ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ======== NGÔ TẤN LỰC TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM Chuyên ngành : Quản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
========
NGÔ TẤN LỰC
TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS,TS Nguyễn Đức Chính
TS Lê Viết Khuyến
Hà Nội – 2009
Trang 2CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN
THÔNG CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG TRONG ĐIỀU
KIỆN VIỆT NAM 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG VÀ TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.3 QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG CỦA TRƯỜNG
CĐCĐ TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM- NỘI DUNG, MỤC
Trang 3- KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
2.2.1 Đào tạo liên thông của trường cao đẳng cộng đồng trước
năm 1975
77
2.2.2 Đào tạo liên thông trong đào tạo hai giai đoạn với vai trò
của Trường Đại học Đại cương
2.2.5 Nhận định khó khăn và thuận lợi về đào tạo liên thông của
trường cao đẳng cộng đồng hiện nay
2.4 NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẠO
LIÊN THÔNG CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
122
Trang 4CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG CỦA TRƯỜNG CAO
ĐẲNG CỘNG ĐỒNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 126
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 127
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả và khả thi 128
3.2.1 Giải pháp 1:Thiết lập nội dung tổng quát quản lý đào tạo
liên thông của trường cao đẳng cộng đồng, gắn với mục
tiêu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
128
3.2.2 Giải pháp 2: Cải tiến sự tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo và
bồi dưỡng nhân sự, đưa công tác nhân sự phục vụ hiệu quả
công tác quản lý đào tạo liên thông
133
3.2.3 Giải pháp 3: Tăng cường quản lý xây dựng chương trình
đào tạo và chương trình đào tạo liên thông
138
3.2.4 Giải pháp 4: Hoàn thiện sự chỉ đạo công tác tuyển sinh đào
tạo liên thông và liên kết đào tạo
150
3.2.5 Giải pháp 5: Đổi mới phương pháp dạy- học và kiểm tra
đánh giá dạy- học trong đào tạo liên thông
160
3.3 THỰC NGHIỆM VÀ LẤY THÔNG TIN PHẢN HỒI 162
3.3.1 Mục tiêu thực nghiệm và lấy thông tin phản hồi 163
3.3.4 Thời gian, phương pháp thực nghiệm 163
Trang 53.3.5 Triển khai thực nghiệm 164 3.3.6 Kết quả sau một học kỳ thực nghiệm Khóa I 167 3.3.7 Tuyển sinh Đào tạo liên thông Khoá II 179 3.3.8 Tuyển sinh Đào tạo liên thông Khoá III 179 3.3.9 Tổng hợp ý kiến và đánh giá từ người học 179 3.3.10 Kết luận chung về thực nghiệm 180
Trang 6thành gánh nặng dân số, cản trở thu hút đầu tư Theo Homi Kharas, Học viện
Brookings: “Hệ thống GD ở Việt Nam rất thiếu linh hoạt và chưa đáp ứng được nhu
cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp”; Vũ Đức Vương, chuyên gia xã hội học của
Trường CĐCĐ De Anza (Hoa Kỳ) đánh giá nền GD, đặc biệt nền GDĐH của Việt
Nam, “đang ở thế nguy” khi không ĐT đủ tài năng để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế đất nước [84, tr.20] Cũng nhận định tương tự, trong buổi gặp báo chí trước
khi rời nhiệm sở, tháng 8/2007, Ông Micheal Marine -đại sứ Mỹ tại Việt Nam, nhắc
lại nhận định rằng: “Nền GD Việt Nam đang khủng hoảng” Ông đánh giá “đây là điểm cốt tử có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam…ĐH của các bạn nhỏ
và không đủ giáo sư” Một khía cạnh khác, hệ thống ĐH Việt Nam đang quá tải khi
số SV đã tăng gần gấp đôi so với năm 1990 nhưng số GV hầu như không đổi Số liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt Nam hiện đứng hạng cuối trong khu vực, với chỉ khoảng 10% số thanh niên trong độ tuổi 20-24 được vào ĐH Tỉ lệ này tại Trung Quốc là 15%, Thái lan 41% và Hàn Quốc 89% [84, tr.20] “Việt Nam hiện thu hút mức đầu tư nước ngoài gần 1 tỷ USD/tháng (2007) Các nhà đầu tư đang tìm cách tận dụng nhân lực rẻ và tầng lớp trí thức trẻ tại đây Song chỉ khoảng 10% thanh niên ở độ
Trang 7tuổi học ĐH được theo học các trường, Những con số này không phải là điều đáng mừng cho tham vọng của Việt Nam đang muốn tiến vào lĩnh vực điện tử công nghệ cao và gia công phần mềm” (Tạp chí Time [15]) “Giúp doanh nghiệp phát triển bằng
đầu tư GD”, đó là một trong các khuyến cáo mà ông Johnathan Pincus - chuyên gia kinh tế cao cấp của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam -
đưa ra ngày 01-10-2007 tại buổi công bố kết quả nghiên cứu 200 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam Ông cho rằng: "Hiện Việt Nam đang cạnh tranh với một tay bị trói Cánh tay đó là GD - ĐT Chính sách GD - ĐT chính là khâu phải đột phá trong giai đoạn mới để Việt Nam trở thành một nước đổi mới, sáng tạo, sử dụng được khả năng thiên phú và tuyệt vời của người Việt Nam để đạt được qui mô kinh tế và công nghệ cao hơn" [37] Một tay bị trói nên cạnh tranh giành thắng lợi kinh tế của Việt Nam thiếu nắm đấm quyết định là nhân lực kỹ thuật cao khi hội nhập toàn cầu
“Thắng cuộc đua GD sẽ thắng trong kinh tế” (Lý Quang Diệu)[32] Rõ ràng, khi hội nhập kinh tế quốc tế, trong cơn khát cực độ về lao động qua ĐT hiện nay, vùng nào, địa phương nào sớm chú trọng về ĐT nguồn nhân lực hoặc thu hút được nhân lực qua ĐT, vùng đó, địa phương đó sẽ giành thắng lợi trước trong phát triển [67] Thủ tướng Chính phủ đã dành 1 tỷ USD cho chương trình ĐT nghề giai đoạn từ 2007 đến năm 2010 Các địa phương trong cả nước đang ra sức tăng tốc ĐT nguồn nhân lực và tìm kiếm cách thức ĐT nguồn nhân lực một cách hiệu quả và tiết kiệm
Thật ra, trong vòng 7 năm, khi phải ban hành rất nhiều đạo luật mới, thì Luật
GD đã được ban hành tới 2 lần (Luật GD năm 1998 và Luật GD năm 2005- sửa đổi Luật GD năm 1998) [68], rồi Luật Dạy nghề (năm 2006), cho thấy Quốc hội Việt Nam đã quá bức xúc điều này Trong Luật GD 2005, mạng lưới trường CN có cả trường TCCN và trường TC nghề, trường CĐ và trường CĐ nghề, một mặt nói lên tính bức xúc của vấn đề ĐT hiện nay, nhưng đồng thời nói lên sự lúng túng Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng nội hàm các khái niệm chưa rõ, còn tranh luận cơ quan nào là chủ quản hệ thống dạy nghề Nhưng điều rõ nhất là mong muốn đẩy mạnh ĐT nguồn nhân lực trung gian giữa thiểu số kỹ sư và đa số công nhân lao động phổ thông Một khoảng trống khổng lồ mà ai cũng thấy là không thể chậm trể nữa, đến nổi nhiều người thốt lên rằng chúng ta đang “thừa thầy thiếu thợ” Thực tế là thiếu cả
Trang 8hai, và thiếu thợ là điều vô cùng bức bách Điều đó tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu lao động Sự lúng túng ấy thể hiện rõ nhất ở các địa phương có nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng cao hay hải đảo, không biết chọn ưu tiên loại trường nào trên đây cho hợp với điều kiện địa phương mình: trường TC nghề hay TC “chuyên nghiệp!”, trường CĐ nghề hay CĐ khác? rồi CĐ hay TC?, lại cần phải có trung tâm GD thường xuyên, trung tâm tin học- ngoại ngữ, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư, v.v… Nếu tất cả đều là cơ sở công lập thì chúng cũng manh mún, thiếu phối hợp hoặc chồng chéo chức năng, nhiệm vụ Rồi
LT giữa các CTGD này thì còn nhiều rắm rối Nghiên cứu của luận án này cho rằng trường CĐCĐ chính là tên gọi thống nhất và phù hợp của các loại trường, trung tâm
đó [61] Với sự đầu tư tập trung như vậy, trường CĐCĐ sẽ tạo ra sự bứt phá trong
ĐT
Thành lập trường CĐCĐ chính là đã tìm ra một lời giải tối ưu cho bài toán quy
mô và chất lượng của GDĐH đại chúng mà Chính phủ hằng mong muốn Nhưng mô hình trường CĐCĐ ở Việt nam hiện tại không khác xa một trường TC, CĐ thông thường Căn bản là ĐTLT không được đặc đúng vị trí trong trường CĐCĐ Chúng thiếu sự hấp dẫn và còn nhiều ngộ nhận Rõ ràng, chức năng, nhiệm vụ trường CĐCĐ ở Việt Nam cũng cần được xác định trong điều kiện mới: hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế [22] Chính ĐTLT sẽ hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam
1.2 Đào tạo liên thông làm tăng tính hiệu quả và sự hấp dẫn của trường CĐCĐ
Do tính chất đa cấp và đa ngành, trường CĐCĐ rất thuận lợi cho ĐTLT Ngược
lại, do gắn với địa phương, ĐTLT sẽ tăng thêm tính hiệu quả và hấp dẫn của trường CĐCĐ Nghiên cứu lịch sử trường CĐCĐ ở Hoa Kỳ, ta thấy chính ý tưởng ĐTLT
“khai sinh” ra trường CĐCĐ! Nói một cách khác, ngay từ khi hình thành, trường CĐCĐ đã bao hàm sự LT và CT trong GDĐH [90] Trong bài phát biểu tổng kết hội thảo “Đổi mới GDĐH Việt Nam-hội nhập và thách thức” (tổ chức tại Hà Nội ngày 30-31/3/2004), Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Cần đặc biệt lưu ý khả năng lưu chuyển SV từ các trường CĐCĐ, các trường ĐH địa phương hướng tới các trường
ĐH lớn có nhiều nghề ĐT” (tr.13) Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ về đổi
Trang 9mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020 cũng đã ghi rõ:
“hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ và xây dựng quy chế chuyển tiếp ĐT với các trường ĐH” [8, tr.7] Thực tế ĐTLT của trường CĐCĐ đã và đang gặp nhiều khó khăn chung như các trường TC, CĐ hiện nay Điều rõ nhất là trường CĐCĐ chưa được ĐT các chương trình chuyển tiếp, một khác lạ đặc thù của trường CĐCĐ ở Việt Nam so với thế giới Rõ ràng, song song với việc xác định mô hình của trường CĐCĐ thì ĐTLT của trường CĐCĐ là vấn đề đáng được quan tâm nghiên cứu Để tìm ra đâu là giải pháp quản lý ĐTLT của trường CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam
1.3 Quản lý ĐTLT của trường CĐCĐ có đặc điểm riêng trong điều kiện Việt
Nam
Quan điểm“ai cũng được học hành” của Chủ Tịch Hồ Chí Minh [49, tr.161] có
thể xem là triết lý GD Việt Nam Triết lý ấy chỉ đạo sự phát triển GD nước nhà trong các thời kỳ cách mạng kể từ khi có Đảng, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH
đất nước Đảng cũng đã quán triệt triết lý này vào các văn kiện quan trọng của trung ương, như “mọi
người đi học, học thường xuyên, học suốt đời” trong Nghị quyết TW.4, khoá VII - năm 1993 và Nghị
quyết TW.2, khoá VIII- năm 1996 Sau đó nêu thành quan điểm “giáo dục cho mọi người”,“cả nước
thành một xã hội học tập” [29, tr.35] Quyết tâm chính trị này trở nên bức bách khi Việt Nam
hội nhập quốc tế và là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Trường CĐCĐ có hệ trung cấp và gắn với địa phương, khi mà ĐTLT được thực hiện thì hy vọng khoảng 70% lao động chưa qua ĐT hiện nay có điều kiện học tiếp để nhận bằng cấp, điều mà chúng ta gọi là trí thức hóa giai cấp công nhân, nông dân Khi có
đủ điều kiện, trường CĐCĐ có thể nhô lên thành trường ĐH 4-năm định hướng ứng dụng- nghề nghiệp Khi đó nhiều trường CĐCĐ mới lại xuất hiện, ngày càng tiến vào vùng sâu, vùng xa để trí thức hoá người lao động
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Tổ chức quản lý đào tạo liên thông của trường cao đẳng cộng đồng trong điều kiện Việt Nam” Luận án sẽ làm rõ
rằng khi trường CĐCĐ có chức năng, nhiệm vụ hợp lý, thì QL ĐTLT tốt sẽ góp phần nhanh chóng xây dựng nền GDĐH đại chúng và thực tiễn, từng bước xây dựng xã hội học tập Và xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam không thể thiếu ĐTLT, nhất là ĐTLT của trường CĐCĐ, một nơi học tập suốt đời của người lao động
Trang 102 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về QLĐTLT của các trường CĐCĐ, qua
đó đề xuất các giải pháp khả thi tổ chức QLĐTLT của trường CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam, nhằm thúc đẩy ĐTLT phát triển và hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ, đáp ứng nhu cầu ĐT nhân lực cho địa phương
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động ĐT trong các trường TC-CĐ và ĐH của
Việt Nam
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý ĐTLT của trường CĐCĐ trong điều kiện
Việt Nam
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng và quản lý các CTGD trong các trường CĐCĐ trên cơ sở liên
thông và chuyển tiếp trong và ngoài trường, với quy trình tuyển sinh và liên kết đào tạo hợp lý, với học chế mềm dẻo, tích luỹ tín chỉ trong một cơ cấu tổ chức hoàn thiện thì trường CĐCĐ hoàn toàn có thể trở thành cơ sở ĐT nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương
5 NHỮNG LUẬN ĐIỂM CẦN BẢO VỆ
Luận điểm 1: Trường CĐCĐ là một cơ sở giáo dục của địa phương, với triết lý
căn bản: của dân, do dân và vì dân; đó là cơ sở đào tạo đa cấp từ trình độ cao đẳng trở xuống và đa ngành; có chức năng giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên,
và đào tạo liên thông
ĐTLT của trường CĐCĐ có hai mô thức:
- ĐTLT trong phạm vi trường CĐCĐ (hay còn gọi là nội bộ): người học đã trúng tuyển học một CTGD, được phép ghi danh thêm một CTGD khác (theo quy chế ĐT hiện tại của trường) SV hoàn tất CTĐT nào thì cấp bằng cấp tương ứng với CTĐT đó Tổ chức ĐT theo hình thức tích luỹ tín chỉ rất thuận lợi với mô thức này
- ĐT chuyển tiếp, có thể là: (a) chuyển tiếp thông thường: học xong một bằng cấp của trường này, tốt nghiệp xong di chuyển (ngay sau đó hay một số năm sau) sang trường khác học một bằng cấp nữa và được bảo lưu những gì đã học mà đạt yêu cầu; (b) chuyển tiếp hai giai đoạn: (1) Trường CĐCĐ nhận ĐT giai đoạn đầu, (2) xong chuyển tiếp SV dến trường ĐH để ĐT tiếp giai đoạn sau (giai đoạn đầu thích
Trang 11hợp nhất hiện nay là CTGD đại cương); hay là (1) Cơ sở ĐT khác (trường TC chẳng hạn) nhận ĐT giai đọan đầu, (2) Trường CĐCĐ nhận ĐT giai đoạn sau ĐT chuyển tiếp hai giai đoạn cần có liên kết ĐT theo một thoả thuận (để LT hai cơ sở ĐT)
Cả hai mô thức trên đây đều có yêu cầu là CTĐT phải đạt chuẩn (về tính khoa học, tính sư phạm, tính vừa sức, gắn với mục tiêu cấp học) được kiểm định
Việc liên kết ĐT chuyển tiếp dẫn đến một cơ chế giám sát của cơ sở nhận ĐT chuyển tiếp Vì thương hiệu của mình, cơ sở nhận ĐT chuyển tiếp sẽ giám sát thường xuyên việc thực hiện CTĐT giai đoạn đầu ở trường CĐCĐ, một việc mà thanh tra của Bộ GD&ĐT khó có thể, và UBND địa phương cũng không phải lúc nào cũng có cán bộ thanh tra chuyên nghiệp để làm Chính chúng tăng cường chất lượng đào tạo
Luận điểm 2: ĐTLT theo hai mô thức trong luận điểm 1 sẽ hoàn thiện mô hình
trường CĐCĐ Việt Nam hiện nay Cơ sở lý luận và thực tiễn chỉ ra rằng trong quản
lý ĐTLT, ngoài việc quản lý xây dựng CTĐT và CTĐTLT, thì quản lý công tác tuyển sinh, liên kết đào tạo và đặc biệt là tính chuyên nghiệp của cán bộ phụ trách ĐTLT là những vấn đề chính Các giải pháp đề xuất trong Ch.3 sẽ tổ chức và quản
lý tốt việc ĐTLT của trường CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam
Luận điểm 3: Luận án khuyến nghị chính phủ rằng song song với việc xây dựng
ĐH có đẳng cấp quốc tế, hãy tập trung xây dựng trường CĐCĐ, hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ hiện nay với 2 mô thức ĐTLT trên; không nên vội vã xây dựng trường
ĐH ở những nơi chưa đủ điều kiện, vì trường CĐCĐ không những tạo điều kiện cho
SV học hai năm đầu ĐH gần nhà mà còn là mô hình trung gian thích hợp nhất để chuyển thành ĐH 4-năm định hướng ứng dụng- nghề nghiệp khi có điều kiện trong tương lai Khi đó, nhiều trường CĐCĐ mới lại được thành lập, ngày càng tiến vào vùng sâu, vùng xa để trí thức hoá người lao động và xây dựng xã hội học tập ở địa phương
6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý ĐTLT của trường CĐCĐ;
6.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng ĐTLT của các trường CĐCĐ ở Việt Nam Tham khảo
kinh nghiệm quản lý ĐTLT của một số trường CĐCĐ trên thế giới;