Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có không ít công trình nghiên cứu về HQKD của các d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 62.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS,TS Nguyễn Đăng Nam
2 TS Đào Lê Minh
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
ĐOÀN THỤC QUYÊN
Trang 4
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
LỜI MỞ ĐẦU i
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1
1.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp sản xuất 1
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất 6
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế quốc dân 9
1.2 HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 13
1.2.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh 13
1.2.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh 17
1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất 20
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất 32
1.3 KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM. 43
1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 43
1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 46
1.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan 49
1.3.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 51
1.3.5 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 53
Kết luận chương 1 55
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM 56
2.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 56
2.1.1 Doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 56
2.1.2 Đặc điểm các doanh nghiệp sản xuất niêm yết 58
2.1.3 Kết quả kinh doanh của các DNSXNY giai đoạn 2009-2013 66
2.2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 70
2.2.1 Thực trạng hiệu quả kinh doanh thành phần của các DNSXNY 70
2.2.2 Thực trạng hiệu quả kinh doanh tổng quát của các DNSXNY 83
2.2.3 Sử dụng mô hình kinh tế lượng xem xét tác động của các nhân tố cơ bản đến ROE của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết 106
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 110
2.3.1 Những kết quả đạt được 110
2.3.2 Những hạn chế 112
2.3.3 Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế 115
Kết luận chương 2 124
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 125
3.1 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 125
3.1.1 Những cơ hội trong hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp sản xuất niêm yết 125
3.1.2 Những thách thức trong hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp sản xuất niêm yết 128
3.2 QUAN ĐIỂM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 132
Trang 63.3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM 134
3.3.1 Giải pháp về tái cấu trúc doanh nghiệp làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh 135
3.3.2 Giải pháp về huy động vốn để mở rộng quy mô vốn, nâng cao năng lực tài chính và đảm bảo an toàn tài chính 141
3.3.3 Giải pháp đầu tư đổi mới máy móc thiết bị - công nghệ, khai thác sử dụng hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 150
3.3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 154
3.3.5 Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức và quản trị doanh nghiệp 159
3.3.6 Giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý điều hành của Ban lãnh đạo doanh nghiệp 163
3.3.7 Giải pháp đầu tư bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho công nhân 166
3.3.8 Giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ và kiểm soát chi phí 167
3.4 GIẢI PHÁP VĨ MÔ TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC 171
3.4.1 Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh 171 3.4.2 Tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế theo hướng: khuyến khích, thúc đẩy nâng cao HQKD của các DNSXNY 172
3.4.3 Hoàn thiện cơ chế khuyến khích, tạo nguồn lực tài chính đổi mới công nghệ 173 3.4.4 Hoàn thiện khung pháp lý nhằm phát triển thị trường vốn 174
Kết luận chương 3 177
KẾT LUẬN 178 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DNSX : Doanh nghiệp sản xuất
DNSXNY : Doanh nghiệp sản xuất niêm yết
DTT : Doanh thu thuần
EBIT : Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
GDP : Tổng thu nhập quốc nội
HNX : Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE : Sở Giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
HQKD : Hiệu quả kinh doanh
HTK : Hàng tồn kho
LNST : Lợi nhuận sau thuế
NCS : Nghiên cứu sinh
NH : Ngắn hạn
ROA : Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tài sản
ROE : Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu ROS : Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu
TTCK : Thị trường chứng khoán
VCĐ : Vốn cố định
VLĐ : Vốn lưu động
VND : Việt Nam đồng
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 1.1: Tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp sản xuất 4 Bảng 2.1: Mức độ biến động DNSXNY từ năm 2006 đến 2013 60 Bảng 2.2: Số lượng DNSXNY theo ngành sản xuất từ năm 2000 đến 2013 61 Bảng 2.3: DNSXNY theo nguồn gốc hình thành tính đến ngày 31/12/2013 62 Bảng 2.4: Quy mô doanh thu thuần bình quân của các DNSXNY giai đoạn
2009-2013 69
Bảng 2.5: Quy mô LNST bình quân của các DNSXNY giai đoạn 2009-2013 69 Bảng 2.6: Hiệu suất sử dụng VCĐ của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 71 Bảng 2.7: Số vòng quay vốn lưu động của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 73 Bảng 2.8: Số ngày một vòng quay VLĐ của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 74 Bảng 2.9: Số vòng quay tiền của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 75 Bảng 2.10: Số vòng quay hàng tồn kho của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 77 Bảng 2.11: Số vòng quay các khoản phải thu của DNSXNY giai đoạn 2009-
2013 80
Bảng 2.12: Kỳ thu tiền bình quân của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 81 Bảng 2.13: Vòng quay tổng vốn kinh doanh của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 83 Bảng 2.14: Tỷ suất LNST trên DTT của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 89 Bảng 2.15: Tỷ suất EBIT trên tài sản của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 94 Bảng 2.16: Tỷ suất LNST trên tài sản của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 95 Bảng 2.17: Tỷ suất LNST trên vốn CSH của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 100 Bảng 2.18: Tổng hợp các nhân tố tác động đến chỉ tiêu ROE của DNSXNY giai
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu Tên hình Trang
Hình 1.1: Quá trình sản xuất 1 Hình 2.1: Số lượng DNSXNY trên TTCK Việt Namgiai đoạn 2000 – 2013 59
Hình 2.2: Tỷ trọng DNSXNY trên TTCK Việt Nam tính đến 31/12/2013 59 Hình 2.3: Số lượng DNSXNY mới và hủy niêm yết năm 2009-2013 60 Hình 2.4: Tỷ trọng DNSXNY hoạt động nhiều lĩnh vực năm 2013 63 Hình 2.5: So sánh quy mô vốn bình quân và vốn CSH bình quâncủa
DNSXNY với doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2009 - 2013 64
Hình 2.6: Quy mô doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuếbình quân của
DNSXNY giai đoạn 2009-2013 67
Hình 2.7: Tốc độ tăng trưởng một số chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của
DNSXNY giai đoạn 2009-2013 70
Hình 2.8: Hiệu suất sử dụng VCĐ của các DNSXNY giai đoạn 2009-2013 71 Hình 2.9: Số vòng quay vốn lưu động của các DNSXNY giai đoạn 2009-2013 74 Hình 2.10: Số vòng hàng tồn kho của các DNSXNY giai đoạn 2009-2013 78 Hình 2.11: Tỷ trọng DNSXNY theo mức tín nhiệm của ngân hàng 79 Hình 2.12: Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn của DNSXNY 2009-2013 80 Hình 2.13: Tỷ trọng DNSXNY theo mức tín nhiệm của ngân hàng 82 Hình 2.14: Vòng quay tổng vốn kinh doanh của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 84 Hình 2.15: Tỷ trọng DNSXNY theo mức tín nhiệm của ngân hàng 85 Hình 2.16: Thị phần sữa bột của Vinamilk (VNM) năm 2013 87 Hình 2.17: Tỷ suất LNST trên DTT của các DNSXNY giai đoạn 2009-2013 89 Hình 2.18: Tỷ trọng DNSXNY theo mức tín nhiệm của ngân hàng 90 Hình 2.19: Chỉ số năng suất lao động khu vực sản xuất của một số nước 92 Hình 2.20: Tỷ suất LNST trên tài sản (ROA) của DNSXNY giai đoạn 2009-2013 96 Hình 2.21: Tỷ trọng DNSXNY theo mức tín nhiệm của ngân hàng 96 Hình 2.22: Tỷ trọng DNSXNY có các chức danh kiêm nhiệm năm 2012 97 Hình 2.23: Tình hình đầu tư tài chính và bất động sản của SAMgiai đoạn 2004-
2013 98
Hình 2.24: Một số chỉ tiêu tài chính của SAM từ 2004-2013 99
Trang 10Hình 2.25: Tỷ suất LNST trên vốn CSH của các DNSXNY giai đoạn 2009-2013 101 Hình 2.26: Tỷ trọng DNSXNY theo mức tín nhiệm của ngân hàng 102 Hình 2.27: So sánh ROS, ROA, ROE của DNSXNYvới các DNSX năm 2013.111
Hình 2.28: So sánh ROS, ROA, ROE của DNSXNYvới một số doanh nghiệp
niêm yết khác năm 2013 113
Hình 3.1: Mô hình quản lý dòng tiền Miller - Orr 156
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bất kỳ hoạt động nào con người cũng luôn mong muốn thu được lợi ích cao nhất Tuy nhiên, để thực hiện các hoạt động đó con người thường bị ràng buộc bởi những nguồn lực có hạn Do vậy khi thực hiện các hoạt động người ta luôn phải cân nhắc, so sánh giữa lợi ích thu được với các nguồn lực đã
bỏ ra để có được những lợi ích đó Đây chính là vấn đề hiệu quả, là mối quan tâm lớn nhất của con người khi thực hiện bất cứ hoạt động nào
Trong kinh doanh, hiệu quả kinh doanh (HQKD) là mục tiêu quan trọng mà các doanh nghiệp cần phải đạt được Việc nâng cao HQKD giúp cho doanh nghiệp nâng cao được năng lực cạnh tranh, là điều kiện tồn tại và phát triển doanh nghiệp Nâng cao HQKD luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm của các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung Riêng đối với các doanh nghiệp sản xuất niêm yết (DNSXNY) trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam thì việc nâng cao HQKD không chỉ để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp mà còn giúp nâng cao chất lượng hàng hóa cung cấp trên TTCK, tạo niềm tin cho nhà đầu tư, góp phần phát triển TTCK Việt Nam nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung
Trên thực tế trong giai đoạn hiện nay, HQKD của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam còn thấp, không ổn định và có xu hướng giảm nên chưa thực sự thu hút được các nhà đầu tư trong nền kinh tế và chưa giúp cho các doanh nghiệp này thực hiện tốt vai trò dẫn dắt các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế phát triển Tính đến thời điểm 31/12/2013 có tổng số 219 DNSXNY nhưng có đến 21 DNSXNY bị hủy niêm yết (chiếm tỷ lệ khoảng 10% trong tổng số DNSXNY) do lỗ 3 năm liên tiếp, âm vốn chủ sở hữu (CSH), số lỗ lũy kế lên đến hàng trăm tỷ đồng Có 14 DNSXNY đang trong diện bị kiểm soát giao dịch do
đã lỗ 2 năm liên tiếp Các chỉ tiêu phản ánh HQKD của DNSXNY đều có xu hướng giảm Cụ thể, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (ROS) năm
2009 là 9,95% giảm xuống còn 7,03% năm 2013, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
Trang 12tài sản (ROA) năm 2013 là 7,02% trong khi đó năm 2009 là 11,46% Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tài sản của DNSXNY năm 2013 là 11,1% thấp hơn so với lãi suất vay vốn bình quân trên thị trường liên ngân hàng công bố tại cùng thời điểm (lãi suất cho vay bình quân khoảng 14,28%) Cho thấy khả năng sinh lời trên từng đồng vốn vay không đủ trang trải cho chi phí sử dụng những đồng vốn vay đó, làm cho khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu cũng ngày càng giảm (Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm 2009 là 23,04% nhưng đến năm 2013 chỉ là 16,06%) Bên cạnh đó, căn cứ theo tiêu chuẩn đánh giá về HQKD mà các tổ chức tín dụng uy tín trong nước đưa ra để đánh giá mức độ tín nhiệm đối với khách hàng thì chỉ khoảng 30% DNSXNY có các chỉ tiêu phản ánh HQKD đạt tiêu chuẩn
Hoạt động kinh doanh của các DNSXNY kém hiệu quả là một trong những ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của TTCK Việt Nam trong thời gian qua Do vậy, việc nâng cao HQKD của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, lấy lại niềm tin từ các nhà đầu tư thúc đẩy sự phát triển của TTCK cũng như phát triển nền kinh tế Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, khi TTCK chưa thực sự khởi sắc, nền kinh tế thế giới cũng như Việt Nam đang trong giai đoạn phục hồi chậm thì việc nâng cao HQKD cho các DNSXNY trên TTCK Việt Nam càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp để nâng cao HQKD cho các DNSXNY trên TTCK Việt Nam sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Do
vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để tập trung nghiên cứu
2 Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có không
ít công trình nghiên cứu về HQKD của các doanh nghiệp Song đối tượng, phạm
vi và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu có sự khác biệt nhất định Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến HQKD trên những phương diện khác nhau của một số tác giả như sau:
Trang 13- Nguyễn Thị Minh An (2003), Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
HQKD của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh
tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân Tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về HQKD của doanh nghiệp và bám sát với đặc thù của các doanh nghiệp ngành Bưu chính viễn thông Tuy nhiên, luận án mới chỉ tập nghiên cứu và đưa
ra các giải pháp nhằm nâng cao HQKD trong phạm vi của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam, mà chưa đề cập đến các giải pháp nâng cao HQKD cho các DNSXNY
- Nguyễn Văn Tạo (2004), Biện pháp nâng cao HQKD của các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, trường Đại học Thương mại
Tác giả đã khái quát và hệ thống hóa những vấn đề lý luận chủ yếu liên quan đến HQKD của doanh nghiệp và HQKD của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam Luận án đã đưa ra các tiêu chí để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Trên cơ sở thực trạng HQKD của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, tác giả đã đưa ra một số biện pháp nâng cao HQKD của các doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may của Việt Nam Tuy nhiên, luận án cũng mới chỉ tập trung nghiên cứu về HQKD trong phạm vi của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mà chưa đề cập đến các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác, trong đó
có các DNSXNY
- Đoàn Minh Phụng (2009), Giải pháp nâng cao HQKD bảo hiểm phi
nhân thọ của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện
mở cửa và hội nhập Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính Tác giả đã bàn về
HQKD của loại hình doanh nghiệp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ và nghiên cứu thực trạng HQKD bảo hiểm phi nhân thọ tại các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước ở Việt Nam Như vậy, luận án tập trung nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao HQKD bảo hiểm phi nhân thọ đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước ở Việt Nam mà chưa đề cập đến HQKD của các doanh nghiệp sản xuât, trong đó có các DNSXNY
Trang 14- Nguyễn Thanh Hải (2011), Nâng cao HQKD của các doanh nghiệp
thương mại bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận án tiến sĩ kinh
tế, trường Đại học Thương mại Trong luận án này, tác giả đã đề cập đến HQKD của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Hà Nội Những nội dung liên quan đến lý luận về HQKD trong các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, thực trạng về HQKD của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội và các giải pháp cần thiết để nâng cao HQKD của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội được tác giả đề cập đầy đủ và chi tiết trong luận án Tuy nhiên, luận án cũng chỉ tập trung nghiên cứu về HQKD của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phi sản xuất
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về một nhân tố tác động đến HQKD của doanh nghiệp Có thể đề cập công trình sau:
- TS Trần Thị Thanh Tú (2009), Tác động của cơ cấu vốn đến khả năng
sinh lời trên vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả đã chỉ rõ sự tác động của cơ cấu vốn đến khả năng sinh lời trên vốn chủ
sở hữu là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh HQKD của doanh nghiệp niêm yết Tuy nhiên, đề tài mới chủ yếu xem xét đến một chỉ tiêu phản ánh HQKD của doanh nghiệp niêm yết mà chưa đề cập đến các chỉ tiêu khác để đánh giá HQKD cho doanh nghiệp sản xuất niêm yết
Trên góc độ phân tích hiệu quả kinh doanh, một số tác giả đã nghiên cứu quy trình phân tích HQKD trong một số doanh nghiệp Ví dụ:
- Nguyễn Thị Mai Hương (2008), Phân tích HQKD trong các doanh
nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, trường Đại học
kinh tế Quốc dân Tác giả đã đưa ra những lý luận về phân tích HQKD trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản và thực trạng cũng như các giải pháp cần thiết để hoàn thiện quá trình phân tích HQKD trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam Tuy nhiên, trong Luận án này tác giả tập trung đi vào
Trang 15hoàn thiện quá trình phân tích HQKD trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam mà không đánh giá thực trạng HQKD cũng như đề ra các giải pháp nhằm nâng cao HQKD cho các doanh nghiệp
- Trần Thị Thu Phong (2012), Hoàn thiện phân tích HQKD trong các
công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận án tiến sĩ
kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân Tác giả đã khái quát được những vấn
đề cơ bản về phân tích HQKD cũng như thực trạng hoạt động phân tích HQKD của các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam Tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình phân tích HQKD của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên, luận án này cũng đi sâu đề cập đến việc hoàn thiện quy trình phân tích HQKD của các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam mà không đi sâu vào việc đánh giá thực trạng HQKD cũng như đề ra các giải pháp nhằm nâng cao HQKD cho doanh nghiệp niêm yết
Như vậy, tuy có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề HQKD nhưng chủ yếu đề cập đến các giải pháp nâng cao HQKD cho một ngành, một lĩnh vực, một doanh nghiệp cụ thể, hay chỉ nghiên cứu HQKD bị tác động bởi một số nhân tố, hoặc chỉ nghiên cứu việc hoàn thiện quy trình phân tích về HQKD của doanh nghiệp Chưa có công trình nào nghiên cứu, đề cập đến khái niệm, nội dung cũng như nghiên cứu một các toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về HQKD và các giải pháp nâng cao HQKD đối với các DNSXNY trên TTCK Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu HQKD và đánh giá HQKD của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam thời gian qua để đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao HQKD của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam của tác giả là không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào về nội dung, không gian và thời gian nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao HQKD của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam trong thời gian tới
Trang 16- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Để thực hiện mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
Thứ nhất, tổng hợp, hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về doanh nghiệp
sản xuất, về HQKD và bản chất HQKD của doanh nghiệp Đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong doanh nghiệp sản xuất Khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của các doanh nghiệp sản xuất Các bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao HQKD của các doanh nghiệp sản xuất của các nước
Thứ hai, đánh giá đúng thực trạng HQKD của các DNSXNY trên TTCK
Việt Nam giai đoạn 2009-2013 Từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong việc thực hiện HQKD của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam
Thứ ba, đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi từ phía các DNSXNY và từ
phía Nhà nước để nâng cao HQKD của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp sản xuất niêm yết
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng HQKD của
155 DNSXNY trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sinh (NCS) sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích thống kê, diễn giải, tổng hợp, đối chiếu, so sánh trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét đánh giá, giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài nghiên cứu
Ngoài ra, NCS cũng sử dụng mô hình kinh tế lượng với phần mềm EVIEWS để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến ROE của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam
Các số liệu được sử dụng trong luận án là các số liệu được thu thập, tính toán từ các báo cáo của 155 DNSXNY trên TTCK Việt Nam Luận án cũng tham khảo, sử dụng một số tài liệu, báo cáo của Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, Sở giao dịch chứng khoán Hà
Trang 17Nội, Tổng cục Thống kê, Phòng Công nghiệp và thương mại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, các trang thông tin điện tử (Website) về số liệu phản ánh tình hình kinh doanh và kết quả kinh doanh của
các DNSXNY trên TTCK Việt Nam
6 Những đóng góp mới của đề tài
Thứ nhất: Luận án đã tổng hợp, hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về
doanh nghiệp sản xuất, về HQKD của doanh nghiệp; đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của doanh nghiệp sản xuất, các nhân tố ảnh hưởng tới HQKD của doanh nghiệp sản xuất
Thứ hai: Luận án đã khái quát kinh nghiệm một số nước (Nhật Bản,
Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc) và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc nâng cao HQKD của các doanh nghiệp sản xuất
Thứ ba: Luận án đã làm rõ thực trạng về HQKD của các DNSXNY trên
TTCK Việt Nam giai đoạn 2009-2013, trong đó trọng tâm là hiệu suất và khả năng sinh lời tổng quát và thành phần của DNSXNY Đồng thời chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế về HQKD của các DNSXNY, nguyên nhân của những hạn chế đó, làm căn cứ thực tiễn cho việc đề xuất những giải pháp nâng cao HQKD của các DNSXNY Ngoài những phân tích định tính, tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích định lượng thông qua mô hình kinh tế lượng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến khả năng sinh lời trên vốn CSH (ROE) của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam
Thứ tư: Trên cơ sở đánh giá những cơ hội và thách thức trong hoạt động
kinh doanh đối với các DNSXNY trên TTCK Việt Nam, tác giả đã đề xuất các quan điểm và hai nhóm giải pháp từ phía DNSXNY và từ phía Nhà nước để nâng cao HQKD của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam Về phía doanh nghiệp cần tập trung các giải pháp chủ yếu: (i) Tái cấu trúc doanh nghiệp; (ii)
Đa dạng hóa nguồn vốn huy động giúp mở rộng quy mô vốn, nâng cao năng lực tài chính và đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp; (iii) Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị - công nghệ, khai thác sử dụng hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả
Trang 18sử dụng vốn cố định; (iv) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động; (v) Hoàn thiện công tác tổ chức và quản trị doanh nghiệp; (vi) Nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý của Ban lãnh đạo doanh nghiệp;…Về phía Nhà nước cần: (i) Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh; (2) Tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp; (3) Hoàn thiện khung pháp lý nhằm phát triển hơn nữa thị trường vốn, đặc biệt là TTCK Các giải pháp được đề xuất phù hợp với thực trạng của các DNSXNY trên TTCK Việt Nam nên có tính ứng dụng cao
7 Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản
xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp sản xuất
Khái niệm sản xuất theo nghĩa chung nhất phản ánh quá trình con người cải tạo thiên nhiên nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất cần thiết cho sự sinh tồn của mình Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, khái niệm sản xuất cũng có sự thay đổi, phát triển theo thời gian
Thống kê Tài khoản quốc gia 1993 của Liên Hợp Quốc (SNA) tại mục
1.20 đã đưa ra khái niệm sản xuất như sau: “Sản xuất là quá trình sử dụng lao
động và máy móc thiết bị của các đơn vị thực thể để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác Tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thực thể khác có thu tiền hoặc không thu tiền”
Từ định nghĩa trên có thể thấy: sản xuất là quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn tài nguyên khác để chuyển nó thành các đầu ra dưới dạng các sản phẩm và dịch vụ khác có khả năng cung cấp trên thị trường có thu tiền hoặc không thu tiền Quá trình này được thể hiện trong hình 1.1 như sau:
- Làm biến đổi
- Tăng thêm giá trị
Đầu ra
Sản phẩm Dịch vụ
Trang 20Trong thời kỳ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ và thời kỳ đầu của
xã hội phong kiến, hoạt động sản xuất được tiến hành đơn giản, kỹ thuật thô
sơ, mới chỉ tồn tại chủ yếu ở sản xuất nông nghiệp với mục đích chính là tự cung tự cấp Cùng với sự phát triển của sức sản xuất và nhu cầu xã hội, sản phẩm sản xuất ngày càng đa dạng, phong phú không chỉ tồn tại ở sản phẩm nông nghiệp mà đã tạo ra được rất nhiều sản phẩm công nghiệp như quần áo, nhà cửa cũng như máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất,…Từ đó hình thành các đơn vị sản xuất hoạt động có tổ chức và chuyên môn hóa, sau phát triển trở thành các doanh nghiệp sản xuất
Như vậy, có thể hiểu “Doanh nghiệp sản xuất là tổ chức kinh tế, hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất với những mục đích nhất định, thỏa mãn điều kiện của doanh nghiệp (căn cứ vào luật pháp của từng quốc gia như có tên riêng, tài sản,
trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật)”
Cho đến nay, doanh nghiệp sản xuất đã phát triển rất đa dạng về hình thức sở hữu (Nhà nước, tư nhân), mô hình tổ chức quản lý (cá nhân làm chủ, trách nhiệm hữu hạn, hợp danh và cổ phần hoặc công ty đơn lẻ, tập đoàn), quy
mô (siêu nhỏ, nhỏ, vừa, lớn) cũng như lĩnh vực ngành nghề kinh doanh (sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng hoặc sản xuất thực phẩm, sản xuất dệt may, sản xuất hóa chất, sản xuất dược phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng…) Cùng với sự gia tăng về số lượng và năng lực hoạt động, tầm quan trọng của doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế quốc dân càng được củng cố
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp sản xuất
(1) Phân loại theo hình thức pháp lý
+ Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào [39]
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn, bao gồm:
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi
Trang 21Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phần [49]
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (gọi là chủ sở hữu công ty), chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Công ty TNHH một thành viên không được phát hành cổ phiếu [49]
+ Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp, trong đó, vốn điều lệ được chia
thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức; cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Công ty cổ phần có quyền phát hành
chứng khoán các loại để huy động vốn [49]
+ Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp, trong đó, phải có ít nhất hai thành
viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không
được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào [49]
(2) Phân loại theo quy mô
Doanh nghiệp sản xuất có thể hoạt động ở các quy mô khác nhau Theo quy định của pháp luật, quy mô của doanh nghiệp được chia làm bốn cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm Trong đó, tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên, cụ thể như sau:
Trang 22Bảng 1.1: Tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp sản xuất
Quy mô
Tiêu chí
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Doanh nghiệp lớn
Tổng nguồn
vốn
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
Từ trên 10 người đến 200 người
Từ trên 200 người đến 300 người
Từ trên 300 người
(Nguồn: Trích khoản 1 điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009)
(3) Phân loại theo giới hạn trách nhiệm
+ Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn: Loại hình doanh nghiệp
mà ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có
chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh
Thực chất chế độ trách nhiệm vô hạn của loại doanh nghiệp này là chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và của thành viên hợp danh trong công ty hợp danh Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh sẽ chịu trách nhiệm đến cùng về mọi nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp mà không giới hạn ở phần tài sản chủ doanh nghiệp, các thành viên hợp danh đã
bỏ vào đầu tư kinh doanh tại doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh Điều này có nghĩa là nếu tài sản của doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không đủ
để thực hiện các nghĩa vụ về tài chính của doanh nghiệp khi các doanh nghiệp này phải áp dụng thủ tục thanh lý trong thủ tục phá sản, chủ sở hữu doanh nghiệp và các thành viên hợp danh phải sử dụng cả tài sản riêng không đầu tư vào doanh nghiệp để thanh toán cho các khoản nợ của doanh nghiệp
+ Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn: Theo pháp luật Việt
Nam, các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn cụ thể gồm: Công ty
Trang 23trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP Những doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn là những doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ trả nợ thì
chủ sở hữu không có nghĩa vụ trả nợ thay cho doanh nghiệp
Chế độ trách nhiệm hữu hạn của các loại doanh nghiệp trên thực chất là chế độ trách nhiệm hữu hạn của các nhà đầu tư – thành viên/chủ sở hữu công ty
(4) Phân loại theo lĩnh vực ngành nghề kinh doanh
+ Doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp
Doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp là doanh nghiệp tạo ra các loại lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho toàn xã hội và cho xuất khẩu Sản xuất nông nghiệp được phân thành ba hoạt động chính: trồng trọt, chăn nuôi và chế biến Bên cạnh các hoạt động chính nêu trên, các doanh nghiệp ngành nông nghiệp còn có những hoạt động sản xuất phụ có tính đặc thù để phục vụ cho hoạt động sản xuất chính như: sản xuất phân bón, thực hiện công việc vận chuyển, làm đất, chăm sóc, thu hoạch sản phẩm…
+ Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có hai hoạt động chính, được chia theo hai giai đoạn: giai đoạn tác động vào đối tượng lao động là môi trường tự nhiên để tạo ra nguyên liệu (khai thác than, dầu mỏ, quặng kim loại, khai thác gỗ…) và giai đoạn chế biến các nguyên liệu đó thành tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng (sản xuất máy móc, chế biến gỗ, chế biến giấy, chế biến vật liệu xây dựng,…) Trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều công đoạn sản xuất phức tạp nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Như vậy, sản xuất công nghiệp bao gồm nhiều ngành phức tạp, được phân công tỉ mỉ và có sự phối hợp chặt chẽ để tạo ra sản phẩm cuối cùng
Trang 24+ Doanh nghiệp sản xuất xây dựng
Doanh nghiệp sản xuất xây dựng có hoạt động chính là tạo ra,bảo trì, sửa chữa nâng cấp các sản phẩm đặc thù như nhà ở, xưởng máy, trường học, cầu đường,…Hoạt động xây dựng được chia làm ba bộ phận chủ yếu: xây dựng chung (công trình dân dụng, công nghiệp); xây dựng nặng và công trình kỹ thuật (đường ống dẫn khí, bể chứa dầu, lưới điện cao áp…) và xây dựng mang tính chuyên môn hóa (mộc, kính, kính, sơn, điện, nước) Doanh nghiệp này có mối quan hệ mật thiết với các doanh nghiệp ngành sản xuất vật liệu và tư vấn thiết kế, giám sát
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất
Do tính chất sản xuất công nghiệp chi phối nên các doanh nghiệp sản xuất có những đặc điểm riêng biệt, những đặc điểm này ảnh hưởng đến hoạt động cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp sản xuất thường có vốn đầu tư lớn vào tài sản cố định
Hoạt động khai thác, chế biến giới tự nhiên thường đòi hỏi có sự đầu tư lớn Hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất công nghiệp không đòi hỏi các doanh nghiệp phải có không gian rộng lớn nhưng lại đòi hỏi các doanh nghiệp này phải có đủ điều kiện về cơ sở vật chất để tiến hành hoạt động tạo ra sản phẩm như nhà xưởng, máy móc thiết bị hay các tư liệu sản xuất khác Việc đầu
tư vốn vào xây dựng nhà xưởng, cơ sở sản xuất, mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải sẽ hình thành nên những tài sản cố định, tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Năng lực sản xuất của doanh nghiệp chỉ được gia tăng khi vốn đầu tư vào tài sản cố định lớn Do vậy, doanh nghiệp sản xuất thường có tỷ trọng vốn cố định lớn hơn vốn lưu động
Thứ hai, doanh nghiệp sản xuất thường có chu kỳ kinh doanh dài và thời gian thu hồi vốn lâu
Hoạt động sản xuất thông thường phải trải qua các giai đoạn dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông Các Mác đã chỉ ra quá trình tuần hoàn, chu chuyển
Trang 25của tư bản phải trải qua ba giai đoạn vận động và biến hóa hình thái, trong đó hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất [23]:
Trong các loại tư bản, chỉ có tư bản công nghiệp (với nghĩa các ngành sản xuất vật chất) mới có hình thái tuần hoàn đầy đủ gồm ba giai đoạn của tuần hoàn và chu chuyển tư bản là giai đoạn dự trữ sản xuất, giai đoạn sản xuất và giai đoạn lưu thông Do đó, các doanh nghiệp sản xuất thường có chu kỳ kinh doanh dài và thời gian thu hồi vốn lâu hơn so với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác
Thứ ba, doanh nghiệp sản xuất phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của khoa học công nghệ
Trong sản xuất thì năng suất lao động, chất lượng sản phẩm bị chi phối bởi tất cả các yếu tố tạo ra sản phẩm như tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Tuy nhiên, tư liệu lao động là yếu tố tác động nhiều nhất Do vậy, sự phát triển của khoa học công nghệ quyết định đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
Thứ tư, doanh nghiệp sản xuất khó thay đổi quy mô và mặt hàng kinh doanh nhanh chóng
Khác với các doanh nghiệp thương mại, hoạt động kinh doanh chỉ là việc mua bán các loại hàng hóa có sẵn trên thị trường Đối với doanh nghiệp sản xuất,
để hoạt động được cần phải đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và thuê lao động Việc đầu tư các yếu tố đầu vào phải phù hợp với mục đích sản xuất những loại sản phẩm mà doanh nghiệp đã chọn Do vậy, các doanh nghiệp sản xuất không dễ sản xuất các mặt hàng mới mà không phù hợp với các yếu tố sản xuất có sẵn của doanh nghiệp Hơn nữa, trong thời kỳ khủng hoảng hàng hóa tiêu thụ kém, các doanh nghiệp thương mại nhanh chóng thu hẹp quy mô kinh doanh nhưng doanh nghiệp sản xuất khó làm được điều này
Trên đây là những đặc điểm chung của doanh nghiệp sản xuất Tuy nhiên, các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán là những công ty
Trang 26cổ phần đủ tiêu chuẩn niêm yết trên thị trường chứng khoán Do vậy, ngoài những đặc điểm trên, các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán còn mang đầy đủ sắc thái của công ty cổ phần có đủ tiêu chuẩn niêm yết trên thị trường chứng khoán, những đặc điểm này có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như HQKD của doanh nghiệp sản xuất niêm yết như sau:
- Doanh nghiệp sản xuất niêm yết chịu trách nhiệm trước các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi giá trị tài sản của doanh nghiệp; doanh nghiệp có số vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, và được giao dịch trên thị trường chứng khoán được gọi là cổ phiếu; Các cổ đông là các tổ chức và các cá nhân sở hữu cổ phần của công ty
- Doanh nghiệp sản xuất niêm yết được quyền phát hành chứng khoán dưới hai dạng là cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng; chứng khoán của các doanh nghiệp này được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán và việc mua bán, trao đổi trên cơ sở quy luật cung cầu; Số lượng cổ đông của doanh nghiệp khá phức tạp về số lượng và thay đổi theo từng thời điểm nên rất khó kiểm soát
- Việc huy động vốn của doanh nghiệp sản xuất niêm yết có thể được tiến hành theo nhiều hình thức đa dạng và mang lại hiệu quả cao; thông qua tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng và TTCK Trong đó, huy động vốn qua thị trường chứng khoán từ phát hành chứng khoán là lợi thế riêng có của doanh nghiệp niêm yết Đặc điểm này giúp cho doanh nghiệp sản xuất niêm yết có điều kiện để mở rộng quy mô vốn, xây dựng cơ cấu nguồn vốn linh hoạt nhằm đáp ứng hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất niêm yết có khả năng huy động được nhiều nguồn lực về nhân sự, tri thức của nhiều người, có lợi thế theo quy mô
- Doanh nghiệp sản xuất niêm yết phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về chế độ tài chính kế toán và quy định của TTCK về việc công khai hóa thông tin nói chung và thông tin tài chính nói riêng Việc quy định về nội dung thông tin công khai, thời gian công khai của các doanh nghiệp niêm yết sẽ có những điểm
cụ thể khác nhau, tùy thuộc vào quy định trên từng sàn giao dịch chứng khoán
Trang 27của các quốc gia, nhưng thường có các nội dung sau: Báo cáo tài chính quý, Báo cáo tài chính bán niên đã được soát xét bởi công ty kiểm toán được chấp thuận, Báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán bởi công ty kiểm toán được chấp thuận; giải trình về tình hình biến động lợi nhuận bất thường; báo cáo về biến động chủ
sở hữu (khi tăng vốn điều lệ…); biên bản hợp đại hội đồng cổ đông, HĐQT, ban Giám đốc; các chiến lược, phương án kinh doanh chủ yếu của CTNY; công bố các thông tin bất thường ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của công ty; công bố về các giao dịch nội bộ, cổ đông chiến lược, người đại diện pháp luật, người được ủy quyền công bố thông tin, công bố thông tin về quản trị công ty …
- Hoạt động của doanh nghiệp niêm yết được quản lý, giám sát chặt chẽ từ nhiều hệ thống pháp luật trong và ngoài doanh nghiệp Doanh nghiệp niêm yết còn phải chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ từ bên ngoài như từ Ủy ban Chứng khoán, các sở giao dịch chứng khoán, cơ quan thuế và các nhà đầu tư Như vậy, buộc các doanh nghiệp niêm yết phải xây dựng và thực hiện kiểm soát nội bộ rất chặt chẽ các hoạt động trong doanh nghiệp Hơn nữa, nét đặc trưng của các doanh nghiệp niêm yết nói riêng và công ty đại chúng nói chung là có sự tham gia của nguồn vốn từ bên ngoài với nhiều nhà đầu tư, do đó đặt ra yêu cầu quản trị công ty như là yếu tố khác biệt với vấn đề quản lý doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả kinh doanh, kỳ vọng của các cổ đông và các nhà đầu tư trên TTCK Chính điều này tạo nên áp lực rất lớn trong quản lý và hoạt động của doanh nghiệp niêm yết và các nhà quản lý của doanh nghiệp
- Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết rất phức tạp và phong phú Các doanh nghiệp niêm yết có thể tham gia vào nhiều loại hoạt động kinh doanh (mô hình tập đoàn, tổng công ty) dẫn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh, rủi ro trong quản lý rất cao
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
Doanh nghiệp sản xuất có đóng góp rất quan trọng trong việc giải quyết những mục tiêu kinh tế - xã hội, góp phần vào sự phát triển chung của mỗi nước Vai trò đó được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, đóng vai trò nền tảng, không thể thay thế trong nền kinh tế
Trang 28Theo kinh tế học Mác - Lênin, đời sống xã hội loài người có nhiều mặt hoạt động: hoạt động lao động sản xuất, hoạt động khoa học - kỹ thuật, hoạt động văn hóa - nghệ thuật,…Những hoạt động này có quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Xã hội càng phát triển thì những hoạt động đó càng phong phú và có trình
độ cao hơn Tuy nhiên, trước khi tiến hành các hoạt động trên, con người phải tồn tại, phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như thức ăn, đồ mặc, nhà
ở, phương tiện đi lại Để có những thứ đó, con người phải sản xuất và không ngừng tái sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng Vì vậy, có thể thấy sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội [23] Trong quá trình phát triển, sản xuất không chỉ tạo ra các vật phẩm tiêu dùng mà còn tạo ra tư liệu lao động từ khu vực sản xuất công nghiệp Do vậy, có thể thấy doanh nghiệp sản xuất là nơi tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là vật phẩm tiêu dùng và tư liệu lao động cho nền kinh tế Bất kể ngành kinh tế nào trong nền kinh tế quốc dân cũng phải sử dụng sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất Do đó, doanh nghiệp sản xuất có vai trò thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ và củng cố an ninh quốc phòng… Từ những phân tích trên sản xuất vật chất là nền tảng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội Vì thế doanh nghiệp sản xuất có vị trí đặc biệt quan trọng, là nền tảng không thể thay thế trong nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan
Thứ hai, đóng góp lớn vào tổng thu nhập quốc nội của mỗi quốc gia
Doanh nghiệp sản xuất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, là khu vực có đóng góp lớn vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) Nếu như ở các nước có thu nhập cao doanh nghiệp sản xuất đóng góp 28% GDP và khoảng 47% ở các nước có thu nhập trung bình, thì có đến 51% ở các nước có thu nhập thấp Như vậy, doanh nghiệp sản xuất có đóng góp đặc biệt quan trọng vào cơ cấu GPD của các nước có thu nhập thấp như Việt Nam Cụ thể Malaysia năm 2001 là 57,6%, Trung Quốc là 67,2%1 Tại Việt Nam là 61,47% năm 2001 và đến năm
1 Tổng cục Thống kê, Số liệu kinh tế-xã hội các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới NXB Thống kê,
H.12-2002; tr55-84
Trang 292013 là 56,7%2 Hoạt động của DNSX góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách
Thứ ba, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động
Quá trình sản xuất là sự kết hợp của các yếu tố đầu vào bao gồm: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Trong đó, đối tượng lao động và
tư liệu lao động hợp thành tư liệu sản xuất Nó là khách thể của sản xuất Sản xuất không thể tiến hành được nếu thiếu tư liệu sản xuất Nhưng nếu không có lao động của con người thì tư liệu sản xuất cũng không phát huy được tác dụng Lao động của con người là chủ thể của nền sản xuất xã hội Nó giữ vai trò quyết định và có tính sáng tạo Nó tạo ra những tư liệu sản xuất ngày càng hiện đại Nhờ có lao động hiện tại (lao động sống) mà những lao động quá khứ được
“đánh thức dậy” và phục vụ cuộc sống của con người ngày càng tốt hơn Như vậy, doanh nghiệp sản xuất đã thu hút lượng lớn lao động của nền kinh tế Trong đó, không chỉ thu hút lao động phổ thông mà còn đòi hỏi nhiều lao động có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày hiện đại của xã hội Xét cơ cấu lao động theo ngành của Trung Quốc, năm 1970 lao động trong doanh nghiệp sản xuất chiếm 91%, đến năm 2000 là 71% lao động trong các doanh nghiệp sản xuất3 Ở Việt Nam, doanh nghiệp sản xuất đã giải quyết việc làm cho số lượng lớn người lao động, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp Theo điều tra của Tổng cục Thống kê Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2010, số lượng lao động làm việc trong các doanh nghiệp sản xuất chiếm tỷ lệ bình quân 19,28% số lao động cả nước Đến năm 2013 là 21,76%4 Mặc dù tỷ trọng lao động trong doanh nghiệp sản xuất chưa lớn nhưng lại có xu hướng tăng lên Hơn nữa, lao động ở khu vực doanh nghiệp sản xuất có thu nhập cao hơn nhiều so với khu
2 Tổng cục Thống kê
Trang 30vực cá thể và hộ gia đình Thu nhập cao và tăng nhanh của lao động trong doanh nghiệp sản xuất góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của toàn xã hội
Thứ tư, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội về sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ
Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, nhu cầu của con người về sản phẩm, hàng hóa cũng ngày càng cao Để đáp ứng nhu cầu này, các doanh nghiệp sản xuất phải nhanh chóng tiếp thu và áp dụng những thành tựu, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào quá trình sản xuất để tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm với mẫu mã, chủng loại đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng lên Hay nói cách khác, chỉ có doanh nghiệp sản xuất mới đáp ứng được nhu cầu của thị trường về số lượng, mẫu mã, cơ cấu mặt hàng, chất lượng hàng hóa và giá cả Ở Việt Nam, những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng, chất lượng hàng hoá được nâng lên, do đó đã giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hoá ngày càng cao của toàn xã hội, góp phần nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hoá xuất khẩu Nhiều sản phẩm trước đây thường phải nhập khẩu cho tiêu dùng thì nay đã được các doanh nghiệp sản xuất thay thế và được người tiêu dùng trong nước tín nhiệm như: Ô tô, xe máy, phương tiện vận tải, các mặt hàng đồ điện, điện tử, may mặc, thực phẩm, đồ uống, hoá mỹ phẩm, đồ dùng gia đình, sản phẩm phục vụ xây dựng,
Thứ năm, giúp chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện rất rõ nét ở chuyển dịch cơ cấu trong vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế Nhiều doanh nghiệp sản xuất với đặc điểm sử dụng nguyên liệu tự nhiên và lao động phổ thông Do vậy, các doanh nghiệp này không chỉ tham gia hoạt động ở thành thị, đồng bằng mà còn hoạt động ở tất các địa bàn như vùng núi, nông thôn, để tận dụng nguồn nguyên liệu và lực lượng lao động địa phương Trước đây trong lĩnh vực sản
Trang 31xuất, các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều do khu vực kinh tế quốc doanh đảm nhận Hiện nay, lĩnh vực sản xuất được thực hiện ở cả khu vực kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh, với mức độ tham gia của doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng lớn Sự phát triển phong phú đa dạng các doanh nghiệp sản xuất ngoài quốc doanh của khu vực này đã tác động mạnh mẽ đến các doanh nghiệp nhà nước, buộc các doanh nghiệp này phải cải tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh để tồn tại và đứng vững trong
cơ chế thị trường Nói cách khác, doanh nghiệp sản xuất làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng mạnh của các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp sản xuất phát triển, trong đó tăng dần tỷ trọng của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và xây dựng, giảm dần tỷ trọng của các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp không chỉ góp phần chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân mà còn là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước
Như vậy, có thể nói vai trò của doanh nghiệp sản xuất không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề xã hội
1.2 HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.2.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh
Trong sách báo kinh tế, HQKD là vấn đề thường gây nhiều tranh cãi Bởi
vì ở mỗi một lĩnh vực khác nhau, góc độ xem xét khác nhau người ta thường có những cách nhìn nhận khác nhau về HQKD Vấn đề HQKD đã được các nhà kinh tế học trên thế giới đi sâu nghiên cứu từ những năm 1930, đặc biệt từ những năm 1960 đến nay Hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào được coi
là có hiệu quả? Những biểu hiện cụ thể của HQKD là gì? Đánh giá HQKD bằng cách nào? Làm sao để sản xuất kinh doanh có hiệu quả? v.v.v….Đó là những nội dung được đặt ra cho nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và điều hành sản xuất quan tâm nghiên cứu HQKD là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa và có liên quan trực tiếp tới các phạm trù và các quy luật kinh tế khác HQKD cũng là
Trang 32mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý, các doanh nghiệp, bởi vì nó là tiêu chuẩn, là thước đo của mọi hoạt động Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, các nhà nghiên cứu kinh tế đứng ở những góc độ nghiên cứu và điều kiện lịch sử khác nhau đã đưa ra những quan điểm khác nhau về HQKD Có thể phân thành các quan điểm sau:
Quan điểm của Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, cho rằng: "Hiệu
quả - kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá"
[27] Trước hết, quan điểm này có ưu điểm là cách xác định hiệu quả đơn giản Tuy nhiên, quan điểm này đánh giá HQKD là đánh giá kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh mà không quan tâm đến giá trị đầu tư để đạt được kết quả đó là bao nhiêu Nếu với cùng một kết quả sản xuất kinh doanh có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này cùng có hiệu quả như nhau Điều này chưa thực sự hợp lý vì trên thực tế, kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng lên do chi phí sản xuất tăng hoặc do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí bỏ ra hoặc yếu tố đầu vào của sản xuất, còn lý giải không chính xác trường hợp tốc độ tăng của kết quả sản xuất nhỏ hơn tốc độ tăng của chi phí
bỏ ra hoặc yếu tố đầu vào của sản xuất để đạt được kết quả đó Theo tác giả, quan điểm này thực chất mới chỉ đánh giá kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh mà chưa thực sự đề cập đến vấn đề HQKD của doanh nghiệp
Có quan điểm lại cho rằng: “HQKD là sự so sánh tương quan giữa kết
quả đầu ra và các chi phí đã phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh”
Ở Việt Nam, nhiều tác giả nghiên cứu về HQKD có cùng quan điểm này như các tác giả Ngô Đình Giao, Lưu Bích Hồ, Trần Văn Thao Các tác giả này cho rằng hiệu quả là quan hệ tỷ lệ hoặc hiệu số giữa kết quả với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó [26], [31], [52] Ưu điểm của quan điểm này so với quan điểm trước đó là đã đề cập đến bản chất của hiệu quả chính là trình độ sử dụng chi phí Tuy nhiên, nếu dùng quan hệ hiệu số giữa một chỉ tiêu kết quả với một chỉ tiêu chi phí nào đó để xác định một chỉ tiêu hiệu quả thì ta lại thu được một chỉ tiêu kết quả
Trang 33khác Đồng thời, quan điểm này cũng mới chỉ đề cập đến chi phí thực tế phát sinh mà bỏ qua mối quan hệ giữa chi phí với nguồn lực của chi phí đó
Tương tự với quan điểm trên, song tác giả Gujarati Damodar N lại đưa ra cách xác định HQKD bằng cách so sánh tương quan giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí [75] Về bản chất quan điểm này cũng cho rằng HQKD là sự so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ nhưng trên góc độ xem xét phần tăng thêm mà bỏ qua mối quan hệ nội tại của các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh khi đánh giá HQKD của doanh nghiệp Trong quá trình kinh doanh, mỗi yếu tố không ngừng biến động, các yếu tố tăng thêm và các yếu tố có sẵn đều cùng thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, các yếu tố này trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên quá trình sản xuất kinh doanh và làm thay đổi kết quả kinh doanh Như vậy, đánh giá HQKD đòi hỏi phải xem xét sự vận động của tổng thể bao gồm cả yếu tố sẵn có và yếu tố tăng thêm chứ không chỉ xem xét một khía cạnh yếu tố sẵn có hoặc yếu tố tăng thêm
Tóm lại, tùy theo cách tiếp cận khác nhau có thể dẫn đến những quan niệm khác nhau về HKQD nhưng quan niệm chung về HQKD được nhiều người chấp nhận là sự so sánh giữa kết quả thu về với nguồn lực hay chi phí bỏ ra để
đạt được kết quả đó Từ đó tác giả cho rằng:“Hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được với chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả đó Hiệu quả kinh doanh được xác định bằng các chỉ tiêu kinh tế đặc trưng, phản ánh mối quan hệ tỉ lệ so sánh giữa chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh đạt được với các chỉ tiêu phản ánh chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng vào sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp”
Như vậy, bản chất phạm trù hiệu quả cho thấy không có sự đồng nhất giữa hiệu quả và kết quả kinh doanh HQKD luôn là một sự so sánh, thể hiện mối tương quan giữa nguồn lực đã bỏ ra và kết quả thu về được Kết quả chỉ là một yếu tố cần thiết để tính toán và xác định hiệu quả Có thể phân biệt ranh giới giữa HQKD với kết quả kinh doanh như sau:
Trang 34- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh nhất định Với mỗi doanh nghiệp, sau một thời gian nhất định hoặc sau một chu kỳ kinh doanh thì kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh là những đại lượng có thể cân, đong, đo, đếm được bằng các đơn vị hiện vật hoặc giá trị như khối lượng công việc hoàn thành, số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ của mỗi loại, thị phần hoặc doanh thu bán hàng, lợi nhuận,…Tuy nhiên, vì mục tiêu trực tiếp của hoạt động kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận, vì thế trong các chỉ tiêu này chỉ có lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cuối cùng, còn các chỉ tiêu khác như số lượng sản phẩm sản xuất, doanh thu tiêu thụ,…chỉ là kết quả trung gian
- HQKD là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất Trình độ sử dụng nguồn lực là một phạm trù tương đối, là tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả đó Cũng giống như kết quả kinh doanh, hao phí nguồn lực sử dụng của một thời kỳ cũng có thể xác định bởi đơn vị hiện vật hoặc giá trị như chi phí nhân công, số lượng nguyên liệu, giờ máy móc thiết bị, Để phản ánh tổng hợp mức độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh người ta phải sử dụng một đơn vị tính toán thống nhất đó là lượng giá trị các nguồn lực mà doanh nghiệp đã sử dụng
Như vậy, nếu như kết quả kinh doanh phản ánh quy mô những gì doanh nghiệp thu được sau một quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, thì HQKD lại phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả đầu ra và chi phí các nguồn lực đầu vào để đạt được kết quả đạt được Khi đánh giá hoạt động kinh doanh tức là đánh giá chất lượng hay trình độ khai thác, sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh để tạo ra kết quả đó Đứng trên góc độ xã hội, bản chất của HQKD chính là hiệu quả sử dụng lao động xã hội, được xác định bằng cách so sánh giữa chất lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội [6] Do vậy, thước đo hiệu quả xã hội cũng là chính sự là tiết kiệm hao phí lao động xã hội Và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả và tối thiểu hóa chi phí dựa trên những điều kiện hiện có
Trang 35Trên góc độ tài chính, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chính là quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn kinh doanh Doanh nghiệp phải tổ chức quản lý, sử dụng vốn kinh doanh sao cho tiết kiệm và có hiệu quả nhất Mục tiêu của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, suy cho cùng là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp hay lợi ích của chủ sở hữu từ việc sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Vì thế hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh hay hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp là thước đo tổng hợp, là biểu hiện tập trung nhất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Điều đó cũng giải thích lý do vì sao khi đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, DNSXNY nói riêng người ta thường sử dụng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp
1.2.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh
HQKD là một phạm trù kinh tế mang tính tổng hợp, vì vậy trong việc nghiên cứu người ta có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Việc phân loại HQKD theo những tiêu thức khác nhau là cơ sở để xác định mức hiệu quả, các chỉ tiêu cũng như biện pháp nâng cao HQKD Có một số cách phân loại HQKD chủ yếu sau:
- Phân loại theo phạm vi tính toán
Theo cách phân loại này hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh
doanh tổng quát và hiệu quả thành phần
Hiệu quả kinh doanh tổng quát phản ánh trình độ sử dụng tổng hợp mọi
nguồn lực (chi phí hoặc yếu tố đầu vào) để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của toàn doanh nghiệp Do tính chất phản ánh trình độ sử dụng mọi nguồn lực nên HQKD tổng hợp đánh giá khái quát và cho phép kết luận tính hiệu quả của toàn doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Hiệu quả thành phần phản ánh trình độ sử dụng từng loại chi phí, nguồn lực
riêng biệt như hiệu quả sử dụng các loại chi phí, các nguồn lực như vật tư, lao động, tiền vốn…để thực hiện một mục tiêu cụ thể nhất định Vì tính chất này mà hiệu quả
ở từng lĩnh vực không đại diện cho tính hiệu quả của doanh nghiệp, chỉ phản ánh
Trang 36tính hiệu quả sử dụng một nguồn lực cá biệt cụ thể Phân tích hiệu quả thành phần để xác định nguyên nhân và tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng từng nguồn lực và
từ đó góp phần nâng cao HQKD tổng quát của doanh nghiệp
Giữa hiệu quả kinh doanh tổng quát và hiệu quả thành phần có mối liên hệ mật thiết với nhau Hiệu quả kinh doanh tổng hợp là kết quả “tổng hợp” từ hiệu quả thành phần; hiệu quả thành phần là điều kiện tiền đề để góp phần tạo ra hiệu quả kinh doanh tổng hợp Như vậy, hiệu quả kinh doanh tổng quát chỉ có thể đạt được khi các chi phí, nguồn lực riêng biệt sử dụng có hiệu quả Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, có thể xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả thành phần, khi đó chỉ có chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phản ánh tính hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; các chỉ riêu hiệu quả từng thành phần chỉ có thể phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động riêng biệt mà thôi
- Phân loại theo tính chất tác động
Theo cách phân loại này hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh
doanh trực tiếp và hiệu quả kinh doanh gián tiếp
Hiệu quả kinh doanh trực tiếp là hiệu quả được tạo ra từ chính nội lực,
khả năng của doanh nghiệp tác động đến kết quả hoạt động khi thực hiện các mục tiêu đề ra
Hiệu quả kinh doanh gián tiếp là hiệu quả có được do một chủ thể nào đó
bên ngoài doanh nghiệp như chính sách vĩ mô của nhà nước, các đối thủ cạnh tranh hay các nhà cung cấp,…tác động làm thay đổi kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để chủ động tạo ra hiệu quả trực tiếp Bên cạnh đó cần phải nắm bắt và thay đổi cho phù hợp với các yếu tố, các tác động bên ngoài để có được hiệu quả gián tiếp cho doanh nghiệp
- Phân loại theo quá trình hình thành
Theo cách phân loại này hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh
doanh trung gian và hiệu quả kinh doanh cuối cùng
Trang 37Hiệu quả kinh doanh trung gian là hiệu quả giúp doanh nghiệp tạo ra những
kết quả trung gian Biểu hiện của hiệu quả kinh doanh trung gian chính là hiệu suất hoạt động của các nguồn lực trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh cuối cùng là hiệu quả giúp doanh nghiệp tạo ra kết
quả đích thực - kết quả cuối cùng - của hoạt động kinh doanh Biểu hiện của hiệu quả kinh doanh cuối cùng chính là khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhiều khi hiệu quả kinh doanh trung gian và hiệu quả kinh doanh cuối cùng có quan hệ nhân quả, hiệu quả kinh doanh cuối cùng có thể là kết quả của hiệu quả kinh doanh trung gian nhưng có khi hiệu quả kinh doanh cuối cùng không là kết quả của hiệu quả kinh doanh trung gian Chẳng hạn, hiệu suất sử dụng của tài sản cố định là so sánh doanh thu (giá trị sản lượng) với giá trị tài sản cố định bình quân - chỉ tiêu này có thể cao nhưng hiệu quả không cao, vì tài sản cố định có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhưng lại tiêu hao nhiều năng lượng, nguyên vật liệu, làm cho giá thành cao, việc bán sản phẩm sẽ bị lỗ Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh trung gian là cơ
sở quan trọng để tăng hiệu quả kinh doanh cuối cùng, doanh nghiệp muốn tối đa hóa HQKD cuối cùng thì phải tối đa hóa được HQKD trung gian
- Phân loại theo thời gian
Theo cách phân loại này hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh
doanh ngắn hạn và hiệu quả kinh doanh dài hạn
Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả được xem xét, đánh giá ở từng
khoảng thời gian ngắn hạn như tuần, tháng, quí hoặc năm…Lợi ích được xem xét trong loại hiệu quả này chỉ là những lợi ích trước mắt, mang tính tạm thời
Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả được xem xét, đánh giá trong
khoảng thời gian dài và gắn với các kế hoạch dài hạn Khi nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta muốn nói tới đến hiệu quả kinh doanh trong nhiều năm, gắn chiến lược phát triển trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 38Giữa hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn có mối quan hệ biện chứng với nhau Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là cơ sở để có được hiệu quả kinh doanh dài hạn, nhưng trong nhiều trường hợp có thể mâu thuẫn nhau Việc nhập những thiết bị cũ, công nghệ kém tiên tiến, rẻ tiền có thể mang lại hiệu quả trước mắt nhưng về lâu dài không hẳn là như vậy Hay ngược lại, việc bỏ tiền mua bảo hiểm hoạt động kinh doanh có thể làm giảm lợi ích trước mắt nhưng về lâu dài lại tạo ra một thế ổn định, cho phép doanh nghiệp có thể san sẻ rủi ro trong kinh doanh Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, chỉ có thể lấy hiệu quả kinh doanh dài hạn làm thước đo chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Về nguyên tắc, chỉ có thể xem xét và chấp nhận hiệu quả kinh doanh ngắn hạn trên cơ sở vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả kinh doanh dài hạn trong tương lai của doanh nghiệp
Tóm lại, mỗi cách phân loại HQKD như trên đều có một ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét, đánh giá và nghiên cứu HQKD của doanh nghiệp
1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất
1.2.3.1 Các phương pháp xác định hiệu quả kinh doanh
Như đã đề cập ở trên, HQKD của các doanh nghiệp được đo bằng chỉ tiêu tương đối, biểu hiện mối quan hệ so sánh giữa kết quả đầu ra với chi phí hay yếu tố đầu vào sử dụng để sản xuất được đầu ra đó của quá trình kinh doanh Như vậy, HQKD của doanh nghiệp có thể xác định bằng các cách như sau:
- Cách xác định thứ nhất:
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra
Chi phí (hoặc yếu tố đầu vào)
Chỉ tiêu này phản ánh sức sản xuất, sức sinh lời của chi phí hoặc yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh Chỉ tiêu cho biết nếu bỏ ra một đơn vị chi phí hoặc yếu tố đầu vào thì thu được bao nhiêu đơn vị kết quả đầu ra Chỉ tiêu này lớn hơn 1, tức là kết quả thu về lớn hơn chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra và lúc
Trang 39này đã có sự xuất hiện giá trị gia tăng cho doanh nghiệp Do vậy, chỉ tiêu này lớn hơn 1 và càng cao càng tốt
Cách xác định thứ hai: HQKD được đo bằng cách nghịch đảo
Hiệu quả kinh doanh = Chi phí (hoặc yếu tố đầu vào)
Kết quả đầu ra
Chỉ tiêu này phản ánh suất hao phí của chi phí hoặc yếu tố đầu vào, nghĩa là để có một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết bao nhiêu đơn vị chi phí hoặc yếu tố đầu vào Chỉ tiêu này càng cao thể hiện một đơn vị kết quả đầu ra càng sử dụng nhiều chi phí hoặc yếu tố đầu vào, điều này cho thấy doanh nghiệp kinh doanh càng kém hiệu quả Chỉ tiêu này có ý nghĩa ngược lại so với chỉ tiêu trên,
do vậy, chỉ tiêu này càng thấp càng tốt Khi xác định các chỉ tiêu phản ánh HQKD có thể chỉ cần sử dụng một trong hai cách, trong đó cách thứ nhất được
Trang 40Quan điểm đánh giá trên đã phản ánh khá rõ HQKD của doanh nghiệp thông qua việc đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của các yếu tố như doanh thu, tổng tài sản, nguồn vốn CSH, nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp Đánh giá khả năng sinh lời là nội dung quan trọng khi đánh giá HQKD của doanh nghiệp Vì vậy, nếu chỉ tập trung đánh giá khả năng sinh lời thì chưa đủ để đánh giá chính xác HQKD của doanh Bởi vì, để có được HQKD cao phải hội tụ rất nhiều các yếu tố như năng lực sản xuất, năng lực hoạt động, năng lực quản lý của doanh nghiệp phải cao Do đó, đánh giá HQKD của doanh nghiệp cần phải đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn
- Theo quan điểm này có các nhà khoa học thuộc trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Thương mại, Học viện Bưu chính viễn thông…đánh giá HQKD phải đánh giá về sức sản xuất, suất hao phí và sức sinh lời [25] Trong đó đánh giá HQKD bao gồm việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, khả năng sinh lời của vốn thông qua chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời vốn CSH
Theo quan điểm này, việc đánh giá HQKD được xem xét toàn diện hơn quan điểm thứ nhất, đánh giá HQKD trên cả góc độ khả năng sử dụng các nguồn lực và khả năng sinh lời của nguồn lực Tuy nhiên, việc phân tích suất hao phí chính là xem xét nghịch đảo các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất nên ít có
ý nghĩa
- Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Công trình bày trong giáo trình
“Phân tích kinh doanh” của trường Đại học Kinh tế Quốc dân [6] Theo ông, đánh giá HQKD phải đánh giá qua 3 cấp độ từ thấp đến cao Biểu hiện đầu tiên của HQKD là hiệu suất, tiếp đến là hiệu năng và sau cùng là hiệu quả sử dụng chi phí,
sử dụng các yếu tố đầu vào Hiệu suất hoạt động thể hiện cường độ hoạt động của các yếu tố đầu vào, thể hiện tương quan giữa kết quả sản xuất đầu ra với lượng yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất được đầu ra ấy Hiệu năng hoạt động là khả năng hoạt động mà doanh nghiệp có thể đạt được khi sử dụng các yếu tố đầu vào, nó được thể hiện thông qua các chỉ tiêu phản ánh tốc độ quay vòng của các