TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2 --- --- TRẦN THỊ THÚY HẰNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC, TỰ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO SINH VI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
- -
TRẦN THỊ THÚY HẰNG
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
TỰ HỌC, TỰ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC SƢ
PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH Ở TRUNG TÂM
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
- -
TRẦN THỊ THÚY HẰNG
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TỰ HỌC, TỰ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SƯ
PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH Ở TRUNG TÂM
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Người hướng dẫn khoa học: ThS VŨ MẠNH HÀ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm trân trọng và chân thành tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Trung tâm GDQP Hà Nội 2, Phòng Đào tạo - quản lý sinh viên, các cơ quan liên quan đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn, biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong nghiên cứu khoa học Đặc biệt xin được trân trọng cảm ơn Thạc sĩ Vũ Mạnh Hà đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Giáo dục quốc phòng và an ninh
Xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc, các cán bộ, giảng viên, nhân viên, sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2; bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã tận tình giúp đỡ, động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Mặc dù trong quá trình học tập, tìm tòi, nghiên cứu bản thân rất nỗ lực và cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà giáo và đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tác giả
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự
bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2” đến thời điểm hiện tại cũng chưa có công trình nghiên cứu nào
về vấn đề này, nên không có sự trùng lặp với các đề tài khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc Việc hoàn thành khóa luận là sự nỗ lực cố gắng rất lớn của bản thân
Tác giả
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TỰ HỌC, TỰ BỒI
DƯỠNG NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ
1.1
1.2
Một số vấn đề về tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm……
Nội dung cơ bản về tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm…
6
9
Chương 2: THỰC TRẠNG TỰ HỌC, TỰ BỒI DƯỠNG NĂNG
LỰC SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN NGÀNH GDQP
VÀ AN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2………… 15 2.1 Khái quát quá trình xây dựng, phát triển Trung tâm GDQP
Hà Nội 2……… ……… 15 2.2 Thực trạng về tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh
viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2…… 19 2.3 Nguyên nhân thực trạng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư
phạm của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP
Hà Nội 2……… 23
Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC,
TỰ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2……… ……….……… 26 3.1 Các nguyên tắc trong đề xuất biện pháp……… 26 3.2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng
năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung
tâm GDQP Hà Nội 2……… 27
Trang 63.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 41 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Bảng 3.1 Đánh giá của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm
về sự cần thiết của các biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên
34
Bảng 3.2
Đánh giá của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 về tính khả thi của các biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên
36
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng, trọng tâm là nâng cao năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên là nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục chuyên nghiệp nói chung và dạy học ở đại học, cao đẳng nói riêng Đồng thời nó cũng là mục tiêu hướng tới của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đang được đặt ra
trong toàn ngành GD & ĐT
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh cho các trường và nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDQP và
AN Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2020 đã xác định: Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 02/11/2005 về
“Đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục Đại học Việt Nam trong giai đoạn 2006 -
2020” Đổi mới cơ bản toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về
chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng XHCN
Thực hiện nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Nghiên cứu học tập ở trường đại học, học tập theo học chế tín chỉ đặt ra yêu cầu rất cao đối với người học Trong học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải làm chủ
Trang 10được thời gian, trong đó thời gian cho tự học, tự bồi dưỡng, nghiên cứu là chủ yếu
Tự học, tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu để tích lũy kiến thức, rèn luyện các kỹ năng học tập, kỹ năng thí nghiệm, kỹ năng thực hành nghề nghiệp
Năng lực sư phạm là tổ hợp những kiến thức, kỹ năng thái độ cần thiết để thực hiện thành công các công việc chuyên môn của nghề dạy học theo những tiêu chuẩn, tiêu chí đặt ra đối với từng công việc đó
Năng lực sư phạm được phát triển trong suốt cả cuộc đời hoạt động nghề nghiệp của giáo viên; trong đó giai đoạn đào tạo ban đầu ở các trường sư phạm hoặc các cơ sở giáo dục có đào tạo giáo viên giữ vai trò nền tảng
Giáo dục quốc phòng và an ninh là môn học nằm trong chương trình dạy học của các trường THPT và là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, góp phần giáo dục thế hệ tương lai của đất nước có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Môn học này có tác dụng rèn luyện tác phong nghiêm túc, tinh thần đoàn kết, ý thức tổ chức kỷ luật trong học sinh Mặc dù có vai trò, vị trí quan trọng như vậy nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, chất lượng dạy và học môn GDQP và AN trong nhà trường thời gian qua còn bị xem nhẹ, chưa thực sự chú trọng
Mặt khác hiện nay đội ngũ giáo viên giảng dạy môn học GDQP và AN chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Trong những năm qua các cơ sở đào tạo đã và đang thực hiện đề án của Chính phủ đào tạo đội ngũ giáo viên GDQP và AN tiến tới chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy môn học GDQP và
AN theo quy định Bên cạnh đó các sinh viên học ngành cử nhân sư phạm GDQP
và AN cũng phải tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của mình để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đòi hỏi
Tuy nhiên với đặc thù môn học và thực tế sinh viên sư phạm nói chung và sinh viên sư phạm ngành GDQP và AN nói riêng ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 trong quá trình đào tạo cũng như sau khi ra trường cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế nhất định, đặc biệt là năng lực sư phạm Thực tế khi sinh viên đang còn ngồi trên ghế nhà trường với cương vị là người học, đa số sinh viên còn bị động trong học
Trang 11tập, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập, chưa tự tìm tòi khám phá tri thức, rèn luyện các kĩ năng sư phạm… do vậy khi ra trường bị thiếu hụt năng lực sư phạm là điều khó tránh khỏi
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 2 là yêu cầu tất yếu, khách quan, là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện
nay Do vậy tôi chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng
năng lực sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất môt số biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN nhằm góp phần nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ của Trung tâm GDQP Hà Nội 2 trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm
- Đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
- Đề xuất một số biện pháp tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay, nhằm góp phần nâng cao chất lượng GD & ĐT nói chung, nâng cao năng lực sư phạm nói riêng
- Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng việc tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2; từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP
và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên ngành GDQP và AN (K38, 39, 40, 41) ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu; để nghiên cứu tác giả đã thu thập, tổng hợp phân tích các tài liệu liên quan
Phương pháp khái quát hóa nhận định khách quan: dựa trên những nhận định, đánh giá, đóng góp ý kiến của các chuyên gia, các nhà giáo
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra bằng phiếu câu hỏi với sinh viên
5.3 Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát các sinh hoạt, hoat động của sinh viên ở TTGDQP Hà Nội 2 cũng như hoạt động tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên nhằm thu nhập các tư liệu bổ sung
5.4 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành trao đổi trực tiếp các sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2, các cán bộ quản lý sinh viên và các phòng, khoa, các đơn vị có liên quan
5.5 Phương pháp thống kê toán học
- Xử lý số liệu, kết quả nghiên cứu
- Nhận định đánh giá chính xác, khách quan kết quả nghiên cứu
6 Giả thuyết khoa học
Hoạt động tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập; nếu phân tích đánh giá đúng thực trạng hoạt động tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên hiện nay, tìm ra được nguyên nhân tồn tại; đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nói chung, và giúp cho sinh viên vững vàng hơn khi tốt nghiệp ra trường nói riêng
Trang 137 Cấu trúc khóa luận
- Phần mở đầu
- Nội dung: gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm
cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Chương 2: Thực trạng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên
ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay
Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư
phạm của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
- Kết luận, kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 141.1.1 Lý luận về tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm
1.1.1.1 Khái niệm tự học, tự bồi dưỡng
Theo Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và các khả năng cơ bắp, cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm và nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến nó thành sở hữu của mình”
Như vậy qua định nghĩa ta hiểu rằng việc tự học đã được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một số kiến thức nào đó bằng sự nỗ lực của bản thân, cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó Tự học là nói đến nội lực của người học, chất lượng của học tùy thuộc chủ yếu vào nội lực, đòi hỏi ý chí của bản thân sinh viên Hiện nay, việc đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình đào tạo và phương pháp dạy học trong giáo dục Đại học và Cao đẳng là một trong những yêu cầu cần thiết Một trong những đòi hỏi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Đại học giúp cho sinh viên có khả năng tự học Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định: “đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự bồi dưỡng cho sinh viên, nhất là sinh viên Đại học” Có thể nói, tự học là nhân tố trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học Khi một học sinh trở thành một sinh viên đại học, họ bắt đầu làm quen với phương thức học tập hoàn toàn mới Phương thức chủ yếu của trường Đại học trong giai đoạn này là nhanh chóng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo mà thực chất là làm cho sinh viên tự
Trang 15hoàn thiện và làm phong phú thêm vốn tri thức bằng sự nỗ lực tự học, tự bồi dưỡng Sinh viên đại học, học phương pháp là chủ yếu Giờ đây, thầy cô giáo đóng vai trò
là những người hướng dẫn học tập, và các giờ lên lớp chỉ cung cấp được những kiến thức cơ bản nhất, những tài liệu cơ bản, còn việc học tập của sinh viên là sắp xếp trình tự, thời gian để nghiên cứu nắm tài liệu cơ sở và cả tài liệu tham khảo mở rộng Thêm vào đó, không còn sự kiểm tra sát sao của giáo viên, kết quả học tập dồn hết vào kỳ thi hết học phần, hết môn Kết quả này phụ thuộc vào bản thân sinh viên chủ yếu Công tác tự học, tự bồi dưỡng của sinh viên ngày càng tăng lên, ngày càng đòi hỏi nhiều cố gắng nỗ lực vì chỉ có tự học mới trang bị cho mình kiến thức mới nhất, khoa học nhất và thu được nhiều kinh nghiệm cho thực tiễn hoạt động và đạt kết quả như mong muốn Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng tự học còn góp phần nâng cao thành tích, hoạt động trí tuệ của sinh viên trong việc hiểu và tiếp thu tri thức mới Tự học với sự nỗ lực và tư duy sáng tạo đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của vấn đề Trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng sinh viên sẽ gặp phải nhiều vấn đề mới và việc đi tìm lời giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ cho sinh viên Nếu thiếu đi
sự nỗ lực tự học, tự bồi dưỡng của bản thân sinh viên thì kết quả không thể cao cho
dù điều kiện ngoại cảnh có thuận lợi đến mấy (giáo viên giỏi, tài liệu hay và đầy đủ…) Tự học được tổ chức tốt không những cung cấp cho sinh viên những kiến thức mới mà còn giúp họ rất nhiều trong công việc sau này Họ có năng lực hoạt động thực tiễn hay không? Chất lượng công tác như thế nào? Phụ thuộc lớn vào chất lượng tự học, tự bồi dưỡng
Tự học là hình thức cá nhân tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của bản thân Tự học không chỉ giúp người học mở rộng, đào sâu những điều đã học mà còn là con đường chủ yếu để rèn luyện các kỹ năng, vận dụng, hình thành phẩm chất năng lực cá nhân Bởi vậy, tự học là hoạt động không thể thiếu của sinh viên đại học nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng Sinh viên sư phạm là những giáo viên tương lai Biết cách học vừa là phương tiện để họ tự học, không ngừng nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cho mình, vừa là phương tiện để dạy học, dạy kỹ năng học
Trang 16cho học sinh Chỉ khi giáo viên biết cách học mới có khả năng dạy cho các thế hệ học sinh biết cách học Trong thời đại mới “người thầy không phải là người bán thông tin, người thầy là người cung cấp những cái chìa khóa cho phép học sinh mở cửa vào kho tàng tri thức của chính họ” Thực tiễn giáo dục đã chứng minh rằng, chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và chỉ khi người học tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập Muốn chủ động, tích cực người học phải biết các kỹ năng học cơ bản, biết phương pháp học Có phương pháp học, người học có thể học tất cả những
gì cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần và nghề nghiệp
1.1.1.2 Quan niệm về năng lực sư phạm
Năng lực sư phạm là một năng lực chuyên biệt đặc trưng của nghề dạy học nói chung Theo GS Phạm Minh Hạc quan điểm: “Năng lực sư phạm là tổng hợp những đặc điểm tâm lí của nhân cách nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công của hoạt động”
Năng lực sư phạm là công việc chuyên môn của nghề dạy học Trong lĩnh vực giáo dục, năng lực sư phạm là khoa học về công việc chuyên môn của nghề dạy học
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên đề cập đến 5 loại năng lực có liên quan đến năng lực sư phạm:
- Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục
- Năng lực dạy học
- Năng lực giáo dục
- Năng lực hoạt động chính trị, xã hội
- Năng lực phát triển nghề nghiệp
Như vậy, năng lực sư phạm có thể được hiểu là tổng hợp những kiến thức, kĩ năng, thái độ cần thiết để thực hiện thành công các công việc chuyên môn của nghề dạy học theo những tiêu chuẩn, tiêu chí đặt ra đối với từng công việc đó
Năng lực sư phạm được phát triển trong suốt cả cuộc đời hoạt động nghề nghiệp của giáo viên; trong đó có giai đoạn đào tạo ban đầu ở các trường sư phạm hoặc cơ sở giáo dục có đào tạo giáo viên giữ vai trò nền tảng Vấn đề đặt ra đối với các trường sư phạm là làm thế nào để khẳng định được rằng: Người được đào tạo về
Trang 17năng lực sư phạm sẽ dạy học, giáo dục học sinh tốt hơn người không được đào tạo
về nội dung này
Tự bồi dưỡng năng lực sư phạm là tự mình cập nhật bổ sung thêm kiến thức,
kỹ năng cần thiết về năng lực sư phạm nhằm nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành mang tính ứng dụng
1.1.2 Sự hình thành việc tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm
Đào tạo giáo viên là một trong những hoạt động đào tạo nghề giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục Để đào tạo giáo viên có hiệu quả, ngoài cung cấp tri thức lý thuyết, việc cung cấp các kỹ năng dạy học và giáo dục thực tiễn là không thể thiếu Những kỹ năng sư phạm của sinh viên không thể hình thành tự phát và không phải sinh ra đã có, mà cần phải được rèn luyện thường xuyên, lâu dài Những kỹ năng tưởng chừng như đơn giản như: viết, vẽ bảng, thuyết trình, kỹ năng sử dụng các dụng cụ và đồ dùng dạy học, không chỉ trông cậy vào năng khiếu người học Muốn làm được thì phải học, phải thực hành Cũng phải nói thêm rằng, trước khi đi thực tập, sinh viên chưa hiểu gì nhiều về thực tế cấp học nơi
mà mình sau này phải tham gia giảng dạy
Thực tế hiện nay cho thấy, không ít những giờ dạy phương pháp chủ yếu biến thành những giờ dạy lý thuyết hàn lâm, chưa có quy trình rèn luyện bài bản Nghề giáo là nghề tự học suốt đời để tự hoàn thiện mình và nâng cao chất lượng giảng dạy
Tự học có tầm quan trọng chiến lược, có tính chất quyết định chất lượng giáo dục và dạy học trong nhà trường, bởi lẽ lao động sư phạm là lao động sáng tạo, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu và toàn diện, luôn bổ sung cái mới nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư phạm Giáo viên cần có nhiều kỹ năng để giảng dạy hiệu quả và để trang bị cho mình những kỹ năng đó không có cách nào khác hơn là tự học
1.2 Nội dung cơ bản về tự học, tự bồi dƣỡng năng lực sƣ phạm
1.2.1 Tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm thông qua rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm thường xuyên ở nhà trường
Trong quá trình đào tạo, ngoài việc tổ chức hoạt động dạy học của giảng viên
và sinh viên, nhà trường luôn quan tâm đến các hoạt động như thực hành thường
Trang 18xuyên, tổ chức hội thi nghiệp vụ sư phạm cấp khoa, cấp trường, tổ chức cho sinh viên tập soạn giáo án, tập giảng, làm công tác chủ nhiệm, tổ chức các hoạt động ngoại khóa nhằm rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho các sinh viên
Đặc biệt, trong những năm gần đây nhà trường đã đưa học phần Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên vào trong chương trình đào tạo Tuy học phần này gồm hai tín chỉ nhưng nội dung phong phú, bao gồm các lĩnh vực khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn Học phần này được tiến hành dạy trong 3 năm, qua học phần này giúp sinh viên vận dụng những kiến thức
đã học vào thực tiễn, đó là dịp các sinh viên được trải nghiệm với hoạt động dạy học - giáo dục ở thực tế trường phổ thông
Trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ cho sinh viên năm thứ nhất, nhận thấy sinh viên còn thiếu tự tin, e ngại không dám lên thực hành (tập bước vào lớp chào học sinh, tập viết bảng, tập xử lý tình huống sư phạm qua phương pháp đóng vai) Đặc biệt qua các đợt kiến tập sư phạm của sinh viên năm thứ ba, cho thấy sinh viên còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp: chẳng hạn kỹ năng viết bảng còn hạn chế (trình bày bảng chưa được khoa học, chữ viết chưa thẳng hàng); chưa có kỹ năng soạn bài (xác định mục tiêu bài giảng, xác định nội dung trọng tâm bài giảng, lúng túng trong việc sử dụng phương pháp dạy học), nội dung bài giảng còn nông cạn, ít gắn lý luận với thực tiễn, chưa có kỹ năng xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kỹ năng nói trước tập thể lớp, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế (trong giao tiếp với giáo viên hướng dẫn và học sinh, sinh viên còn rụt rè, e ngại, có sinh viên không biết nói gì với học sinh đặc biệt trong khi giảng bài, nét mặt của sinh viên còn lo lắng, căng thẳng, động tác của tay còn thừa đôi khi còn giơ lên gãi đầu, gãi tai )
Mỗi sinh viên luôn nhận thức được tầm quan trọng của rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm, trong quá trình học tập ở nhà trường bên cạnh việc trau dồi kiến thức chuyên môn, ngay từ đầu sinh viên phải chủ động, tích cực rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và một số kỹ năng mềm khác như kỹ năng nói trước đám đông, kỹ năng giao tiếp Trong mỗi giờ học trên lớp, sinh viên không ngừng học hỏi ở giáo viên về phương pháp dạy học và kinh nghiệm ứng xử
Trang 19Tích cực tham gia các cuộc thi nghiệp vụ sư phạm do nhà trường tổ chức để sinh viên bước đầu có những hiểu biết về nghề dạy học, hình thành ở các sinh viên
kỹ năng xử lý tình huống sư phạm xảy ra ở trường phổ thông Đây là hoạt động thường niên của trường Có thể thấy, nội dung thi nghiệp vụ sư phạm cấp trường đã
có mặt cả kỹ năng dạy học và kỹ năng giáo dục Thực tế các cuộc tranh tài giữa các Khoa đã làm nên những mùa thi sôi nổi, làm khuấy động lên không khí nghiệp vụ
sư phạm trong toàn trường dù chỉ trong thời gian ngắn
1.2.2 Tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm thông qua hình thức kiến tập - thực tập sư phạm
Cũng như sinh viên của bất cứ các trường đào tạo nghề nào khác, sinh viên các trường sư phạm cũng phải trải qua một khâu tất yếu trong quá trình học tập của mình, khâu “Thực tập nghề”, mà trong trường sư phạm gọi là “Thực tập sư phạm”
Thực tập sư phạm là điều kiện cần thiết để hình thành khuynh hướng nghề nghiệp sư phạm, hình thành nhân cách của người giáo viên tương lai, đó cũng là điều kiện giúp trường sư phạm có khả năng kiểm tra mức độ khuynh hướng nghề nghiệp của sinh viên
Theo Nguyễn Đình Chinh, thực tập sư phạm có các chức năng cơ bản như: chức năng học tập, chức năng giáo dục, chức năng phát triển giáo dục, chức năng thăm dò, chức năng chuẩn đoán
Thực tập sư phạm là hoạt động giúp cho sinh viên làm quen với nghề sư phạm Thông qua thực tập sư phạm, các nội dung chuyên môn, nghiệp vụ mà sinh viên đã tiếp thu được đem thử nghiệm vào thực tiễn giảng dạy và giáo dục Vì thế, thực tập sư phạm được coi là khâu chuyển giao giữa lý luận và thực tiễn, giữa những kiến thức học tập trong nhà trường và công việc thực tế mà sinh viên sẽ làm sau này
Thực tập sư phạm không chỉ phản ánh chất lượng đào tạo mà còn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên của trường sư phạm, thực tập sư phạm giúp cho các trường sư phạm có được những đánh giá tương đối khách quan về sản phẩm đào tạo của mình, nhờ đó có cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo, điều chỉnh nội
Trang 20dung, phương pháp đào tạo sao cho phù hợp với nhu cầu mà các nhà trường phổ thông đặt ra
Thông qua thực tập sư phạm, sinh viên có dịp nhìn nhận, đánh giá lại những kiến thức, kĩ năng mà mình đã học được, trên cơ sở đó tiếp tục tự học, tự bồi dưỡng
để hoàn thiện trình độ, năng lực cũng như là nhân cách của một người giáo viên Thời điểm thực tập sư phạm cũng là thời điểm sinh viên hình thành rõ nhất tình cảm
và thái độ đối với nghề giáo
1.2.3 Tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm trong thực tiễn dạy học
Nhiều giáo viên còn lúng túng khi mở đầu bài giảng, thậm chí bỏ hẳn khâu
mở đầu bài giảng và chính điều này làm giảm hiệu quả rất nhiều trong việc tiếp thu tri thức của học sinh dưới góc độ tâm lý học, quy luật ghi nhớ và nhớ
Giáo viên bối rối khi không biết làm thế nào để tập trung học sinh, điều khiển và làm chủ lớp học, có khi trong lớp học mạnh thầy, thầy giảng; mạnh trò, trò nói chuyện
Giáo viên khó khăn trong việc tiếp cận với học sinh hiếu động, nghịch phá và chưa có những kỹ năng thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ, động viên hay kỹ năng kết nối để “lôi kéo” học sinh cá biệt về phía mình, gần gũi mình hơn
Quá trình rèn luyện kỹ năng cho giáo viên hiện nay còn xem nhẹ Sinh viên quá ít cơ hội trải nghiệm thực tế vào các tình huống giáo dục Sinh viên sư phạm chủ yếu học trên lớp với các giảng viên Thời gian thực tập sư phạm còn quá ít, sự tương tác với giáo viên hướng dẫn thực tập còn nhiều hạn chế, nhất là về kinh nghiệm thực tiễn
Thực tế cho thấy kỹ năng sư phạm cần có sự trải nghiệm đích thực, rèn luyện lâu dài, thường xuyên Ðiều có giá trị bền vững là ở chính bản thân sinh viên sư phạm phải ý thức được vai trò của kỹ năng sư phạm với nghề nghiệp để chính các bạn có ý thức rèn luyện
Bởi vai trò của giáo dục nhà trường bao giờ cũng vấp phải những giới hạn nhất định, chỉ ở bản thân người học có nhận thức đúng, có sự chủ động thì hiệu quả
về mặt giáo dục mới được nâng cao và bền vững Có không ít câu hỏi được đặt ra: Sinh viên sư phạm hiện nay còn quá chủ quan về kỹ năng sư phạm?
Trang 21Nguyên nhân nào khiến họ chủ quan? Phải chăng phần đánh giá thực tập sư phạm hoặc kỹ năng sư phạm không mang tính quyết định đến kết quả học tập Ðiều này khiến chúng ta phải trăn trở bởi kỹ năng sư phạm là phần chủ chốt nhất trong năng lực người giáo viên
Cứ như thế, không hiếm thế hệ giáo viên này đến thế hệ giáo viên kế tiếp vẫn chưa đáp ứng được những mong mỏi và kỳ vọng của xã hội đặt ra Những sự việc đau lòng trong ứng xử sư phạm vẫn tiếp tục nảy sinh
Cần xem xét kỹ năng sư phạm như một phương tiện để người giáo viên hành nghề, không có phương tiện sẽ không thể nào hành nghề Kỹ năng sư phạm không chỉ đặt trong yêu cầu về chuyên môn nghề nghiệp mà cần thiết trong phẩm chất, nhân cách người giáo viên
Quá trình đào tạo nghiệp vụ cho giáo viên tương lai cần chú trọng thêm về mặt thời gian, sự cụ thể chứ không lồng ghép chung chung, học đi đôi với hành, tương tác với thực tiễn và được học từ những tình huống hay ví dụ trong thực tiễn
Điều này đòi hỏi người giảng viên giảng dạy nghiệp vụ sư phạm cần phải đầu tư cho mình thêm kinh nghiệm thực tiễn và có sự liên kết với giáo viên trung học để hiệu quả giảng dạy kỹ năng sư phạm đạt kết quả tốt nhất
Trang 22Hoạt động dạy học là hoạt động có mục đích, có đối tượng, phương pháp…
cụ thể Giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy, giữ nhiệm vụ là người hướng dẫn, chỉ đường, là “chất xúc tác” của quá trình học tập tích cực của sinh viên Dạy học với mục đích cuối cùng là giúp người học hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu đào tạo
Học dưới bất kì hình thức nào người học cũng phải tự học Tự học là quá trình cá nhân tập trung chú ý, tự giác, tích cực, chủ động trong hoạt động nhận thức
để đạt được mục đích học tập của mình
Tự học, tự bồi dưỡng là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao Tự học,
tự bồi dưỡng là quá trình tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và hình thành tình cảm, thái độ nghề nghiệp của sinh viên dưới vai trò chủ đạo của người dạy Tự học, tự bồi dưỡng có thể diễn
ra ở trên lớp hoặc trong quá trình tự học ở nhà và trong các hoạt động ngoại khóa
Tổ chức hoạt động tự học, tự bồi dưỡng cho sinh viên là quá trình tiến hành các biện pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên trong mọi hoạt động chính khóa, ngoại khóa nhằm góp phần hình thành năng lực sư phạm của người thầy giáo, cô giáo tương lai cho sinh viên ngành GDQP và AN Nhưng trong thực tế vấn đề này chưa được cán bộ giảng dạy trong trung tâm quan tâm một cách triệt để, đặc biệt là vấn đề tự học ở nhà của sinh viên và vấn đề tổ chức hoạt động ngoại khóa để rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên, vì vậy mà sinh viên chưa hiểu hết được ý nghĩa của môn học, chưa biết cách tổ chức hoạt động tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm
Trang 23Chương 2 THỰC TRẠNG TỰ HỌC, TỰ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2
2.1 Khái quát quá trình xây dựng, phát triển Trung tâm GDQP Hà Nội 2
2.1.1 Quá trình xây dựng và phát triển
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được thành lập theo quyết định số 2630/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 27 tháng 7 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trung tâm là cơ sở giáo dục quốc phòng và
an ninh cho sinh viên, có nhiệm vụ thực hiện quản lý tổ chức học tập, rèn luyện toàn diện đối với sinh viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2 có đội ngũ sĩ quan biệt phái thuộc
Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, được đào tạo cơ bản, chính quy tại các học viện, nhà trường quân đội và các nhà trường trong và ngoài nước
Trải qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, mặc dù gặp không ít khó khăn, đến nay Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã có những bước phát triển mạnh mẽ Hiện nay Trung tâm đã có một lực lượng cán bộ, giảng viên, nhân viên mạnh về chất lượng, hợp lý về cơ cấu Tổng số sỹ quan, viên chức có 37 người, trong đó sĩ quan biệt phái là 22 người: Đại tá 03, Thượng tá 08, Trung tá 07, Thiếu tá 01, Đại uý 03; cán bộ có trình độ thạc sỹ 08, đang NCS 02
Về công tác đào tạo, Trung tâm luôn tích cực chủ động, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của nhà trường, sử dụng tối đa quỹ thời gian, cơ sở vật chất, giảng đường, ký túc xá, đồng thời chủ động liên kết chặt chẽ với các nhà trường, cơ quan, đơn vị quân đội trên địa bàn để tổ chức đào tạo GDQP và AN cho học sinh, sinh viên Trong hơn 15 năm qua Trung tâm đã hoàn thành 170 khóa học GDQP và AN, cấp chứng chỉ cho 220.590 sinh viên của 24 trường đại học, cao đẳng trong khu vực Cùng với việc đào tạo cấp chứng chỉ môn học GDQP và AN,
Trang 24Trung tâm đã phối hợp với Trường Quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Trường Quân sự tỉnh Hải Dương, Trường Quân sự tỉnh Ninh Bình đào tạo ngắn hạn 10 khóa giáo viên GDQP và AN (470 giáo viên GDQP và AN) cho các địa phương, đào tạo
7 khoá hệ chính quy ghép môn với GDQP và AN (531 giáo viên) Thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo giáo viên GDQP và AN, hiện nay Trung tâm đang đào tạo 4 khóa (hơn 300 sinh viên) hệ chính quy 4 năm ngành sư phạm GDQP và AN
Hơn 15 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã từng bước khẳng định vị thế vững chắc trong hệ thống các Trung tâm GDQP và AN trên toàn quốc, được Hội đồng GDQP và AN Trung ương, các cơ quan của Bộ Quốc Phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội ghi nhận và đánh giá cao, đồng thời Trung tâm cũng tạo được sự tín nhiệm cao là địa chỉ đáng tin cậy để các trường đại học, cao đẳng đưa sinh viên đến học tập môn học GDQP và AN
Trong thời gian tới nhiệm vụ của Trung tâm GDQP Hà Nội 2 ngày càng nặng nề, khó khăn hơn do số học sinh, sinh viên học tập môn GDQP và AN ngày càng gia tăng Chất lượng đào tạo giáo viên ngành GDQP và AN ngày càng đòi hỏi cao hơn; công tác nghiên cứu khoa học cần đẩy mạnh hơn nữa để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
2.1.2.1 Về thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy, thời gian qua Trung tâm luôn thực hiện đúng quy chế tổ chức dạy và học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Quốc phòng về công tác GDQP và AN Tổ chức GDQP và AN cho sinh viên gần 20 trường đại học, cao đẳng khu vực Hà Nội, tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ
Để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này, Trung tâm đã đề nghị và được tăng cường đội ngũ cán bộ, giảng viên về cả số lượng, chất lượng; Trung tâm luôn chủ động, tích cực đưa giảng viên đi đào tạo sau đại học, phấn đấu đến năm 2016 có 60% giảng viên Trung tâm có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ Thường xuyên bồi dưỡng trình độ chuyên môn GDQP và AN, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng giảng dạy cho đội ngũ giảng viên
Trang 25Trung tâm thường xuyên phối hợp với các trường đại học cao đẳng bố trí, sắp xếp thời gian học tập GDQP và AN cho sinh viên từng trường hợp lý, tránh chồng chéo ảnh hưởng đến kế hoạch chung Tổ chức GDQP và AN cho sinh viên chặt chẽ, bảo đảm đúng số lớp học lý thuyết và thực hành
Công tác đào tạo luôn được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ tổ chức dạy, học, kiểm tra, thi, công nhận kết quả học tập và cấp chứng chỉ GDQP và AN cho sinh viên
Thực hiện đúng quy chế tổ chức hoạt động của Trung tâm GDQP; quy chế tổ chức dạy và học, đánh giá kết quả của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tăng cường công tác quản lý, rèn luyện sinh viên, thực hiện nghiêm túc các chế độ trong ngày, trong tuần; xây dựng môi trường văn hoá quân sự; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao sôi nổi trong sinh viên; chống các biểu hiện tiêu cực trong thi cử; chống các tệ nạn xã hội; bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội
Bảo đảm an toàn tuyệt đối các hoạt động của cán bộ, giảng viên, sinh viên khi tiến hành công tác GDQP và AN trong Trung tâm
Đầu tư cơ sở vật chất cho dạy và học, nhất là cơ sở vật chất chuyên dùng thiết bị hiện đại Xây dựng thao trường kỹ thuật, chiến thuật phù hợp với tính chất, đặc điểm và đối tượng đào tạo
2.1.2.2 Về dạy học môn giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên
Qua khảo sát bằng phỏng vấn trực tiếp, chúng tôi nhận thấy, thời gian qua việc tổ chức dạy học môn GDQP và AN cho sinh viên được Trung tâm luôn coi trọng, xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của Trung tâm Vì vậy lãnh đạo, chỉ huy Trung tâm đã tiến hành nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng dạy và học môn học GDQP và AN
Lãnh đạo, chỉ huy Trung tâm xác định vấn đề then chốt quyết định tới chất lượng, hiệu quả dạy học môn GDQP và AN là phải đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của người học Thực tế, ngay từ đầu mỗi năm học, Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã luôn quán triệt, triển khai thực hiện chỉ thị số 15
Trang 26của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đẩy mạnh hoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy và học trong các nhà trường Đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa người học, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
Đổi mới phương pháp giảng dạy, có tính quyết định đến chất lượng dạy học môn GDQP và AN Đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao nhận thức, khả năng tư duy về quốc phòng, an ninh cho sinh viên, chọn lọc phương pháp dạy học truyền thống; hạn chế dạy học nặng về lý thuyết, tăng khả năng thực hành cho người học Trung tâm GDQP Hà nội 2 tập trung theo hướng đổi mới như sau:
Xây dựng kế hoạch giảng dạy theo chương trình quy định, xác định mục tiêu cần đạt được cho từng học phần, bảo đảm đúng tiến độ, thời gian, bảo đảm cơ sở vật chất, học liệu
Đổi mới phương pháp truyền đạt nội dung môn GDQP và AN để sinh viên
có hướng nghiên cứu, làm bài tập và vận dụng được thành thạo
Đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDQP và AN bám sát trên cơ sở chương trình quy định Trung tâm đã nghiên cứu kết cấu từng phần học theo hướng tăng thời gian đọc sách, tự nghiên cứu, thảo luận, xêmina của sinh viên; gắn lý thuyết với thực hành, đưa người học đến gần hơn với thực tiễn hoạt động quân sự, quốc phòng và an ninh Để hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo của người học về môn GDQP và AN trong tổ chức dạy học, Trung tâm đã hướng người học và đặt họ vào vị trí chủ thể của hoạt động nhận thức; thông qua tự lực, tự giác của bản thân nhằm chiếm lĩnh tri thức, ở đây người học chiếm vị trí trung tâm trong quá trình dạy học
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý, quy mô đào tạo của Trung tâm
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 có đội ngũ giảng viên là sĩ quan biệt phái do Bộ
tư lệnh thủ đô Hà Nội quản lý, 100% các đồng chí giảng viên là sĩ quan biệt phái đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, được trải nghiệm nhiều qua thực tiễn tại các đơn vị quân đội chính quy, được đào tạo cơ bản, chính quy tại các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội Đội ngũ giảng viên của Trung tâm giàu kinh nghiệm trong quản lý, giáo dục và đào tạo