Giao dịch dân sự có một quá trình phát triển không ngừng theo trình độ văn minh của loài người. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta phát sinh nhiều loại hình giao dịch mà pháp luật dân sự phải từng bước hệ thống hóa bằng các quy định cụ thể. Có thể khẳng định rằng, giao dịch dân sự là loại quan hệ có tính chất phổ biết, được áp dụng rộng rãi nhất trong giao lưu dân sự. Hiện nay, bộ luật dân sự đã phần nào đáp ứng được yêu cầu nhu cầu của cuộc sống và thỏa mãn các điều kiện vật chất, tinh thần hàng ngày của các chủ thể. Tuy nhiên việc giao lưu dân sự trong thực tế là rất phức tạp, cho nên không thể tránh khỏi những trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu, mà trong đó giao dịch dân sự vô hiệu có yếu tố giả tạo chiếm tỷ lệ không nhỏ. Chính vì vậy nhóm chúng tôi xin được “ Sưu tầm một ví dụ thực tiễn về giao dịch dân sự có yếu tố giả tạo và bình luận về hướng giải quyết vụ việc đó trên có sở pháp luật Việt Nam hiện hành’’
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I Khái quát chung về giao dịch dân sự 2
1 Giao dịch dân sự 2
a Khái niệm 2
b Phân loại 2
c Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự 3
2 Giao dịch dân sự vô hiệu và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo 4
a Giao dịch dân sự vô hiệu 4
b Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo 6
II Vụ việc thực tiễn về giao dịch dân sự bị vô hiệu do có yếu tố giả tạo, bình luận hướng giải quyết……… 7
1 Tóm tắt tình huống 7
2 Bình luận về hướng giải quyết 10
KẾT THÚC VẤN ĐỀ 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao dịch dân sự có một quá trình phát triển không ngừng theo trình độ văn minh của loài người Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta phát sinh nhiều loại hình giao dịch mà pháp luật dân sự phải từng bước hệ thống hóa bằng các quy định cụ thể Có thể khẳng định rằng, giao dịch dân sự là loại quan hệ có tính chất phổ biết, được áp dụng rộng rãi nhất trong giao lưu dân sự Hiện nay, bộ luật dân sự đã phần nào đáp ứng được yêu cầu nhu cầu của cuộc sống và thỏa mãn các điều kiện vật chất, tinh thần hàng ngày của các chủ thể Tuy nhiên việc giao lưu dân sự trong thực tế là rất phức tạp, cho nên không thể tránh khỏi những trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu, mà trong đó giao dịch dân sự vô hiệu có yếu tố giả tạo chiếm tỷ lệ không nhỏ Chính vì vậy
nhóm chúng tôi xin được “ Sưu tầm một ví dụ thực tiễn về giao dịch dân sự có yếu tố giả tạo và bình luận về hướng giải quyết vụ việc đó trên có sở pháp luật Việt Nam hiện hành’’
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Khái quát chung về giao dịch dân sự
1 Giao dịch dân sự
a Khái niệm
Khái niệm về giao dịch dân sự được thể hiện tại Điều 121 Bộ Luật Dân sự năm 2005, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Như vậy, giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý ( hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương - một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí
Trang 3Tùy từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự
b Phân loại
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại giao dịch dân sự, việc phân loại giao dịch dân sự có những ý nghĩa nhất định về mặt lí luận cũng như về mặt thực tiễn
-Căn cứ vào sự thể hiện ý chí của chủ thể trong việc xác lập GDDS thì GDDS được chia thành GDDS được xác lập theo ý chí của một phía chủ thể (hành
vì pháp lý đơn phương) và GDDS được xác lập theo lý trí của nhiều chủ thể (hợp đồng …)
-Căn cứ vào sự tự nguyện của chủ thể tham gia GDDS thì GDDS được chia thành GDDS được phát sinh theo ý chí của chủ thể tham gia giao dịch và GDDS được phát sinh theo ý chí của nhà nước
-Căn cứ vào hậu quả pháp lý của GDDS được xác lập thì GDDS được chia thành GDDS có hậu quả làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, GDDS có hậu quả làm thay đổi quyền và nghĩa vụ dân sự và GDDS có hậu quả làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự
-Căn cứ vào hình thức thể hiện của GDDS thì GDDS được thể hiện dưới hình thức lời nói, GDDS thể hiện dưới hình thức văn bản và GDDS thể hiện dưới hình thức hành vi cụ thể
Ngoài những trường hợp trên, tại khoản 1 Điều 125 BLDS năm 2005 còn quy định về GDDS có điều kiện “Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ GDDS thì khi điều kiện đó xảy ra, GDDS phát sinh hoặc hủy bỏ” GDDS có điều kiện cũng tương đối phổ biến và được chủ thể áp dụng để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 4c Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
BLDS năm 2005 quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS tại điều 122 GDDS có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
-Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự Tức là, người tham gia giao dịch phải có khả năng bằng hành vi của mình xác lập thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự
-Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Các giao dịch có mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật (buôn bán ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em …) hay trái với đạo đức xã hội đều
bị vô hiệu, các bên tham gia giao dịch nói trên đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình
-Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, không bên nào trong giao dịch dân sự và không ai được ép buộc, lừa dối bên nào khi tham gia giao dịch
Ngoài ba điều kiện cơ bản trên, BLDS còn quy định một điều kiện ngoại lệ liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự Nếu pháp luật có quy định hình thức của giao dịch phải tuân theo những yêu cầu nhất định, thì nếu giao dịch không tuân theo các quy định về hình thức sẽ bị vô hiệu
Tóm lại, điều kiện bắt buộc để giao dịch có hiệu lực chỉ phụ thuộc vào một
số yếu tố liên quan đến nội dung: ý chí tự nguyện của các bên tham gia, đối tượng, nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội
2 Giao dịch dân sự vô hiệu và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
a Giao dịch dân sự vô hiệu
Trang 5Điều 122 BLDS năm 2005 quy định về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Như vậy, một giao dịch dân sự muốn phát sinh hiệu lực pháp lý phải
thỏa mãn tất cả những điều kiện này Điều 127 BLDS năm 2005 quy định “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.”
Qua đó, chúng ta có thể rút ra khái niệm về giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định
Có thể phân loại GDDS theo hai cách:
Cách thứ nhất là căn cứ vào mức độ vi phạm đối với từng giao dịch thì giao dịch dân sự vô hiệu chia làm hai loại là Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ và GDDS
vô hiệu một phần
-Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ trong các trường hợp sau:
+Giao dịch dân sự do vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội (Điều 128 BLDS năm 2005)
+Giao dịch dân sự do thiếu tính tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch, như: Giao dịch dân sự do bị lừa dối, đe dọa, Giao dịch dân sự giả tạo hay nhầm lẫn
+Giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập
+Giao dịch dân sự do người xác lập không nhận thức được hành vi của mình
-Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần
Trang 6Cách thứ hai là căn cứ vào mức độ vi phạm nghiêm trọng hay không nghiêm trọng thì giao dịch dân sự được chia thành giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối
-Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối khi
+Nội dung, mực đích vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội +Khi giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch khác
-Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối khi
+Giao dịch dân sự được xác lập bởi người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, gioa dịch do người không nhận thức được hành vi của mình xác lập
+Giao dịch dân sự do nhầm lẫn, đe dọa, lừa dối
+Giao dịch dân sự vi phạm về điều kiện hình thức
b Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Theo nghĩa thông thường , “giả tạo” là không thật, không tự nhiên Sự thể hiện ý chí giả tạo là sự thể hiện ý chí khác với ý chí nội tâm đối với kết quả, pháp luật dân sự các nước đều coi GDDS xác lập do giả tạo là vô hiệu bởi chủ thể cố ý bày tỏ ý chí không đúng với ý chí thực của họ Cổ luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “giả trang” nhưng thực tế hiện nay không có điều luật định nghĩa về giả tạo, tại điều 129 BLDS 2005 chỉ quy định: “khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng
vô hiệu theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”
Trang 7Xét việc xác lập GDDS giả tạo, ý chí được bày tỏ của các bên trong GDDS giả tạo là hoàn toàn không thật, không đúng với ý chí nội tâm của chủ thể Sự khác nhau đó không giống với sự sai khác giữa ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa Không do hành vi có lỗi của bên đối tác tác động mà chủ thể trong GDDS giả tạo tự bản thân chủ động bày tỏ ý chí sai khác đi để thực hiện
“gian ý” của mình Gian ý đó có thể là trốn tránh nghĩa vụ trước nhà nước (như trốn thuế, tẩu tán tài sản bị tịch thu…), trốn tránh nghĩa vụ trước bên có quyền (như nghĩa vụ chuyển giao tài sản, trả nợ) Trong GDDS giả tạo, lợi ích có thể bị xâm hại là lợi ích của người thứ ba có liên quan chứ không phải bên chủ thể nào
Do đó, nó có quy chế xử lý khác biệt – giao dịch vô hiệu tuyệt đối –mặc nhiên bị
vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập, tuyên bố của toàn án có giá trị xác nhận sự vô hiệu đó cụ thể như sau:
+ Thời hiệu yêu cầu tòa án GDDS vô hiệu do giả tạo: Điều 12 BLDS 2005 quy định: “giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che dấu vẫn có hiệu lực” Khoản 2 điều 136 BLDS 2005 quy định: “đối với giao dịch dân sự quy định tại điều 128 và 129 bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu không bị hạn chế” Quy định như vậy vì nhằm trốn tránh nghĩa vụ chủ thể có thể coi là một sự vi phạm quy định pháp luật Về nguyên tắc, thời gian không thể làm một GDDS vi phạm pháp luật trở thành có hiệu lực
+ Người có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu do giả tạo Cả chủ thể của giao dịch, cả người thứ ba có liên quan đều có quyền yêu cầu chứ không phải chỉ có một bên chủ thể như các trường hợp nghiên cứu khác
Pháp luật đã mở rộng hết mức phạm vi thời gian, chủ thể có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố GDDS giả tạo vô hiệu Ở Pháp, đối với các bên chủ thể thì hoạt động dân sự biểu hiên ý chí thực – hợp đồng dân sự bị che giấu có giá trị, người thứ ba có quyền viện dẫn bất kì giao dịch nào tùy theo lợi ích của họ Ở Đức, giao
Trang 8dịch giả tạo bên ngoài không có giá trị ngay cả đối với người thứ ba, chỉ có hợp đồng che dấu có giá trị Đối với Việt Nam, GDDS giả tạo bị vô hiệu có thể không ảnh hưởng đến hiệu lực của GDDS che giấu
II Vụ việc thực tiễn về giao dịch dân sự bị vô hiệu do có yếu tố giả tạo, bình luận hướng giải quyết
1 Tóm tắt tình huống
Vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Hậu sinh năm 1974 Trú tại xóm Tràng Chũng, xã Dương
Liễu, Hoài Đức, TP Hà Nội và bị đơn là ông Uông Văn Quyết – SN 1942 và bà
Đinh Thị Thiển- SN 1955.Trú tại Cụm 8, Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Thành phố
Hà Nội
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan
1 Anh Nguyễn Văn Chiến- SN 1972
Trú tại: Cụm 2, Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội
2 Chị Uông Thị Ngấn – SN 1979
Trú tại: Cụm 1, Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội
3 Chị Uông Thị Ngân- SN1977
Trú tại: Cụm 8, Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội
4 ChịUông Thị Thuỷ - SN 1974
Trú tại : Số 14, tổ 16 phường Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
5 Chị Uông Thị Phấn – SN 1982
Trú tại: Cụm 8, Hạ Mỗ, Huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội
Nội dung diễn biến vụ việc như sau:
Trang 9Ngày 15/07/2011 chị Uông Thị Ngấn là con gái ông Uông Văn Quyết và bà Đinh Thị Thiển đến văn phòng của anh Nguyễn Duy Hậu để vay 1,1 tỉ đồng đầu tư cho công ty, hẹn 10 ngày sau sẽ trả Anh Hậu đồng ý cho vay với điều kiện chị Ngấn phải có tài sản đảm bảo Chị Ngấn đã mời anh Hậu đến gặp ông Quyết và bà Thiển trao đổi Hai ông bà đã đồng ý làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông bà cho anh thì anh mới cho chị Ngấn vay tiền Ngày 6/7/2011 hai ông
bà đến văn phòng công chứng Từ Liêm để làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất ở
số 314 A tờ bản đồ số 4 trên đó có 3 gian nhà diện tích 233 m2 tại cụm 8, Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Thành Phố Hà Nội với giá 1,1 tỉ đồng cho anh Sau khi làm thủ tục công chứng ông Quyết và chị Ngấn đến văn phòng của anh để nhận tiền, tại đây anh đưa cho ông Quyết số tiền 1,1 tỉ đồng và ông Quyết đã ký vào hợp đồng mua bán nhà đất ngày 16/7/2011 và cho gia hạn nợ hợp đồng trong 2 tháng, đến ngày 16/09/2011 nếu ông Quyết và chị Ngấn không trả được nợ thì hợp đồng sẽ có hiệu lực pháp luật Đến thời hạn trả nợ ông Quyết và chị Ngấn không trả anh Hậu
đã làm đơn yêu cầu UBND xã giải quyết Tại UBND xã ông Quyết và bà Thiền đã đồng ý sẽ trả anh 1,3 tỉ đồng nhưng sau đó lại không thực hiện Nay anh yêu cầu hai ông bà phải thanh toán cho anh tiền gốc và tiền lãi là 1.514.500.000 nếu ông bà không thanh toán thì phải tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dung đất
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Quyết bà Thiển và một số người có quyền và nghĩa vụ liên quan có lời khai
Ông Quyết bà Thiển khai: khoản tiền chị Ngấn vay anh Hậu thì chị Ngấn
sẽ phải trả, còn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do ông Quyết bà Thiển và anh Hậu sẽ được thanh lý và huỷ hợp đồng khi chị Ngấn trả hết tiền cho anh Hậu, số tiền phải trả bao nhiêu do anh Hậu và chị Ngấn thoả thuận
Chị Ngấn khai: chị bảo bố mẹ chị phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng thửa đất ở số 314 A tờ bản đồ số 4 trên đó có 3 căn nhà diện tích 233 m2
Trang 10tại cụm 8, Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội cho anh Hậu thì chị mới được vay tiền của anh Hậu Nay anh Hậu kiện ông Quyết bà Thiển yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thì chị không đồng ý
Anh Chiến , chị Ngân, chị Thuỷ, chị Ngấn có lời khai: các anh chị không
biết việc ông Quyết bà Thiển chị Ngấn làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đât để vay tiền anh Hậu Khi hai ông bà xây nhà các anh chị có đóng góp tiền xây dựng Các anh chị không đồng ý việc ông Quyết bà Thiển chuyển quyền sử dụng nhà đất cho anh Hậu
Theo bản án sơ thẩm số 07/2013/DSST ngày 28 tháng 08 năm 2013, toà án nhân dân huyện Đan Phượng đã quyết định xử như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Quyết bà Thiển và anh Hậu là hợp pháp Buôc ông Quyết bà Thiển phải thực hiện nốt hợp đồng chuyển nhượng đất và các tải sản trên thửa đất số 314A tờ bản đồ số 4 tại cụm 8, Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội cho anh Hậu
- Buộc hai bên phải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định án phí và quyền kháng cáo của các đương sự
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 09/09/2013 ông Quyết kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm đề nghị huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu
2 Bình luận về hướng giải quyết
Trang 11Theo chúng tôi, tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Quyết bà Thiển và anh Hậu là hợp pháp theo điều 697,
698, 699, 700, 701, 702 Bộ luật Dân sự, điểm b khoản 2 điều 243, điều 245 của Bộ luật Tố tụng Dân sự là không đúng với quy định của pháp luật Việc ông Quyết kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu là có căn cứ bởi các lẽ sau :
Thứ nhất: Trong vụ án này các bên trong giao dịch cho vay tiền muốn xác lập hợp đồng thế chấp tài sản, tài sản được thế chấp là quyền sử dụng đất Vậy hợp đồng mà các bên phải hướng đến là hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo
Điều 715 BLDS “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên sử dụng đất (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia (sau đây gọi
là bên nhận thế chấp) Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế chấp” Vậy hợp đồng thế chấp là hợp đồng mà các bên phải hướng đến trong giao
dịch này bên cạnh hợp đồng cho vay đúng như ý chí mà các bên mong muốn
Thứ hai: Trong vụ án này các bên đã lựa chọn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình, bản chất của hợp đồng chuyền quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên theo Điều
428 BLDS về hợp đồng mua bán tài sản “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán” Suy luận ra,
các bên đã xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để che đậy một giao dịch khác là hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Như vậy thực chất không có việc mua bán nhà đất, việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng là để đảm bảo cho khoản vay của chị Ngấn - con ông Quyết bà