ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐINH QUỐC HƯNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TỰ LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN SINH HỌC TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC SÁCH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐINH QUỐC HƯNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TỰ LỰC CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN SINH HỌC
TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC SÁCH GIÁO KHOA SINH HỌC LỚP 12
Trang 2MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu 7
2.1 Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài 7 2.2 Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài 7 3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9
5 Phạm vi nghiên cứu 9
6 Giả thuyết khoa học 9
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
8 Phương pháp nghiên cứu 10
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 10 8.2 Phương pháp điều tra 10 8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 10 8.4 Phương pháp xử lý số liệu 11 9 Những đóng góp mới của luận văn 11
10 Cấu trúc luận văn 11
Chương 1 CƠ SỞ CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TỰ LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN SINH HỌC TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC 13
1.1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT 13
1.1.1 Tính tự lực 13 1.1.2 Hoạt động học tập tự lực 15 1.1.3 Tổ chức hoạt động học tập tự lực 17 1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học trong dạy học phần sinh thái học 21
1.2.1 Mục tiêu đào tạo học sinh THPT chuyên 21
Trang 31.2.2 Đặc điểm sách giáo khoa và tài liệu tham khảo sinh học bậc THPT 23
1.2.3 Cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức phần sinh thái học 24
1.2.4 Thuận lợi của trường THPT chuyên trong tổ chức hoạt động học tập tự lực
26
Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TỰ LỰC
CHO HỌC SINH THPT CHUYÊN SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC 27 2.1 Tổ chức hoạt động học tập tự lực với sách giáo khoa 27
2.1.1 Hình thức tổ chức hoạt động học tập tự lực với sách giáo khoa 27
2.1.2 Quy trình tổ chức hoạt động học tập tự lực với sách giáo khoa 27
2.1.2.1 Học sinh tự tóm tắt nội dung bài học 28 2.1.2.2 Tổ chức tự phát hiện câu hỏi thảo luận 29 2.1.2.3 Tổ chức thảo luận các vấn đề trọng tâm của bài học 30
2.1.3 Giáo án minh hoạ 31
2.2 Tổ chức hoạt động học tập tự lực với tài liệu tham khảo 33
2.2.1 Hình thức tổ chức hoạt động học tập tự lực với tài liệu tham khảo 33
2.2.2 Quy trình sử dụng kiểm tra - đánh giá để rèn kĩ năng đọc tài liệu tham khảo
34
2.2.2.1 Lựa chọn nội dung kiểm tra 34 2.2.2.2 Xây dựng đề kiểm tra 34 2.2.2.3 Kiểm tra và đánh giá kỹ năng đọc tài liệu tham khảo 35
2.2.3 Đề kiểm tra minh họa 36
2.2.4 Phạm vi áp dụng biện pháp sử dụng kiểm tra đánh giá để rèn kĩ năng đọc tài
liệu tham khảo 39
2.3 Hướng dẫn tổ chức xemina 39
2.3.1 Ưu điểm của biện pháp hướng dẫn tổ chức xemina 39
2.3.2 Quy trình hướng dẫn tổ chức xemina 40
2.3.2.1 Lựa chọn nội dung xemina 40 2.3.2.2 Phân nhóm và giao chủ đề cho các nhóm 41 2.3.2.3 Hướng dẫn thực hiện xemina 41
Trang 42.3.2.4 Tổ chức xemina 43
2.3.3 Phạm vi áp dụng của hoạt động hướng dẫn tổ chức xemina 44 Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 45
3.1 Mục đích thực nghiệm 45
3.2 Nội dung thực nghiệm 45
3.3 Phương pháp thực nghiệm 46
3.3.1 Bố trí thực nghiệm 46 3.3.2 Xử lý số liệu 46 3.3.2.1 Biện pháp tổ chức hoạt động học tập tự lực với sách giáo khoa 46
3.3.2.2 Biện pháp sử dụng kiểm tra đánh giá để rèn kĩ năng đọc tài liệu tham khảo 47
3.3.2.3 Biện pháp hướng dẫn tổ chức xemina 47
3.4 Kết quả thực nghiệm 47
3.4.1 Biện pháp tổ chức hoạt động học tập tự lực với sách giáo khoa 47 3.4.1.1 Bài 48 Ảnh hưởng của các nhân tố lên đời sống sinh vật 48
3.4.1.2 Bài 52 Các đặc trưng cơ bản của quần thể 51
3.4.1.3 Bài 57 Mối quan hệ dinh dưỡng 53
3.4.2 Biện pháp sử dụng kiểm tra đánh giá để rèn kĩ năng đọc tài liệu tham khảo 55 3.4.2.1 Bài kiểm tra số 1 55
3.4.2.1 Bài kiểm tra số 2 60
3.4.3 Biện pháp hướng dẫn tổ chức xemina 67 3.4.3.1 Đánh giá nội dung kiến thức 86
3.4.3.2 Đánh giá kỹ năng thuyết trình 89
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Đề nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, những tiến bộ về khoa học và kĩ thuật đã và đang không ngừng gia tăng với tốc độ như vũ bão Nếu giáo dục chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức thì người học sẽ bị lâm vào tình trạng quá tải vì bị nhồi nhét kiến thức một cách quá đáng Trước yêu cầu đó dạy học trong nhà trường THPT phải chuyển mạnh từ dạy học đơn thuần là truyền thụ kiến thức sang dạy phương pháp học Hình thức tổ chức dạy học sẽ phải tăng cường hoạt động tự lực của học sinh, trú trọng rèn kĩ năng học, khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề Từ đó phát triển năng lực tự học để người học có khả năng học tập suốt đời, đồng thời có thể thích ứng với sự biến động của cuộc sống
Ở nước ta, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề cấp thiết mang tính thời sự đối với sự nghiệp giáo dục Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã
Trang 6đưa ra nhận định: “Sau gần 15 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng còn những yếu kém, bất cập” Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định phải: “đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học”
Trong giáo dục THPT ở nước ta, nhà trường THPT chuyên là một môi trường được đặc biệt quan tâm - là cái nôi đào tạo nhân tài cho đất nước Dạy học trong trường THPT Chuyên trước hết phải đạt được yêu cầu cơ bản trên; hơn nữa phải phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ của các em học sinh Song trên thực tế các trường THPT chuyên vẫn dạy học nhồi nhét kiến thức, chưa phát huy được khả năng tự học, làm thui trột tính sáng tạo của học sinh Do vậy việc trú trọng đổi mới phương pháp dạy học ở các trường THPT chuyên là hết sức cần thiết
Sinh học là môn học nghiên cứu cấu trúc và các quá trình sinh lý diễn ra trong
cơ thể sống, nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật với sinh vật và sinh vật với môi trường Vì vậy phương pháp dạy học môn sinh học sẽ có những đặc thù riêng so với các môn học khác Hiện nay đã có một số đề tài nghiên cứu về tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT thông qua dạy học môn sinh học Song tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh chưa được nghiên cứu một cách cụ thể
Bộ Giáo dục - Đào tạo vừa ban hành sách giáo khoa Sinh học 12 mới, trong đó phần sinh thái học được các tác giả trình bầy với nhiều khái niệm khó Do đó sẽ phù hợp để tổ chức các hoạt động học tập tự lực cho học sinh chuyên
Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài:
“Tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh trung học phổ thông chuyên sinh học trong dạy học phần sinh thái học, sách giáo khoa sinh học lớp 12”
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài
Vấn đề phát huy tính tự lực trong học tập của học sinh trong quá trình dạy học được các nhà giáo dục học quan tâm ngay từ thời cổ đại, chẳng hạn như Sôcrat đã
đề ra phương pháp ơristic, buộc người học phải tích cực suy nghĩ để trả lời câu hỏi, tìm ra chân lý dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Ở Anh, vào những năm 1920 đã hình thành những “Nhà trường mới”, đặt vấn
đề phát triển năng lực trí tuệ của trẻ, khuyến khích các hoạt động do chính học sinh
tự quản Xu hướng này đã có ảnh hưởng đến Hoa Kì và nhiều nước châu Âu
Ở Pháp, sau đại chiến thế giới thứ hai đã ra đời “Lớp học kiểu mới” tại một số trường trung học thí điểm Điểm xuất phát của mỗi hoạt động đều tùy thuộc vào sáng kiến, hứng thú, lợi ích, nhu cầu của học sinh, hướng vào sự phát triển nhân cách trẻ
Ở Hoa Kì, ý tưởng dạy học cá nhân hóa ra đời vào những năm 1970 đã được thử nghiệm ở gần 200 trường: giáo viên xác định mục tiêu, cung cấp phiếu hướng dẫn để học sinh tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với năng lực Những năm gần đây, đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích cực hóa người học, với các biện pháp tổ chức cho học sinh hoạt động học tập tự lực đã trở thành xu hướng của nhiều quốc gia trên thế giới [49, tr 9-10]
2.2 Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài
Vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động của học sinh nhằm đào tạo những con người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục nước ta từ những năm 1960 Khẩu hiệu “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” từ
đó cũng đã đi vào các trường sư phạm
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh đã trở thành vấn đề quan trọng, cấp bách của nền giáo dục nước ta hiện nay và đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo được công bố, xuất bản:
Trang 8Nguyễn Kỳ: “Phương pháp giáo dục tích cực”, (1994)
Trần Bá Hoành: “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, (1993)
Đinh Quang Báo: “Dạy học Sinh học ở trường phổ thông theo hướng hoạt động hóa người học”, kỷ yếu hội thảo khoa học, 1-1995
Nguyễn Đức Thành: “Dạy bài liên kết gen bằng con đường suy diễn lý thuyết”, (1986)
Nghiên cứu sâu hơn về hoạt động học tập tự lực có một số tác giả sau: Bùi Thúy Phượng với đề tài “Sử dụng câu hỏi để tổ chức cho học sinh tự lực nghiên cứu sác giáo khoa trong giảng dạy sinh thái học 11”, luận văn thạc sĩ giáo dục (2001); Phạm Bích Ngân với đề tài “Tổ chức hoạt động học tập tự lực trong dạy học sinh thái học lớp 11 – THPT”, luận văn thạc sĩ giáo dục; Ngô Đình Qua với đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tự lực trong học tập của học sinh trung học phổ thông” luận án tiến sĩ giáo dục (2004)
Đề tài của tác giả Bùi Thúy Phượng đi sâu vào việc thiết kế các câu hỏi để học sinh dựa trên các câu hỏi thiết kế sẵn, tự tìm hiểu các thông tin trong sách giáo khoa, từ đó nắm vững nội dung kiến thức Tác giả Phạm Thị Bích Ngân có phổ nghiên cứu rộng hơn; bên cạnh việc thiết kế các câu hỏi, tác giả đề xuất thêm hình thức sử dụng phiếu học tập, băng hình để tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh Tuy nhiên tính tự lực của học sinh trong các đề tài trên vẫn chưa thể hiện rõ nét, hầu hết các câu hỏi, phiếu học tập của học sinh vẫn là do giáo viên thiết kế cho học sinh làm
Đề tài luận án tiến sĩ giáo dục của tác giả Ngô Đình Qua nghiên cứu khá sâu
về tính tự lực trong học tập, song các biện pháp tác giả đưa ra quá rộng, bao gồm
cả các biện pháp tâm lý cũng như phối kết hợp gia đình, nhà trường Từ đó sẽ khó thực hiện trong tầm khả năng của một giáo viên bộ môn
Bên cạnh đó, học sinh chuyên có niềm ham thích đặc biệt đối với môn sinh học, có sự đầu tư nhất định về thời gian, trí tuệ cho môn sinh học Do đó tổ chức
Trang 9hoạt động học tập tự lực cho học sinh chuyên chắc chắn sẽ có những nét khác biệt Tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh chuyên Sinh học bậc THPT Trong đề tài này, chúng tôi sẽ cố gắng xác định được các biện pháp cụ thể để tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học
3 Mục đích nghiên cứu
Xác định được các biện pháp cụ thể để tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học trong dạy học phần sinh thái học
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học
Khách thể nghiên cứu: giáo viên dạy sinh học và học sinh Chuyên sinh tại trường THPT chuyên
6 Giả thuyết khoa học
Tổ chức cho học sinh tự đọc sách giáo khoa, tự đọc tài liệu tham khảo, làm xemina sẽ tăng tính tích cực, chủ động và rèn được các kỹ năng học cho học sinh
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định được cơ sở của việc tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học thông qua dạy học phần sinh thái học
Xây dựng được quy trình tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học
Trang 10Đề xuất các biện pháp cụ thể để tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học trong dạy học phần sinh thái học
Thiết kế các giáo án, xây dựng đề kiểm tra, lựa chọn chủ đề xemina theo hướng tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học
Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của luận văn
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu tổng quan các tài liệu có liên quan như: Lý luận dạy học sinh học, tâm lý học sư phạm; các luận văn, luận án, tài liệu hướng dẫn chuyên môn; các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của nghành Giáo dục; đặc biệt là các tài liệu liên quan đến tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT
8.2 Phương pháp điều tra
Trao đổi với giáo viên giảng dạy môn sinh học tại các trường THPT chuyên
về thực trạng giảng dạy môn sinh học và các biện pháp tổ chức hoạt động học tập
tự lực cho học sinh THPT chuyên
Lập phiếu khảo sát nhằm đánh giá tính tích cực, chủ động của học sinh chuyên sinh học đối với việc học môn sinh học tại một số trường THPT chuyên
8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đề tài nghiên cứu tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học Trong khi đó mỗi trường THPT chuyên chỉ có một lớp chuyên sinh Mặt khác chất lượng tuyển sinh đầu vào cũng như đặc điểm tâm lý học sinh của các trường chuyên của các tỉnh rất khó tương đương nhau Do đó không thể tiến hành thí nghiệm song song với nhóm lớp thực nghiệm và nhóm lớp đối chứng
Chúng tôi đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh học trong dạy học sinh trong dạy học phần sinh
Trang 11thái học Với mỗi biện pháp, chúng tôi xây dựng mục tiêu học sinh cần đạt được sau khi triển khai hoạt động Kết quả thực nghiệm sẽ được đối chiếu với mục tiêu đặt ra nhằm đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong giả thuyết
9 Những đóng góp mới của luận văn
Đề xuất được 03 biện pháp để tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh
Xây dựng được quy trình tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh
Thiết kế được 03 giáo án, xây dựng được 02 đề kiểm tra, lựa chọn được 02 chủ đề xemina theo hướng tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT chuyên sinh
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương1: Cơ sở của việc tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT
chuyên sinh trong dạy học phần sinh thái học
Chương 2 Các biện pháp tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT
chuyên sinh học trong dạy học phần sinh thái học
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TỰ LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN SINH HỌC TRONG
DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC
1.1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động học tập tự lực cho học sinh THPT
1.1.1 Tính tự lực
Xét về khía cạnh tâm lý, hầu hết các nhà tâm lý học, giáo dục học đều tán thành quan điểm cho rằng tính tự lực là một phẩm chất trung tâm của nhân cách Các tác giả theo quan điểm này là I Kon, A.A Liublinxkaia, E.G Mikhailốpxki, A.N Leônchiép, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Thạc, Nguyễn Thanh Huyền
I Kon cho rằng: tính tự lực là một phẩm chất của nhân cách thể hiện sự không phụ thuộc, khả năng tiếp nhận và ra những quyết định quan trọng, sẵn sàng chịu trách nhiệm về hành vi của mình, tin tưởng rằng những hành vi của mình là đúng và
có giá trị xã hội, có thể thực hiện được và phù hợp với đạo lý
A.A Liublinxkaia cho rằng: tính tự lực là phẩm chất rộng của nhân cách, thể hiện trong các tình huống khác nhau của đời sống xã hội, đảm bảo cho con người giải quyết các nhiệm vụ một cách tự lực bằng các cách thức nhất định Như vậy, phẩm chất tự lực còn thể hiện phương thức hoạt động mang màu sắc cá nhân, bao hàm cả khía cạnh cá tính của con người trong hoạt động, thể hiện sự khác biệt giữa người này và người khác [36, tr 26]
Hiện nay các nhà giáo dục học đều khẳng định tính tự lực là một phẩm chất ổn định của nhân cách, có ý nghĩa rộng lớn đối với sự phát triển đời người, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người Tính tự lực thể hiện ở sự hợp nhất những biểu hiện cá nhân lên việc mục đích hóa, động cơ hóa bên trong các ngồn lực, phương tiện để thực hiện các chương trình hành động đã lựa chọn, không có sự tham gia từ bên ngoài
Trang 14Khi nghiên cứu về xây dựng các biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo năm đến sáu tuổi, tác giả Nguyễn Thanh Huyền đã đưa ra nhận định khái quát về tính tự lực như sau:
Tính tự lực là một phẩm chất của nhân cách được hình thành trong quá trình
hoạt động, thể hiện mối quan hệ của các cá nhân với các sự vật hiện tượng, với người khác và với bản thân Nó đặc trưng cho thái độ không phụ thuộc, sẵn sàng chịu trách nhiệm và niềm tin vào năng lực của mình, thói quen tự giác trong việc đặt mục đích, nhiệm vụ và tự điều khiển, kiểm tra bản thân, sử dụng tối đa các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực và ý chí nhằm đạt được mục đích đã định nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội.[36, tr 27]
Tính tự lực liên quan chặt chẽ đến biểu hiện của tính cực, ý chí, tình cảm và các quá trình nhận thức Để phát huy tính tự lực con người cần có một số yếu tố sau:
- Kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về các lĩnh vực hoạt động
- Quan hệ cá nhân tới các thành phần của hoạt động như: mục đích, nhiệm vụ, kết quả, khả năng tự điều khiển và kiểm tra bản thân
- Niềm tin vào sức mình; có tình cảm với kết quả và quá trình tự hoạt động; có
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo thì tính tích cực nhận thức là: thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động,
Trang 15vừa là phương tiện, là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân
Xét về nguồn gốc thì cả tính tích cực và tính tự lực đều bắt nguồn từ nhu cầu nhận thức Người học sinh tích cực, tự giác học tập khi bản thân họ có nhu cầu chiếm lĩnh tri thức, nhu cầu tự khẳng định mình hoặc nhu đạt một mục tiêu nào đó trong học tập (thi đỗ chẳng hạn) Từ nhu cầu đó, học sinh sẽ huy động các chức năng tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí) trong mô hình tâm lý của hoạt động nhận thức để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng Tuy nhiên tính tích cực nghiêng nhiều về mặt tâm lý của hành động, để có tính tích cực nhận thức, học sinh có thể chỉ cần nhu cầu nhận thức Song để có được tính tự lực trong học tập, bên cạnh nhu cầu, học sinh cần phải có phương pháp học tập, có năng lực và tính tổ chức học tập Điều đó đảm bảo duy trì tính tích cực trong suốt quá trình học tập cũng như trong các nhiệm vụ học tập thực sự khó Chính vì vậy có thể nói tính tích cực nhận thức có liên hệ với tính tự lực trong học tập nhưng hai phẩm chất này không đồng nhất với nhau được vì về mặt cấu trúc chúng có sự khác biệt
1.1.2 Hoạt động học tập tự lực
Trước tiên cần xem xét khái niệm hoạt động học Dạy học là một hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó nhằm hình thành và phát triển nhân cách của người học, là sự vận động của một hoạt động kép, trong đó diễn ra cả 2 hoạt động có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong một khoảng không gian và thời gian nhất định là: hoạt động dạy và hoạt động học [45, tr 89-90]
Như vậy, hoạt động học là hoạt động của người học hướng vào đối tượng học (là các kinh nghiệm xã hội), tiếp nhận và chuyển hoá nó, biến thành của riêng, qua
đó phát triển nhân cách của chính bản thân mình
Trang 16Về hoạt động học tập tự lực, B.P.Êxipốp đã đề cập đến công tác tự lực của hoạc sinh trong giờ học Tác giả viết: “Công tác tự lực của học sinh được đưa vào quá trình dạy học là công tác được không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên, nhưng theo bài làm mà giáo viên giao cho trong khoảng thời gian giành riêng cho nhiệm
vụ này; ở đây học sinh tự giác vươn tới đích đã vạch ra trong bài, biểu hiện mọi nỗ lực của mình và thể hiện kết quả hoạt động trí tuệ hoặc hoạt động thể lực của mình (hoặc cả hai mặt hoạt động) dưới một dạng nào đó”
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt, thì “tính độc lập hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ học sinh tự mình phát hiện vấn đề, tự mình đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết được” [26, tr 10]
Vậy có thể nhận thấy có 2 dạng hoạt động học tập tự lực: (1) Học tập tự lực có hướng dẫn của giáo viên và mức độ cao hơn là (2) Học tập tự lực không có hướng dẫn của giáo viên (hay còn gọi là hoạt động tự học) Trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài, chúng tôi tập trung chủ yếu vào khái niệm thứ nhất là học tập tự lực có hướng dẫn của giáo viên
Từ những khái niệm trên kết hợp với khái niệm về tính tự lực của tác giả Nguyễn Thanh Huyền chúng tôi đưa ra khái niện về hoạt động học tập tự lực như sau:
Hoạt động học tập tự lực là hoạt động học tập mà học sinh thực hiện các nhiệm học tập một cách độc lập, sẵn sàng chịu trách nhiệm và tin tưởng vào năng lực của mình; sử dụng tối đa các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo; có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực và ý chí để giải quyết các nhiệm vụ học tập; có thói quen tự giác trong việc đặt mục đích, nhiệm vụ và tự điều khiển, kiểm tra bản thân trong quá trình học tập
Theo chúng tôi biểu hiện cụ thể của tính tự lực trong học tập gồm:
- Học sinh ý thức được nhu cầu, mục đích học tập của bản thân mình
Trang 17- Học sinh có thể tự xây dựng kế hoạch học tập cho bản thân, tự giác thực hiện nghiêm túc kế hoạch Có khả năng tự kiểm tra, điều chỉnh kế hoạch của bản thân trong quá trình học tập
- Chủ động đưa ra ý kiến riêng, mạnh dạn tham gia thảo luận, tự tin vào kiến thức của mình
- Huy động tối đa kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để đạt hiệu quả cao trong hoạt động học tập
- Có sự nỗ lực về ý chí để thực hiện các nhiệm vụ học tập
1.1.3 Tổ chức hoạt động học tập tự lực
1.1.3.1 Lựa chọn phương pháp dạy học
Trước hết cần xem xét mối quan hệ bộ ba Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp Trước đây mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp thường được tiếp cận theo sơ đồ tuyến tính
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ bộ ba Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp dạy học
Theo sơ đồ tuyến tính, mục tiêu chi phối quyết định nội dung dạy học, nội dung dạy học lại quyết định phương pháp dạy học Người ta dựa vào mục tiêu để cấu trúc nội dung dạy học, sau đó lại căn cứ vào nội dung để lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp nhất để giảng dạy hiệu quả những nội dung kiến thức đã lựa chọn Tuy nhiên ngày nay mục tiêu dạy học là hướng vào việc chuẩn bị cho người học sớm thích ứng với xã hội, hòa nhập phát triển cộng đồng, tôn trọng nhu cầu, lợi ích, năng lực của học sinh chứ không phải chăm lo trước hết đến việc thực hiện