các ngành các đoàn thể, trong đó có giáo dục

- đào tạo, y tế TDTT”.[10]

Trước tình hình mới, định hướng của Đảng về phát triển sự nghiệp

TDTT: "Phát triển TDTT là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người công tác TDTT phải góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh làm phong phú đời sống văn hóa tinh

Trang 13

thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang" [10]

Trong các văn bản Nghị quyết của Đảng đã khẳng định: Phải xây dựng nền TDTT có tính dân tộc, khoa học và nhân dân, phát triển rộng rãi phong trào TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao và tăng cường công tác GDTC trong nhà trường các cấp với khẩu hiệu: "Khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Cũng như khẳng định phát triển TDTT là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội

Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nêu: "Mục tiêu

cơ bản lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến

bộ, góp phần nâng cao sức khỏe thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân thực hiện nền giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh - sinh viên" [2]

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 có ghi: "Quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học" Điều đó đã khẳng định sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với TDTT và GDTC trong nhà trường, coi đó là nhiệm vụ cấp thiết của Đảng toàn dân, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển TDTT nước nhà.[5]

Luật giáo dục đã khẳng định: "Giáo dục là con đường chủ yếu và cơ bản

để chuẩn bị cho con người cho sự phát triển bền vững của đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là con người có sức khỏe và được phát triển toàn diện, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [8]

Để đưa công tác GDTC trong nhà trường trở thành một khâu quan

Trang 14

GDTC trong nhà trường các cấp phải được triển khai thực hiện đồng bộ với các mặt giáo dục tri thức và nhân cách từ tuổi thơ cho đến Đại học Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản quyết định ban hành quy chế về công

tác GDTC trong nhà trường các cấp Trong đó đã khẳng định: "Giáo dục thể chất được thực hiện trong nhà trường từ mầm non đến đại học, góp phần đào tạo những công dân phát triển toàn diện GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, nhằm giúp con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, thể chất , sức khỏe là nhân tố quan trọng trong việc phát triển sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".[8]

- Chỉ thị 106/CT-TW ngày 2/10/1958 của ban bí thư trung ương Đảng

đã đề cập đến các vấn đề quan trọng của công tác TDTT như: “Vai trò và tác dụng của công tác TDTT, về thể thao quốc phòng, phát triển thể thao quần chúng ở các trường học”.[3]

Các bản chỉ thị này một lần nữa khẳng định giáo dục thể chất cho nhân dân lao động trong đó có học sinh, sinh viên trường học là rất cần thiết

và quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ đặc biệt là cho thanh niên, học sinh, sinh viên trường học, là cơ sở vững chắc để cán bộ ngành giáo dục và đào tạo và ủy ban TDTT triển khai nhiều văn bản phát quy quan trọng, nhằm tiêu chuẩn hóa công tác giáo dục thể chất trong các nhà trường

Với sự quan tâm săn sóc sức khỏe con người của Đảng và nhà nước, để thực hiện chủ trương đường lối công tác TDTT nói chung và vấn đề giáo dục thể chất nói riêng của các cấp học, ở các trường trong nhiều năm qua Công tác giáo dục thể chất được Bộ giáo dục và đào tạo thể chế bằng nhiều văn bản,

Trang 15

pháp quy trong việc chỉ đạo phát triển công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học

1.2 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh THPT

1.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông

Về mặt tâm, các em tỏ ra mình là người lớn, muốn để cho mọi người tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có hoài bão, nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống

Ở lứa tuổi này chủ yếu là tuổi hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là lứa tuổi của lãng mạn, mơ ước độc đáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn Đó là lứa tuổi đầy nhu cầu sáng tạo, nảy nở những tình cảm mới, trong đó có mối tình đầu thường để lại dấu vết trong sáng trong suốt cuộc đời

Trí tuệ các em mang tính nhạy bén và phát triển đến trình độ tương đối,

tư duy các em chặt chẽ và nhất quán các em đã có thái độ tự giác và tích cực trong tập luyện, xuất phát từ những động cơ đúng đắn và rất nhạy bén với những cái mới Tuy nhiên, tâm lý và suy luận thích triết lý lại đưa các em đến chỗ vội vàng, thiếu khái quát, thiếu cơ sở thực tế nên xuất hiện thực trạng xa rời lý thuyết với thực hành

Trí nhớ lứa tuổi này hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớ máy móc

do các em đã biết ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính lôgic tư duy chặt chẽ hơn

và lĩnh hội bản chất vấn đề cần học tập Do đó, trong giảng dạy giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực tiếp kết hợp với giảng giải, phân tích sâu sắc chi tiết kỹ thuật động tác và vai trò ý nghĩa cũng như cách sử dụng các phương tiện, phương pháp trong GDTC để các em có thể tự lập một cách độc lập trong thời gian nhàn rỗi

Trang 16

Các phẩm chất ý chí rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn học sinh các lứa tuổi trước đó, các em có thể hoàn thành được những bài tập khó

Các môn thể dục có ảnh hưởng nhất định đến việc phát triển các mặt tâm

lý của người tập như: Tri giác, sự quan sát, trí nhớ, sự tư duy, trí tưởng tượng, cảm xúc và các phẩm chất đạo đức ý chí

1.2.2 Đặc điểm sinh lý học sinh trung học phổ thông

Lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn thiện, các bộ phận cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ chậm dần, chức năng sinh lí

đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ thống cơ quan của cơ thể cũng được cao hơn

- Hệ thần kinh

Hệ thần kinh tiếp tục được phát triển đến hoàn thiện khả năng tư duy, phân tích, tổng hợp và trừu tượng hoá được phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các phản xạ có điều kiện Mức độ tiếp thu các kỹ thuật động tác, kỹ năng, kỹ xảo tới mức tối đa

Kích thước não và hành tuỷ đạt đến mức của người trưởng thành Khả năng tuy duy, khả năng phân tích, tổng hợp và trừu tượng hoá được phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện Đây là đặc điểm thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thành kĩ thuật động tác

Tuy nhiên, đối với một số bài tập mang tính đơn điệu thiếu hấp dẫn sẽ làm cho học sinh chóng mệt mỏi Do đó, cần thay đổi nội dung, hình thức tập luyện theo hướng đa dạng, phong phú Đặc biệt, tăng cường hình thức thi đấu

và trò chơi vận động để gây hứng thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập đề ra Cần lưu ý, khi sử dụng những bài tập này phải tính đến đặc điểm sinh lý của học sinh

Trang 17

- Hệ tuần hoàn

Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh, mạch đập khoảng 70 - 80 lần/phút Hệ thống điều hoà vận mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt, sau vận động mạch và huyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng Vì vậy, ta cần áp dụng những bài tập có khối lượng và cường độ vận động tương đối lớn như: Chạy 500 – 600m, chuyền bóng cự ly 6 - 8m Khi sử dụng bài tập có khối lượng và cường

độ vận động lớn hoặc các bài tập phát triển sức bền cần thường xuyên kiểm tra, theo dõi

- Hệ hô hấp

Đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình của nữ từ

67 - 72cm, diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100 - 120cm2, dung lượng phổi

tăng nhanh chóng khoảng 3 - 4 lít, tần số hô hấp 10 - 20 lần/phút

Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ, chủ yếu là co giãn cơ hoành Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý thở bằng ngực để có tác dụng phát triển hệ hô hấp

Tóm lại: ở lứa tuổi này hệ cơ quan của các em đã phát triển tương đối

đầy đủ, nhưng chưa thực sự hoàn chỉnh Do đó trong quá trình huấn luyện việc sử dụng các bài tập cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý, đối xử các

Trang 18

biệt với các em, nhất là các có thể lực yếu cần động viên khuyến khích các em tập luyện phù hợp, có như vậy mới đem lại hiệu quả cao trong tập luyện

1.2.3 Giáo dục thể chất đối với học sinh

GDTC là quá trính sư phạm nhằm hoàn thiện về mặt thể chất và chức năng của cơ thể con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng kỹ xảo vận động trong đời sống, trong lao động, GDTC là một bộ phận của TDTT, là một những hình thái hoạt động cơ bản định hướng rõ của TDTT trong xã hội Hay cụ thể nói cách khác GDTC là loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt

là dạy học vận động và phát triển có chủ định các tố chất thể lực của con người

GDTC và thể thao trường học duy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho học sinh, rèn luyện thân thể đạt tiêu chuẩn thể lực theo quy định Trang bị cho học sinh kiến thức lý luận cơ bản về nội dung, phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật động tác cơ bản một số môn thể thao Rèn luyện cho học sinh cho có ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể , xây dựng lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể Đồng thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các trường xây dựng và rèn luyện thân thể Đồng thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các trường xây dựng và

rèn luyện phong trào thể thao mạnh mẽ và sâu rộng “thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh ”

GDTC trong các trường trung học phổ thông góp phần trong việc: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài xây dựng lớp người chủ nhân tương lai của đất nước

Trên cơ sở tư tưởng đó, GDTC đối với học sinh là một việc không thể thiếu được trong công tác giáo dục và đào tạo Sức khỏe được coi như là vốn quý nhất của con người, là tài sản vô giá của quốc gia

Trang 19

Từ những vẫn đề trên có thể nêu ra một vài ý kiến về việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá trình độ chuẩn bị thể lực cho học sinh như sau:

- Đánh giá trình độ thể lực cho học sinh nhất thiết phải dựa trên cả hai mặt hình thái, chức năng (chức năng sinh lý, chức năng thần kinh - tâm lý, chức năng vận động) Việc lựa chọn các chỉ tiêu được nghiên cứu thống nhất

để có khả năng thực thi cũng như mang tính khoa học cao

- Từ nghiên cứu trình độ chuẩn bị thể lực của học sinh, cần có những nghiên cứu tiếp theo để xây dựng các TEST “đại diện” và tiêu chuẩn đánh giá nhằm tạo điều kiện thận lợi cho cán bộ giảng dạy cũng như học sinh dễ dàng đánh giá trình độ chuẩn bị thể lực của mình

1.3 Phương pháp phát triển các tố chất thể lực chung

Chuẩn bị các tố chất thể lực chung và chuyên môn nhằm mục đích trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả học tập, tạo ra năng lực làm việc cao cho quá trình học tập và công tác sau này của người học

Nhân tố quan trọng nhất đảm bảo đảm chuẩn bị thể lực toàn diện cho học sinh mang tính chất hướng nghiệp là chuẩn bị thể lực chung, bởi vì giáo dục toàn diện các năng lực thể chất và thường xuyên sẽ làm phong phú vốn kỹ năng hiệu quả của mọi hoạt động

Một trong những nhiệm vụ chính của chuẩn bị thể lực chung cho học sinh là phát triển toàn diện các tố chất thể lực bao gồm: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sự khéo léo, độ dẻo và các tố chất thể lực chuyên môn cần cho nghề nghiệp

Về phương diện học sinh, chuẩn bị thể lực toàn diện dựa trên cơ sở học thuyết sinh lý Páp-lốp, xem cơ chế coi con người như một thể hoàn chỉnh, trong đó các tố chất thể lực của con người có mối quan hệ mật thiết với nhau Phát triển riêng một tố chất thể lực nào đó đều có ảnh hưởng tới các tố chất

Trang 20

tượng học sinh có ý nghĩa rất đặc biệt ở lứa tuổi học sinh, cơ thể còn đang phát triển rất mạnh Vì vậy cần tác động có mục đích tới quá trình giảng dạy TDTT đối với họ

Quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp thông qua các bài tập TDTT có trong chương trình giảng dạy ở các trường học, góp phần vào việc phát triển các tố chất thể lực cơ bản kể trên Kinh nghiệm giảng dạy đã chỉ rõ rằng: Nếu trong một tuần chỉ có 2 buổi tập TDTT như hiện nay thì chư đủ để phát triển các tố chất thể lực cơ bản Vì vậy, nên quan tâm đến sự phát triển các tố chất này vào các giờ thể dục khoại khóa, hay tự tập ở nhà Hơn nữa, mỗi bài tập TDTT chỉ góp phần phát triển ở mức độ nào đó một hay vài tố chất chứ không phải tất cả, thí dụ: khi chay cự ly 30m - 60m về cơ bản là phát triển sức mạnh tốc độ, còn cử tạ thì phát triển sức mạnh

Hiệu quả tác động của bài tập nhằm phát triển các tố chất thể lực phần lớn phụ thuộc vào phương pháp tập luyện thí dụ: Nếu thực hiện một hay vài lần động tác cử tạ góp phần phát triển sức mạnh hay sức mạnh tốc độ, còn nếu lặp lại nhiều lần sẽ phát triển sức bền nhanh

1.3.1 Phát triển tố chất sức nhanh

Trong quá trình phát triển sức nhanh động tác, cần nâng cao khả năng chức năng của cơ thể, bởi vì các khả năng này xác định đặc tính tốc độ đối với các dạng hoạt động Nếu nói về chuyên môn hóa thể thao,thì chuẩn bị thể lực

ở tuổi học sinh là rất cần thiết Vì vậy, không nên giáo dục chỉ sức nhanh (theo nghĩa hẹp) cho đối tượng này Để đạt kết quả mong muốn tốt nhất nên

sử dụng các bài tập sức mạnh và sức mạnh tốc độ

Biện pháp chủ yếu phát triển sức nhanh là các bài tập thực nghiệm với tốc độ tối đa, thí dụ: 50 - 60m tốc độ cao, từ xuất phát hay đi thường, chạy nhanh 30 - 50m, chạy 60-100m, chạy tiếp sức, chạy xuống dốc và các bài tập chuyên môn khác Chiều dài quãng đường chạy phải sao cho tốc độ cao còn

Trang 21

giữ được đến cuối, động tác thực hiện với tốc độ tối đa, khoảng cách giữa các lần đủ lớn, nên bài tập tốc độ phải được thay đổi tình huống thực hiện

Phương pháp cơ bản giáo dục sức nhanh là phương pháp tổng hợp ,có nghĩa là tập theo một hệ thống xen kẽ các bài tập chuyên môn với trò chơi vận động và các môn bóng Một phương pháp tập khác nhau có hiệu quả là phương pháp lặp lại bài tập sức mạnh tốc độ, với trọng vật nhỏ hoặc tay không, với tốc độ giới hạn và gần giới hạn

1.3.2 Phát triển tố chất sức mạnh

Trong quá trình giáo dục thể chất cho học sinh, phát triển sức mạnh có

ý nghĩa to lớn Tập luyện sức mạnh kích thích tính tích cực của các tố chất, hệ thống cơ quan trong cơ thể Nhờ có sức mạnh, khả năng phối hợp động tác của con người được hoàn thiện Sức mạnh được phát triển là cơ sở để hình thành các tố chất thể lực khác

Nhiệm vụ cơ bản phát triển sức mạnh cho học sinh là củng cố các nhóm

cơ của bộ máy vận động, biết thực hiện đúng sức mạnh tính chất động tác trong các điều kiện khác nhau

Các bài tập vận động với trọng vật nhỏ và trung bình có hiệu quả tốt phát triển sức mạnh Các bài tập cử tạ với liền lượng hợp lý, có tính tới đặc điểm lứa tuổi và trình độ tập luyện cũng rất có lợi Theo số liệu nghiêm cứu nếu áp dụng thích hợp lượng vận động sức mạnh, sau một thời gian ngắn, sự tăng trưởng sức mạnh cơ có thể đạt tới 18 - 20% và sức mạnh bền là 35 - 45% (độ tuổi 17 -20)

Trong các buổi tập, để phát triển sức mạnh cho học sinh có thể sử dụng các bài tập cử tạ từ 8, 10, 16, 20 và 32 kg Có thể sử dụng bao cát, các bài tập trên dụng cụ thể dục, dây chun lò xo …

Trang 22

Phương pháp chủ yếu để phát triển sức mạnh các nhóm cơ là phương pháp dùng sức lặp lại với trọng lượng trung bình, phương pháp dùng sức động (thực hiện lặp lại các bài tập sức mạnh tốc độ)

Để phát triển sức mạnh bền có thể sử dụng hình thức tập luyện vòng tròn Một vòng tròn (còn gọi là một chu kỳ )được xếp thứ tự các động tác sau đây: Bật qua ghế thể dục (3 - 4 lần), đứng lên ngồi xuống với trọng vật, các động tác chuyển từ tư thế nằm sang tư thế ngồi và ngược lại, bật nhảy qua 2 -

3 chướng ngại vật và một số động khác Có thể thực hiện 3 - 4 vòng (chu kỳ) trong khoảng thời gian 15’ Tùy theo mức độ phát triển sức mạnh và sức bền, tăng số lần lặp lại, đồng thời các động tác được phức tạp thêm lên

Tập luyện sức mạnh cần tăng lượng vận động theo giai đoạn, tăng trọng lượng vật nặng, tăng số lần, số lượt,… Cần nhớ rằng tập luyện sức mạnh quá mức có thể dẫn đến mệt mỏi hoặc quá sức Vì vậy, cần xác định đúng lượng vận động sức mạnh và sức mạnh tốc độ theo lứa tuổi học sinh

1.3.3 Phát triển tố chất sức bền

Sức bền là tố chất thể lực quan trọng để phát triển thể lực toàn diện cho học sinh Biện pháp chủ yếu để phát triển sức bền chung cho học sinh là chạy gắng sức trong thời gian dài Bài tập này là tiền đề nâng cao khả năng làm việc của các hệ thống cơ quan của cơ thể, bảo đảm cho sức chịu đựng cao trong học tập và công tác, thí dụ: Trong một buổi tập, học sinh có thể chạy bền từ 4- 7km Các biện pháp khác sử dụng để nâng cao sức bền gồm có bơi,

đi bộ, đua xe và các trò chơi vận động… Ở các buổi tập đầu tiên, để phát triển sức bền, nên dùng bài tập chạy nhịp độ điều, cường độ không lớn, tăng dần theo thời gian từ 5-8” đến 12-25” Sau đó, có thể chạy biến tốc Tổ hợp bài tập theo phương pháp (hình thức) tập vòng tròn gồm các kiểu chạy, tiến hành dưới dạng trò chơi hay thi đấu Điều đó, giúp người tập dễ khắc phục lượng vận động lớn Khi sử dụng phương pháp này phải chú ý đến đặc điểm

Trang 23

sinh lý, giới tính và đội tuổi của học sinh, để xác định số lần lặp lại cho mỗi người Sau đó, tăng dần lượng vận động lên

Sức bền chuyên môn được phát triển theo hướng, nếu sức bền chung có được nhờ các bài tập mang tính chu kỳ thì sức bền chuyên môn phát triển bằng các dạng bài tập chuyên môn hóa theo tính chất ngành nghề

1.3.4 Phát triển tố chất khéo léo (hay khả năng phối hợp vận động)

Các bài tập để giáo dục năng lực khéo léo cho học sinh có rất nhiều Đó

là các động tác nhảy, giữ thăng bằng, ném bắt, các bài tập có sự phối hợp cao Ngoài ra, còn có các bài tập thực hiện trong điều kiện phức tạp, thí dụ: chạy khắc phục chướng ngại vật… các môn bóng và các bài tập thể dục là nhưng phương tiện có hiệu quả phát triển sức khéo léo

Các bài tập nhào lộn và thể dục góp phần phát triển năng lực tố chất khéo léo Các bài tập còn là biện pháp tốt để hình thành khả năng biết thả lỏng

cơ bắp hợp lý Một thành phần quan trọng của sức khéo léo là tốc độ phản ứng trước tình huống mới nảy sinh Để hoàn thiện khả năng này, có thể dùng nhưng bài tập buộc phải phản ứng nhanh Thí dụ: trong các môn bóng, nên rút ngắn khoảng cách giữa các cầu thủ, trong các môn võ vật, tăng số lần và tốc

độ tấn công đối phương

Các môn bóng và trò chơi vận động là phương tiện tốt nhất để phát triển sức khéo léo, vì trong quá trình chơi liên tục, nảy sinh các tình huống bất ngờ, buộc người tập phải khắc phục Để khắc phục sự khéo léo có thể thay đổi lượng vận động bằng cách tăng cường độ có sự phối hợp Thí dụ: Thay đổi tư thế ban đầu, thay đổi bằng cách thực hiện bài tập làm phức tạp bài tập bằng các động tác phụ…

Đánh giá trình độ khéo léo nhờ các tiêu chuẩn sau đây: Sự phức tạp phối hợp thực hiện nhiệm vận động Thí dụ: Vượt qua khoảng cách chướng

Trang 24

nào đó, thời gian nắm vững động tác, thời gian học một liên hợp động tác thể dục…

Ở độ tuổi học sinh 17 tuổi còn có những thuận lợi để phát triển sức khéo léo, tuy có phần khó khăn so với tuổi trước đó, vì cơ thể đã bước sang giai đoạn trưởng thành

1.3.5 Phát triển tố chất mềm dẻo

Tố chất dẻo càng có vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục thể chất cho học sinh, đặc biệt là học sinh nam Để phát triển tố chất này, thường sử dụng các bài tập kéo dãn cơ bắp, dây chằng các khớp, làm tăng biến độ động tác đến giới hạn có thể Các bài tập được lựa chọn từ thể dục cơ bản và thể dục bổ trợ, có động tác chọn lọc đến đến các nhóm cơ, dây chăng ở tay, chân, thân mình, cổ…

Phát triển độ dẻo có thể bằng các bài tập tay không, với dụng cụ hoặc trên các dụng cụ của thể dục (trên thang dóng)… tăng biên độ động tác ngoài ngoại lực, còn vận dụng nội lực của chính cơ bắp người tập Tổ chất này cũng phát triển có hiệu quả, nếu sử dụng trò chơi vận động, các môn bóng Các bài tập cần được kết hợp với các bài tập nhằm củng cố khớp day chằng, cơ bắp Nhịp độ thực hiện bài tập sức dẻo tùy thuộc vào trình độ người tập và mục đích người tập luyện

Phương pháp chủ yếu phát triển mềm dẻo là thực hiện lặp lại bài tập… cần thường xuyên tập luyện tố chất này và sắp xếp bài tập xen kẽ với những bài tập phát triển các tốt chất vận động khác Nhờ lặp lại nhiều lần bài tập, biên độ động tác tăng lên Phát triển mềm dẻo đạt được kết quả mong muốn, nếu như bài tập hàng ngày (2 lần trong một ngày) Ngoài ra nên đưa tập luyện sức dẻo vào chương trình thể dục buổi sáng, dưới hình thức tự tập luyện

Trang 25

1.4 Đặc điểm chương trình GDTC ngoại khóa tại trường THPT Thuận Thành số 1 - Bắc Ninh

Hoạt động TDTT ngoại khóa là một hoạt động thể dục, thể thao có tổ chức được tiến hành ngoài giờ học chính khóa của học sinh,có lịch sử từ hàng trăm năm, lúc đầu chủ yếu tổ chức các cuộc giao hữu giữa các trường về các môn điên kinh, thể dục và một số môn bóng

Sau cách mạng tháng 8 và đặc biệt sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, thể dục, thể thao ngoại khóa có sự phát triển với quy mô rộng lớn, văn

hiến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1960) đã nhấn mạnh phải “phát triển phong trào thể dục, thể thao kết hợp phong trào vệ sinh phòng bệnh thành một phong trào quần chúng rộng rãi có tính chất thường xuyên, liên tục sinh viên, học sinh…” [4] Đã có sự cuấn hút đông đảo học sinh, sinh viên tham ra

tập luyện ngoại khóa và tích cực mở rộng phong trào tập thể dục 10 phút hàng ngày

Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động thể thao ngoại khóa vẫn được duy trì và phát triển mạnh mẽ

1.5 Các cơ sở lý luận, quan điểm của TD tự chọn

1.5.1 Cơ sở lý luận

Thể dục thể thao là một bộ phận quan trong không thể thiếu được trong công tác xây dựng nền văn hóa mới, con người mới Thể dục thể thao với mục tiêu chiến lược phát triển con người toàn diện, đồng thời là một phạm trù hoạt động xã hội Như vậy, TDTT chỉ phát huy được tác dụng khi mọi người, mọi tầng lớp nhân dân hiểu được mục đích, nguyên tắc, phương pháp tập luyện, áp dụng vào bản thân mình cho phù hợp, khoa học, tập luyện, rèn luyện TDTT với ý thức tự nguyện, tạo được thói quen tập luyện thường xuyên Đảng ta đã thấy rõ được ý nghĩa, vị trí chiến lược quan trong của TDTT đối với chiến

Trang 26

hiện chăm lo phát triển GDTC Nhà trường là cơ sở quan trọng, là nơi đào tạo những thế hệ trẻ từ mầm non đến Đại học

Trong những năm qua Bộ GD - ĐT đã quan tâm rất nhiều đến công tác GDTC trong các bậc học từ Tiểu học đền Đại học, Cao đẳng điều đó được thể hiện qua việc đổi mới chương trình thay sách giáo khoa các cấp, và đổi mới tiêu chí đánh giá cho điểm học sinh, sinh viên qua quy chế của Bộ GD – ĐT,

và Bộ GD - ĐT cũng đầu tư nhiều các công trình thể dục thể thao, đầu tư cơ

sở vật chất cho các trường học

Trường THPT Thuận Thành số 1 Bắc Ninh là một trường xa tỉnh Bắc –Ninh nên còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất cũng như trình độ nhận thức về môn giáo dục thể chất Việc dạy môn học GDTC trong đó có dạy môn

TD chỉ dừng lại ở việc học kỹ thuật mà chưa chú ý tới việc rèn luyện thể lực

Từ những thực trạng trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu sử dụng môn TD tự chon phát triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1 Bắc - Ninh Hy vọng đây có thể là tài liệu hữu ích cho các giáo viên nhà quản lý trường THPT Thuận Thành số 1 Bắc – Ninh

1.5.2 Quan điểm lựa chọn các môn TD tự chọn cho trường THPT Thuận Thành số 1 Bắc – Ninh

Dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý, văn bản hướng dẫn của Bộ giáo dục và Đào tạo, và hướng dẫn cụ thể của Sở giáo dục và Đào tạo

Căn cứ vào cơ sở chương trình - tiêu chuẩn: Đó là những kết quả cần phải đạt được trong quá trình giáo dục thể chất

Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 4 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học

Ngoài những môn được biên soạn trong chương trình Giáo viên, có thể lựa chọn môn thể thao khác trên cơ sở thực tế tại nhà trường hiện có để đảm

Trang 27

bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học theo sự chỉ đạo của Sở GD-ĐT, nhằm phát triển các môn Thể thao thế mạnh ở địa phương và phù hợp với điều kiện của nhà trường, (xây dựng mục tiêu, lựa chọn nội dung, kế hoạch dạy học, kiểm tra đánh giá và biên soạn chi tiết) bảo đảm thời lượng, nội dung vừa sức học sinh

Khi xây dựng và lựa chọn môn TD tự chọn cho học sinh cần căn cứ một

- Khi lựa chọn môn TD tự chọn cần chú ý các hình thức, phương tiện dạy học phải đảm bảo phát triển, nâng cao thể lực chung

- Đảm bảo tính hệ thống, liên tục dạy môn TD tự chọn sao cho các môn đã lựa chọn cho học sinh được học xuyên trong quá trình TN

Trang 28

CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Các nhiệm vụ nghiên cứu

Để giải quyết đề tài nghiên cứu trên, trong nghiên cứu tôi đã đặt ra các

nhiệm vụ sau:

Nhiệm vụ 1: Đánh giá trình độ thể lực chung cho nam học sinh khối 11

trường trung học phổ thông Thuận Thành số 1 Bắc - Ninh

Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá các môn TD tự chọn phát

triển thể lực chung cho nam học sinh trường THPT Thuận Thành số 1 Bắc - Ninh

2.2 Các phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nêu trên, các phương pháp nghiên cứu được

sử dụng để thu thập và xử lý thông tin bao gồm:

2.2.1 Phương pháp đọc tài liệu tham khảo

Phương pháp này là một trong những phương pháp nghiên cứu cơ bản của đề tài, được sử dụng suốt quá trình nghiên cứu, từ khi xây dựng đề cương nghiên cứu đến khi bảo vệ đề tài khoa học Các loại tài liệu được sử dụng bao gồm:

- Một số văn kiện đại hội Đảng cộng sản Việt Nam và nghị quyết của BCH TW Đảng, một số chỉ thị của BCH TW, của chính phủ, ủy ban TDTT

và bộ giáo dục và đào tạo về công tác GDTC trong nhà trường, đặc biệt trong trường trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp

- Các sách lý luận và phương pháp GDTC dùng cho học sinh trung học phổ thông

- Các sách giáo trình các môn y sinh học TDTT, như giải phẫu, sinh lý, kiểm tra y học,vệ sinh thể dục thể thao…

Trang 29

- Một số tài liệu và giáo trình nghiên cứu khoa học TDTT

- Các đề tài và luận án khoa học của nghiên cứu và của học viên trường TDTT1, của viện nghiên cứu khoa học TDTT đã được bảo vệ trong những năm gần đây

- Một số kỷ yếu của các hội nghị khoa học trường đại học TDTT1, tạp chí thông tin khoa học của viện khoa học TDTT

Danh mục các tài liệu tham khảo được trình bày ở cuối luận văn này

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp này được dùng để thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu Đối tượng phỏng vấn là nam sinh lớp 11 trường trung học phổ thông Thuận Thành số 1 Bắc - Ninh và một số giáo viên thể dục của trường

Hình thức phỏng vấn là sử dụng phiếu gồm những vấn đề được sắp xếp theo thứ tự khoa học, các vấn đề được hỏi đều liên quan đến đề tài nghiên cứu Để giảm nhẹ sự suy nghĩ cho người được hỏi, các phương án và câu trả lời được chuẩn bị từ trước, được liệt kê trong phiếu hỏi Người được hỏi chỉ cần suy nghĩ nhanh và thực hiện lựa chọn những đáp ứng minh cho là phù hợp, bằng cách điền vào ô trống ý mình cho là đúng

Các phiếu phỏng vấn được chúng tôi xử lý bằng phương pháp thống kê,

để rút ra các kết luận cần thiết Kết quả phỏng vấn được chúng tôi trình bày ở chương 3, phiếu hỏi chúng tôi trình bày ở phần phục lục của đề tài

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu nhắm quan sát trực tiếp giờ tập luyện, quá trình tập luyện của các nam học sinh khối 11 nhằm lựa chọn và sử dụng những môn thể dục phù hợp, giúp tôi định hướng tốt hơn trong việc sử dụng các môn thể dục về hình thức, phương pháp sử dụng các môn thể dục

Trang 30

2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Kiểm tra sư phạm bao gồm các bài thử sư phạm thường được dùng trong nghiên cứu khoa học, để đánh giá trình độ tố chất thể lực chung của người tập Trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng các 4 Test đánh giá tiêu chuẩn thể lực của Bộ:

- Test 1: Nằm ngửa gập bụng tính (lần/30s)

- Test 2: Bật xa tại chỗ tính (cm)

- Test 3: Chạy 30m XPC tính (s)

- Test 4: Chạy tùy sức 5 phút tính (m)

2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp này dùng dể đánh giá hiệu quả bài tập mà chúng tôi đã sử dụng nhằm phát triển các tố chất thể lực cho đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu được chia làm 2 nhóm: nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm

Nhóm thực nghiệm: Được sử dụng các môn thể dục tự chọn

Nhóm đối chứng: Tập luyện theo nội dung của học phần đang theo học

2.2.6 Phương pháp toán học thống kê

Để xử lý kết quả nghiên cứu đã sử dụng toán học thống kê dùng trong TDTT Các công thức bao gồm:

Trang 31

2) Công thức tính phương sai

𝛿2 =  2=

1

) (

Trong đó: : Là số trung bình cộng

: Là giá trị trung bình của nhóm đối chứng

: Là giá trị trung bình của nhóm thực nghiệm : Là số người của 2 nhóm

: Là giá trị khảo sát của i n: Là số cá thể

t: độ tin cậy về sự khác biệt

x1,x2: giá trị trung bình của hai đại lượng

sx,sx: sai số chuẩn của số trung bình

XAXBX

Ngày đăng: 23/11/2016, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chỉ thị 36/CT-TW của ban bí thƣ trung ƣơng Đảng khóa VII ”về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới”, (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới”
3. Chỉ thị 106/ CT- TW Đảng,(19580, “ vai trò và tác dụng công tác TDTT, về thể thao quốc phòng, phát triển thể thao quần chúng ở các trường học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: vai trò và tác dụng công tác TDTT, về thể thao quốc phòng, phát triển thể thao quần chúng ở các trường học
6. PGS.TS Lưu Quang Hiệp, (2003), Sinh lí TDTT, Nxb TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lí TDTT
Tác giả: PGS.TS Lưu Quang Hiệp
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2003
11. TG. Nguyễn Toán, Phạm Văn Tốn, (1993), “Lý luận và phương TDTT”, Nxb TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lý luận và phương TDTT”
Tác giả: TG. Nguyễn Toán, Phạm Văn Tốn
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1993
12. Th.S Đồng Văn Triệu,(2000), Lí luận và phương pháp GDTC trong trường học, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phương pháp GDTC trong trường học
Tác giả: Th.S Đồng Văn Triệu
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2000
13. Nguyễn Đức Văn, (2008), Phương pháp thống kê trong TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê trong TDTT
Tác giả: Nguyễn Đức Văn
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2008
1. Báo cáo chính trị đại hội Đảng VIII, (1996) Khác
4. Đại hội đại Đảng toàn quốc II,(1960) Khác
5. Điều 41 hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (1992) Khác
7. Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục thể thao của Hồ Chủ Tịch (1946) Khác
9. Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII (1991) 10. Nghị quyết TW II khóa VIII (1996) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.1. Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường (Trang 35)
Bảng 3.2. Thực trạng cơ sở vật chất TDTT của trường - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.2. Thực trạng cơ sở vật chất TDTT của trường (Trang 36)
Bảng 3.3. Kết quả phỏng vấn đánh giá về nhu cầu và thực tế thể lực học  sinh nam khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1- Bắc Ninh (n = 20) - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.3. Kết quả phỏng vấn đánh giá về nhu cầu và thực tế thể lực học sinh nam khối 11 trường THPT Thuận Thành số 1- Bắc Ninh (n = 20) (Trang 38)
Bảng 3.4. Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn một số môn TD phát triển - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.4. Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn một số môn TD phát triển (Trang 41)
Bảng 3.5. Kết quả phỏng vấn lựa chọn phương tiện đánh giá đối tượng - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.5. Kết quả phỏng vấn lựa chọn phương tiện đánh giá đối tượng (Trang 43)
Bảng 3.6. Kết quả kiểm tra 2 nhóm nghiên cứu trước thực nghiệm (n=70) - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.6. Kết quả kiểm tra 2 nhóm nghiên cứu trước thực nghiệm (n=70) (Trang 46)
Bảng 3.7 Tiến trình giảng dạy trong 6 tuần (12 giáo án) - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.7 Tiến trình giảng dạy trong 6 tuần (12 giáo án) (Trang 49)
Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm nghiên cứu - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.8 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm nghiên cứu (Trang 50)
Bảng 3.9a. So sánh Kết quả kiểm tra các tốt chất thể lực chung của nhóm - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.9a. So sánh Kết quả kiểm tra các tốt chất thể lực chung của nhóm (Trang 51)
Bảng 3.9b. So sánh Kết quả kiểm tra các tốt chất thể lực chung của nhóm - Sử dụng ngoại khóa một số môn thể dục tự chọn pháp triển thể lực chung cho nam học sinh khối 11 trường trung học phổ thông thuận thành số 1   bắc ninh
Bảng 3.9b. So sánh Kết quả kiểm tra các tốt chất thể lực chung của nhóm (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w