Đồ thị biểu diễn mức giảm cảm xúc về sức khỏe của học sinh theo lớp tuổi và giới tính.. Biểu đồ biểu diễn cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính….... Đồ thị biểu di
Trang 1đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Sinh lý người và động vật khoa Sinh - KTNN và phòng Sau đại học trường Đại học
sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh các trường THCS Gia Tân, THCS Gia Thắng huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình cùng tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 06 năm 2013
Tác giả
Hà Văn Hoạt
Trang 2Các kết quả và các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Hà Văn Hoạt
Trang 3Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng trong luận văn
Danh mục các đồ thị và hình vẽ trong luận văn
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Những vấn đề chung về hình thái 5
1.2 Các vấn đề về cảm xúc và vượt khó 18
1.3 Sơ lược về điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình 28
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1.Các chỉ số hình thái cơ bản của học sinh 36
3.1.1 Chiều cao đứng trung bình của học sinh 36
3.1.2 Cân nặng trung bình của học sinh 40
3.1.3 Chỉ số các vòng cơ bản của học sinh 42
3.2 Các dấu hiệu dậy thì của học sinh 49
3.2.1 Các dấu hiệu dậy thì chính thức của học sinh 49
3.2.2 Các dấu hiệu dậy thì phụ của học sinh 53
3.3 Trạng thái xúc cảm của học sinh theo tuổi và giới tính 61
Trang 43.3.3 Cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính 65
3.3.4 Cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo tuổi và giới tính… 67
3.4 Chỉ số vượt khó (AQ) của học sinh theo tuổi và giới tính
3.4.1 Chỉ số vượt khó (AQ) của học sinh theo tuổi và giới tính
69 69 3.4.2 Chỉ số C của học sinh theo tuổi và theo giới tính 71
3.4.3 Chỉ số O của học sinh theo tuổi và theo giới tính 73
3.4.4 Chỉ số R của học sinh theo tuổi và theo giới tính 75
3.4.5 Chỉ số E của học sinh theo tuổi và theo giới tính 77
3.5 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo và với vòng mông 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
Tài liệu tham khảo 93
Trang 5CHỮ VIẾT TẮT ĐƯỢC GỌI LÀ
AQ : Adversity Quotient (Chỉ số vượt khó )
Cs : Cộng sự
C : Control (Kiểm soát, điều khiển)
ĐHQG : Đại học Quốc gia
E : Endurance (Khả năng chịu đựng, tính nhẫn nại)
Trang 6Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu 30
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn về đánh giá cảm xúc 33
Bảng 3.1 Chiều cao đứng trung bình (cm) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính 36
Bảng 3.2 Cân nặng trung bình (kg) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính 43
Bảng 3.3.Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính 43
Bảng 3.4 Vòng eo (cm) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính 45
Bảng 3.5 Vòng mông (cm) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính 47
Bảng 3.6 Tỷ lệ (%) học sinh nam và nữ dậy thì chính thức 50
Bảng 3.7 Tuổi dậy thì chính thức của học sinh theo giới tính 51
Bảng 3.8 Độ dài chu kỳ kinh nguyệt và thời gian chảy máu trong chu kỳ kinh nguyệt… 53 Bảng 3.9 Tỷ lệ (%) học sinh xuất hiện trứng cá trên mặt theo tuổi và giới tính 53
Bảng 3.10 Thời điểm xuất hiện trứng cá trên mặt của học sinh theo giới tính 55
Bảng 3.11 Tỷ lệ (%) học sinh xuất hiện lông mu theo tuổi và giới tính 56
Bảng 3.12 Thời điểm xuất hiện lông mu của học sinh theo giới tính 58
Bảng 3.13 Tỷ lệ % học sinh xuất hiện lông nách theo tuổi và giới tính
Bảng 3.14 Thời điểm xuất hiện lông nách của học sinh theo giới tính
58 60 Bảng 3.15 Cảm xúc chung của học sinh theo lớp tuổi và giới tính
Bảng 3.16 Cảm xúc về sức khỏe của học sinh theo lớp tuổi và giới tính
61 63 Bảng 3.17 Cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính 65
Bảng 3.18 Cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo lớp tuổi và giới tính 67
Bảng 3.19 Chỉ số AQ của học sinh theo tuổi và giới tính 69
Bảng 3.20 Chỉ số C của học sinh theo tuổi và giới tính 71
Trang 7Bảng 3.23 Chỉ số E của học sinh theo tuổi và giới tính 77
Bảng 3.24 Mối tương quan giữa VNTB với vòng eo, với vòng mông theo tuổi và giới tính 80
Trang 8Tên hình Trang
Hình 3.1 Biểu đồ chiều cao đứng trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 37
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn mức tăng chiều cao đứng trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 37
Hình 3.3 Biểu đồ cân nặng trung bình (kg) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 41
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn mức tăng cân nặng trung bình (kg) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 41
Hình 3.5 Biểu đồ VNTB (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 44
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn mức tăng VNTB (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 44
Hình 3.7 Biểu đồ vòng eo trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 46
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn mức tăng vòng eo trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 46
Hình 3.9 Biểu đồ vòng mông trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 48
Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn mức tăng vòng mông trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 48
Hình 3.11 Biểu đồ học sinh dậy thì chính thức (%) theo tuổi và giới tính 50
Hình 3.12 Biểu đồ học sinh xuất hiện trứng cá trên mặt (%) theo tuổi và giới tính 54
Hình 3.13 Biểu đồ học sinh nam xuất hiện trứng cá trên mặt (%) theo tuổi 54
Hình 3.14 Biểu đồ học sinh nữ xuất hiện trứng cá trên mặt (%) theo tuổi 55
Hình 3.15 Biểu đồ học sinh xuất hiện lông mu (%) theo tuổi và giới tính 56
Hình 3.16 Biểu đồ học sinh nam xuất hiện lông mu (%) theo tuổi 57
Hình 3.17 Biểu đồ học sinh nữ xuất hiện lông mu (%) theo tuổi 57
Hình 3.18 Biểu đồ học sinh xuất hiện lông nách (%) theo tuổi và giới tính 59
Hình 3.19 Biểu đồ học sinh nam xuất hiện lông nách (%) theo tuổi 59
Hình 3.20 Biểu đồ học sinh nữ xuất hiện lông nách (%) theo tuổi 60
Trang 9Hình 3.23 Biểu đồ biểu diễn cảm xúc về sức khỏe của học sinh theo lớp tuổi và giới tính… 64
Hình 3.24 Đồ thị biểu diễn mức giảm cảm xúc về sức khỏe của học sinh theo lớp tuổi và giới tính 64 Hình 3.25 Biểu đồ biểu diễn cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính… 66
Hình 3.26 Đồ thị biểu diễn mức giảm cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính 66
Hình 3.27 Biểu đồ biểu diễn cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính 68 Hình 3.28 Đồ thị biểu diễn mức giảm cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo tuổi và giới tính 68
Hình 3.29 Biểu đồ biểu diễn chỉ số AQ của học sinh theo tuổi và giới tính 70
Hình 3.30 Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số AQ của học sinh theo tuổi và giới tính 70
Hình 3.31 Biểu đồ biểu diễn chỉ số C của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính 72
Hình 3.32 Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số C của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính 72
Hình 3.33 Biểu đồ biểu diễn chỉ số O của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính 74
Hình 3.34 Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số O của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính 74
Hình 3.35 Biểu đồ biểu diễn chỉ số R của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính 76
Hình 3.36 Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số R của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính… 76
Hình 3.37 Biểu đồ biểu diễn chỉ số E của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính 78
Hình 3.38 Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số E của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính 78
Hình 3.39 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng eo của học sinh nam tuổi 12 81
Hình 3.40 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng mông của học sinh nam tuổi 12 81 Hình 3.41 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng eo của học sinh nữ tuổi 12 82
Hình 3.42 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng mông của học sinh nữ tuổi 12 82
Hình 3.43 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng eo của học sinh nam tuổi 13 83
Hình 3.44 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng mông của học sinh nam tuổi 13 83 Hình 3.45 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng eo của học sinh nữ tuổi 13 84
Hình 3.46 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng mông của học sinh nữ tuổi 13 84 Hình 3.47 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng eo của học sinh nam tuổi 14… 85
Trang 10Hình 3.50 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng mông của học sinh nữ tuổi 14 87 Hình 3.51 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng eo của học sinh nam tuổi 15… 87 Hình 3.52 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng mông của học sinh nam tuổi 15 88 Hình 3.53 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng eo của học sinh nữ tuổi 15 88 Hình 3.54 Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng mông của học sinh nữ tuổi 15 89
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, nhất là trong thời điểm này khi mà cả đất nước đang bước vào cuộc hội nhập toàn cầu WTO Đó là một quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình cạnh tranh kinh tế quyết liệt giữa các quốc gia, tạo nên sự vận động phát triển không ngừng của thế giới
Sự tác động của quá trình này đến nước ta ngày càng mạnh mẽ, điều này đã
và đang tạo ra những cơ hội phát triển chưa từng có cho đất nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn về mặt chất lượng và hiệu quả giáo dục
để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Đào tạo ra những con người đáp ứng được các yêu cầu của xã hội là nhiệm vụ của ngành giáo dục Do vậy trong đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Tiếp tục quán triệt Giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển Giáo dục và Đào tạo” [18] Với mục tiêu Giáo dục toàn diện (đức, trí, lao, thể, mỹ) cho học sinh ở mọi lứa tuổi theo hướng bồi dưỡng, nâng cao chất lượng mũi nhọn và không ngừng thúc đẩy, nâng cao chất lượng đại trà Hiện nay ngành giáo dục đã và đang đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học, trang thiết bị và cơ sở vật chất nhằm thúc đẩy nhanh quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
Tuy nhiên, sự đổi mới này chỉ có hiệu quả cao khi áp dụng đúng với từng đối tượng học sinh, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, năng lực nhận thức của học sinh ở từng lứa tuổi Thực tế cho thấy phải dựa vào những hiểu biết về thể trạng và năng lực trí tuệ của học sinh thì mới có phương pháp đúng đắn và hữu hiệu đối với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo
Đến nay, trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu
về độ tuổi dậy thì và các chỉ số sinh học trên các đối tượng là học sinh, điển
Trang 12hình là các công trình nghiên cứu trên các đối tượng học sinh từ 6 đến 17 tuổi [12], [15], [17], [21], [45], [46], [49], [50], [51], [59], [60] Các kết quả nghiên cứu của các công trình này cho thấy, các chỉ số về hình thể và hoạt động thần kinh đang tăng dần, tuổi dậy thì đang có xu hướng đến sớm hơn đối với các đối tượng học sinh Các chỉ số sinh học của con người thay đổi theo lứa tuổi và điều kiện xã hội đặc biệt là học sinh cấp trung học cơ sở Tuy nhiên các công trình nghiên cứu cụ thể ở địa phương Ninh Bình chưa nhiều đặc biệt ở huyện Gia Viễn Xuất phát từ quan niệm này, chúng tôi đã đặt ra
cho bản thân nhiệm vụ tiến hành đề tài “Nghiên cứu hình thái, cảm xúc và chỉ số vượt khó của học sinh một số trường THCS, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”
- Thực trạng độ tuổi dậy thì chính thức của học sinh một số trường THCS, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
- Tìm thấy, mối liên quan giữa chỉ số vòng ngực trung bình với vòng eo
và với vòng mông của học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập, tìm hiểu các tài liệu liên quan đến lứa tuổi dậy thì và sự phát triển của các chỉ số sinh học THCS ở độ tuổi 12 đến 15 tuổi và bước đầu tạo cơ sở dữ liệu lưu trữ cho các trường THCS, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Trang 13- Nghiên cứu một số chỉ số hình thái bao gồm: chiều cao đứng, cân nặng, các vòng đặc trưng (vòng ngực, vòng eo và vòng mông)
- Nghiên cứu các dấu hiệu dậy thì của học sinh:
+ Học sinh nam, nghiên cứu các dấu hiệu: thời điểm xuất tinh lần đầu, thời điểm có mụn trứng cá, thời điểm mọc lông nách và lông mu
+ Học sinh nữ, nghiên cứu các dấu hiệu: thời điểm có kinh nguyệt lần đầu, số ngày của vòng kinh, số ngày hành kinh, thời điểm có mụn trứng cá, thời điểm mọc lông nách và lông mu
- Nghiên cứu một số chỉ số thần kinh cấp cao gồm: Chỉ số cảm xúc (EQ) và chỉ số vượt khó (AQ)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu học sinh đang học ở trường THCS có độ tuổi từ
12 đến 15 tại trường THCS Gia Tân và trường THCS Gia Thắng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tổng số đối tượng nghiên cứu là 699, trong đó có 351 học sinh nam và 348 học sinh nữ Học sinh được nghiên cứu có sức khỏe bình thường và không mắc bệnh mạt tính
Phạm vi nghiên cứu: Quá trình nghiên cứu được tiến hành trên học sinh đang học ở trường THCS Gia Tân và trường THCS Gia Thắng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Phương pháp trắc nghiệm, thực nghiệm gồm có:
+ Nghiên cứu các chỉ số hình thái:
Cân nặng: sử dụng cân điện tử để xác định khối lượng cơ thể, khi cân các đối tượng mặc áo mỏng, cân xa bữa ăn
Chiều cao đứng: sử dụng thước đo có độ chính xác đến 0,1 mm Đối tượng đo đứng trên nền phẳng hai gót chân chạm vào nhau, hai tay buông thẳng,
Trang 14đầu để thẳng
Vòng ngực trung bình; vòng eo; vòng mông: sử dụng thước dây không
co dãn để xác định số đo, đối tượng đo đứng tư thế thẳng đứng
Nghiên cứu các dấu hiệu tuổi dậy thì bằng hình thức phỏng vấn hồi cố + Nghiên cứu về cảm xúc và các trạng thái cảm xúc của học sinh nghiên cứu bằng phương pháp tự đánh giá CAH
+ Nghiên cứu về khả năng vượt khó (sử dụng phương pháp Paul G Stoltz )
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê xác suất dùng cho y, sinh học; chương trình Microsoft Excel và phần mềm SPSS 11.5
6 Đóng góp mới của luận văn
- Đánh giá được thực trạng của một số chỉ số về hình thái, cảm xúc và vượt khó ở tuổi 12 - 15 của học sinh trường THCS Gia Tân và trường THCS Gia Thắng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
- Xác định tuổi dậy thì chính thức của học sinh trường THCS Gia Tân
và trường THCS Gia Thắng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
- Xác định mối liên quan giữa chỉ số vòng ngực trung bình với vòng eo
và với vòng mông;
Trang 15NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1.Những vấn đề chung về hình thái
1.1.1.Nghiên cứu về chỉ số hình thái trên thế giới
Sinh học cơ thể là môn khoa học ra đời từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người và đang ngày càng phát triển [28] Nghiên cứu hình thái của con người được xem như một bộ phận quan trọng của sinh học cơ thể, nó tồn tại
và phát triển hết sức phong phú, thể hiện trên nhiều lĩnh vực như sự tăng trưởng, phát triển, đặc trưng theo chủng tộc, giới tính [30]
Một trong số các vấn đề được nhiều người quan tâm khi nghiên cứu con người là hình thái Thời phục hưng các nhà giải phẫu học kiêm họa sỹ như Leonard De Vinci, Mikenlangielo, Raphael… đã tìm hiểu rất kỹ về cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể để đưa lên các tác phẩm hội họa của mình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski
Từ việc đo đạc các kích thước cơ thể con người có thể rút ra các kết luận phục vụ thực tiễn hàng ngày như trong công tác điều tra y tế, các ngành kinh tế quốc dân như: xây dựng các tiêu chuẩn kích thước người để thiết kế các máy móc, các phương tiện sản xuất (nhà cửa, ô tô…), các phương tiện sinh hoạt (giường, tủ, giày, dép…) Về mặt lý luận chúng cho phép chúng ta phát hiện ra các quy luật về sự phát triển cơ thể con người, về phân loại các dạng người và các nhóm chủng tộc loài người cũng như tìm hiểu nguồn gốc loài người [56] Vào đầu thế kỷ XX những nghiên cứu về thể lực trở thành một môn khoa học thực sự với đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác của nó Người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại là Rudolf Martin qua hai tác
Trang 16phẩm nổi tiếng: "Giáo trình về nhân trắc học" năm 1919 và "Kim chỉ nam đo đạc và xử lý thống kê" năm 1924 Trong các công trình này ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể cho đến nay vẫn được sử dụng [29] Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với thực tiễn của mỗi nước Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình nghiên cứu của P
N Baskirov trong cuốn "Nhân trắc học" (1962) ông đã đưa ra quy luật phát triển cơ thể người dưới ảnh hưởng điều kiện sống, Evan Dervael trong cuốn
"Nhân trắc học" (1964) đã đưa ra nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp, ngoài ra còn có các công trình của Bunak, A M Uruxon
Cũng trong khoảng thời gian này, đi sâu vào nghiên cứu sự tăng trưởng
về mặt hình thể của con người đó là nghiên cứu các đại lượng có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc [57] Công trình đầu tiên là do Christian Fridrich Jumpert người Đức công bố năm 1754 Trong luận án Tiến sỹ của mình ông đã nghiên cứu sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ
1 đến 25 Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross
- sectional study) là phương pháp được dùng phổ biến với ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện được nhiều đối tượng cùng một lúc Cũng trong khoảng thời gian này P Montbeilard thực hiện nghiên cứu dọc (Longitudinal study) đầu tiên trên con trai mình liên tục trong 18 năm từ khi sinh ra (năm 1759) đến năm 18 tuổi (năm 1777) [57] Sau đó còn có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick (Anh), Carlchule (Đức), H P Bowditch (Mỹ) Vào năm
1977, Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã thành lập đánh dấu bước ngoặt trong nghiên cứu về hình thái con người trên thế giới Năm 2007, WHO công
bố chuẩn tăng trưởng của trẻ em học đường và người trưởng thành đánh dấu một mốc quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng của các chỉ số hình thái để
Trang 17đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của con người
1.1.2 Nghiên cứu về chỉ số hình thái ở Việt Nam
So với các nước trên thế giới, ở Việt Nam các nghiên cứu về hình thái diễn ra muộn hơn đặc điểm này thể hiện ở công trình nghiên cứu đầu tiên về
sự tăng trưởng chiều cao, cân nặng trẻ em là của Mondiere vào năm 1875 [57], vào thế kỷ XX tại trường Đại học Y khoa Đông Dương (1936 – 1944)
đã xuất hiện các công trình nghiên cứu của P Huard và A Bigot (1938), Đỗ Xuân Hợp (1943) [57] Những tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời
Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh, chuyên môn hoá và các hội nghị cấp quốc gia, địa phương về lĩnh vực này được tổ chức nhiều lần Năm 1975 cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” do GS Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên được xuất bản [58] Đây là công trình khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học người Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 12 đến 15 tuổi Đây là công trình nghiên cứu của tập thể các nhà khoa học y học, đại diện cho các chuyên khoa, chuyên ngành
Y học Việt Nam [58] Tuy nhiên, đây mới chỉ là các chỉ số sinh học của người miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử) Song nó thực sự là chỗ dựa tin cậy cho các nghiên cứu về người Việt Nam sau này [31]
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, việc nghiên cứu hình thái của trẻ em được nhiều tác giả thực hiện Điển hình
là Thẩm Thị Hoàng Điệp [20] đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ
6 - 17 tuổi Với 31 chỉ tiêu được nghiên cứu tác giả đã kết luận: chiều cao của học sinh phát triển mạnh nhất với nữ 11 - 12 tuổi và ở nam 13 - 15 tuổi, còn cân nặng phát triển mạnh nhất với nữ 13 tuổi và nam 15 tuổi Tác giả cũng nhận thấy rằng, quy luật phát triển theo giai đoạn chỉ phù hợp với quy luật chiều cao, còn quy luật phát triển kích thước các vòng gần giống quy luật phát
Trang 18triển cân nặng Cuối năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [21] nghiên cứu
về sự phát triển chiều cao, vòng ngực, vòng đầu của trên 8000 người Việt Nam tuổi từ 1 - 55 ở ba miền (Bắc, Trung, Nam) Các tác giả đã nhận xét rằng, chiều cao trung bình của nam trưởng thành là 163 cm và nữ là 158 cm Chiều cao tăng nhanh đến tuổi 18 ở nam còn ở nữ đến tuổi 14 Vòng ngực trung bình của nam trưởng thành là 78 – 80 cm, vòng đầu là 55 - 56 cm, còn ở
nữ tương ứng bằng 79 cm và 54 – 55 cm
Năm 1991, Đào Huy Khuê [35] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước liên quan với sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của 1478 học sinh từ 6 – 17 tuổi ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình Tác giả nhận thấy, hầu hết các chỉ
số sinh học đều tăng dần theo tuổi nhưng nhịp độ tăng trưởng không đều Tốc
độ tăng trưởng lớn nhất ở nam thường ở lứa tuổi 14 – 16 và của nữ ở lứa tuổi
11 – 15
Từ năm 1991 - 1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs [14] đã nghiên cứu trên học sinh một số tỉnh thành là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình và nhận thấy, so với dẫn liệu trong cuốn "Hằng số sinh học người Việt Nam" [58] thì
sự phát triển chiều cao của trẻ em 6 - 16 tuổi tốt hơn, đặc biệt trẻ em thành phố, thị xã, còn ở khu vực nông thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể
Nhóm tác giả A Goran, Nguyễn Công Khanh và cs (1996) [25] đã nghiên cứu trên học sinh Hà Nội về chiều cao, cân nặng, cho thấy, cả hai chỉ
số này đều tăng theo tuổi Điều này cũng thể hiện trong các nghiên cứu khác [2], [22], [34]
Tạ Thúy Lan, Đàm Phượng Sào [42] nghiên cứu sự phát triển thể lực của học sinh từ 6 – 14 tuổi ở Vân Canh, Hà Tây đã cho thấy, chiều cao của học sinh tăng dần từ 6 – 14 tuổi
Năm 1998, Nguyễn Kỳ Anh và cs [1] sau khi so sánh các kết quả nghiên cứu của mình với một số tác giả khác đã đưa ra nhận xét rằng thanh
Trang 19niên Việt Nam lứa tuổi 14 - 18 ở nữ và 16 - 18 ở nam lớn chậm hơn so với các lứa tuổi trước đó
Những nghiên cứu ở các dân tộc khác nhau, có các điều kiện sống và rèn luyện thân thể khác nhau cho thấy sự khác biệt về chủng tộc cũng là yếu
tố tác động đến hình thái của học sinh [52] Nguyễn Quang Mai và cs [48] năm 1998 đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người cho thấy, chiều cao
và cân nặng trung bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số tăng dần theo tuổi Thời điểm tăng nhanh chiều cao và cân nặng trung bình của nữ sinh dân tộc thiểu số đến sớm hơn so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [58], nhưng muộn hơn so với học sinh Thái Bình và Hà Nội từ 1 đến 2 năm
Năm 2000, Đào Mai Luyến [47] nghiên cứu thể lực của người Ê đê và người Kinh định cư ở Đăk Lăk cho thấy, hình thái của người Ê đê tốt hơn của người Kinh Tác giả cho đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống ảnh hưởng nhất định tới khả năng tăng trưởng các chỉ số hình thái Đoàn Văn Huyền và cs cũng cho rằng, giữa cơ thể và môi trường có mối liên quan chặt chẽ với nhau Môi trường sống ảnh hưởng đến trao đổi chất và điều hoà thân nhiệt nên ảnh hưởng đến các chỉ số hình thái của cá thể [46] Ngoài ra, sự rèn luyện thể lực cũng tác động đến chiều cao, cân nặng và kích thước một số vòng của cơ thể [51] Các yếu tố xã hội cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là ở tuổi dậy thì [60]
Trần Thị Loan [44], [45] từ năm 1999 - 2002 nghiên cứu trên học sinh
Hà Nội từ 6 - 17 tuổi đã nhận thấy, các chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác từ thập kỷ 80 trở về trước và lớn hơn so với học sinh ở các tỉnh Thái Bình, Hà Tây, ngoại thành Hải Phòng Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến các chỉ số hình thái của học sinh
Trang 20Trong dự án do trường Đại học Y Hà Nội và Bộ Y tế nghiên cứu “Giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX” (GTSH TK90) trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam bao gồm cả thành thị, nông thôn, miền núi và đồng bằng đã đưa ra một số chỉ số nhân trắc của người Việt Nam Theo kết quả dự án này các chỉ số sinh học chịu ảnh hưởng của yếu tố môi trường và dân tộc [59]
Năm 2006, trung tâm Tâm lý học và sinh lý lứa tuổi thuộc Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục [62] đã tiến hành nghiên cứu các chỉ số cơ bản
về sinh lý và tâm lý của học sinh phổ thông lứa tuổi từ 8 - 20 Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng ở học sinh nam và nữ ở mọi lứa tuổi 11 - 15 và ở nữ mọi lứa tuổi (trừ 16 và 18) đã thoát khỏi trạng thái còi cọc Các số liệu về cân nặng cho thấy sự phân hoá sâu sắc ngay trong nhóm trẻ cùng độ tuổi, bên cạnh trẻ nhẹ cân đã xuất hiện những trẻ có dấu hiệu béo phì, đặc biệt là các trẻ
ở các thành phố lớn Có sự tăng trưởng về các giá trị tuyệt đối trung bình của vòng ngực trong các lứa tuổi Như vậy là đã có sự chuyển biến tích cực về mặt hình thể của học sinh trong giai đoạn hiện nay
Năm 2009, Đỗ Hồng Cường [12] nghiên cứu các chỉ số chiều cao, cân nặng của các học sinh THCS ở tỉnh Hoà Bình thuộc các dân tộc Mường, Thái, Kinh, Tày và Dao Tác giả nhận thấy, các chỉ số này ở học sinh dân tộc Mường, Thái, Kinh cao hơn so với học sinh dân tộc Tày, Dao Tác giả cho rằng, điều này liên quan tới nơi cư trú của các em Học sinh các dân tộc Mường, Thái, Kinh sống ở vùng đồng bằng, thành phố và thị trấn, còn đa số học sinh các dân tộc Tày, Dao sống ở các vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đà Bắc, nơi có các điều kiện kinh tế - xã hội kém phát triển hơn so với thành phố
và đồng bằng
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ số hình thái của học sinh Việt Nam khá phong phú Các kết quả nghiên cứu gần đây về Thanh,
Trang 21Thiếu niên Việt Nam đều cho thấy sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ những năm trước Đặc biệt là từ sau năm 1975 đến nay khi tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi tốt hơn chắc chắn
đã ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khoẻ của con người Việt Nam [23] Thanh niên thành phố thường có các chỉ số nhân trắc tốt hơn ở nông thôn [7], [8], [9], [10], [15], [19] Để giải thích sự khác biệt này có tác giả [41] cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là chất lượng cuộc sống Do điều kiện sống ở thành phố được cải thiện nên Thanh niên thành phố thường có chiều cao, cân nặng tốt hơn Thanh niên nông thôn cùng lứa tuổi
1.1.3 Khái quát về tuổi dậy thì
- Đặc điểm tuổi dậy thì
Tuổi dậy thì là giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của một con người Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn và được đặc trưng bởi sự thay đổi mạnh mẽ về cả thể chất, tinh thần, hành vi, tình cảm
và đặc biệt là hoạt động chức năng của hệ thống sinh sản
Ở trẻ em nam, dưới tác dụng của hoocmon sinh dục nam (testosteron) phối hợp cùng các hoocmon tăng trưởng khác, cơ thể phát triển nhanh, đặc biệt khối lượng cơ thể tăng nhanh Từ khi trẻ em sinh ra, tuyến sinh dục nam (tinh hoàn) im lặng cho tới thời kỳ này mới bắt đầu thức tỉnh hoạt động Tinh hoàn bắt đầu sản sinh tinh trùng và tiết hoocmon sinh dục nam (testosteron) Dưới tác dụng hoocmon sinh dục nam (testosteron), cơ thể lớn nhanh và xuất hiện các đặc tính sinh dục nam thứ phát như dương vật to lên, túi tinh và tuyến tiền liệt phát triển, cơ nở nang, da thô dày, giọng nói trầm, lông mu, lông nách phát triển Đứa trẻ bắt đầu có khả năng hoạt động tình dục và sinh sản [61]
Còn ở trẻ em gái khi mới ra đời, buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận được kích thích phù hợp của các hoocmon từ tuyến yên Hai buồng
Trang 22trứng bắt đầu hoạt động, thể hiện bằng hoạt động sinh giao tử và tiết hoocmon sinh dục nữ dẫn đến thay đổi về thể chất, tâm lý, sự trưởng thành và hoàn thiện chức năng sinh dục, thời kỳ này gọi là dậy thì Thời kỳ này cơ thể em gái phát triển nhanh về chiều cao cũng như khối lượng cơ thể Cơ thể trở nên cân đối, mềm mại, thân hình có đường cong do lớp mỡ dưới da phát triển, đặc biệt một số vùng như ngực, mông, khung chậu phát triển Xuất hiện một số đặc tính sinh dục thứ cấp như hệ thống lông mu, lông nách Tâm lý cũng có
sự thay đổi như xấu hổ khi đứng trước bạn khác giới, ít nghịch ngợm hơn, ý
tứ hơn trong cư xử Buồng trứng bắt đầu tiết hoocmon sinh dục nữ (estrogen
và progesteron) Dưới tác dụng của hoocmon estrogen và progesteron, chuyển hóa cơ thể tăng, cơ thể phát triển nhanh về chiều cao, cân nặng, các cơ quan sinh dục như tử cung, vòi trứng, âm đạo, âm hộ, tuyến vú phát triển về kích thước và chức năng [61] Bước vào tuổi dậy thì chính thức, thì cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục đã có những biến đổi kèm theo là sự rụng trứng Sự phát triển của trứng dưới sự điều tiết của hoocmon thùy trước tuyến yên làm cho trừng chín và rụng một cách có chu kỳ gọi là chu kỳ kinh nguyệt [32] Chu kỳ kinh nguyệt là sự biến đổi về cấu trúc, chức năng dẫn tới sự chảy máu có chu kỳ ở niêm mạc tử cung dưới tác dụng của các hoocmon tuyến yên
và buồng trứng Độ dài của chu kỳ kinh nguyệt là khoảng thời gian tính từ ngày bắt đầu hành kinh kỳ này đến ngày bắt đầu hành kinh kỳ sau Độ dài của chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ Việt Nam thường là 28-30 ngày
Tuổi dậy thì không phải là một thời điểm mà là một khoảng thời gian có thể thay đổi theo từng cá thể thường kéo dài 3 - 4 năm Đối với nữ giai đoạn phát triển cơ thể từ 10- 15 tuổi và từ 12- 17 tuổi đối với nam Đây là giai đoạn các em có nhiều biến đổi về thể chất, sinh lý, tâm lý, sự trưởng thành và hoàn thiện về các chức năng sinh dục dưới tác động của nhiều yếu tố: chủng tộc, các điều kiện về tự nhiên, xã hội và kinh tế, chuẩn bị hành trang hoà nhập vào
Trang 23cộng đồng, thực hiện nghĩa vụ đầy đủ của người công dân
Mốc quan trọng giai đoạn dậy thì của nam là lần xuất tinh đầu tiên, nữ
là lần có kinh nguyệt đầu tiên Đánh dấu các em bắt đầu có khả năng sinh sản
Sự phát triển và biến đổi về mặt tâm lý của các em như: từ tâm lý của thiếu nhi chuyển dần sang tâm lý của người lớn, tính tình trầm lắng (nữ) mơ mộng, có cảm giác mình không còn trẻ con nữa Các em muốn được mọi người cư sử như người đã lớn, muốn thoát ra khỏi những “ràng buộc” của cha
mẹ và gia đình Thường có những xung đột với thành viên trong gia đình Các
em muốn được thử sức, muốn khám phá, tìm tòi và thử những điều mới lạ, thích giao tiếp trong quan hệ bạn bè cùng lừa tuổi, đặc biệt là các bạn khác giới thích làm dáng Bắt đầu có những quan tâm đặc biệt với bạn khác giới và xuất hiện những cảm xúc giới tính mới lạ [32]
- Nghiên cứu sinh lý sinh sản, sinh dục trên thế giới
Trong hơn một nửa thế kỷ trước, các đề tài nghiên cứu về sinh lý sinh dục và sinh sản ngày càng được quan tâm, mở rộng hơn, nhất là từ khi vấn đề hạn chế sinh đẻ được đặt ra một cách quyết liệt trên thế giới Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về các hiện tượng sinh học trong sinh sản như việc sinh noãn, sinh tinh trùng, hiện tượng thụ tinh và làm tổ của trứng đã được thụ tinh [12] Nhờ đó mà những hiểu biết về sinh lý học sinh sản ngày càng đạt đến mức độ cao hơn
Năm 1927, Aschleim & Zondek (Đức) và nhóm nghiên cứu của Smith
& Engel (Mỹ) đã độc lập nghiên cứu nhưng cùng tìm ra kết quả là: trong nước tiểu có hai chất tác dụng lên hoạt động của tuyến sinh dục là Prolan A và Prolan B, sau này gọi là kích nang tố (FSH) và kích hoàng thể tố (LH) [12]
Ngay sau đó (vào năm 1930), các nhà khoa học là Moore và Price lại phát hiện ra hai chất này do tuyến yên tiết ra, đó là cơ sở để giải thích cơ chế điều hòa của tuyến yên đối với chức năng sinh dục
Trang 24Năm 1932, hai nhà khoa học Hohlweg và Junkman đã chứng minh rằng
hệ thần kinh trung ương (đặc biệt là vùng dưới đồi Hypothalamus) có vai trò quan trọng trong việc điều hoà chức năng sinh sản Đây là những tác giả đầu tiên đưa ra khái niệm “điều hòa ngược” đối với hệ thống nội tiết Sau nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của Hypothalamus đối với các chức năng sinh dục, người ta đã kết luận: kích thích điện vào vùng củ xám, vùng trước thị có tác dụng gây rụng trứng, tổn thương ở cuống tuyến yên cũng có tác dụng này
Năm 1961, Barracluogh và Gorski [12] tiến hành kích thích điện vào vùng Hypothalamus và đã tìm thấy 2 trung khu sinh dục:
+ Trung khu trước: điều hoà sự bài tiết kích dục tố có tính chất chu kỳ
Ở con đực trung khu này không hoạt động
+ Trung khu sau: điều hoà bài tiết kích dục tố không theo chu kỳ, đây là cách kích dục tố thường gặp ở động vật giống đực
Như một đồng hồ sinh học, các xung thần kinh nhịp nhàng từ trung khu trước đến trung khu sau để điều hoà sự bài tiết theo chu kỳ các hoocmon kích dục tố (Gonado tropin releasing hormone) Các chất này sẽ làm bài tiết kích dục tố tuyến yên theo chu kỳ Chính vì vậy mà sự bài tiết hoocmon LH cũng xảy ra theo từng đợt Bằng cách gây tổn thương vào vùng Hypothalamus, năm
1942 nhà khoa học Dey và cs đã tìm thấy trung khu giao cấu liên quan đến hành vi sinh dục Trung khu này đã được nhiều nhà nghiên cứu xác nhận trên nhiều loại động vật
Sự biệt hóa hành vi sinh dục đã được nhà khoa học Dautchakoff nghiên cứu đầu tiên vào năm 1930, sau đó công trình này đã được Phoenix và cs xác nhận vào năm 1959 Quá trình biệt hóa được diễn ra trong thời kỳ phôi thai,
đó là giai đoạn tổ chức biệt hóa của vỏ não theo hướng biệt hóa đực hoặc cái
Trang 25Người ta đã tìm thấy trong Hypothalamus những chất tiếp nhận đặc hiệu đối với hoocmon sinh dục Lúc đầu người ta chỉ thấy sự gắn đặc hiệu đối với hoocmon sinh dục tại Hypothalamus và tuyến yên Từ năm 1953 trở lại đây, người ta đã biết được chức năng sinh dục của hệ Limbic
Trước năm 1970, các nhà khoa học chỉ nói tới vai trò các chất nội tiết trong điều hòa chức năng sinh sản gồm có cơ chế thần kinh và nội tiết Sự điều hòa sinh sản theo cơ chế thần kinh và nội tiết được thực hiện theo nhiều bậc
Trong hệ thống điều hoà chức năng sinh dục sinh sản, tuyến yên đóng vai trò của bộ phận khuyếch đại hay “phát động”, Hypothalamus đóng vai trò
“điều khiển” Còn tuyến sinh dục là yếu tố “bị điều khiển” hay cơ quan đích Trong vòng điều hoà ngược thì Hypothalamus trở thành yếu tố “bị điều khiển” còn tuyến sinh dục trở thành yếu tố “điều khiển”
Như trên đã nói, hai kích dục tố của tuyến yên là FSH và LH có vai trò trong việc phát triển trứng, sinh tinh trùng và kích thích việc sản xuất các hoocmon steroid của các tuyến sinh dục Bản chất và tác dụng của các hoocmon tuyến sinh dục đực và cái đã được nói đến trong nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới
- Nghiên cứu sinh lý sinh sản, sinh dục ở Việt Nam
Trong những năm 60 và nửa đầu thập kỷ 70, nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu về tuổi có kinh lần đầu; chu kỳ kinh nguyệt của công nhân, nông dân, học sinh nông thôn và thành thị Những kết quả này, đã được thống kê trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam (1975)” [58], tuổi dậy thì hoàn toàn ở các em gái khoảng 13 – 14 tuổi và ở các em trai khoảng 15 – 16 tuổi
Năm 1965, Nguyễn Huy Cận và cs đã nghiên cứu về tuổi có kinh nguyệt lần đầu của người Việt Nam, cho kết quả là 16,5 tuổi
Năm 1970, Vũ Thục Nga đã nghiên cứu kích dục tố tuyến yên toàn phần trong vòng kinh bình thường của phụ nữ Việt Nam
Trang 26Năm 1971, Nguyễn Thế Phương đã nghiên cứu sự biệt hoá sinh dục của vùng Hypothalamus, kết quả là đã phân lập được những chất tiếp nhận đặc hiệu với hoocmon sinh dục tại Hypothalamus
Từ năm 1976 đến 1980, các tác giả Đinh Kỷ và cs [38]; Lương Bích Hồng, Cao Quốc Việt và cs đã nghiên cứu những biến đổi của cơ thể ở lứa tuổi dậy thì trên 2.780 học sinh độ tuổi 8-18 ở thành phố Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh và nông thôn tỉnh Thái Bình Nghiên cứu được tiến hành bằng phương pháp quan sát lâm sàng kết hợp với điều tra phiếu, bao gồm các chỉ tiêu: thời điểm mọc lông mu, lông nách của nam, nữ Riêng nữ thêm sự phát triển tuyến vú và tuổi có kinh lần đầu
Từ năm 1982 đến 1988, các tác giả Nguyễn Thu Nhạn, Cao Quốc Việt, Nguyễn Nguyệt Nga và cs [53] đã tiến hành nghiên cứu trên 72 trẻ trai và 84 trẻ gái tuổi 6 - 12 ở 2 trường THCS Trung Tự (Hà Nội) và Bắc Lý (Hà Nam Ninh) Nghiên cứu theo phương pháp cắt dọc, đối tượng được theo dõi trong suốt 7 năm bằng phỏng vấn và khám lâm sàng Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: kích thước tinh hoàn để tính ra thể tích tinh hoàn, tuổi bắt đầu phát triển tuyến
vú, lông mu, lông nách, xuất tinh và có kinh lần đầu
Năm 1989, Đào Huy Khuê và cs đã triển khai nghiên cứu trên 1.478 học sinh 6 - 17 tuổi trong đó có 750 nam và 728 nữ ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình Kết quả, tuổi dậy thì chính thức của nữ là 13 năm 8,6 tháng, tuổi dậy thì chính thức của nam là 15 - 16 Các dấu hiệu chính và phụ về tuổi dậy thì của nữ xuất hiện sớm hơn so với nam là 1 - 3 năm Các tác giả nhận thấy, tuổi trung bình có kinh lần đầu và các dấu hiệu sinh dục phụ ở nữ học sinh Hà Đông đến sớm hơn so với nữ sinh và thiếu nữ nông thôn trước đây Tác giả cho rằng, điều này có liên quan chặt chẽ đến điều kiện sống ở thành thị và sự phát triển kinh tế - xã hội tốt hơn qua các năm [35], [36]
Trang 27Trong 3 năm (1992-1994), Trịnh Văn Bảo và Trần Đức Phấn đã tiến hành nghiên cứu trên 296 nam tuổi 18-68 ở ngoại thành Hà Nội với các chỉ tiêu: lượng tinh dịch, độ nhớt, độ pH, mật độ tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng sống,
tỷ lệ tinh trùng di động khỏe, tỷ lệ tinh trùng dị thường
Năm 1996, Phạm Thị Sang đã nghiên cứu một số chỉ số sinh lý, sinh dục – sinh sản của nữ sinh và phụ nữ thành phố Huế Tác giả nghiên cứu mối liên quan giữa kích thước nhân chắc với việc có kinh nguyệt ở nữ và kết luận, lứa tuổi 11 - 15 chiều cao đứng, cân nặng của nhóm nữ sinh đã có kinh nguyệt vượt trội so với nhóm chưa có kinh nguyệt cùng lứa tuổi Một nghiên cứu khác của tác giả cho thấy, tuổi có kinh lần đầu trung bình của các cô gái Huế trong thập kỷ 90 là 13,6 tuổi Tác giả nhận định, tuổi có kinh lần đầu ngày càng xuất hiện sớm hơn trước [55]
Trong dự án nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỷ XX, vấn đề sinh lý sinh sản, sinh dục được chia thành 2 đề mục: Tuổi dậy thì ở trẻ em (chủ nhiệm: Cao Quốc Việt) và chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ và học sinh Hà Nội (chủ nhiệm: Phạm Thị Minh Đức) Đáng chú ý có các nghiên cứu: Tuổi bắt đầu dậy thì của trẻ gái và trẻ trai; Tuổi xuất tinh lần đầu; Tinh dịch đồ; Tuổi có kinh nguyệt lần đầu; Độ dài chu kỳ kinh nguyệt; Số ngày chảy máu trong mỗi chu kỳ; Số lượng máu kinh nguyệt trong mỗi chu kỳ; Tuổi mãn kinh Các tác giả kết luận, tuổi dậy thì của trẻ em thời điểm nghiên cứu đến sớm hơn so với kết quả trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [58] năm 1975 khoảng 1 năm
Năm 2006, Đỗ Hồng Cường [11] tiến hành nghiên cứu học sinh trung học cơ sở các dân tộc (Dao, Mường, Kinh, Tày) tỉnh Hòa Bình về tuổi dậy thì chính thức đã đưa ra kết luận, tuổi dậy thì của nam dao động 13 năm 9 tháng đến 14 năm, tuổi dậy thì của nữ dao động 13 năm 4 tháng đến 13 năm 7 tháng Thời điểm dậy thì chính thức của học sinh dân tộc Dao đến sớm hơn
Trang 28các dân tộc Mường, Kinh và Tày
Các nghiên cứu về tuổi dậy thì ở trẻ nam, trẻ nữ; tuổi mãn kinh, lượng máu kinh đang được nhiều tác giả tiến hành trên nhiều đối tượng khác nhau
đã ra kết luận, dậy thì là giai đoạn không chỉ thay đổi các yếu tố bên trong cơ thể mà còn ảnh hưởng nhiều của các yếu tố khác như: giới tính, chủng tộc, điều kiện môi trường sống Ở tuổi dậy thì, cơ thể diễn ra hàng loạt biến đổi
về hình thái, sinh lý và tâm lý
1.2 Các vấn đề về cảm xúc và vượt khó
1.2.1 Khái quát những vấn đề về cảm xúc
Theo từ điển tiếng Việt [63], cảm xúc là những rung động trong lòng khi tiếp xúc với sự vật, hiện tượng nào đó Cảm xúc là thái độ chủ quan của con người đối với các sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh [24]
Cảm xúc là trạng thái không thể thiếu được trong hoạt động hành vi của con người và động vật Đối với mọi hoạt động của não bộ, cảm xúc giữ vai trò mang tính chất quyết định [40] Cảm xúc là phản ứng của cơ thể đối với tác động của môi trường có liên quan đến sự thoả mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của một cá nhân Cảm xúc là những rung động của con người trước những tình huống cụ thể Cảm xúc là nguyên nhân tạo ra động cơ, thúc đẩy mọi hoạt động của cơ thể [40] Để có được cảm xúc cơ thể phải huy động toàn bộ các bộ phận, các cơ quan tham gia vào phản ứng Kết quả hoạt động của các phân tích quan sẽ cho cơ thể có những cảm giác nhất định Cảm xúc không phải là một hiện tượng đơn giản mà là hoạt động phức tạp của não bộ
Do vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về cảm xúc Theo Pavlov, cảm xúc
là mối liên quan giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu Trong đó nhu cầu là sự đòi hỏi, là phản xạ không điều kiện Còn khả năng thoả mãn nhu cầu
là khả năng có thể hiện thực hoá được nó Ông cho rằng, cơ sở của cảm xúc là
sự hưng phấn các trung tâm dưới vỏ não và các quá trình sinh lý do hệ thần
Trang 29kinh thực vật gây ra Pavlov đã liên hệ sự phát sinh tình cảm phức tạp với hoạt động của vỏ não Việc duy trì hay phá vỡ hệ thống những mối liên hệ này sẽ gây ra những thay đổi chủ quan đối với thực hiện [40]
Cảm xúc là các phản ứng thuộc chủ thể đối với môi trường, có kèm theo các phản ứng hoocmon và thần kinh thực vật, thường có biểu hiện khoan khoái hay khó chịu và được coi là phản ứng thích nghi phản ánh cách suy nghĩ của chúng ta (Papalia D E, Olds S W) [5] Cảm xúc là điểm gặp nhau của sinh lý học và tâm lý học, bao gồm hai khía cạnh là thể xác và tâm thần Khía cạnh tâm thần bao gồm sự tiếp nhận cảm giác, cảm nhận được cảm giác
đó và sự đáp ứng lại được cảm giác đó Khía cạnh thể xác của cảm xúc bao gồm những thay đổi chức năng của cơ thể như tăng nhịp tim, tăng huyết áp, toát mồ hôi khi cảm nhận được một cảm giác nào đó Cảm xúc được chia ra nhiều loại như cảm xúc hưng cảm, cảm xúc trầm cảm hay cảm xúc thấp, cảm xúc cao Cảm xúc thấp phát sinh trên cơ sở các phản xạ không điều kiện, liên quan với hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất và có tính chất sinh học nhiều hơn so với cảm xúc cao Cảm xúc cao xuất hiện trên cơ sở các phản xạ
có điều kiện và xây dựng trên cơ sở các cảm xúc thấp, cùng với sự tích luỹ kinh nghiệm của cá thể trong cuộc sống [3]
Theo Hodge (1935), cảm xúc chỉ xuất hiện khi ta còn nghi ngờ và còn
do dự về khả năng trả lời đúng đối với một hiện tượng nào đó Cường độ cảm xúc tỷ lệ nghịch với cường độ của khả năng trả lời đúng, hợp lý câu hỏi đặt ra Trên cơ sở này, ông kết luận cảm xúc là sự tổng hợp không thành công của vỏ bán cầu đại não
Năm 1946, Hebb cho rằng cảm xúc hay hiện tượng sợ hãi xuất hiện với
sự tham gia của hệ limbic Khác với Hebb, Arnold (1960) cho rằng, cảm xúc xuất hiện dưới tác động của các mệnh lệnh hoạt hóa từ vỏ não mới Năm
Trang 301964, Anôkhin cho rằng cảm xúc là các hệ thống chức năng thể hiện hoạt động hành vi
Theo Pribram (1967), cảm xúc thể hiện mối quan hệ giữa khả năng tiếp nhận với khả năng hành động, cảm xúc liên quan với các quá trình thông tin
và các cơ chế kiểm chứng Có nghĩa là cảm xúc liên quan tới độ tin cậy của các hiện tượng, nếu độ tin cậy thấp thì xuất hiện cảm xúc và ngược lại, nếu độ tin cậy cao thì không xuất hiện cảm xúc Vì vậy theo Pribram cảm xúc gồm hai yếu tố là nhu cầu và khả năng thỏa mãn nhu cầu Việc xác định trạng thái cảm xúc của một cá nhân chúng ta thu được chỉ số cảm xúc (EQ)
P V Ximonov (1987) dựa vào học thuyết thông tin về cảm xúc của Pribram đã đưa ra công thức biểu diễn mối liên quan giữa cảm xúc và khả năng thỏa mãn nhu cầu như sau:
Cx = f[P(In – Ik),…]
Trong đó: Cx là cảm xúc (là hàm số của P), f là hàm số, P là cường độ
và tính chất cấp thiết của nhu cầu, In là thông tin về các phương tiện, tiên lượng cần thiết để thỏa mãn nhu cầu, Ik là các thông tin về các biện pháp thực
tế cá thể có trong thời điểm hiện tại, (In – Ik) là mức độ tin cậy của khả năng đáp ứng nhu cầu trên cơ sở các kinh nghiệm bẩm sinh và tập nhiễm
Cảm xúc đánh giá độ tin cậy mà cá thể hoàn thành nhiệm vụ Khi có kích thích tác động vào cơ thể, não bộ tiếp nhận và so sánh yêu cầu In với khả năng thực tiễn Ik, đánh giá xem thực tiễn chúng ta có thể giải quyết được vấn
đề này không? Nếu vấn đề giải quyết quá dễ dàng thì không xuất hiện cảm xúc, còn nếu vấn đề khó khăn xuất hiện cảm xúc do sự hình thành điểm hưng phấn cực đại (hình thành điểm ưu thế) nhằm huy động các phần khác hỗ trợ cho việc thực thi nhiệm vụ
Khi xem xét vấn đề ở cấp độ thần kinh, Tomkins (1962) đã khẳng định rằng cảm xúc được tạo nên bởi số lượng các nơron bị kích thích trong cùng
Trang 31một đơn vị thời gian Những công trình đầu tiên của Darwin (1872, 1877) và những công trình hiện đại hơn (Ekman et al, 1972, Izard, 1971) đã chứng minh rằng, cảm xúc có nền tảng được đảm bảo bởi những chương trình thần kinh bẩm sinh [4]
Đời sống cảm xúc của con người rất đa dạng và phức tạp, nó có cơ sở sinh lý là do hệ thần kinh điều tiết, mà quan trọng nhất là hệ limbic với trung tâm là vùng dưới đồi
Theo Pavlov [39] thì cơ chế sinh lý thần kinh của cảm xúc được tóm tắt như sau: Khi tri giác về một đối tượng nào đó trong những điều kiện nhất định, thì quá trình hưng phấn nảy sinh theo phương thức phản xạ không điều kiện và có điều kiện ở trên vỏ não Hưng phấn sẽ được lan toả xuống các trung tâm dưới vỏ rồi ảnh hưởng tới hệ thần kinh thực vật, kết quả nó sẽ tạo ra những biến đổi tương ứng trong cơ thể và những biểu hiện tương ứng ở bên ngoài thể hiện qua cảm xúc Theo thuyết này, thì sự thể hiện cảm xúc của con người là kết quả của quá trình phối hợp hoạt động giữa vỏ não và các trung khu dưới vỏ, trong đó vỏ não giữ vai trò chủ đạo Một khi mà sự kiểm soát và
ức chế của vỏ não với bộ phận dưới vỏ bị suy giảm thì con người dễ bị xúc động với bất cứ lý do nào và không thể kìm chế những xúc động [39]
Hệ limbic có vai trò quan trọng trong việc hình thành và biểu thị cảm xúc Vì vậy, hệ limbic còn gọi là não cảm xúc [39] Trong hệ limbic vùng dưới đồi được coi là cấu trúc cơ bản nhất, cấu trúc trung tâm Ngoài vùng dưới đồi còn có các cấu trúc khác nhau như: hồi hải mã, nhân hạch nhân, vỏ limbic, vách ngăn trong suốt, nhóm nhân trước và nhân giữa lưng của đồi thị Điểm chung nhất cho toàn bộ hệ thống này là vùng dưới đồi với các đường dẫn tới các trung tâm dinh dưỡng là đường ra chung cho cả hệ thống Ngoài
ra, còn tồn tại các đường liên hệ khác giữa vùng dưới đồi với tuyến yên Thông qua vùng dưới đồi, đại bộ phận các cấu trúc của hệ limbic sẽ liên kết
Trang 32chặt chẽ với nhau thành một hệ thống nhất Hệ thống này sẽ điều tiết mọi hoạt động hành vi về mặt cảm xúc Nó chính là trung tâm cao cấp điều tiết mọi hoạt động dinh dưỡng có liên quan đến việc thể hiện hành vi cảm xúc Như vậy, vùng dưới đồi là chất nền của tất cả các hoạt động cảm xúc về mặt dinh dưỡng Trường hợp xuất hiện cảm xúc thường xảy ra cả hai hiện tượng do cả thần kinh giao cảm và đối giao cảm đều tăng cường hoạt động Vùng dưới đồi còn ảnh hưởng tới các tuyến nội tiết thông qua tuyến yên Bằng cách này, vùng dưới đồi tham gia vào việc điều tiết mọi phản ứng có liên quan đến hành
vi về mặt cảm xúc Bên cạnh hệ limbic, còn có hệ thống các chất môi giới thần kinh cũng tham gia vào việc hình thành cảm xúc Có nhiều loại chất môi giới thần kinh và mỗi loại trong số này đều có thể làm cho cơ thể có các cảm xúc khác nhau Như vậy, muốn có cảm xúc phải có cấu trúc thần kinh (hệ limbic) và một loạt các chất môi giới thần kinh tham gia vào phản ứng [39] Tóm lại nguyên nhân xuất hiện cảm xúc là do sự thay đổi các chức năng sinh
lý nhằm đảm bảo cho cơ thể thích nghi một cách tốt nhất với điều kiện môi trường thay đổi
Nghiên cứu về cảm xúc đầu tiên đã được tiến hành cách đây hơn một trăm năm trước Đó là nghiên cứu của James – Lange (1884), sau này có nhiều công trình nghiên cứu khác nhưng diễn ra theo các hướng khác nhau
Có hướng nghiên cứu về năng lực cảm xúc, có hướng nghiên cứu về trạng thái cảm xúc, có tác giả lại quan tâm đến bản chất và cách biểu hiện cảm xúc trên các đối tượng khác nhau Ở Việt Nam, cảm xúc cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Phạm Minh Hạc [26] nghiên cứu về bản chất và cách biểu hiện của cảm xúc Tạ Thúy Lan [40] nghiên cứu cơ sở thần kinh của cảm xúc Ngoài ra, còn nhiều tác giả khác cũng quan tâm đến vấn đề này [6], [13], [27], [33], [43], [54]
1.2.2 Khái quát những vấn đề về khả năng vượt khó
Trang 33Trong cuộc sống không chỉ lúc nào chúng ta cũng gặp may mắn để có được những công việc, những tình huống nhẹ nhàng dễ vượt qua mà chúng ta thường phải vượt qua nhiều trở ngại hơn là điều may mắn Trong những hoàn cảnh như vậy chỉ có những người có đủ khả năng vượt qua những trở ngại đó
và càng vượt qua càng nhiều trở ngại thì người đó càng đạt được nhiều thành công Vậy làm gì để chúng ta có thể đánh giá được khả năng vượt khó của một cá nhân, lúc này chúng ta cần đến chỉ số vượt khó Chỉ số vượt khó AQ
là đại lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một người trước các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc sống
Chỉ số AQ do nhà tâm lý học người Mỹ Paul G.Stoltz đưa ra và đặt nền móng đầu tiên cho bộ môn khoa học này Chỉ số AQ ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển tâm lý học cuối thế kỷ 20 Nó chứng tỏ, việc lượng hoá những phẩm chất tâm lý bậc cao là một điều có thể làm được, như đã từng làm với IQ và EQ
Vào những năm 90, sau gần 2 thập kỷ nghiên cứu, tiến sĩ Paul G Stoltz đưa ra giả thuyết rằng, khả năng giải quyết khó khăn trong cuộc sống một cách nhanh chóng và hiệu quả của một người sẽ là yếu tố quyết định lớn cho sự thành công của người đó Những người có AQ thấp được xếp vào những người thù ghét khó khăn, tránh né thử thách đến những người lì lợm từ chối bước ra khỏi vòng an toàn Trong khi đó, những người có AQ cao lại sẵn sàng đón nhận khó khăn, thậm chí còn tìm kiếm thử thách Họ vững chãi và tập trung vượt qua thời điểm không thuận lợi Những người này thường làm việc có hiệu quả hơn, kiểm soát stress tốt hơn và sống một cuộc sống thú vị hơn [64]
Như vậy, chỉ số AQ bậc cao vẫn có trong đời thường, trong những người bình dị mà cao cả (dù hữu danh hoặc vô danh) chứ không chỉ tồn tại trong các bậc anh hùng xuất chúng Bill Gates (chủ tịch Tập đoàn Microsoft)
có nói: “Những ai tự chế được bản thân hoặc tự vượt lên chính mình dù chỉ
Trang 34trong khoảnh khắc cũng đều có “máu” anh hùng Những lúc như vậy, chỉ số
AQ của họ tăng đột biến” Nhờ rèn luyện và “tiêm nhiễm” từ những tác động tích cực, từ những môi trường tích cực (nhất là môi trường giáo dục nhân bản), con người có thể được “truyền máu” anh hùng từ tuổi thơ Cuộc khảo sát của các nhà tâm lý trong suốt 15 năm theo dõi 10 đứa trẻ đã chứng minh điều đó
Thường những ai có chỉ số EQ cao thì AQ cũng có phần cao Nhưng không phải bao giờ và ở ai giữa EQ và AQ đều có tỉ lệ thuận Thực tế cho thấy rất nhiều người tốt về cảm xúc, tốt về nhân cách nhưng việc không thành, cuộc đời vẫn lắm bất hạnh Paul G.Stoltz đã nói: “Người tốt vẫn có thể là người không bền lòng theo đuổi mục đích Nếu chúng ta sẵn sàng đón nhận khó khăn thì chúng ta sẽ tự làm tăng AQ của mình lên AQ cao biến chúng ta thành con người kiên cường, gan dạ và khoẻ mạnh” [65] Như vậy, nếu bạn gặp phải một vấn đề khó khăn, hãy xem nó như một thử thách ý chí của bạn [64]
Theo Paul G.Sloltz, chỉ số AQ có thể đo mức độ hoài bão, nỗ lực, sự sáng tạo, năng lượng, sức khoẻ lý tính, xúc cảm và hạnh phúc của một người
Nó cũng chính là một chỉ báo về 4 mức độ cao thấp của bản lĩnh sống:
1 Đối diện khó khăn
2 Xoay chuyển cục diện
3 Vượt lên nghịch cảnh
4 Tìm được lối ra
Cả 4 mức độ này đều có thể thay đổi nhờ vào rèn luyện [65]
Tiến sĩ Paul G.Sloltz đã chứng minh, nếu một người nào đó có được bốn đức tính sau thì sẽ dễ dàng vượt qua trở ngại khó khăn của cuộc sống và
có thể thay đổi mức độ cao thấp của bản lĩnh sống Khi làm được điều này tức
là bạn đã cải thiện được rất nhiều chỉ số AQ của mình
- Biết kiểm soát
Trang 35Khi gặp phải khó khăn, bạn đừng vội cho rằng mình bất lực Những
người có AQ thấp thường chấp nhận thua cuộc trước khi đấu tranh Họ là
những người luôn thất bại
Hãy tin tưởng rằng mình có thể điều khiển, kiểm soát được mọi tình
huống Với lòng tin ấy, hãy đặt ra những hành động cụ thể để có thể làm chủ
được tình huống Điều này khiến mọi con đường của bạn đều hướng về phía
trước
- Hãy cố gắng thể hiện khả năng của mình
Đừng đắm chìm mãi trong việc thương tiếc bản thân Nếu bạn gặp khó
khăn, đừng than thở: “Tình huống xấu này luôn luôn xảy ra với tôi Tôi sẽ
chẳng bao giờ khá được” Hãy cố gắng thể hiện khả năng của mình Trước hết
là chấp nhận thất bại và thua thiệt Sau đó là cố gắng tập trung phát triển công
việc
- Biết nhìn xa trông rộng
Hãy thử suy nghĩ cho thật kỹ: Liệu khó khăn này có hủy hoại mọi thứ
trong công việc của bạn? Nếu bạn tin rằng những thất bại tạm thời đó báo
hiệu công việc của bạn chấm hết, bạn sẽ nản lòng Điều này có thể dẫn tới thái
độ làm việc tiêu cực và đưa ra các quyết định tồi Với những kết quả đó, bạn
có thể hủy hoại chính tương lai của mình
- Bình tĩnh suy nghĩ chu đáo
Hãy tỉnh táo suy nghĩ xem cái gì đã xảy ra trước khi quyết định tiếp
theo sẽ làm gì Những người có AQ thấp thường thất bại vì lý do họ chỉ có
một mình để giải quyết khó khăn Tự nhận trách nhiệm thái quá có thể sẽ bẻ
gãy cố gắng, hy vọng và tự tin của họ Thay vào đó, hãy tự hỏi: Ai, cái gì gây
ra khó khăn này? Tôi có thể giải quyết nó được bao nhiêu?
Theo Paul G.Sloltz thì khả năng vượt khó được tích lũy từ khi còn bé,
tích lũy thông qua những thử thách lớn, bé mà ta phải đối mặt hàng ngày Với
Trang 36hơn 40 năm nghiên cứu, tiến sỹ Paul G.Sloltz đã chứng minh được rằng khi phải đối phó lại với những nghịch cảnh thì đó chính là cơ hội để rèn luyện và tăng khả năng kiểm soát để đối mặt với bất kỳ tình huống nào xảy ra
Những người có khả năng vượt khó thấp khi đối mặt với nghịch cảnh thường trở lên yếu đuối thậm chí vô dụng Không những thế, những người này sẽ không giám chịu trách nhiệm về những hành động của mình và họ dường như thấy rằng mình, không thể kiểm soát được cuộc sống của chính mình
Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, để thực hiện được bốn vấn đề trên
là một điều rất khó mà không phải ai cũng làm được Những người làm được điều đó phải là những người đã khẳng định được bản thân, biết nỗ lực vươn lên và đặc biệt là không phản ánh tiêu cực trước những vấn đề khó khăn của cuộc sống
Theo tiến sĩ Paul G.Sloltz, ông đã phân định ra bốn đặc điểm của một người có chỉ số AQ cao [64]
- Lắng nghe
Điều đầu tiên để có thể đưa ra một quyết định khôn ngoan khi đối diện với nghịch cảnh là bạn phải lắng nghe chính mình Học cách cảm nhận nguy hiểm trước khi nó vượt khỏi tầm kiểm soát Và bạn cũng phải xác định xem liệu chỉ số AQ của bạn là cao hay thấp Nếu AQ thấp thì cần nhiều thời gian
để suy nghĩ để đưa ra những phản ứng tích cực hơn Cần chú ý là, nghịch cảnh - chính nó giúp bạn nhanh chóng nâng cao khả năng phản ứng của bạn
Trang 37- Phân tích
Điều quan trọng để kiểm soát nghịch cảnh là từng bước phân tích thông qua những chứng cứ thực tế hoặc thông qua các tình huống giả định Bạn cần phải kiểm tra và xem xét bất cứ yếu tố nào gây cản trở đến bạn Hãy đối diện với nghịch cảnh để cải thiện tình hình chứ đừng nên trốn tránh nó
- Làm điều gì đó
Hãy hành động nhưng cần thận trọng Hãy suy nghĩ mình cần thông tin
gì, cần hành động ra sao để giúp vượt qua được nghịch cảnh Những câu hỏi: cái gì, ở đâu, khi nào, những câu hỏi tại sao luôn cần thiết để có thể giúp bạn tìm ra lời giải đáp Đừng dừng lại ở việc liệt kê các hành động mà hãy thực hiện nó Mọi người ít nhiều đều phải đối mặt với những tình huống khó khăn trong cuộc sống Những thách thức mà chúng ta gặp phải không phải để chúng ta phải đắm chìm trong những ý nghĩ tiêu cực và tuyệt vọng [64]
Chỉ số AQ của một người được biểu hiện bằng bốn chỉ số thành phần Mỗi chỉ số thành phần phản ánh một góc độ nào đó của quá trình vượt qua khó khăn, trở ngại Bốn chỉ số thành phần đó là: C, O, R, E
- Chỉ số C( Control): Kiểm soát, điều khiển
Những nguời có AQ cao có thể kiểm soát được tốt các tình huống xảy
ra hơn là người có AQ thấp Ngay cả trong tình huống xuất hiện quá khả năng của họ thì những người có AQ cao vẫn có thể tìm thấy giải pháp Những người có AQ thấp thì ít hoặc không kiểm soát tốt
Đo chỉ số C để xác định mức độ kiểm soát của một người khi họ trải qua trở ngại Đó là khả năng phục hồi về thể chất và tinh thần
- Chỉ số O (Ownership): Quyền sở hữu
Những người có AQ cao thường có trách nhiệm giữ mình để đối phó với bất kì tình huống nào do họ gây ra Những người có AQ thấp thường cảm thấy cô đơn và cần giúp đỡ
Trang 38Đo chỉ số O để xác định mức độ chịu trách nhiệm và khả năng xử lý tình huống hành động
- Chỉ số R (Reach): Phạm vi hoạt động
Những người có AQ cao chấp nhận thất bại và thách thức trong mọi thời điểm, không cho chúng ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của họ Những người có AQ thấp thường rơi vào trạng thái thê thảm bị thất bại
Đo chỉ số R để xác định mức độ, phạm vi tiếp cận sự kiện, sức chịu đựng các cấp độ căng thẳng
- Chỉ số E (Endurance): Khả năng chịu đựng tính nhẫn nại
Những người có AQ cao luôn đối diện khó khăn với thái độ lạc quan và giữ vững hy vọng Những người có AQ thấp xem trở ngại như là khó khăn không thể giải quyết nổi
Đo chỉ số E để xác định thời gian chịu đựng các sự kiện xấu, là thước
đo sự lạc quan và hi vọng
Các nghiên cứu về chỉ số vượt khó hiện nay mới đang chỉ là bắt đầu, chỉ có công trình nghiên cứu của Paul G.Sloltz Ở Việt Nam nghiên cứu về khả năng vượt khó chưa có công trình nào có quy mô được nghiên cứu và công bố
1.3 Sơ lược về điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Huyện Gia Viễn được các triều đại phong kiến lập ra năm 669 với tên gọi đầu tiên là Như Viễn, sau đổi thành An Viễn Đến đời nhà Trần gọi là huyện Gia Viễn
Gia Viễn là huyện đồng chiêm trũng nằm phía bắc của tỉnh Ninh Bình
có tổng diện tích 178,5 km² và dân số khoảng 120 nghìn người Phía tây của Gia Viễn giáp huyện Nho Quan; phía nam giáp huyện Hoa Lư; phía bắc giáp huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình và huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; phía
Trang 39đông giáp huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Gia Viễn có địa hình tương đối phức tạp được chia thành 3 vùng rõ dệt: Vùng núi đá vôi chiếm 1/4 diện tích, vùng bán sơn địa và vùng đồng bằng Gia Viễn có khí hậu đồng bằng Sông Hồng lượng mưa trung bình hàng năm là 2.000mm Dọc theo tuyến kênh phía bắc là dãy núi đá vôi Gia Viễn là đất linh thiêng sinh ra người con Đinh Bộ Lĩnh quê làng Đại Hữu nay là xã Gia Phương đã Cờ Lau tập trận dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất sơn hà, lập nên nước Đại Cồ Việt, Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của nước Việt Nam
Những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn” nên kinh tế - xã hội huyện Gia Viễn đang trên đà phát triển, đổi mới Huyện đã quy hoạch xây dựng 3 khu, cụm công nghiệp đó là:
+ Khu công nghiệp Gián Khẩu: Nằm tại xã Gia Trấn, Gia Xuân và Gia Tân với diện tích: 200 ha, cách thành phố Ninh Bình 10 km, là điểm nút giao thông đi Hà Nội, các tỉnh đồng bằng và vùng Tây Bắc, cơ sở hạ tầng tốt, địa hình bằng phẳng
+ Cụm công nghiệp Gia Sinh: Nằm tại xã Gia Sinh (khu vực Núi Đính) với diện tích 70 ha
+Cụm công nghiệp Gia Vân: Xã Gia Vân với diện tích 20 ha Nằm cạnh khu du lịch Vân Long
Huyện Gia Viễn có 21/21xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc THCS Hiện có 10/21 trường THCS được công nhận trường chuẩn Quốc gia Các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin, truyền thông được tổ chức sôi nổi chào mừng các sự kiện kỷ niệm lớn của đất nước và của tỉnh.Công tác phòng, chống dịch bệnh ở người, khám chữa bệnh và thực hiện các mục tiêu y tế quốc gia đạt kết quả tích cực; có 21/21 xã, thị trấn đạt chuẩn y tế quốc gia
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh THCS của trường THCS Gia Tân và trường THCS Gia Thắng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Gồm có 4 nhóm với 4 độ tuổi khác nhau, từ 12 đến 15 tuổi có sức khoẻ bình thường, trí tuệ phát triển bình thường, không có các dị tật về hình thể và các bệnh mạt tính
Tuổi của các đối tượng nghiên cứu được tính theo quy ước chung của
tổ chức y tế thế giới (WHO) và của Việt Nam [66] Đó là cách tính tuổi quy
về tháng hay năm gần nhất Nghĩa là người ta gọi một tuổi nào đó bao gồm những cá thể có năm trước hoặc sau tuổi đó sáu tháng Ví dụ 15 tuổi là những
cá thể từ 14 năm sáu tháng đến 15 năm 5 tháng 29 ngày
2.1.2 Phân bố của đối tượng nghiên cứu
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 699 học sinh, trong đó có 351 học sinh nam và 348 học sinh nữ Phân bố các đối tượng được nghiên cứu theo tuổi và giới tính thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính
Tuổi