Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hiện nay an toàn giao thông là một vấn đề lớn, được cả xã hội quan tâm Đi khắpcác nẻo đường gần xa khẩu ngữ “An toàn giao thông là hạnh phúc cho mọi nhà” như lờinhắc nhở, cũng là lời cảnh báo với những người đang tham gia giao thông, hãy nghiêmchỉnh chấp hành luật giao thông để đem lại an toàn cho mình và hạnh phúc cho gia đìnhmình, góp phần xây dựng xã hội ngày càng văn minh, tố đẹp hơn
Nhưng hàng năm số vụ tai nạn giao thông vẫn không hề suy giảm, ngược lại nócòn tăng lên rất nhiều mà phần lớn nguyên nhân chính gây ra các vụ tai nạn là do ý thức ,thái độ chấp hành luật lệ giao thông của mỗi người còn hạn chế như: uống rượu bia vượtquá nồng độ cho phép khi lái xe, không đội mũ bảo hiểm ở phần đường bắt buộc phải đội
mũ bảo hiểm, chở trên ba người phóng nhanh vượt ẩu…
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Ngân hàng thế giới (WB) thìmỗi năm, thế giới có hơn 1,2 triệu người chết vì tai nạn giao thông đường bộ Thống kêcòn cho thấy, khoảng 50 triệu người khác bị thương trong các tai nạn đó Hai cơ quan nàycảnh báo, nếu chính phủ các nước không có biện pháp ngăn chặn tình trạng này thì đếnnăm 2020, tai nạn giao thông sẽ đứng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong ở người.Ở Việt Nam, hằng năm có 12.000 người thiệt mạng vì an toàn giao thông và 30.000người khác tổn thương sọ não, chủ yếu là do tai nạn xe máy, mô tô, theo Ngân hàng Pháttriển châu Á (ADB), tổn thất vật chất hàng năm ở Việt Nam do tai nạn giao thôngkhoảng 885 triệu USD Con số này còn cao hơn cả giá trị tiền thuốc sử dụng cho cả 84triệu dân Việt Nam trong năm 2005 (817 triệu USD) Nếu so sánh với tổng thungân sách cả nước thì con số 885 triệu USD chiếm hơn 5,5% tổng thu ngân sách cả nước/năm Và nếu so với tổn thất toàn cầu do tai nạn giao thông đường bộ khoảng 518 tỷ USD/năm (số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, WHO) thì con số tổn thất gần 1 tỷ USD/năm củaViệt Nam là quá nghiêm trọng
Với sự nhịp sống nhanh và thay đổi hàng giờ như hiện nay nhu cầu đi lại tham giagiao thông là việc tất yếu của mỗi cá nhân và thái độ của chúng ta khi tham gia giaothông ảnh hưởng rất lớn tới sự an toàn của bản thân và những người xung quanh Lứatuổi thanh niên trong đó có sinh viên là lứa tuổi mới lớn, không ít người trong đó có tưtưởng muốn khẳng định bản thân, cá tính của mình Họ thể hiện cả điều đó khi tham gia
Trang 2giao thông nhưng họ không lường hết được hậu quả của nó gây nên những tai nạn thươngtâm làm thiệt hại nặng nề về người và tài sản, tạo nên gánh nặng cho gia đình và cho xãhội Trong tổng số 10.140 vụ tai nạn giao thông, có 37% vụ liên quan đến đối tượng dưới
24 tuổi Tại Đà Nẵng, từ năm 2003-2008 có tới gần 2.000 trường hợp học sinh, sinh viên
vi phạm an toàn giao thông, trong đó 1.300 trường hợp bị xử phạt hành chính và 7 trườnghợp bị khởi tố do vi phạm luật an toàn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng ” để nghiên cứu.
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK thuộc Đại học ĐàNẵng
- Khách thể khảo sát: 306 sinh viên thuộc trường ĐHSP và ĐHBK
- Đối tượng nghiên cứu: Thái độ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối vớiviệc chấp hành luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Trường ĐHSP – ĐHĐN
Trường ĐHBK – ĐHĐN
+ Thời gian: Tháng 4/ 2011
4 Giả thuyết khoa học
Khi tham gia giao thông, thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô
tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong ĐHĐN còn chưa cao, có sự khác nhaugiữa các trường, nam và nữ Cụ thể chúng tôi đặt giả thuyết là những sinh viên TrườngĐHSP – ĐHĐN sẽ chấp hành luật giao thông tốt hơn sinh viên Trường ĐHBK – ĐHĐN
vì họ được học tập, đào tạo để sau này là những người có trách nhiệm trong giáo dục, đào
Trang 3tạo thế hệ trẻ Vì vậy, ngay từ khi còn là sinh viên họ đã phải ý thức được trách nhiệmtuân thủ các quy định của mình cao hơn những sinh viên thuộc các trường khác.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thái độ và thái độ của sinh viên đối vớiviệc chấp hành luật giao thông đường bộ
- Khảo sát thực trạng thái độ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK về việc chấphành luật lệ giao thông khi tham gia giao thông, ảnh hưởng của một số yếu tố đến thựctrạng này
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao thái độ của sinh viên đối với việc chấphành luật giao thông khi tham gia giao thông
6 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket): dùng để tìm hiểu thực trạng thái
độ của sinh viên về việc chấp hành luật lệ giao thông khi tham gia giao thông của kháchthể
- Phương pháp phỏng vấn: dùng để thu thập dữ liệu ban đầu cho việc thiết kế bảngcâu hỏi và bổ sung thêm thông tin cho các kết luận thu được từ việc xử lí số liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thống kê toán học: dùng để xử lí số liệu nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về thái độ
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về thái độ trên thế giới
Ngay vào cuối thế kỷ XIX, từ Darwin và Spence, ý nghĩa quan trọng của thái độ
đã được xem xét trong mối quan hệ với sự định hướng Về sau, khi nghiên cứu, phân tích
sơ lược lịch sử thái độ ở phương Tây nhà tâm lý học P.N.Shikirep đã chia thành ba thời
lỳ cơ bản Ông đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng quát về những nét đặc trưng trongnghiên cứu thái độ với thời kỳ lịch sử nhất định đó
- Thời lỳ đầu tiên ( từ 1918 đến chiến tranh thế giới thứ 2)
Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, 1918 là dấu mốc quan trọng Khái niệm thái độbắt đầu được sử dụng như một đặc tính quan trọng của các vấn đề xã hội bởi hai nhànghiên cứu người Mỹ W.I.Thomas và F.Znaniecki Trong nghiên cứu của mình về ngườidân Balan ở Mỹ, 1918 Hai ông rất chú ý tới sự thích ứng của họ đối với môi trường xãhội thay đổi ở Mỹ tới sự thay đổi các giá trị cũ bằng các giá trị mới mà đặc điểm chủ yếucủa nó là vấn đề thái độ Theo hai ông thì: “ Thái độ là trạng thái tinh thần của các cánhân đối với một giá trị”
Từ sự phát hiện trên của W.I.Thomas và F.Znaniecki bắt đầu bùng nổ các cuộcnghiên cứu về thái độ, tất cả các công trình nghiên cứu ở thời kỳ này đều tập trung vàođịnh nghĩa, cấu trúc, mối quan hệ giữa thái độ và hành vi Sở dĩ, khái niệm thái độ được
sử dụng rộng rãi như vậy vì nó bao hàm các mối liên hệ cơ bản với các vấn đề như dưluận xã hội, tuyên truyền sự mâu thuẫn giữa nhóm, cạnh tranh kinh tế,niềm tin tôn giáo,thay đổi hành vi và nhiều vấn đề có ý nghĩa to lớn khác về mặt lý luận và thực tiễn về cácmối quan hệ nói chung
Có một điều đáng lưu ý là năm 1934 Lapiere đã tiến hành một thí nghiệm gây kinhngạc: ông cùng với một sinh viên trẻ người Trung Quốc và vợ của anh ta làm một chuyến
du lịch vòng quanh nước Mỹ Họ đến thăm 184 hiệu ăn, 66 khách sạn Hầu như ở khắpmọi nơi, họ đều được đối xử lịch sự, chu đáo như nhau, chỉ có một trường hợp họ bị từchối phục vụ Sáu tháng sau, tất cả các cơ sở trên đều nhận được một lá thư với câu hỏi:
“Ông có chấp nhận tiếp đón người Trung Quốc như là khách hàng của nhà hàng không?”,có 128 cơ sở trả lời, kết quả là 91% số người được hỏi trả lời phủ định ( con số này cũnggần với con số trả lời của các cơ sở mà ông đến thăm) và ông đưa ra kết luận: thái độ và
Trang 5hành vi trong nhiều trường hợp đôi khi rất khác nhau Kết luận này được mang tên
“nghịch lý Lapiere”.Tuy nhiên kết quả nghiên cứu không phủ định hoàn toàn các cố gắngnghiên cứu thái độ thông qua sự biểu hiện bằng lời của các đối tượng mà chỉ cho các nàhtâm lý học một bài học quan trọng về việc phải cố gắng nhiều hơn nữa trong nghiên cứuthái độ và hành vi con người
Ngay từ năm 1935, trong “sổ tay tâm lí học xã hội” G.W.Allport đã cho rằng kháiniệm thái độ “ có lẽ là khái niệm khó phân biệt nhất và quan trọng nhất trong tâm lí học
xã hội hiện đại Mĩ” Ông cho rằng: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần vàthần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm,sử dụng sự điều chỉnh hoặc ảnh hưởngnăng động trong phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó(phản ứng) có mối quan hệ” Định nghĩa đó bao hàm cả nghĩa: thái độ là “trạng thái sẵnsàng về tâm thần kinh cho hoạt động tâm lí hoặc sinh lí”.Tức là có thể nói sự có mặt củathái độ chuẩn bị cho cá nhân tới một hành động nào đó Thái độ thù địch của một cá nhânvới một nhóm người sẽ làm cho anh ta có thiên hướng tham gia vào các hoạt động mà ởđó thái độ thù địch nói trên được thể hiện
Newcome cũng cho rằng thái độ của một cá nhân đối với một khách thể nào đó là
“thiên hướng hành động, nhân thức, tư duy, cảm nhận của anh ta với khách thể liênquan” Những gì mà chúng ta tin là đúng, và có một thái độ nhất định về một khách thểnào đó hay một nhóm nào đó sẽ đóng một vai trò hiển nhiên trong việc quy dịnh sự sằngphản ứng theo một cách thức nhất định của chúng ta
- Thời kỳ thứ hai ( từ 1940 đến cuối những năm 50)
Trong thời kỳ này cùng với việc nghiên cứu như đã đề cập, các nhà tâm lí họcphương Tây còn xem xét nhiều vấn đề khác nữa nhất là vai trò, chức năng, cấu trúc cũngnhư các học thuyết khác nhau về thái độ, ví dụ cấu trúc ba thành phần của M.Smith năm
1942 Nói chung thời kì này, kết luận của Lapiere đã đặt cơ sở cho chủ nghiã hoài nghi,các nghiên cứu về thái độ tập trung chủ yếu tìm hiểu, lí giải những hoài nghi vai trò củathái độ trong việc chi phối hành vi.Vì lí do chiến tranh, cùng với sự bế tắc trong lí giảicác nghịch lí nảy sinh khi nghiên cứu thái độ mà số lượng các công trình nghiên cứu thái
độ trong thời kì này có sự giảm sút một cách đáng kể cả về chất lượng lẫn số lượng Tuynhiên, nó cũng góp phần khẳng định nghiên cứu tâm lý con người là vô cùng phức tạp và
Trang 6không thể tránh những lúc bế tắc Trong giai đoạn nghiên cứu này cũng nổi lên một sốtên tuổi như Liker, Sank, G.Allport,Crechphend, J.Brunner.
- Thời kỳ thứ ba ( từ cuối những năm 50 đến nay)
Các nước phương Tây phục hồi và phát triển trở lại sau chiến tranh cùng với đócác công trình nghiên cứu thái độ cũng được tiếp tục với nhiều ý tưởng mới Tuy nhiênchính lúc này tâm lý học về thái độ cũng lâm vào khủng hoảng Trong tâm lý học xã hội,vấn đề thái độ cũng có một vị trí xứng đáng, các nhà nghiên cứu tiếp tục đưa ra quanniệm mới về định nghĩa, cấu trúc, chức năng… của thái độ Thời kỳ này đã xuất hiệncác phương pháp đo thái độ gián tiếp qua các chỉ số sinh học ( phương pháp điện cơ mặt),
kỹ thuật đường ống giả vờ, kỹ thuật lấn từng bước một Vào năm 1957 có một nghiêncứu đã lý giải tại sao “ Hành vi lại ảnh hưởng tới thái độ của con người?” đó là thuyết bấtđồng nhận thức( Leon Festinger), thuyết tự thể hiện, thuyết tự tri giác ( Darylbem) Ngoài các vấn đề trên các nhà tâm lý học phương Tây còn tập trung nghiên cứu, xem xétnhiều khía cạnh khác nhau của thái độ nhất là các vấn đề vai trò, cấu trúc, chức năng củathái độ như các nghiên cứu của M.Rokeach (1968), T.M Ostrom ( 1969) U.J.Mc.Guire(1969), và J.R.Rempell (1988) Đến năm 1972 cũng có một học thuyết nghiên cứu về mốiquan hệ giữa thái độ và hành vi của con người Đó là thuyết “ Tự nhận thức” của DarylBem Hai học thuyết của Festinger và Daryl Bem có ảnh hưởng khá lớn đến các nghiêncứu sau này Không những thế các nhà nghiên cứu cũng đưa ra phương pháp nghiên cứuhình thành, thay đổi thái độ như phương pháp “đường ống giả vờ” cho phép đo các thái
độ của con người do Edward Jones và Harold Sigall ( 1971) đề ra kỹ thuật “ lấn từngbước một” của Jonathan Freedman và Scott Fraer ( 1966)
Trong nghiên cứu tâm lý học giáo dục phương Tây (Learning set), các tác giả thường coithái độ học tập là một trong những nhân tố đóng vai trò động cơ thúc đẩy tính tích cựccủa học sinh với giáo viên, với môn học, cũng như thái độ trong từng giai đoạn học tập.Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó lại dựa vào “Thuyết hành vi” đề cao vai trò củacác yếu tố do con người tạo nên, như thưởng, phạt mà không chú ý nhiều đến các yếu tốmôi trường, chủ thể trong việc hình thành tri thức, kĩ năng
Xu thế chung của nghiên cứu thái độ hiện nay là nghiên cứu ứng dụng, phục vụcho các mục đích vận động bầu cử, tiếp thị, tuyên truyền bảo vệ môi trường, chữabệnh…
Trang 7Theo B.N.Sikhirep, đặc điểm tình hình nghiên cứu thái độ hiện nay ở phương Tây
là một mặt ngày càng có nhiều công trình và các phương pháp cụ thể nghiên cứu thái độ,mặt khác lại bế tắc về phương pháp luận trong việc lý giải các số liệu thực nghiệm
Sẽ là không đầy đủ nếu chúng ta xem xét về vấn đề thái độ nếu như chỉ xét nó ởkhía cạnh của các nhà Tâm lý học phương Tây mà bỏ quên các quan điểm của các nhàTâm lý học Liên Xô ( cũ)
- Nghiên cứu thái độ ở trường phái Tâm thế
Dựa vào các cơ sở thực nghiệm, D.N.Uznatze đã đề ra “Học thuyết tâm thế” Theoông, " tâm thế là trạng thái trọn vẹn của chủ thể, sẵn sàng tri giác các sự kiện và thực hiệncác hành động theo một hướng nhất định" Tâm thế là trạng thái sẵn sàng hướng tới mộthoạt động nhất định, là cơ sở của tính tích cực có chọn lọc, có định hướng của chủ thể.Tâm thế xuất hiện khi có sự “tiếp xúc” giữa nhu cầu và các tình huống thoả mãn nhu cầu,giúp cá nhân thích ứng với các điều kiện của môi trường Uznatze khắc phục tính đơngiản và cơ học, quan điểm trực tiếp của hành vi đã từng đóng góp một vai trò quan trọngtrong tâm lý học truyền thống và tâm lý học hành vi Đồng thời, Uznatze cũng đưa raphương pháp củng cố và thay đổi tâm thế, một phương pháp nghiên cứu tâm thế độc đáo.Tuy nhiên, khái niệm tâm thế mà Uznatze sử dụng lại là cái vô thức để giải thích hành vicủa con người Ông mới chỉ đề cập đến quá trình hiện thực hoá các nhu cầu sinh lý màkhông tính đến một cách đầy đủ các hình thức hoạt động phức tạp, cao cấp khác của conngười Ông cũng không tính đến sự tác động của các yếu tố xã hội cũng như vai trò củaquá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội tới việc quy định các hành vi của con người Nhưngcó thể nhận thấy rằng với những phát hiện mới, “thuyết tâm thế” đã đóng vai trò làphương pháp luận khoa học cho nhiều lĩnh vực cụ thể của tâm lý học hiện đại
- Thuyết nghiên cứu thái độ trong tâm lý học nhân cách
Thuyết “thái độ nhân cách” của nhà tâm lý học V.N.Miaxisev cho rằng nhân cách
là một hệ thống thái độ Theo tác giả, phản xạ có điều kiện chính là cơ sở sinh lí học củathái độ có ý thức của con người với hiện thực Miaxisev chia thái độ ra làm hai loại: tíchcực và tiêu cực Cùng với các quá trình, các trạng thái, các thuộc tính tâm lý, thái độ làmột trong những hình thức thể hiện tâm lý người Ông cho rằng: “ Thái độ là khía cạnhchủ quan bên trong có tính chọn lọc cao các mối liên hệ đa dạng của con người với cáckhía cạnh khác nhau của hiện thực và với toàn bộ ý thức nói chung Tuy nhiên, Miaxisev
Trang 8lại cho rằng các quá trình tâm lý nhu cầu, thị hiếu, hứng thú, tình cảm, ý chí,… đều là thái
độ Có thể thấy việc xếp ngang hàng quan hệ xã hội với thái độ là chưa thoả đáng, cũngnhư coi thuộc tính tâm lý của nhân cách là thái độ cũng chưa có cơ sở
Tuy vậy, Miaxisev vẫn là một trong những người đặt nền móng cho tâm lý họctheo quan điểm Macxit Miaxisev cũng đã dùng thuyết thái độ nhân cách để sử dụngtrong y học Gần đây, khi nghiên cứu nhân cách như một phạm trù cơ bản của tâm lý học,V.F.Lomop - nhà tâm lý học Xô viết đã đề cập đến thái độ chủ quan của nhân cách, sựchế định của quan hệ xã hội đối với thái độ chủ quan, sự hình thành thái độ chủ quanthông qua hoạt động và giao tiếp
- Thuyết định vị của V.A.Iadov
Dựa trên “thuyết tâm thế ” của Uznatze, V.A.Iadov đã phát triển khái niệm tâmthế, nhằm điều chỉnh các hành vi, hoạt động xã hội của cá nhân Iadov cho rằng conngười có một hệ thống các định vị khác nhau, rất phức tạp, và hành vi của con người bịđiều khiển bởi các tổ chức “định vị ” này Các định vị này được tổ chức theo bốn bậc vớicác mức độ khác nhau, trong một hệ thống định vị, định vị bậc cao có thể chi phối định vịbậc thấp Điều đó cho phép lý giải hợp lý hành vi xã hội của cá nhân cũng như sự mâuthuẫn giữa hành vi và thái độ
Bậc 1: Bao gồm các tâm thế bậc thấp, như trong quan niệm của Uznatze, hìnhthành khi có sự gặp gỡ của nhu cầu sinh lý với đối tượng thoả mãn nhu cầu, tâm thế chỉ làmột dạng định vị điều chỉnh hành vi, phản ứng của cá nhân trong những tình huống đơngiản nhất
Bậc 2: Các định vị phức tạp hơn được hình thành trên cơ sở các tình huống giaotiếp của con người trong các nhóm nhỏ
Bậc 3: Các định vị mà trong đó định hướng chung của các sở thích được hìnhthành trong các lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể
Bậc 4: Bậc cao nhất hình thành nên hệ thống định hướng giá trị của nhân cáchtrong những tình huống mà tính tích cực xã hội có giá trị nhất đối với nhân cách
Như vậy có thể thấy, hệ thống “định vị” có thứ bậc từ thấp đến cao, điều chỉnhhành vi của cá nhân trong các điều kiện xã hội ngày nay càng được mở rộng và ổn địnhhơn Từ hệ thống “định vị” chúng ta có thể lý giải một cách hợp lý hành vi xã hội của cánhân, cũng như những mâu thuẫn giữa hành vi với thái độ của cá nhân Đó là vì các "định
Trang 9vị” ở bậc thấp, bị điều khiển, bị chi phối bởi các "định vị" ở bậc cao hơn “Thuyết định vị
” đã nghiên cứu thái độ ở một góc nhìn hoàn toàn mới Nó đã thiết lập được mối liên hệgiữa những cách tiếp cận hành vi của nhân cách từ các góc độ khác nhau như tâm lý họcđại cương, tâm lý học xã hội Tuy nhiên thiếu sót chủ yếu của Iadov là đã không làm rõkhái niệm “định vị” là gì, đồng thời cũng không chỉ ra được cơ chế điều chỉnh hành vibằng các “định vị” trong những tình huống xã hội
Tóm lại, nhờ vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách trong nghiên cứu thái
độ, gắn thái độ với nhu cầu với điều kiện hoạt động, coi thái độ là hệ thống thứ bậc Tâm
lý học Xô Viết đã đưa ra các cách lý giải hợp lý về sự hình thành thái độ, vị trí của thái
độ với cấu trúc của nhân cách, chức năng của thái độ trong điều chỉnh hành vi xã hội vàhoạt động của cá nhân
Những công trình nghiên cứu thái độ tiêu biểu của cộng hoà Dân chủ Đức là củacác nhà tâm lý học xã hội như M.Phovec, V.Nayzơ….Ngoài những vấn đề truyền thống:khái niệm, chức năng….các nhà tâm lý học xã hội Đức còn đề cập đến các kiểu thái độ và
cơ chế hình thành thái độ ( bắt chước, đồng nhất hoá, giảng dạy….)
Trong tâm lý học dạy học ở Liên Xô cũ, thái độ học tập không được nghiên cứuriêng rẽ mà lồng vào trong nghiên cứu động cơ, hứng thú học tập Có thể kể đến các tácgiả đã có các công trình tiêu biểu nghiên cứu về động cơ học tập của học sinh là:
I.L.Bogiovic (1951) nghiên cứu động cơ, thái độ học tập của học sinh nhỏ,A.K.Marcova (1983) nghiên cứu hình thành động cơ học tập của học sinh, Machikhina vàđồng tác giả nghiên cứu quan hệ giữa động cơ và thái độ học tập của học sinh.A.I.Kovaliov (1987) nghiên cứu động cơ lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, sinhviên…
Các nhà nghiên cứu Xô Viết đã xác định hoạt động học tập được chi phối bởi động
cơ học tập Động cơ học tập có ba nguồn gốc: nguồn gốc cá nhân (hứng thú, ham muốn,tâm thế, thái độ, niềm tin, thế giới quan, quan niệm về bản thân, thái độ với xã hội, ý thứctự hoàn thiện, sự thoả mãn nhu cầu, lý tưởng sống); nguồn gốc bên trong (nhu cầu),nguồn gốc bên ngoài (đòi hỏi, mong đợi của xã hội, điều kiện khách quan) và Các yếu tốnày nếu được gắn liền với hoạt động học tập hoặc với các thành phần của nó (kết quả,mục đích, quá trình ), sẽ trở thành động cơ học tập Động cơ học tập được chia làm hailoại: Động cơ bên ngoài (thưởng, phạt đe doạ, đòi hỏi, áp lực nhóm) và động cơ bên
Trang 10trong (hứng thú đối với tri thức, sự tò mò, ham muốn nâng cao trình độ) Vì vậy có thểthấy thái độ học tập là một trong những cơ sở hình thành động cơ học tập Trong lĩnh hộitri thức thì khả năng tập trung, phân phối chú ý, tâm thế, thái độ là các nhân tố quan trọngbậc nhất.
Viện sĩ N.V.Cuz-mi-na(1980) một trong những tác giả coi thái độ là thành phầnnòng cốt trong nhân cách, đã đề ra phương pháp đánh giá tương đối toàn diện nhân cáchsinh viên Trong 11 chỉ báo theo ba nhóm thuộc tính nhân cách, tác giả đã đề cập đến thái
độ học tập của sinh viên với các mức độ khác nhau Phương pháp này có thể sử dụng làm
cơ sở cho việc xây dựng các thang đo thái độ học tập của sinh viên
Ở Cộng hòa dân chủ Đức trước đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu tiêubiểu về thái độ do một số nhà tâm lý học xã hội như V.Nayze, M.Phovec…tiến hành.Ngoài những vấn đề được nghiên cứu một cách truyền thống, thì các nhà tâm lý học Đứccòn đề cập đến nhiều vấn đề khác như các cơ chế hình thành thái độ, sự định hình thái độ(cơ chế bắt chước, luyện tập, hướng dẫn) do H.Hiebsch và M.Worwerg thực hiện Tronglĩnh vực kinh tế, một số công trình nghiên cứu đã xem thái độ như là một thành tố củanăng suất tập thể
1.1.2 Các nghiên cứu về thái độ ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu thái độ ở Việt Nam kế thừa thành tựu của tâm lí học XôViết và Đông Âu cũ.Việc nghiên thái độ ở Việt Nam chưa nhiều, chưa được chuyên sâunhư ở Phương Tây và Liên Xô cũ
Hầu hết các nhà tâm lý học ở Việt Nam đều xuất phát từ quan điểm tâm lý họchoạt động khi nghiên cứu con người trong đó có vấn đề thái độ Thái độ được tác giả đềcập trên bình diện lý luận, chủ yếu là khái quát hoá những vấn đề lý luận về thái độ nhưđịnh nghĩa, cấu trúc, đặc điểm của thái độ ( Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Lê ĐứcPhúc, Trần Hiệp…)
Trên bình diện thực tiễn, nhiều công trình nghiên cứu khá công phu chủ yếu tậptrung nghiên cứu về thái độ học tập trên đối đối tượng là học sinh, sinh viên từ đó rút ranhững kết luận làm cơ sở cho công việc nâng cao chất lượng giáo dục
Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã chú trọngnghiên cứu tới vấn đề thái độ trên nhiều đối tượng khác nhau và có nhiều ứng dụng vàohiệu quả phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trang 11Nghiên cứu của tác giả Vũ Dũng với đề tài: “Thái độ và hành vi của người dân với môi trường” Quan điểm của tác giả trong đề tài này đó là:
- Thái độ có ảnh hưởng lớn đến của con người đối với môi trường
- Thái độ với môi trường sẽ quy định một cách thức nhất định cho hành vi của conngười đối với môi trường
- Thái độ là một thành tố cơ bản tạo nên ý thức của con người đối với môi trường.Khi thái độ tích cực thì con người sẽ nhận thức rõ hơn sự cần thiết và trách nhiệm củamình đối với việc bảo vệ môi trường
Trong luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Minh Trang với nhan đề: “ Thái độ đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên học viện Ngân Hàng – Phân viện thành phố Hồ Chí Minh” tác giả đã xác định được thực trạng đối với quan hệ tình dục
trước hôn nhân của sinh viên học viện Ngân Hàng thành phố Hồ Chí Minh Trong nghiêncứu của mình tác giả cũng đề xuất một số biện pháp hình thành thái độ tích cực và đúngđắn ở sinh viên đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân
Tác giả Trần Thu Hương – cán bộ giảng dạy khoa tâm lý học Đại học KHXH&NV
đã nghiên cứu về vấn đề: “ Thái độ của học sinh Trung học phổ thông đối với loại hình sân khấu chèo” Theo tác giả: Thái độ đối với loại hình sân khấu chèo là một trạng thái
tâm lý, là một thuộc tính trọn vẹn của ý thức nó thể hiện ở các mức độ cụ thể sau: Mức độtìm hiểu, mức độ thưởng thức, mức độ mô phỏng - bắt chước, mức độ tham gia trìnhdiễn, mức độ sáng tác
Trong đề tài khóa luận khoá luận tốt nghiệp “ Thái độ của sinh viên đối với việc gia tăng dân số” của sinh viên Vũ Kim Nga, nghiên cứu cho thấy thực trạng thái độ của
sinh viên đối với việc gia tăng dân số ở nước ta trong những năm gần đây, từ đó cũng đưa
ra một số khuyến nghị góp phần hình thành thái độ đúng đắn, tích cực trong việc hạn chếgia tăng dân số nước ta trong những năm gần đây Nghiên cứu của sinh viên Lê Ngọc
Phương với đề tài : “Thái độ của sinh viên với nhạc nhẹ” Sinh viên Nguyễn Thị Hà với
đề tài: “Thái độ của thanh niên nông thôn Bắc Ninh với dân ca quan họ”; “Thái độ của cha mẹ đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ” của cử nhân Hoàng Thị Quỳnh Lan Sinh viên Hoàng Thị Diệu Anh với đề tài khóa luận: “Tìm hiểu thái độ của người công nhân về vấn
đề an toàn lao động tại công ty cơ khí Quang Trung” “Thái độ của sinh viên ĐHQG với nạn ma túy” của sinh viên Nguyễn Thanh Cường “Thái độ của khán giả với các chương
Trang 12trình truyền hình hiện nay” của Nguyễn Hương Giang “Tìm hiểu thái độ với hoạt động học tập của người chưa thành niên phạm tội tại trường phổ thông nội trú dạy nghề số 1
Hà Nội” của Nguyễn Thúy Nga “Thái độ của người dân phường Hòa Khánh Nam quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng về vấn đề bạn lực gia đình đối với người phụ nữ
-” (Lê Thị Duyên - khóa luận tốt nghiệp) “Thái đội đối với việc học tập môn tâm lý của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang” (Cao Thị Huyền – khóa luận tốt nghiệp) “Thái độ sinh của sinh viên trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đối với vấn đề sức khỏe sinh sản và tình dục” (Trần Thị Thu Trang – khóa luận tốt nghiệp).
“Thái độ tham gia giao thông của sinh viên trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng” (Ngô Thị Lệ Thủy – khóa luận tốt nghiệp)
Nhiều tác giả nghiên cứu về thái độ học tập của học sinh, sinh viên và bước đầu đãxác định được vai trò, vị trí của thái độ trong hình thành động cơ học, tính tích cực họctập, hứng thú học tập Các tác giả cũng đã cố gắng tìm ra các chỉ báo chi tiết về thái độhọc tập, những vấn đề chung của thái độ như: cấu trúc của thái độ, mối quan hệ của thái
độ với các khái niệm khác
Như vậy, mảng đề tài về thái độ được khá nhiều tác giả Việt Nam quan tâm nghiêncứu Tuy nhiên đề tài nghiên cứu về vấn đề chấp hành đúng luật giao thông khi tham giagiao thông còn ít
1.2 Lý luận về thái độ
1.2.1 Các lý thuyết về thái độ
- Thuyết hành động hợp lý: Ajzen và Fishbein phát triển lý thuyết hành động hợp
lý trên cơ sở giả định rằng con người thường hành xử theo cách nhạy cảm, tính đến thôngtin và thái độ của mình trong hành động
Trong mô hình này xuất phát từ sự kết hợp hai yếu tố cơ bản: Thứ nhất là thái độcủa cá nhân trái với hành vi hay những quan niệm của họ Thứ hai là nhận thức áp lực xãhội của cá nhân phải thực hiện hay không thực hiện hành động, điều này gọi là tiêu chuẩnchủ quan Có nghĩa là, chúng ta chủ ý thực hiện một hành vi nếu chúng ta đánh giá nótích cực và thấy rằng hành vi đó đã được xã hội chấp nhận, ủng hộ, chúng ta thường hànhđộng theo những chuẩn mực, tiêu chuẩn thường có trong xã hội Những điều này dựa vàokinh nghiệm của bản thân trước một sự vật hiện tượng nào đó, trên cơ sở kinh nghiệm
Trang 13gắn kết với hành vi của chúng ta theo một tình huống cụ thể, từ đó đánh giá hành vi đó làhợp lí hay không hợp lí, khi đó sẽ hình thành nên thái độ của cá nhân.
Những tiêu chuẩn xã hội này chủ yếu nằm trong một nhóm xã hội cụ thể Và khi cá nhântham gia vào một nhóm xã hội nào đó sẽ cũng thực hiện theo tiêu chuẩn, chuẩn mực này
- Thuyết cân bằng của Heider: Ông cho rằng tìm hiểu nhận thức hay quan điểm
của con người về các mối quan hệ của họ là tiền đề để tìm hiểu các hành vi xã hội của họ.Theo ông con người luôn có mong muốn thái độ của mình sẽ luôn nhất quán với nhau, dođó nếu nó không nhất quán sẽ gây nên tình trạng mất cân bằng nhận thức, điều này có thểdẫn đến sự mệt mỏi, căng thẳng cho con người, vì vậy họ sẽ luôn có xu hướng tìm kiếmsự cân bằng trong thái độ
Heider áp dụng nguyên tắc cân bằng bộ đôi và bộ ba trong việc tìm hiểu các mối quan hệ
cá nhân và tìm hiểu thái độ Mối quan hệ dễ chịu giữa hai người là cân bằng bộ đôi, nếumối quan hệ mất cân bằng sẽ gây nên sự hiểu lầm, căng thẳng và có thể phá vỡ mối quan
hệ Ông cho rằng căng thẳng tạo nên các bộ ba, mất cân bằng cũng tạo ra áp lực thay đổisao cho chúng lấy lại sự cân bằng nhận thức Những điều này liên quan đến những tìnhhuống trực tiếp và cụ thể khác nhau
Sau này, các nhà nghiên cứu thường có cái nhìn tích cực hơn so với bộ ba và đánh giárằng con người chúng ta thường có thái độ tích cực nhiều hơn là tiêu cực chúng ta thấy
bộ ba có thái độ tích cực giữa một cá nhân với một đối tượng thái độ dễ học và dễ nhớhơn
- Thuyết đồng hóa tương phản: Sherif và Hovland cho rằng con người thường sử
dụng kinh nghiệm cá nhân của riêng mình như một chuẩn đánh giá các phát biểu khác Vìthế nếu cá nhân đó nhận thấy rằng việc đó là có thể chấp nhận được sẽ đánh giá có lợihơn và tích cực hơn giống với suy nghĩ của họ so với thang điểm chung Điều này gọi làtác dụng đồng hóa
Từ đó hai ông dự đoán rằng có tác dụng tương phản tức là ta sẽ có đánh giá và phát biểumang tính cực đoan tiêu cực hơn nếu nó trái với cái nhìn nhận kinh nghiệm của cá nhân
ta Và nếu những phát biểu này mang tính kinh nghiệm cá nhân trong một giới hạn nhấtđịnh nào đó thì ta hoàn toàn có thể thay đổi thái độ có được, và nó nằm trong một phạm
vi gọi là phạm vi chấp nhận được Con người cũng sẽ dễ dàng thay đổi những quan niệmcủa mình trở nên phù hợp hơn so với người khác và so với những chuẩn mực chung Thái
Trang 14độ này dễ dàng thay đổi nếu những quan niệm, suy nghĩ, cách đánh giá của họ về mộtđiều gì đó là không được chắc chắn lắm.
Đôi khi phát biểu rất cực đoan tạo ra tác dụng mà Sherif và Hovland gọi là tác động dộilại Sự tương phản được hình thành do sự khác nhau giữa phát biểu và giá trị riêng của cánhân mạnh đến mức tạo ra sự thay đổi hoàn toàn trái ngược với thái độ theo chủ ý Mặc
dù hầu hết những tác động dội lại là không phổ biến, chúng ta thường có khuynh hướng
bị những phát biểu rơi vào phạm vi chấp nhận tác động vì chúng ta đang đồng hóa chúng
dễ hơn
1.2.2 Khái niệm thái độ
Mỗi cá nhân khác nhau có những cách nhìn nhận cuộc sống theo cách riêng củamình, từ đó cũng hình thành các thái độ khác nhau đối với các mặt của đời sống như:
“thái độ làm việc”, “ thái độ học tập”, “thái độ đối với các hành vi gây hấn”, “ thái độ đốivới việc tuân theo các chuẩn mực xã hội”….Khi đề cập đến thái độ trong các ví dụ trênchúng ta thấy, mọi người thường hiểu chúng là đạo đức, quan điểm, lối sống của mộtngười trước một số đối tượng nhất định như: hàng hoá, hay các chủ thể nào đó Nhiềungười thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chốngđối, như đã có sẵn cơ chế tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó Từ những thái độcó sẵn đó, tri giác về đối tượng, cũng như tri giác về sự bị chi phối, về vận động thì tri giácgắn liền với tư thế
Cùng với rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thái độ thì đồng thời cũng xuất hiệnnhững định nghiã khác nhau về thái độ của các nhà tâm lý học Không chỉ những trườngphái lớn như Tâm lý học Liên Xô, Tâm lý học Phương Tây, Tâm lý học hành vi, Tâm lýhọc Macxit mà ngay cả các nhà tâm lý học trong cùng trường phái cũng chưa có sự thốngnhất hoàn toàn
Trong từ điển các thuật ngữ tâm lý học và phân tâm học xuất bản tại New York
năm 1966 thì thái độ được định nghiã là: “ Một trạng thái ổn định bền vững do thu được
từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhấtđịnh không phải với bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao” Một thái độđược biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng Trạng tháisẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hoạt động liên quan đến đối tượng Đây
Trang 15là định nghĩa được thừa nhận rộng rãi trong tâm lý học phương Tây, xem thái độ như mộtkhái niệm chủ yếu thuộc về tâm lý học cá nhân.
Trong Từ điến Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, thái độ được hiểu là “ mặtbiểu hiện bề ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay việc gì, thông qua nét mặt, cử chỉ,lời nói, hành động” Thái độ còn là “ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theomột hướng trước sự vật hay vấn đề gì”
Từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học xuất bản cho rằng: “Thái độ là tổng thểnói chung những biểu hiện ra bên ngoài ( bằng nét mặt cử chỉ, lời nói, hành động) của ýnghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề hoặc mộttình hình nào đó
Trong từ điển Anh - Việt, “Thái độ” được viết là “Attitude” và được định nghĩa là
“ cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân”
Như vậy, các từ điển định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là “ cách ứng xử của
cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội” Nó được cấu thành rất phức tạp,với nhiều bộ phận hợp thành, cho dù cách sử dụng từ ngữ khi định nghĩa về thái độ làkhác nhau
Ở phương Tây vào những năm 1918 – 1920 những người đầu tiên sử dụng kháiniệm thái độ như một đặc tính quan trọng của các vấn đề xã hội đó là W.I.Thomas vàF.Znaniecki, hai ông cho rằng: Thái độ là một trạng thái tinh thần ( State of mind) của cánhân đối với một giá trị Định nghĩa chú trọng tới yếu tố chủ quan của cá nhân đối vớimột một giá trị này hay một giá trị khác làm cho cá nhân có hoạt động này hay hoạt độngkhác được xã hội chấp nhận
Sau thời gian đó hàng loạt các nghiên cứu về các vấn đề xã hội được tiến hành.Trên những bình diện khác về mặt lý luận và thực tiễn của các mối quan hệ xã hội, cáctác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về thái độ với những hạt nhân hợp lý cơ bảnriêng
Năm 1935, nhà tâm lý học người Mỹ là G.Allport đã định nghĩa: Thái độ là trạngthái sẵn sàng phản ứng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinhnghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đó với phản ứng của cá nhânđến các khách thể và tình huống mà nó quan hệ
Trang 16Định nghĩa trên của ông được nhiều nhà tâm lý học thừa nhận vì qua định nghĩa khôngnhững chỉ ra được thái đọ là gì? Tác giả còn nêu ra nguồn gốc ( hình thành trên cơ sởkinh nghiệm) vai trò (điều chỉnh hành vi) và chức năng, đặc điểm của thái độ Tuy nhiênđịnh nghĩa trên chưa chú ý tới vai trò của môi trường và của những người khác đối với sựhình thành thái độ chủ quan của mỗi người Câu hỏi được đặt ra là: Tại sao khái niệm thái
độ lại được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả? Để trả lời câu hỏi này, Allport đã đưa ra mộtsố lí do sau đây:
- Thái độ là thuật ngữ ngắn gọn nó có thể tổng kết mọi hành vi khác nhau
- Thái độ có thể được coi là nguyên nhân dẫn tới hành động của người này đối vớingười khác
- Khái niệm thái độ giúp cho việc giải thích tính trước sau như một trong hành vicủa người nào đó, thái độ riêng lẻ có khả năng giải thích cho nhiều hành động khác nhau.(Allport cho rằng tính kiên định trong hành vi cá nhân giúp cho sự giải thích sự ổn địnhcủa xã hội.)
- Tỏ thái độ là quyền quan trọng của chúng ta, bất chấp mối liên hệ giữa nhữngthái độ và hành vi của con người Các thái độ của chúng ta đối với các cá nhân khácnhau, các thể chế, các vấn đề xã hội ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận thế giới xungquanh chúng ta
- Khái niệm về thái độ có mối quan hệ trung gian và có thể chấp nhận đối vớinhiều trường phái lí thuyết Chẳng hạn, nó có thể là cầu nối cuộc tranh luận giữa môitrường và di truyền, cả hai yếu tố bản năng và học tập có thể liên quan đến sự hình thànhcác thái độ
- Thái độ được coi là thuật ngữ liên ngành Nó không chỉ được các nhà tâm lí học quantâm mà còn là đối tượng nghiên cứu của các nhà xã hội học, các nhà nghiên cứu chính sách,các nhà nghiên cứu giao tiếp, các nhà nhân chủng học
Nhà tâm lý học Mỹ Newcom cho rằng: “Thái độ là khuynh hướng hoạt động, nhậnthức, tư duy, cảm nhận của cá nhân đối với khách thể có liên quan, nói cách khác nó là sựsẵn sàng phản ứng”
+ H.Fillmore nhận định: “Thái độ là sự phản ứng rõ ràng tích cực hay tiêu cực đối với đốitượng hay các ký hiệu ( biểu tượng) trong môi trường….Thái độ là sự định hướng của cánhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường và là cấu trúc có tính động cơ
Trang 17H.C.Triandis một nhà tâm lý học Mỹ (1971) đã coi: “Thái độ là tư tưởng được hìnhthành từ những xúc cảm, gây tác động tới hành vi nhất định ở một giai cấp nhất định trongnhững tình huống xã hội.Thái độ của xã hội bao gồm những điều người ta suy nghĩ và cảmthấy về đối tượng cũng như thái độ xử sự của họ đối với nó.”.
David G.Myers cho rằng: “Thái độ là phản ứng mang tính chất đánh giá có thiệnchí hay không có thiện chí về một điều gì đó hay một người nào đó được thể hiện trongniềm tin, xúc cảm hoặc hành vi có chủ định”
Gần đây Tames, W.Kalat đưa ra định nghĩa: “Thái độ là sự thích ứng hay khôngthích ứng của một sự vật hoặc của một người nào đó đối với cá nhân có ảnh hưởng tớihành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hoặc con người đó”
Từ những định nghĩa trên của các nhà tâm lý học phương Tây là có sự đồng nhất.Tuy nhiên ở một số tác giả cũng có nhận định chung về nội hàm của khái niệm này, đó làtính “ sẵn sàng phản ứng”, tính gây tác động đến hành vi Riêng định nghĩa về thái độ của
G W.Allport được nhiều nhà tâm lý học thừa nhận vì định nghĩa đã nêu được rõ kháiniệm, nguồn gốc, chức năng… của thá độ nhưng có điểm hạn chế là ông chưa chú ý tớivai trò của yếu tố môi trường
Khi phân tích về khái niệm thái độ các nhà tâm lý học hoạt động đều cho rằng phảichú ý tới những cấp độ trừu tượng hoá tương ứng với những định nghĩa riêng biệt, phảitìm ra điểm xuất phát chung của những định nghĩa ấy Đó là phải chọn lọc tiêu chuẩn,chức năng làm điểm tựa, điểm mấu chốt này được thể hiện trong những định nghĩa sauđây:
Theo V.N.Miaxisev cho rằng: “Thái độ là khía cạnh chủ quan bên trong có tínhchọn lọc của các mối liên hệ đa dạng của con người với các khía cạch khác nhau của hiệnthực và toàn bộ hiện thực “Thái độ là điều kiện khái quát bên trong của hệ thống cáchành động của con người” Tuy nhiên, ông lại cho rằng nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, tìnhcảm, tính cách, đều là thái độ Ông chia làm hai loại thái độ là: tích cực và tiêu cực.Măc dù vậy thuyết thái độ của ông cũng có hạn chế như coi hàng loạt các thuộc tính tâm
lí nhân cách, các quá trình tâm lí là thái độ cũng chưa có cơ sở khoa học
D.N.Uznatze cho rằng: “thái độ không phải là một nội dung cục bộ của ý thức,không phải là nội dung tâm lý tách rời, độc lập lại tới các trạng thái tâm lý khác của ýthức và ở trong mối quan hệ qua lại với nó,, mà là một trạng thái toàn vẹn xác định của
Trang 18chủ thể…yếu tố khuynh hướng năng động của nó là một yếu tố toàn vẹn theo một hướngnhất định nhằm một tính năng động nhất định…đó là sự phản ứng cơ bản đầu tiên đối vớitác động của tình huống trong đó chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ Định nghĩanày đã vạch ra được bản chất của thái độ, một mặt đã nhìn nhận thái độ như một bộ phậncấu thành có tính toàn vẹn của ý thức cá nhân, một mặt thừa nhận thái độ như một bộphận cấu thành có tính toàn vẹn của ý thức cá nhân, một mặt thừa nhận thái độ mangtrong mình tính tự giác, tính năng động của một hiện tượng tâm lý thuộc cấp độ ý thức -điều khiển, điều chỉnh hành vi con người.”.
Định nghĩa này đã nhìn nhận thái độ như một bộ phận cấu thành có tính toàn vẹncủa ý thức cá nhân, như K.Max và F.Engels từng viết: “ý thức tồn tại với tôi là tồn tạimột thái độ nào đó đối với sự vật này hay sự vật khác.Động vật không biết tỏ thái độ đốivới vật nào cả”.Mặt khác, đó là sự thừa nhận thái độ mang trong mình tính tự giác năngđộng của một hiện tượng tâm lí thuộc cấp độ ý thức điều khiển, điều chỉnh hành vi conngười
Các nhà tâm lý học Leningrat thuộc Liên Xô trước đây thì coi thái độ là “ những
cơ cấu tâm lý có sẵn định hướng cho sự ứng phó của cá nhân Trong khi đó dưới góc độnhân cách của các nhà tâm lý học lại khẳng định thái độ là thuộc tính tâm lý bao gồmniềm tin, hứng thú, thái độ xã hội”
Qua các khái niệm trên, ta thấy rõ các tác giả đều khẳng định khía cạnh tâm lí cánhân trong thái độ.Tuy nhiên, thái độ không chỉ mang tính cá nhân mà còn mang tínhchất xã hội.Thông thường thái độ mang tính chất riêng tư của cá nhân vì mỗi cá nhân làmột chủ thể nhất định, tồn tại với những mối quan hệ xã hội nhất định cho nên xã hội đãchi phối đến thái độ con người rất rõ rệt Do vậy, thái độ phải được xem xét dưới khíacạnh xã hội
Hiebsch H và Vorwerg Mđã nhấn mạnh chức năng của thái độ với hoạt độngchung, hoạt động hợp tác của con người trong xã hội khi định nghĩa thái độ bao gồm cảtâm lí cá nhân và tâm lí học nhân cách: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng bị quy định và cótính bắt buộc nào đó, nảy sinh trong những nhóm nhất định và trong những tình huống cụthể.Về mặt lượng cũng như về mặt nội dung, sự sẵn sàng này phụ thuộc không nhữngvào chủ thể hữu quan mà trước hết là một hiện tượng tâm lí xã hội phụ thuộc vào khuynhhướng của cá nhân gắn liền vào những chuẩn mực của nhóm.”
Trang 19Như vậy, dù nhìn thái độ như một thuộc tính cơ bản của ý thức cá nhân hay mộthiện tượng tâm lí xã hội, cá nhân nhà tâm lí học đều nghiên cứu khái niệm này xuất phát
từ quan điểm chức năng, tiếp nhận nó như một khái niệm cơ bản Điều đó có nghĩa là vềmặt lí luận cũng như thực tiễn, có thể nhận biết và xem xét thái độ thông qua chức năngcủa nó đối với hoạt động của chủ thể hướng tới hoạt động Nói khác đi, con đường cơ bản
để nghiên cứu thái độ của con người là đi sâu vào nghiên cứu những hành vi và hoạt động
cụ thể của cá nhân Khi trả lời câu hỏi: Dựa vào những dấu hiệu nào để biết những ýnghĩa, tình cảm thực sự của những con người riêng lẻ, V.I.Lenin đã viết rằng: “Tất nhiêncăn cứ đó cũng chỉ là những hành động của cá nhân ấy” Vận dụng quan điểm tiếp cậnthái độ như một khái niệm chức năng, một số tác giả đã đưa ra khái niệm “thái độ đượcbiểu hiện” xem như hình chiếu của thái độ trong đời sống và hoạt động của con người
Theo G.Clauss dưới góc độ chức năng đã xác nhận rằng: “Thái độ của con người
là rất tích cực định hướng vào sự biến đổi hoàn cảnh chứ không phải vào sự thích ứng”.Theo ông có hai loại hình thức tồn tại thái độ: Thái độ bên ngoài và thái độ bên trong Vềbản chất hai loại thái độ này là không có sự khác biệt, chúng cũng dựa trên quá trình sinh
lý thần kinh như nhau, không tách rời, không đối lập nhau
Trong lịch sử tâm lý học, sự tuyệt đối hoá thái độ bên trong đã dẫn tới chủ nghĩaduy tâm của Dilthey và E.Spanger….hay sự tuyệt đối hoá thái độ bên ngoài dẫn tới chủnghĩa hành vi của J Watson tác giả cũng cho rằng thái độ bên ngoài có thể quan sát đượcmột cách trực tiếp thông qua những vận động, cử chỉ, hành động, và những phát biểuthành lời Còn thái độ bên trong là những thể nghiệm chỉ có thể biết được thông qua thái độbên ngoài hoặc một cách trực tiếp nhờ quan sát
Những quan niệm của G.Clauss về mối quan hệ giữa thái độ bên trong và thái độbên ngoài, về khả năng nghiên cứu thái độ bên trong thông qua thái độ bên ngoài cũngphù hợp với quan niệm của nhiều nhà tâm lý học khác như: Krech, Cruchfied: việc xemxét thái độ bên trong không đơn giản vì chúng ta không thể trực tiếp thâm nhập vào phạm
vi ý thức bên trong của cá nhân mà chỉ có thể giao tiếp thông qua những biểu hiện bênngoài
Với cách nhìn nhận toàn diện hơn, thái độ không chỉ thuộc phạm vi của tâm lý học
cá nhân mà còn bao gồm cả khía cạnh của tâm lý học xã hội Khái niệm thái độ củaHispơ và M.Forvec nhấn mạnh chức năng của thái độ đối với hoạt động chung, hoạt động
Trang 20hợp tác của con người trong xã hội: Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng bị quy định và cótính chất bắt buộc nào đó, nảy sinh trong những nhóm nào đó, nảy sinh trong nhữngnhóm nhất định và trong những tình huống cụ thể Về mặt lượng cũng như về mặt nộidung sự sẵn sàng này phụ thuộc không những vào chủ thể hữu quan mà trước hết là mộthiện tượng tâm lý xã hội phụ thuộc vào khuynh hướng xã hội của cá nhân, là cái gắn liềnvới chuẩn mực nhóm.
Như vậy, có thể nói mặc dù có nhiều cách nhìn nhận, cách thức,cách hiểu khácnhau về thái độ “ như một thuộc tính cơ bản của ý thức cá nhân” hay “ một hiện tượngcủa tâm lý học xã hội” nhưng các nhà tâm lý Xô Viết đều có chung khẳng định: Thái độ
là sự phản ứng ý thức, là thuộc tính cốt lõi của nhân cách và là một yếu tố định hướnghành vi xã hội của con người
Còn ở Việt Nam thì khái niệm thái độ thường được các nhà tâm lý học quan niệm
là sự biểu hiện thuộc tính cơ bản của nhân cách, thái độ là một bộ phận cấu thành đồngthời là một thuộc tính cơ bản của ý thức
Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện thì trước một hiện tượng nhất định, nhiều ngườithường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đốinhư đã có sẵn, có những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó Từ nhữngthái độ sẵn có, tri giác về đối tượng cũng như tri thức bị chi phối về vấn đề thì thái độ gắnliền với tư thế ”
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích các định nghĩa, các cách hiểu vềthái độ của các nhà tâm lý học chúng tôi xin đưa ra cách hiểu của mình về khái niệm thái
độ như sau: “ Thái độ là trạng thái tâm lý chủ quan của cá nhân, sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định ( tích cực hay ngược lại) đối với một đối tượng nào đó, được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm – tình cảm và hành vi của chủ thể trong những tình huống, những điều kiện cụ thể.”
1.2.3 Đặc điểm của thái độ
Năm 1957 G W Allport đã rút ra 5 đặc điểm của thái độ:
Thái độ là trạng thái thần kinh của hệ thần kinh
Thái độ là sự sẵn sàng của sự phản ứng
Thái độ là trạng thái có tổ chức
Thái độ được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ
Trang 21Thái độ điều khiển và ảnh hưởng tới hành vi
Ngoài ra thái độ còn có những đặc điểm sau:
- Tính phân cực: bất kỳ một thái độ nào cũng được biểu hiện bằng sự đồng tìnhhay phản đối, tích cực hay không tích cực
- Tính ổn định: Thể hiện ở thời gian tồn tại của thái độ, mối quan hệ giữa ba thànhphần của thái độ Hệ thống thái độ đã hình thành ở người trưởng thành thì đó là thuộctính tâm lý khá bền vững
- Cường độ: là sự thể hiện mạnh hay yếu của thái độ
- Mức độ: thái độ thể hiện nhiều hay ít, cùng một tính chất nhưng mức độ biểuhiện có thể là không giống nhau
Như vậy trong những tình huống, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể thì thái độ tồn tạinhư một trạng thái, một tâm thế chủ quan, chi phối sự định hướng, quyết định hành viphản ứng của cá nhân được biểu hiện ở hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ ở bên ngoài hay nhữngxúc cảm bên trong cá nhân Vì vậy chúng ta phải có cái nhìn vừa khoa học, vừa linh hoạtkhi nghiên cứu và đánh giá về thái độ con người
1.2.4 Cấu trúc của thái độ
Như ta đã biết, có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về thái độ Vì thếmặt cấu trúc của thái độ cũng có nhiều quan điểm khác nhau Có người cho rằng: cấu trúccủa thái độ bao gồm những thuộc tính tạo nên mặt nội dung của thái độ như: nhu cầu,hứng thú, niềm tin, tình cảm, kinh nghiệm, … Cấu trúc bao gồm những yếu tố tạo nênphương thức biểu hiện của thái độ như: khí chất, thói quen, trạng thái, tâm sinh lí,… cảnội dung và phương thức thể hiện của thái độ chỉ được bộc lộ khi được biểu hiện cụ thể
ra bên ngoài bằng hành vi, cử chỉ, lời nói, nét mặt
Tuy nhiên, phần lớn các nhà tâm lí học đều nhất trí với cấu trúc ba thành phần của thái độSmith đưa ra Theo ông thái độ bao gồm nhận thức, tình cảm và hành vi của một cá nhânđối với đối tượng
Trang 22trình lĩnh hội tri thức kinh nghiệm, nhờ tri thức có được về đối tượng mà chủ thể có cảmxúc và khả năng đánh giá đối tượng Con người có thể đạt đến những mức độ nhận thứckhác nhau: Mức độ thấp là nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác, tri giác, ở mức độ cao
là nhận thức lý tính bao gồm tư duy, tưởng tượng Hai mức độ này có mối quan hệ chặtchẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động thống nhấtcủa con người
Nhận thức trong cấu trúc của thái độ thể hiện chủ yếu ở những quan điểm, nhữngđánh giá của chủ thể về đối tượng của thái độ Đặc biệt một trong những yếu tố quantrọng nhất trong nhận thức của thái độ là quan điểm và đánh giá về mối quan hệ mà đốitượng của thái độ có được đối với mục đích quan trọng nào đó
- Yếu tố xúc cảm tình cảm
Xúc cảm, tình cảm là một thái độ rung cảm của cá nhân đối với sự vật hiện tượngliên quan đến nhu cầu, cuộc sống của con người Thể hiện ở sự hài lòng, dễ chịu, đồngcảm, mừng rỡ hoặc khó chịu, bất bình, tức giận…tức là có tình cảm hay không có tìnhcảm với đối tượng và ở sự rung động, quan tâm chú ý đến đối tượng
Xúc cảm, tình cảm là sự biểu thị thái độ của cá nhân đối với các hiện tượng xảy ratrong hiện thực có liên quan mật thiết đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn các nhu cầucủa cá nhân
Xúc cảm tình cảm thúc đẩy con người trong hoạt động, tạo điều kiện cho cá nhânnhận thức về đối tượng Chính xúc cảm tình cảm đã làm tư duy về đối tượng tốt hơn vàảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của họ Vì vậy yếu tố xúc cảm tình cảm được xem như làmột chỉ báo quan trọng khi nghiên cứu về thái độ
Tuy nhiên trong quan hệ với đối tượng, xúc cảm luôn mang sắc thái chủ quan của
cá nhân Dựa vào tình cảm người ta thường gán cho đối tượng những thuộc tính mà cóthể đối tượng không có, tạo nên sự nhận thức sai lệch về đối tượng, phản ánh rõ ràng ảnhhưởng của tình cảm với nhận thức
- Yếu tố hành vi
Hành vi được coi như cấp độ biểu hiện của thái độ, đó là những biểu hiện ra bênngoài hay xu hướng hoạt động của cá nhân với đối tượng của thái độ và được chia làmhai loại: hành vi tích cực và hành vi tiêu cực
Hành vi có biểu hiện ra bên ngoài và được người khác đánh giá còn thái độ là bên
Trang 23trong đối với hành vi đó của bản thân được thể hiện ở sự tự đánh giá theo chuẩn mực màchủ thể đã cảm nhận.
Ba yếu tố trên có quan hệ mật thiết với nhau Trong thực tế thường chứa đựng cácyếu tố nhận thức và yếu tố hành vi có các khía cạnh của yếu tố tình cảm Có nghĩa là nếumột người nào đó thích đối tượng của thái độ (yếu tố tình cảm) thì tin rằng đối tượng sẽdẫn đến một điều gì đó tốt đẹp, (yếu tố nhận thức) và có xu hướng hành động một cáchtích cực với đối tượng, có những hành vi mang tính tích cực nhiều (yếu tố hành vi) Tùytheo tình huống mà một thành phần nào đó chiếm vị trí chủ đạo chi phối hành vi cá nhân.Cấu trúc 3 thành phần là cơ sở cho việc xây dựng các thang đo thái độ khi nghiên cứuvấn đề này
1.2.5 Chức năng của thái độ
Con người có khả năng ứng xử linh hoạt, phù hợp với tác động đa dạng của môitrường chính là nhờ khuôn mẫu của hành vi thái độ đã được hình thành Theo các nhàtâm lí học, sở dĩ thái độ có khả năng như vậy là vì có các chức năng cơ bản của nó
- Chức năng thích nghi: tùy vào những trường hợp cụ thể mà con người thay đổi
thái độ do tác động của môi trường xung quanh để phù hợp hơn
- Chức năng nhận thức: Nhờ có thái độ mà chủ thể biết cách ứng xử như thế nào
trong các tình huống khác nhau một cách đơn giản, tiết kiệm thời gian, sức lực, năng lựcthần kinh
- Chức năng biểu hiện: Thái độ là phương tiện giúp con người biểu lộ cảm xúc,
đánh giá, hoạt động và thể hiện giá trị nhân cách của mình
- Chức năng tự bảo vệ: Thái độ là phương tiện giúp con người tìm cách tự bào
chữa, tìm lí do giải thích, hợp lí hóa hành vi của mình, giảm bớt xung đột nội tâm
- Chức năng điều chỉnh hành vi và hành động: Đây là chức năng mà các nhà tâm lí
học chú ý, quan tâm hơn cả, họ tập trung làm rõ các cơ chế, thực hiện các chức năng củathái độ, tìm ra các điều kiện để các chức năng đó được thực hiện
Như vậy, trong quá trình nghiên cứu thái độ cần nghiên cứu nó trong mối quan hệ
đa dạng với các thuộc tính tâm lí, trong hành động trong giao tiếp cá nhân
1.2.6 Cơ chế hình thành thái độ
Nhà tâm lí học người Đức M.Vorwerg và H Hiebsch cho rằng thái độ được hìnhthành theo 4 cơ chế tâm lí học xã hội sau đây:
Trang 24- Bắt chước: Đó là sự hình thành thái độ bằng con đường tự phát và học qua
phương thức hành vi hoặc phản ứng mà không cần sử dụng những kĩ thuật giáo dục theophương thức nào cả
- Đồng nhất hóa: Là sự bắt chước một cách tự giác, có ý thức, tức là quá trình chủ
thể hóa thống nhất bản thân mình với cá nhân khác của nhóm này hay nhóm khác dựatrên mối liên hệ xúc cảm và đồng thời chuyển những chuẩn mực vào thế giới nội tâm củamình Hay nói cách khác đó chính là quá trình cá nhân tự đặt mình vào người khác để cónhững suy nghĩ và hành động như người khác
- Giảng dạy: Giảng dạy là một cách đặc biệt của truyền đạt thông tin nghĩa là cá
nhân được người khác chủ động tác động tới nhằm thông báo truyền đạt thông tin
- Chỉ dẫn: Là hình thức hình thành thái độ đòi hỏi chủ thể phải hành động tích cực
theo hướng dẫn nào đó trong quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức
Cả một cơ chế tuy khác nhau song đều ảnh hưởng đến sự hình thành, củng cố haythay đổi thái độ
1.2.7 Phân loại và các mức độ của thái độ
* Phân loại thái độ
Nghiên cứu về thái độ, các nhà tâm lý học đã tiến hành phân loại thái độ Đứng ởcác góc độ khác nhau các nhà TLH phân loại thái độ theo các cách khác nhau
Dựa vào tính chất của thái độ V.N.Miasixev đã chia thái độ thành các loại: Thái độtích cực hay thái độ tiêu cực, thái độ trung tính hay phân cực Dựa vào tính chi phối củathái độ B Ph Lomov đã chia thái độ thành hai loại: thái độ chủ đạo hay thứ yếu Các loạithái độ chủ đạo (hay chi phối) là các thái độ có liên quan đến mục đích sống và động cơchủ đạo của cá nhân, chi phối toàn bộ hệ thống thái độ
PGS.TS Ngô Công Hoàn: Phân thái độ thành hai loại: thái độ tích cực và thái độtiêu cực Ông cho rằng thái độ tích cực đối với hành động, hoạt động của mình thì kết quảhành động thường đạt hiệu quả tốt hơn so với thái độ tiêu cực Thái độ tích cực thường cóchí tiến thủ, luôn nghĩ về trách nhiệm cá nhân mình đối với hành động và ngược lại
Nguyễn Phương Hoa (Viện tâm lý học) chia thái độ làm 3 loại:
+ Tích cực: có nhận thức đúng đắn về vấn đề, có trách nhiệm và biểu hiện hành viđúng mực
+ Trung tính: không tỏ rõ thái độ
Trang 25+ Tiêu cực: Chống đối, không hài lòng.
Trần Hiệp (Tâm lý học xã hội) : Thái độ có thể là tích cực có thể là tiêu cực, ủng
hộ hoặc phản đối, tức là chiều (+) hay (-)
PGS TS Hoàng Anh: Sau khi nghiên cứu ở đối tượng sinh viên trường ĐHSP HàNội và đã đưa ra mức độ của thái độ: mức độ tốt, trung bình và kém
TS Đỗ Thanh Nga: Tổng hợp 3 chỉ số: nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vithì phân loại thái độ theo mức độ: cao, thấp, trung bình
Vũ Ngọc Hà (Viện tâm lý học): chia thái độ theo các mức độ: nhiều, ít, không.Trong đề tài này, chúng tôi chọn cách phân thái độ thành ba loại: thái độ tích cực,thái độ ít tích cực và thái độ tiêu cực để làm cơ sở cho phương pháp điều tra
* Các mức độ của thái độ
Dựa vào các chỉ số khác nhau của thái độ, các nhà TLH đã phân chia thái độ thànhcác mức độ khác nhau
Theo H Benesch – nhà TLH người Đức thái độ gồm các mức độ sau:
- Về mức độ: Thường xuyên hay không thường xuyên, cao hay thấp.
- Về cường độ: Mức độ tích cực, nhiệt tình, chủ động.
Theo B Ph Lomov:
- Xét về cường độ: Thái độ gồm các mức độ: mạnh hay yếu, trong quá trình phát
triển thái độ có sự thay đổi cường độ, có thể ở thời kỳ gia tăng (rất mạnh mẽ) hoặc ở thời
kỳ suy yếu Khi thái độ ở cường độ bão hòa có thể dẫn đến sự thay đổi tính chất của tháiđộ
- Xét về độ rộng: Sự phong phú hay hạn hẹp của thái độ, thể hiện ở tập hợp các đối
tượng hay khía cạnh của hoạt động mà cá nhân tỏ thái độ
- Xét về mức độ tích cực: Mức độ ảnh hưởng của thái độ đối với tính tích cực của
cá nhân
- Mức độ ý thức: Thái độ của cá nhân là thái độ ý thức, cá nhân nhận thức được
thái độ của mình
Dựa trên quan điểm của các tác giả, có thể xác định của thái độ cho đề tài sau:
- Về mức độ tích cực: Rất tích cực, tích cực, chưa tích cực.
- Về mức độ thường xuyên: Rất thường xuyên, thường xuyên, không bao giờ.
1.2.8 Mối quan hệ của thái độ và các khái niệm có liên quan
Trang 26Thái độ là mặt biểu hiện sinh động nhất của nhân cách con người vì nó gắn liềnvới thuộc tính sâu xa và nhạy cảm nhất của mỗi cá nhân: nhu cầu, tình cảm, tâm thế,…khi nhu cầu được thỏa mãn thì người ta có thái độ hài lòng, phấn khởi, ngược lại khi nhucầu không được thỏa mãn thì gây ra thái độ khó chịu, bực bội Do tính phức tạp đó mànghiên cứu thái độ phải xem xét đến những biểu hiện đa dạng của nó trong các mối quan
hệ với các khái niệm liên quan đến nó
- Mối quan hệ giữa thái độ và ý thức cá nhân
Ý thức: “Hình thức phản ánh bậc cao, đặc trưng của loài người, là năng lực nhậnthức được phổ biến và cái bản chất trong hiện thực khách quan đồng thời là năng lực địnhhướng, điều khiển một cách tự giác thái độ, hành vi, quan hệ giữa con người với hoàncảnh tự nhiên xã hội” Cấu trúc của ý thức gồm ba thành phần: nhận thức, thái độ, và sựnăng động của ý thức
Chức năng của ý thức là định hướng, điều chỉnh, điều khiển hành vi hoạt động củacon người Thái độ cũng là một nhận thức, biểu hiện mối quan hệ ngược lại của ý thứcvới hiện thực, tuy nhiên không phải lúc nào ý thức cũng điều khiển được thái độ Thái độcó thể biểu hiện bột phát không ý thức, thái độ có thể biểu hiện tự nhiên không ý thức, cóthể thiếu ý thức hoặc không ý thức…
Như vậy, thái độ và ý thức có mối quan hệ hữu cơ với nhau Thái độ phản ánh cáchiện tượng của thế giới khách quan có chọn lọc, đồng thời là hình thức tác động trở lạicủa con người đối với hiện thực Vì vậy, khi nghiên cứu thái độ phải nghiên cứu thôngqua ý thức và ngược lại
- Mối quan hệ giữa thái độ và nhu cầu
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của con người cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển,
là động lực đầu tiên thúc đẩy con người hoạt động
Nhu cầu có vai trò quyết định tới sự phát triển của nhân cách, là nền tảng của động
cơ, mục đích của hoạt động thúc đẩy cá nhân hành động để chiếm lĩnh đối tượng Khinhu cầu được thỏa mãn sẽ đồng thời củng cố các thành phần của thái độ con người: quanđiểm, nhận thức, cảm xúc, cách cư xử của đối tượng thỏa mãn nhu cầu
Do thái độ được hình thành trên cơ sở của nhu cầu và tình huống thỏa mãn nhucầu Vì vậy, nhu cầu là nguồn gốc là cơ sở bên trong của thái độ Đồng thời phản ánh tínhchất, cường độ, mức độ thỏa mãn, thái độ nhu cầu
Trang 27Như vậy, thái độ và nhu cầu có mối quan hệ thân thiết với nhau Vì thế, khi nghiêncứu thái độ cũng cần xem xét đến các biểu hiện của nhu cầu.
- Mối quan hệ giữa thái độ với hứng thú
Hứng thú là xu hướng chiếm ưu thế của cá nhân nhằm vào đối tượng nào đó có ýnghĩa trong cuộc sống và tình cảm của nó Hứng thú là động lực thúc đẩy, duy trì hoạtđộng tích cực của cá nhân Hứng thú là một dạng thái độ đặc biệt, chứa đựng những quanniệm xúc cảm, cách sử dụng quen thuộc với đối tượng Vì vậy, biết được cá nhân có hứngthú đối với đối tượng nào, đồng thời chúng ta biết được thái độ của họ với đối tượng đó
Hứng thú được hình thành thông qua các quá trình nhận thức: nhận thức ý nghĩacủa đối tượng đối với cá nhân, hình thành cảm xúc tích cực phương thức tác động của cánhân với đối tượng Thái độ của cá nhân thể hiện rõ qua hứng thú Nếu hứng thú càngmạnh mẽ, ổn định thì càng củng cố thái độ
- Mối quan hệ giữa thái độ và tâm thế
“Tâm thế là một thái độ trọn vẹn, cơ động của chủ thể, trạng thái sẵn sàng hànhđộng, trạng thái quy định bởi 2 yếu tố: nhu cầu của chủ thể và tình huống khách quantương ứng” Tâm thế chế ước hành vi trong những định hướng cụ thể và bị quy định bởicác quan điểm hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm đã thu được trong những điềukiện tương tự Hiện nay, trong TLH “tâm thế” có rất nhiều các khác nhau song khái niệm
“tâm thế” vẫn được dùng làm cơ sở để xây dựng khái niệm
- Mối quan hệ giữa thái độ và định hướng giá trị
Định hướng giá trị có các định nghĩa sau:
- Là cơ sở ( chính trị, tư tưởng, đạo đức…) của các đánh giá của chủ thể về hiệnthực xung quanh và định hướng trong đó
- Là khả năng chủ thể phân biệt các đối tượng theo ý nghĩa của chúng
Được hình thành trong khi tiếp thu kinh nghiệm xã hội, trong quá trình xã hội hóa
và được thể hiện trong các mục đích, lý tưởng, niềm tin…
Trong cấu trúc hoạt động của con người, định hướng giá trị có liên quan đến giá trịnhận thức, lí trí Hệ thống định hướng giá trị tạo thành mặt nội dung của xu hướng nhâncách và thể hiện như xu hướng giá trị tạo thành mặt nội dung của xu hướng nhân cách vàthể hiện như là xu hướng bên trong của cá nhân với hiện thực
- Mối quan hệ giữa thái độ với hành vi cá nhân
Trang 28Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là phương thức tác động của đốitượng, có mục đích của con người với hiện thực nhằm thỏa mãn nhu cầu trực tiếp haygián tiếp của bản thân hay xã hội Tâm lý học xã hội đã xác định hoạt động là một phạmtrù cơ bản, thể hiện tập trung nhất tâm lý con người “ bằng hoạt động trong hoạt độngmỗi cá thể người sinh thành ra mình, tự tạo ra nhân cách của mình”.
Trong mối quan hệ hoạt động – nhân cách – thái độ thì hoạt động là nhân tố trựctiếp của sự hoàn thành nhân cách quy định thái độ của cá nhân đối với hiện thực Vì vậy,thái độ càng được hình thành và phát triển nếu như lĩnh vực được mở rộng, và thái độcàng được củng cố vững chắc thì càng đảm bảo sự ổn định
- Mối quan hệ giữa thái độ với tình cảm, xúc cảm
“Xúc cảm tình cảm là sự biểu thị thái độ của cá nhân đối với các hiện tượng xảy ratrong hiện thực khách quan hay trong cơ thể có liên quan mật đến việc thỏa mãn haykhông thỏa mãn nhu cầu của mỗi người” Tình cảm là thuộc tính tâm lý ổn định, thể hiệnthái độ của cá nhân đối với hiện thực xung quanh và bản thân
* Đối với hoạt động của cá nhân
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là phương thức tác động có đốitượng, có mục đích của con người với hiện thực nhằm thoả mãn nhu cầu trực tiếp haygián tiếp của bản thân và xã hội Tâm lý học hoạt động đã xác định hoạt động là phạm trù
cơ bản, thể hiện tập trung nhất tâm lý của con người bằng hành động, trong hoạt động củamỗi cá thể sinh thành ra mình tự tạo ra nhân cách của mình
Trong mối quan hệ hoạt động - nhân cách - thái độ thì hoạt động là nhân tố trực tiếpcủa sự hình thành nhân cách quy định thái độ của cá nhân đối với hiện thực Vì vậy, thái
độ càng được hình thành và phát triển nếu như lĩnh vực hoạt động được mở rộng và thái
độ càng được củng cố vững chắc thì càng bảo đảm sự ổn định bền vững của hoạt động
* Đối với lý tưởng
Lý tưởng là mục tiêu cao đẹp, được phản ánh vào trong đầu óc của con người dướihình thức một hình ảnh mẫu mực và hoàn chỉnh, có tác dụng lôi cuốn mạnh mẽ toàn bộcuộc sống của cá nhân trong một thời gian tương đối lâu dài vào hoạt động để vươn tớinó Lý tưởng vừa mang tính nhận thức sâu sắc, vừa là một tình cảm mãnh liệt và là mộttrong những động cơ thúc đẩy con người ta hoạt động Tính chất của lý tưởng:
- Lý tưởng mang tính chất xã hội, tính lịch sử và giai cấp
Trang 29+ Khác với ước mơ, lý tưởng bao giờ cũng được xác định bởi sự nhận thức sâu sắc
về những điều kiện chủ quan và khách quan của cá nhân trong quá trình vươn tới để đạtđược mục tiêu Nhưng ở mức độ nhất định ước mơ chính là mầm mống của sự hình thành
lý tưởng Vì vậy không được coi thường việc xây dựng ước mơ, hoài bão lớn lao của tuổitrẻ (đặc biệt là lý tưởng nghề nghiệp)
1.2.9 Sự thay đổi của thái độ
Các nhà nghiên cứu đã tốn nhiều công sức nghiên cứu để trả lời câu hỏi liệu có thểthay đổi thái độ thông qua cố gắng ảnh hưởng hay không? Một trong những công trìnhnghiên cứu tổng quát nhất hơn 50 năm qua trong lĩnh vực này là khảo cứu Yale của nhàTLH xã hội Hovland và cộng sự về thông điệp thuyết phục có tính hiệu quả
Theo quan điểm của Yale, người ta dễ có thay đổi thái độ nhất trước các thôngđiệp thuyết phục Vì vậy, họ đã nghiên cứu tác dụng của truyền thông thuyết phục, nghĩa
là những người được nghiên cứu phải chịu nhận những truyền thông (biện luận) có sứcthuyết phục ít hoặc nhiều xuất phát từ nhiều nguồn truyền thông Cuối cùng sẽ nghiêncứu ảnh hưởng của truyền thông lên thái độ của những người được thí nghiệm: Sự phụthuộc của độ lớn, của sự thay đổi thái độ và các đặc trưng của nguồn truyền thông, bộtruyền thông, sự truyền thông, bối cảnh truyền thông và nhóm mục tiêu cụ thể:
Các nhà nghiên cứu theo quan điểm này đã tập trung nghiên cứu “ai nói gì với ai”
– nghĩa là chú trọng đến nguồn thông điệp, tính chất của thông điệp và đặc điểm củangười nghe Tính hiệu quả của các thông điệp và đặc điểm của người nghe Tính hiệu quả
của các thông điệp tùy thuộc vào “ai nói gì với ai” Theo quan điểm của Yale:
- “Ai”: Là nguồn thông tin, diễn đạt đáng tin cậy (người có chuyên môn cao, nổi
tiếng) thuyết phục hơn các diễn giải có uy tín (Hovlan và Weiss, 1951) Diễn giải hấp dẫn(hoặc do ngoại hình hoặc do các thuộc tính khác về nhân cách) thuyết phục hơn diễn giải
ít hấp dẫn
- “Cái gì ”: Tính chất thông tin Người ta dễ bị thuyết phục hơn bởi các thông điệp
Trang 30có vẻ không được thiết kế để gây ảnh đối với họ (Walter & Festinger, 1962) Khi ngườinghe ủng hộ quan điểm của họ, bạn tốt nhất nên đưa ra thông điệp một chiều khi ngườinghe không tán thành quan điểm của bạn, tốt nhất là đưa ra thông điệp hai chiều rồi sauđó bác bỏ luận điểm trái ngược với quan điểm của mình (Hovland, Lumsdaine &Sheffied, 1949) Tốt nhất là bạn nên đưa ra thông điệp trước hay sau khi ai đó ủng hộquan điểm ngược lại với mình Nếu thông tin được đưa ra gián tiếp và có khoảng thờigian để người ta quyết định thì tốt nhất nên đưa thông điệp ra trước Trong các điều kiệnnày, có thể xảy ra tác dụng ưu tiên, trong đó người ta dễ bị ảnh hưởng bởi những điềunghe thấy trước Nếu có một khoảng thời gian chờ đợi và người ta có thời gian quyết địnhngay sau khi nghe thông điệp thứ nhì, tốt nhất là nên nói sau Trong các trường hợp này,có thể xảy ra tác dụng về tính chất gần kề, trong đó người ta ghi nhớ thông điệp thứ haitốt hơn thông điệp thứ nhất.
- “Nói với ai”: Đặc điểm của người nghe Một người nghe tỏ ra sao lãng trong khi
thông điệp thuyết phục thường bị thuyết phục hơn người bị rối trí Người ta đặc biệt dễ bịbiến đổi thái độ trong khoảng lứa tuổi 18-25 Qua lứa tuổi này, thái độ của người ta ổnđịnh hơn và đề kháng lại với biến đổi
Quan điểm của Yale về biến đổi thái độ đã đưa ra rất nhiều thông tin hữu ích vềviệc người ta thay đổi thái độ như thế nào để phản ứng lại các thông điệp thuyết phục
Song song với các nghiên cứu của Yale và nghiên cứu về hệ quả, người ta cũng đãxây dựng lý thuyết cố gắng giải thích sự thay đổi thái độ
- Lý thuyết học tập: Đối với một số nhà TLH xã hội, lý thuyết học tập truyền thống
giúp giải thích biến đổi thái độ Họ xem biến đổi thái độ chủ yếu là một quá trình học tậpđược lý giải tốt nhất bằng các quy luật về học tập Chúng ta hãy xem xét công trình củaHovland và cộng sự tại Đại học Yale (Hovland, Janis và Kelley, 1953) Giả thuyết cơ bảncủa họ là rất đơn giản: Người ta thay đổi thái độ vì nghĩ mình sẽ được tặng thưởng nếulàm thế Do đó phần thưởng càng lớn thì thái độ càng biến đổi dữ dội Hovland và cộngsự đã gọi phần thưởng mong đợi này là các động cơ khích lệ Trong khi có những thuyếthọc tập khác về biến đổi thái độ
- Thuyết tiếp nhận và thay đổi thái độ như là quá trình học hỏi: Theo thuyết của
Staats, tiếp nhận và thay đổi thái độ biểu hiện quá trình học hỏi được điều khiển bởi bộkhuyếch đại Theo nguyên tắc tạo phản xạ có điều kiện cổ điển đã xây dựng được mô
Trang 31hình thái độ - bộ khuyếch đại – phân biệt và phát biểu rằng: sự thay đổi thái độ sẽ đạtđược nhờ sự kết hợp của một kích thích không điều kiện (nội dung của một thông tinkhác với thái độ người nhận) mà sau đó nó sẽ tiếp thu tính chất là gây ra cùng phản ứngcảm xúc như kích thích không điều kiện một cách cổ điển là trường hợp một kích thíchtạo phản ứng cảm xúc được lặp lại cùng với một kích thích chung chung cho đến khi kíchthích chung chung đó có được cái tính chất của kích thích ban đầu.
- Sự thay đổi thái độ theo quan điểm nhận thức: Tác giả của thuyết này cố gắng
chỉ rõ xem yếu tố nào ảnh hưởng tới thái độ vẫn giữ nguyên, hơn thế nó còn vững hơntrước nỗ lực gây ảnh hưởng trong tương lai nếu trước đó người đó đã buộc phải tìm hiểucác lý lẽ đã phản bác
- Lý thuyết về không đồng bộ trong nhận thức: Người ta đã biến đổi thái độ bằng
việc biến đổi hành vi Theo lý thuyết này, con người rơi vào trạng thái mất đồng bộ khi
họ làm một điều gì đó gây hại đến hình ảnh đàng hoàng, tử tế của bản thân, đặc biệt khi
họ không có một cách lý giải rằng hành vi ấy là do ngoại cảnh khách quan Khi khôngtìm được lý lẽ bên ngoài để biểu hiện cho hành vi của mình thì họ cố tìm lý lẽ bên trongbằng cách đưa nhận thức và hành vi của họ đến gần với nhau hơn và điều này đã dẫn đếnmột sự thay đổi trong thái độ Hiện tượng này được đề cập đến một sự tán thành, một thái
độ đối lập Tức là quá trình trong đó người ta được thuyết phục công bố một ý kiến haymột thái độ đối lập là một cách thức mạnh mẽ để làm thay đổi thái độ một con người
1.3 Lý luận về thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi
mô tô, xe máy của sinh viên.
1.3.1 Khái niệm về thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ
* Khái niệm Luật
Luật là hệ thống phép tắc, lề lối quy định tổ chức xã hội và hành vi của cá nhântrong xã hội do Quốc hội định ra và được Nhà nước ban hành
* Khái niệm giao thông
Giao thông là việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phương tiện chuyênchở
* Khái niệm luật giao thông
Trang 32Luật giao thông là hệ thống các phép tắc lề lối do Quốc hội và Nhà nước đưa racho mọi người trong quá trình tham gia sử dụng công trình giao thông, nhằm đảm bảo antoàn về người, phương tiện và tài sản của Nhà nước và nhân dân trong qúa trình tham giagiao thông.
* Khái niệm luật giao thông đường bộ
Luật giao thông đường bộ là hệ thống các phép tắc, lề lối do Quốc hội và Nhànước đưa ra cho người, phương tiện trong quá trình tham gia hoạt động và sử dụng cáccông trình giao thông đường bộ và giao thông đô thị nhằm đảm bảo an toàn về người,phương tiện, tài sản của nhà nước và nhân dân
Nói một cách khái quát hơn, luật giao thông đường bộ là một loại chuẩn mực phápluật thuộc phạm trù chuẩn mực xã hội, là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao, tạohành lang pháp lý đầy đủ cho công tác đảm bảo an toàn giao thông ở nước ta
Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 4 ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã thông qua “ Luậtgiao thông đường bộ”, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 để thay thế choluật Giao thông đường bộ thông qua ngày 29/6/2001
Cấu trúc của Luật giao thông đường bộ: Luật giao thông đường bộ ngoài phần nóiđầu, Luật có 08 chương với 89 Điều:
Chương I từ Điều 1 đến Điều 8 đề cập tới “Những quy định chung”
Chương II từ Điều 9 đến Điều 38, nêu “ Quy tắc giao thông đường bộ”
Chương III từ Điều 39 đến Điều 52 quy định “ Kết cấu hạ tầng giao thông đườngbộ”
Chương IV từ Điều 53 đến Điều 57 đề cập “ Phương tiện tham gia giao thôngđường bộ”
Chương V từ Điều 58 đến Điều 63 quy định “ Người điều khiển phươnng tiệntham gia giao thông đường bộ”
Chương VI nói về vận tải đường bộ trong đó:
- Mục 1 nói về Hoạt động vận tải đường bộ bao gồm từ Điều 64 đến Điều 81
- Mục 2 từ Điều 82 đến Điều 83 đề cập Dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ
Chương VII từ Điều 84 đến Điều 87 quy định Quản lý nhà nước về giao thôngđường bộ
Chương VIII từ Điều 88 đến Điều 89 quy định Điều khoản thi hành
Trang 33Đối tượng áp dụng của luật giao thông đường bộ : Luật giao thông đường bộ ápdụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động, sinh sống trên lãnh thổ nước Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà nướcCHXHCNVN ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Luật này thì áp dụng quy địnhcủa Điều ước quốc tế đó
Và như vậy, Luật GTĐB cũng áp dụng đối với đối tượng sinh viên, trong đó cósinh viên của tường ĐHSP và ĐHBK – khách thể nghiên cứu của đề tài
Phạm vi điều chỉnh của Luật Giao thông đường bộ bao gồm: Quy định quy tắcgiao thông đường bộ, các điều kiện đảm bảo an toàn GTĐB của kết cấu hạ tầng, phươngtiện và người tham gia GTĐB, hoạt động vận tải đường bộ và quản lý nhà nước vềGTĐB
* Khái niệm về thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy
Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy là trạng tháitâm lý chủ quan sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định ( tích cực hay tiêucực) đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy
1.3.2 Thái độ của sinh viên ở một số trường trong ĐHĐN đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.
1.3.2.1 Khái niệm về sinh viên
Từ điển tiếng Việt có định nghĩa sinh viên như sau: Sinh viên là người học ở bậcđại học ( từ điển tiếng việt – NXB Đà Nẵng – 1998)
Trong tiếng Anh từ sinh viên là Student, trong tiếng Pháp là Etudiant: nghĩa làngười học tập tận tâm, người nhiệt tình tìm hiểu tri thức Như vậy có thể hiểu sinh viên làngười đang học ở bậc đại học và cao đẳng đã trưởng thành về mặt thể chất, xã hội, tâm lí
và vượt qua kỳ thi tuyển với yêu cầu mang tính quốc gia, ngành nghề rõ ràng, có độ tuổi
từ 18 đến 25 Họ là nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chấthay tinh thần của xã hội Nhóm xã hội đặc biệt này là nguồn bổ sung cho đội ngũ tri thức.Đây là lực lượng lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào các hoạtđộng đa dạng có ích cho xã hội
1.3.2.2 Những đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên
* Đặc điểm về thể chất
Trang 34Ở giai đoạn đầu tuổi sinh viên, sự phát triển của cơ thể đang đi vào giai đoạn hoànchỉnh Điều này thể hiện rõ ở chỗ:
Sự gia tăng về chiều cao giảm dần giúp hình thành một cơ thể cân đối, đẹp khỏecủa người sinh viên Trọng lượng cơ thể phát triển nhanh, các tố chất thể lực như sứcnặng, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường Cơ bắp, sức lực phát triển mạnh, dễ đạt đượcnhững thành tích trong thể thao
Giai đoạn này đã có sự trưởng thành về giới tính, chấm dứt giai đoạn của thời kìphát dục để chuyển sang thời kì ổn định hơn, cân bằng hơn xét cả trên các mặt hoạt độnghưng phấn, ức chế của hệ thần kinh cũng như các mặt phát triển khác về thể chất
Đến khoảng 25 tuổi, sự phát triển về mặt thể chất của con người đã đạt tới mức độhoàn thiện Điều này thể hiện ở chỗ:
Trọng lượng não đạt mức tối đa, số lượng nơron thần kinh lên tới mức cao nhất(14 – 16 tỉ), với chất lượng hoàn hảo nhờ quá trình myelin hóa cao độ Số lượng sinapcủa các tế bào thần kinh đảm bảo cho một sự liên lạc rộng khắp, chi tiết, tinh tế và linhhoạt giữa vô số các kênh làm cho hoạt động của não bộ trở nên chính xác, nhanh nhạyđặc biệt so với các lứa tuổi khác
Đây là giai đoạn ổn định , đồng đều về hệ xương, cơ bắp, tạo ra nét đẹp hoàn mỹ ởngười sinh viên Các tố chất về thể lực như sức mạnh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt đềuphát triển mạnh nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởngcác hooc – môn nam và nữ Tất cả những cái đó tạo điều kiện cho những thành công rực
rỡ trong thể thao và trong những hoạt động nghệ thuật
* Đặc điểm về hoạt động
Ở lứa tuổi này, hoạt động chủ đạo của sinh viên là học tập
Hoạt động học tập nhằm chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng như cácphương thức của hoạt động nhận thức Hoạt động học tập vẫn tiếp tục giữ vị trí quantrọng ở sinh viên Tuy nhiên, hoạt động này đã mang những tính chất và sắc thái khác vớiviệc học ở trường phổ thông
Hoạt động học tập trong các trường Cao đẳng, Đại học mang tính chất chuyênngành, phạm vi hẹp hơn, sâu sắc hơn đào tạo những chuyên gia, những trí thức cho đátnước
Cùng với hoạt động học tập, ở lứa tuổi này còn có hoạt động khác đó là hoạt động
Trang 35nghiên cứu khoa học Đây là hoạt động đã có mầm mống và hình thành từ các lứa tuổitrước nhưng hình thái của nó còn mờ nhạt Chỉ đến tuổi sinh viên, do những đòi hỏi bứcbách đối với các chuyên gia tương lai, hoạt động nghiên cứu khoa học đang dần dần trởthành hình thái chính thức của nó và chiếm vị trí ngày càng quan trọng.
Một hoạt động khác cũng không kém phần quan trọng đó là hoạt động học nghề,đây là nền tảng toàn diện để sinh viên có thể trở thành những cử nhân, những chuyên giatrong tương lai Việc học nghề của những cử nhân tương lai chủ yếu tập trung vào nhữnghành động, những kĩ thuật, những nguyên tắc chung có tính chất trí óc là chính Như vậy,trong hoạt động học tập sinh viên không những phải lĩnh hội tri thức của các chuyênngành khoa học, đồng thời phải nắm được nguyên tắc, cách thức, chuẩn mực nghề nghiệp
để làm một chuyên gia sau này Đó chính là những nét đặc trưng trong hoạt động học tậpcủa sinh viên trên giảng đường các trường Đại học, cao đẳng
Bên cạnh những hoạt động về học tập, nghiên cứu khoa học, học nghề thì các hoạtđộng chính trị – xã hội cũng là một hoạt động đặc trưng của lứa tuổi sinh viên Sinh viên
là những người có trí tuệ, nhạy bén, mẫn cảm đối với tình hình kinh tế chính trị, xã hộicủa quốc gia và quốc tế Họ có chính kiến đối với đường lối, chủ trương, chính sách củanhững Đảng chính trị, những tổ chức cầm quyền Do đó hoạt động chính trị - xã hội lànhu cầu, nguyện vọng của sinh viên Việc tham gia của sinh viên vào các tổ chức chínhtrị, đoàn thể xã hội vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nhân cách toàn diệncủa họ, vừa góp phần không nhỏ vào sự thành công của các thể chế xã hội
Ngoài những hoạt động trên, sinh viên cũng là những nhóm người tích cực thamgia các hoạt động khác mang tính chất văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao…những hoạtđộng này luôn luôn hấp dẫn, thu hút sự tham gia của nhiều sinh viên để thỏa mãn nhu cầugiao lưu phong phú cũng như nhu cầu rèn luyện toàn diện của họ
Bao trùm lên tất các hoạt động trên của sinh viên là những quan hệ giao lưu, giaotiếp với hàng loạt mối quan hệ xã hội đan xen với nhau Những mối quan hệ giao lưu nàymang tính phức hợp giữa cá nhân người sinh viên với các bạn bè cùng lứa, cùng giới,khác giới, các tổ chức, các nhóm xã hội trực tiếp và gián tiếp…hoạt động giao lưu nàychiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển đời sống tâm lý, nhân cách của sinh viên
* Đặc điểm về nhận thức của sinh viên
Hoạt động nhận thức của sinh viên có đặc điểm khác hẳn các lứa tưổi học sinh về
Trang 36sự phát triển, về tính chọn lọc và độc lập, sáng tạo Điều đó được thể hiện ở quá trình tiếpthu, ghi nhớ tri thức, khẳ năng tự học và tự nghiên cứu của sinh viên, qua hoạt động họctập và hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Sinh viên có năng lực phản ánh hiện thực chính xác hơn, sâu sắc hơn học sinh phổthông Tư duy lôgic trừu tượng phát triển Tư duy lý luận của sinh viên mang tính tíchcực, độc lập, sáng tạo Phẩm chất độc lập của tư duy biểu hiện ở các điểm sau: Sinh viêntự đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề theo nhiều chiều, nhiều phương thức khác nhau Họ cókhả năng chuyển những phán đoán nảy sinh trong quá trình nắm vững tri thức thành ýkiến và niềm tin riêng ở mình và họ có ý chí theo đuổi mục đích đến cùng, tự đánh giá kếtquả tìm được
Tư duy lí luận của sinh viên diễn ra trên cơ sở phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,phán đoán, suy lý, đi tới kết luận Vì vậy, sử dụng các thao tác tư duy được xem là mộttiêu chuẩn quan trọng để sinh viên có tư duy lí luận tốt hay chưa
Phẩm chất tư duy sáng tạo của sinh viên bộc lộ trong hoạt động học tập và nghiêncứu khoa học Sinh viên biết huy động các tri thức và kinh nghiệm để giả quyết vấn đềrập khuôn theo khuôn mẫu, có tính chất mới mẻ Nội dung và tính chất tri giác phụ thuộcvào sự vật hiện tượng được tri giác, vào kinh nghiệm và xu hướng nhân cách, trạng tháitâm lý của sinh viên
Quá trình nhận thức đòi hỏi người sinh viên phải tự ý thức được mục đích, động
cơ, biện pháp học tập, tự tổ chức, định hướng, cụ thể hóa quá trình học tập của mình với
tư cách là hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu của hoạt động học tập và hoạtđộng nghiên cứu khoa học
Hoạt động nhận thức của sinh viên là loại hình lao động trí óc Cường độ hoạtđộng phụ thuộc vào nội dung và tính chất phức tạp của các nhiệm vụ, vào trình độ trithức, các kỹ năng, động cơ, tâm thế và tự ý thức của sinh viên Vì vậy, trong quá trìnhdạy học và tổ chức hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu, nhà trường cần đảm bảotính mục đích, tính định hướng, thống nhất và tạo điều kiện, môi truờng, phương tiện họctập thuận lợi cho sinh viên phát huy tính độc lập, tích cực nhận thức
* Đặc điểm về đời sống tình cảm
Đặc điểm chung về tình cảm của tuổi sinh viên giai đoạn này được biểu hiện rấtphong phú trong hoạt động và đời sống của sinh viên, đây là thời kì phát triển tích cực
Trang 37nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảmthẩm mĩ Đặc điểm của nó là có tính hệ thống và bền vững, hầu hết sinh viên biểu lộ sựchăm chỉ, say mê của mình đối với chuyên ngành và nghề nghiệp đã chọn.
Tình cảm đạo đức của sinh viên đã đạt đến một trình độ rất cao Nó gắn liền với sựhiểu biết những nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức Nhờ đó sinh viên có thể đánh giá đúngđược tình cảm của mình cũng như của người khác Khi tình cảm của sinh viên phù hợpvới những tiêu chuẩn đạo đức thì họ cảm thấy sung sướng hài lòng và coi đó là có giá trị.Nếu tình cảm của sinh viên không phù hợp với những yêu cầu đạo đức thì họ sẽ cảm thấybăn khoăn, ân hận và cố gắng khắc phục Đó là điều quan trọng của việc tu dưỡng
Ở sinh viên tình bạn cùng giới, khác giới tiếp tục phát triển theo chiều sâu, nhữngbạn bè thời trung học phổ thông vẫn tiếp tục chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tìnhcảm của sinh viên, ở nhiều sinh viên tình bạn này là mãi mãi Bên cạnh đó trong nhữngnăm học ở Đại học, cao đẳng sinh viên lại có thêm những tình bạn mới không kém phầnsâu sắc Tình bạn ở lứa tuổi sinh viên đã làm phong phú thêm tâm hồn, nhân cách củasinh viên rất nhiều
Bên cạnh tình bạn, tình yêu trai gái ở lứa tuổi sinh viên là một lĩnh vực rất đặctrưng, nó giữ một vị trí đáng kể trong đời sống tình cảm của sinh viên Bởi vậy, nhìnchung tình yêu trai gái ở tuổi sinh viên rất đẹp, lãng mạn, đầy thi vị…trong nhiều trườnghợp, tình yêu có tác dụng thúc đẩy nam nữ sinh viên khắc phục được những thiếu sót củamình, hình thành những phẩm chất tốt đẹp của nhân cách Song nó cũng dễ gây nênnhững ưu phiền, thậm chí đau khổ lâu dài, làm cản trở trong việc học tập, rèn luyện và tudưỡng Trong những trường hợp đó cần thông qua các hình thức sinh hoạt đoàn thể cầngiáo dục cho sinh viên có nhận thức, thái độ đúng đắn về tình yêu…tuyệt đói tránh nhữnglối can thiệp thô bạo làm tổn thương nhân cách của sinh viên, cần nâng cao thêm mộtbước ý thức đạo đức của họ
* Đặc điểm về nhân cách ở sinh viên
Nhân cách của sinh viên phát triển khá toàn diện và phong phú, điều này được thểhiện rõ ở một số mặt sau:
+ Tự ý thức của sinh viên
Đây là một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của sinh viên Tự ý thứccủa sinh viên phát triển mạnh mẽ, sôi nổi và có tính đặc thù riêng Sự tự ý thức thường
Trang 38xuất phát từ yêu cầu cuộc sống, hoạt động và địa vị mới mẻ của sinh viên trong các tậpthể Nội dung của tự ý thức khá phức tạp do có sự nhận thức về vị trí của mình trong xãhội, trong tương lai.
Quá trình tự ý thức giúp sinh viên tự điều chỉnh hành vi và hoàn thiện nhân cách.Tự ý thức là một hình thức của ý thức giúp cho sinh viên có những hiểu biết và thái độđối với mình để chủ động hướng nhân cách theo yêu cầu đòi hỏi của tập thể, của cộngđồng xã hội
+ Tự đánh giá của sinh viên
Tự đánh giá của sinh viên thể hiện ở thái độ đối với bản thân trong hoạt động giaotiếp, tự giáo dục Tự đánh giá có ý nghĩa định hướng điều chỉnh hoạt động, hành vi củachủ thể nhằm đạt mục đích, lý tưởng sống một cách tự giác
Tự đánh giá của sinh viên mang tính chất toàn diện và sâu sắc Sinh viên khôngchỉ tự đánh giá bản thân mình có tính chất bên ngoài, hình thức mà còn đi sâu vào phẩmchất, giá trị nhân cách
Như vậy, tự đánh giá của sinh viên vừa có ý nghĩa tự ý thức vừa có ý nghĩa tự giáodục, tự hoàn thiện bản thân mình
1.3.2.3 Khái niệm thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.
Từ những phân tích trên về thái độ chúng tôi rút ra khái niệm thái độ của sinh viên
đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy: “Thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi khi đi mô tô, xe máy là trạng thái tâm lý chủ quan của họ sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định ( tích cực hay tiêu cực) đối với việc chấp hành luật giao thông khi khi đi mô tô, xe máy Thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm - tình cảm và hành vi của họ trong những tình huống, những điều kiện nhất định”.
Đây là khái niệm then chốt của đề tài, từ khái niệm này chúng tôi tiến hành tổchức nghiên cứu tìm hiểu thái độ của sinh viên ở 2 trường là ĐHSP và ĐHBK đối vớiviệc chấp hành luật giao thông khi tham gia giao thông
1.3.2.4 Các mặt biểu hiện của thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.
Trang 39Thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi tham gia giaothông là một thành tố, một thuộc tính bên trong trọn vẹn của ý thức tự giác, tích cực củasinh viên đối với việc tìm hiểu, tuân thủ các quy định về nghĩa vụ và vai trò của ngườiđiều khiển phương tiện khi tham gia giao thông Hoặc những hành vi tiêu cực như khôngchấp hành, cố ý chống đối lại luật… Chúng được biểu hiện ra bên ngoài thông qua nhậnthức, xúc cảm – tình cảm và hành vi tuân thủ và châp hành luật giao thông của sinh viên.
- Về mặt nhận thức: là quá trình các sinh viên tìm hiểu, học hỏi những kiến thức
về các quy định của luật lệ giao thông đem lại cho mình những hiểu biết nhất định.Những hiểu biết đó có thể chính xác hoặc chưa chính xác nhưng điều quan trọng là phảicó hiểu biết về nó và từ đó hình thành thái độ cho mình và những nhận thức đó thúc đẩynhư thế nào đến hành vi của họ
- Về mặt xúc cảm – tình cảm: thực hiện vai trò như là động cơ của hoạt động Đối
với việc chấp hành luật lệ giao thông thì nó được biểu hiện thông qua việc họ thể hiệncảm xúc ra sao và mức độ nào đối với việc chấp hành luật ( tích cực hay tiêu cực) Việc
họ thể hiện những cảm xúc như vậy ảnh hưởng như thế nào đối với hành vi của mình
- Về mặt hành vi: Hành vi là sự biểu hiện ra bên ngoài thái độ của cá nhân với đối
tượng, thông qua hành vi mà chúng ta đoán biết được đối tượng Vì vậy thông qua nhữngbiểu hiện hành vi của sinh viên khi tham gia giao thông chúng ta có thể nhận biết đượcthái độ của họ khi tham gia giao thông Trước những nhận thức về luật lệ giao thông nhưvậy thì họ thể hiện qua hành vi như thế nào? Có đồng nhất với nhận thức hay không
1.3.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.
* Yếu tố môi trường: Môi trường là yếu tố quan trọng trong việc hình thành nhân
cách con người, nó có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, hành vi của mọi người Nhữngkhuôn mẫu, cách sống, cách sinh hoạt, hành vi tham gia giao thông của mọi người xungquanh có tác động rõ rệt đến cách nhìn nhận và hành vi của chủ thể Đồng thời những yếutố này có thể mang tính bền vững khó xóa bỏ
* Yếu tố học tập: Học tập đóng vai trò quan trọng, con người học tập những tri thức
khoa học đúng đắn, học tập các hành vi ứng xử của người khác nhằm ngày càng nâng caokhả năng nhận thức của mình, biến nó thành cái của mình
Trang 40* Yếu tố truyền thông (các phương tiện thông tin đại chúng): Sự tiếp cận của sinh
viên với các phương tiện thông tin đại chúng như đài, sách báo, áp phích quảng cáo cónội dung liên quan đến an toàn giao thông như thế nào? Những nội dung tiếp thu đượccủa họ là đúng hay sai…Những yếu tố này có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến thái
độ tham gia giao thông của sinh viên Vì vậy muốn thay đổi nhận thức thái độ của sinhviên thì việc tác động vào yếu tố truyền thông cũng mang hiệu quả rất lớn
Ngoài ra còn có ảnh hưởng của các cơ chế tâm lý xã hội như:
Cơ chế nhập tâm: Những hành vi giao tiếp của những người xung quanh dần dần
được tiếp thu và lưu giữ lại trong đầu và khi đã nhập tâm thì nó ảnh hưởng đền hành động
và cách suy nghĩ của chúng ta
Cơ chế bắt chước: Bắt chước là sự mô phỏng, tái tạo, lặp lại các hành động, hành vi,
tâm trạng, cách thức suy nghĩ, ứng xử của một người hay một nhóm người nào đó Người
ta bắt chước thái độ hành động của nhau và dần dần có thể hình thành nên thái độ củamình trước sự vật hiện tượng
Cơ chế lây lan: Đây là một hiện tượng khi con người ở trong một nhóm xã hội
nhất định, nó gắn liền với hiện tượng lan truyền các tình cảm, xúc cảm, khi con ngườihấp thụ các tình cảm, xúc cảm của người khác Tương tự, khi ở trong một nhóm xã hội,nhiều người có thái độ phản đối lên án, có cảm xúc thì có thể lây lan cảm xúc sang ngườikhác và họ cũng có thái độ như vậy
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề thái độ đối với việc chấp hành luật giaokhi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong ĐHĐN, chúng tôi rút ra một sốkết luận sau:
- Thái độ là một vấn đề được nhiều người quan tâm và nghiên cứu đến nó, khôngchỉ những công trình nghiên cứu nổi tiếng của các nhà tâm lý học nước ngoài mà cảnhững nghiên cứu ở Việt Nam Có nhiều định nghĩa khác nhau được trình bày và từngbước các nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ cấu trúc, chức năng, cơ chế hình thành thái độ.Kết quả cho thấy “thái độ” là một vấn đề phức tạp, do đó có rất nhiều quan điểm khácnhau về thái độ Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về thái độ, song