Trong hai thập niên gần đây, các nhà khoa học ở nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Hongkong đã tăng cường nghiên cứu sản xuất nấm Linh Chi và mở rộng hiệu quả sử dụng dược l
Trang 1NGUYỄN HOÀI SƠN
“NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN CÁC HOẠT CHẤT
CÓ TRONG NẤM HỒNG CHI, NƯỚC LINH CHI UỐNG LIỀN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2NGUYỄN HOÀI SƠN
“NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN CÁC HOẠT CHẤT
CÓ TRONG NẤM HỒNG CHI, NƯỚC LINH CHI UỐNG LIỀN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn : ThS Trần Đình Quang
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn mọi sự giúp đỡ đều đã được cám ơn và các trích dẫn trong luận văn đều ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Hoài Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều của các cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn ThS Trần Đình Quang – Khoa CNSH – CNTP, ThS Lương Hùng Tiến – Khoa CNSH – CNTP, người đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa CNSH – CNTP
đã giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin cảm ơn Công ty nấm Bảo Anh, Đồng Hỷ, Thái Nguyên đã cung cấp sản phẩm nấm Hồng chi tốt nhất để tôi thực hiện nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn trong nhóm sinh viên thực tập tại phòng Thí nghiệm vi sinh và các sinh viên thuộc lớp K43CNSH
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn Khoa CNSH – CNTP cung cấp địa điểm thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập tôi xin cảm ơn sự động viên của gia đình và bạn bè
Dù cố gắng nhiều, xong bài khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo và các bạn
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Hoài Sơn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần hóa dược tổng quát của nấm Linh chi 8
Bảng 2.2 Các hoạt chất sinh học và dẫn xuất trong nấm Linh chi 9
Bảng 2.3 Lục bảo Linh chi theo Lý Thời (1590) 10
Bảng 2.4 Các hoạt chất triterpenoid có tác dụng chữa bệnh
trong nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) 20
Bảng 3.1 Những dụng cụ, thiết bị và hóa chất sử dụng 29
Bảng 4.1 Kết quả xác định thành phần các hoạt chất và các chỉ tiêu
trong nấm Hồng chi khô 46
Bảng 4.2 Kết quả thành phần hoạt chất Polysaccharide có trong
nấm Hồng chi khô 47
Bảng 4.3 Kết quả thành phần cơ bản của Polysaccharide có trong nấm Hồng chi 47 Bảng 4.4 Kết quả xác định thành phần các hoạt chất và các chỉ tiêu
trong nấm Hồng chi tươi 49
Bảng 4.5 Thành phần nghiên cứu của sản phẩm khi mới sản xuất 51
Bảng 4.6 Thành phần nghiên cứu sản phẩm trong 1 tháng bảo quản 52
Bảng 4.7 Kết quả phân tích vi sinh vật trong sản phẩm 53
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Nấm Linh chi đỏ 4
Hình 2.2 Chu trình phát triển của nấm Linh chi 7
Hình 2.3 Trà nấm Linh chi 15
Hình 2.4 Cà phê Linh chi 15
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình trích ly hoạt chất sinh học có trong nấm Linh chi 31
Hình 3.2 Sơ đồ quy trình chế biến sản phẩm nước Linh chi 32
Hình 3.3 Thiết bị siêu âm đơn giản 37
Hình 4.1 Định tính acid hữu cơ có trong nấm Linh chi 45
Hình 4.2 Biểu đồ so sánh tỉ lệ các thành phần có trong nấm khô và nấm tươi 50
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về nấm Linh chi 4
2.1.1 Khái quát chung 4
2.1.2 Vị trí phân loại 5
2.1.3 Đặc điểm hình thái và chu trình sống của nấm Linh chi 5
2.1.4 Thành phần hóa học của nấm Linh chi(Ganoderma lucidum) 7
2.1.5 Tác dụng trị liệu của nấm Linh chi 10
2.1.6 Một số ứng dụng lâm sàn 13
2.2 Các sản phẩm chế biến từ nấm Linh chi 15
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu nấm Linh chi trên thế giới và Việt Nam 15
2.3.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu nấm Linh chi trên thế giới 15
2.3.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu nấm Linh chi ở Việt Nam 17
2.4 Tổng quan về các hoạt chất có trong nấm linh chi 18
2.4.1 Ganoderma polysaccharide (GLPs) 18
2.4.2 Ganoderic Acid 19
2.4.3 Ganoderma Adenosine 20
2.4.4 Alcaloid 21
Trang 82.4.5 Hợp chất Saponin 21
2.4.6 Germanium hữu cơ 22
2.5 Vitamin C 22
2.5.1 Nguồn gốc 22
2.5.2 Tính chất 23
2.5.3 Rối loạn liên quan đến Vitamin C 23
2.5.4 Cơ chế tác dụng 25
2.5.5 Vitamin C và một số bệnh lý liên quan 26
Phần 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Vật liệu nghiên cứu 29
3.1.1 Nguyên liệu 29
3.1.2 Dụng cụ và thiết bị hóa chất thí nghiệm 29
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 31
3.4.1 Quy trình trích ly và chế biến sản phẩm nước giải khát 31
3.4.2 Phương pháp xác định hàm lượng Vitamin C 33
3.4.3 Phương pháp xác định hàm lượng đường tổng 34
3.4.4 Phương pháp xác định hàm lượng hoạt chất Polysacchride 36
3.4.5 Phương pháp định tính acid hữu cơ 38
3.4.6 Phương pháp định lượng acid hữu cơ 38
3.4.7 Phương pháp xác định chỉ tiêu vi sinh vật 39
3.4.8 Phương pháp xác định chỉ số pH trong nước giải khát 43
3.4.9 Phương pháp xác định hàm lượng chất khô hòa tan(Bx) 43 3.4.10 Xác định thành phần cơ bản của polysacharide có trong nấm Hồng chi.
Trang 93.4.11 Xác định thành phần triterpenoid có trong nấm Hồng chi 44
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Kết quả xác định thành phần và các hoạt chất có trong nấm Hồng chi 45
4.1.1 Kết quả định tính sự có mặt của acid hữu cơ 45
4.1.2 Kết quả thành phần và các hoạt chất có trong nấm Hồng chi khô 45
4.1.3 Kết quả thành phần và các hoạt chất có trong nấm Hồng chi tươi 48
4.2 Kết quả đánh giá chất lượng thành phẩm có trong nước nấm
Linh chi uống liền 50
4.2.1 Kết quả đánh giá chất lượng thành phẩm 50
4.2.2 Đánh giá chất lượng thành phẩm sau một tháng bảo quản 51
4.2.3 Kết quả nghiên cứu các chỉ tiêu vi sinh 52
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Theo chúng ta đã biết thì Linh chi là một trong dược thảo thiên nhiên được xếp vào loại thượng dược Cách đây hàng ngàn năm, nấm Linh Chi đã được dùng để làm thuốc, các sátriều đại ở Trung Quốc đều ghi nhận Linh Chi được sử dụng làm thuốc từ lâu đời Giá trị dược liệu của linh chi đã dược ghi chép trong các thư tịch cổ của Trung Quốc, cách nay hơn 4000 năm (Zgao, J.D., 1994)[22] Từ những kinh nghiệm lưu truyền trong nhân gian, loài người đã biết
sử dụng Linh chi theo nhiều cách khác nhau
Đến nay khoa học kỹ thuật phát triển, nấm Linh chi còn được các nhà khoa học trên thế giới chứng minh được tác dụng hữu ích trong việc điều trị bệnh: ung thư, cao huyết áp, tiểu đường, tim mạch, HIV, viêm gan siêu vi, suy nhược thần kinh…(Lê Xuân Thám, 1998) [15]
Hiện nay Linh chi không còn khan hiếm như lúc trước do con người có thể áp dụng kỹ thuật để nuôi trồng Linh chi trong môi trường nhân tạo và ngày càng phát triển mạnh trên thế giới và đạt đến quy mô công nghiệp Trong hai thập niên gần đây, các nhà khoa học ở nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Hongkong đã tăng cường nghiên cứu sản xuất nấm Linh Chi và mở rộng hiệu quả sử dụng dược liệu này
Tại thị trường Việt Nam, nhu cầu sử dụng nấm Linh chi làm thuốc chữa bệnh ở trong nước cũng như xuất khẩu ngày càng tăng Nhiều cơ sở đã tiến hành nghiên cứu nuôi trồng, chế biến và thăm dò các hoạt chất sinh học có trong nấm Linh chi Các thành phần hóa học có trong nấm Linh chi rất phong phú bao gồm các nhóm: acid béo, steroid, alcaloid, protein, polysaccharide… (Yihuai Gao và cộng sự, 2001)[21] Trong đó thành phần có tác dụng dược lý quý báu, đặc trưng cho nấm Linh chi phần lớn thuộc nhóm polysaccharide và nhóm triterpenoid (Đoàn Sáng, 2003)[15]
Trang 11Việt Nam với khí hậu nhiệt đới gió mùa và nguồn nguyên liệu cellulose dồi dào, đã tạo điều kiện cho nghề trồng nấm không ngừng phát triển Hiện nay cả nước có 32/61 tỉnh thành đã có cơ sở nuôi trồng nấm dược liệu (tháng 12/2001) (Nguyễn Hữu Đống và cộng sự, 2002)[5]
Để đáp ứng được một phần nhu cầu và cung cấp thông tin cần thiết cho người sử dụng, cũng như tiến hành các nghiên cứu khác chúng tôi tiến hành
“Nghiên cứu và đánh giá thành phần các hoạt chất có trong nấm Hồng Chi, nước Linh chi uống liền”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu phân tích và đánh giá thành phần các hoạt chất có trong nấm Hồng chi
- Xác định các chỉ tiêu sinh hóa có trong thành phần nước nấm Linh chi uống liền
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Định lượng được hoạt chất polysaccharide, triterpenoid có trong nấm Hồng chi
- Xác định thành phần cơ bản có trong hoạt chất polysaccharide
- Định tính và định lượng thành phần của acid hữu cơ tổng số có trong nấm Hồng chi
- Định lượng được một số chỉ tiêu, thành phần có trong nấm Hồng chi
và sản phẩm nước Linh chi uống liền như: Chỉ số pH, hàm lường Vitamin C, hàm lượng đường, hàm lượng chất khô hòa tan, chỉ tiêu vi sinh vật
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 12Thông qua kết quả nghiên cứu đề tài, đánh giá được một số thành phần, hoạt chất quan trọng có trong nấm Hồng chi, cũng như thành phần nước giải khát nấm Linh chi uống liền Làm cơ sở cung cấp thông tin cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về nấm Linh chi
2.1.1 Khái quát chung
Hơn 4000 năm trước đây, giá trị dược liệu của nấm Linh chi đã được ghi chép trong các thư tịch cổ, Linh chi được xếp vào “Thượng dược” trong sách “Thần Nông Bản Thảo” cách nay khoảng 2000 năm thời nhà Châu và sau đó được nhà y dược nổi tiếng Trung Quốc Lý Thời Trân phân ra thành
“Lục Bảo Linh Chi” (khoảng 1590) thời nhà Minh với các khái quát công dụng dược lý khác nhau, ứng theo từng màu
Từ đó đến nay, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao biến động của thời tiết, khí hậu, môi trường, Linh chi vẫn trường tồn và thể hiện giá trị “Siêu dược liệu”(Nguyễn Lân Dũng, 2001)[3]
Trang 14Ở các nước Đông Á, nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,…việc nghiên cứu, phát triển và sử dụng Linh chi đang được công nghiệp hóa với qui mô rộng lớn, cả về phân loại học, thu hái tự nhiên, nuôi trồng chủ động, chế biến và bào chế dược phẩm, đồng thời nghiên cứu hóa dược các hoạt chất, tác dụng dược lý và phương pháp điều trị lâm sàng (Trần Văn Não, 2004)[11]
Ở Việt Nam, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã nói về Linh chi từ
lâu và Lê Quí Đôn đã chỉ rõ đó là “nguồn sản vật quí hiếm của đất rừng Đại
Nam” Trong quyển “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (1991), giáo sư Đỗ
Tất Lợi còn mô tả chi tiết và trình bày về đặc tính trị liệu của loài nấm này, đồng thời cho rằng đây là loại Siêu thượng dược (Lê Xuân Thám,
2.1.3 Đặc điểm hình thái và chu trình sống của nấm Linh chi
2.1.3.1 Đặc điểm hình thái nấm linh chi (Ganoderma lucidum)
Linh chi thuộc nhóm nấm lớn và rất đa dạng về chủng loại Từ khi xác
Trang 15lập thành một chi riêng là Ganoderma Karst (1881), đến nay tính ra có hơn
200 loài được ghi nhận, riêng Ganoderma lucidum đã có 45 loài (Nguyễn
Lân Dũng, 2001)[3]
Nấm Linh chi là một trong những loại nấm phá gỗ, đặc biệt trên các cây thuộc bộ Đậu (Fabales) Nấm xuất hiện nhiều vào mùa mưa, trên thân cây hoặc gốc cây Ở Việt Nam Nấm Linh Chi được gọi là nấm Lim và được phát hiện ở miền Bắc bởi Patouillard N.T (1890 đến 1928)
Nấm Linh Chi (quả thể) cây nấm gồm 2 phần cuống nấm và mũ nấm (phần phiến đối diện với mũ nấm) Cuống nấm dài hoặc ngắn, đính bên
có hình trụ đường kính 0,5-3cm Cuống nấm ít phân nhánh, đôi khi có uốn khúc cong queo Lớp vỏ cuống màu đỏ, nâu đỏ, nâu đen, bóng, không có lông, phủ suốt lên mặt tán nấm
Mũ nấm khi non có hình trứng, lớn dần có hình quạt Trên mặt mũ
có vân gạch đồng tâm màu sắc từ vàng chanh - vàng nghệ - vàng nâu - vàng cam - đỏ nâu - nâu tím nhẵn bóng như láng vecni Mũ nấm có đường kính 2-15cm, dày 0,8-1,2cm, phần đính cuống thường gồ lên hoặc hơi lõm Khi nấm đến tuổi trưởng thành thì phát tán bào tử từ phiến có màu nâu sẫm (Nguyễn Lân Dũng, 2001)[3]
Trang 162.1.3.2 Chu trình sống của nấm Linh chi
Hình 2.2 Chu trình phát triển của nấm Linh chi
Khi nuôi cấy, tơ nấm lúc đầu có màu trắng, sau chuyển sang màu vàng, sợi nấm ngăn thành nhiều phần và hình thành các bào tử vô tính Chu
kỳ sống của nấm Linh chi giống hầu hết các loài nấm khác, nghĩa là cũng bắt đầu từ các bào tử, bào tử nảy mầm phát triển thành mạng sợi nấm gặp điều kiện thuận lợi sợi nấm sẽ kết thành nụ nấm, nụ phát triển thành chồi, rồi tán và thành tai trưởng thành Mặt dưới mũ sinh ra các bào tử, bào tử phóng thích ra ngoài và chu trình lại tiếp tục (Đỗ Tất Lợi, 1991)[8]
2.1.4 Thành phần hóa học của nấm Linh chi(Ganoderma lucidum)
Các phân tích của G-Bing Lin đã chứng minh các thành phần hóa dược tổng quát của nấm Linh chi như sau (Đoàn Sáng, 2003)[15]:
Trang 17Bảng 2.1 Thành phần hóa dƣợc tổng quát của nấm Linh chi
Polysaccharide 1.0 – 1.2% (chống hoạt động khối u, tăng sức đề
kháng và hệ miễn dịch cho cơ thể)
Thành phần khác K, Zn, Ca, Mn, Na, khoáng thiết yếu, nhiều
vitamin, amino acid, enzyme và hợp chất alcaloid
Từ những năm 1980 đến nay, bằng các phương pháp hiện đại: phổ kế
UV (tử ngoại), IR (hồng ngoại), phổ kế khối lượng - sắc ký khí (GC – MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân và đặc biệt là kỹ thuật sắc ký lỏng cao áp (HPLC) cùng phổ kế plasma (ICP), đã xác định chính xác gần 100 hoạt chất
và dẫn xuất trong nấm Linh chi (Lê Xuân Thám, 1996)[16]
Trang 18Bảng 2.2 Các hoạt chất sinh học và dẫn xuất trong nấm Linh chi [16]
dịch
Trang 192.1.5 Tác dụng trị liệu của nấm Linh chi
Linh chi được dùng như một thượng dược từ khoảng 4000 năm nay ở Trung Quốc, chưa thấy có tài liệu nào về tác dụng xấu, độc tính của Linh chi Cách đây hơn 400 năm, nhà y dược nổi tiếng của Trung Quốc Lý Thời Trân
đã phân ra các nhóm Linh chi chính và khái quát tác dụng trị liệu của chúng
Bảng 2.3 Lục bảo Linh chi theo Lý Thời (1590)
Đỏ Vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, dưỡng
tim, bổ trung, chữa trị tức ngực
Hoàng chi
(Kim chi)
Vàng Vị ngọt, tính bình, không độc, an thần, ích tì khí Bạch chi
Vị ngọt, tính ôn không độc, trị đau nhức khớp xương, gân cốt
(Nguồn Đỗ Tất Lợi và cộng sự, 1991)[8]
Trên thực tế, có thể coi Linh chi không có độc tính Quá trình kiểm tra
đã được thực hiện ở Việt Nam, tại một số cơ sở sau:
- Phân viện kiểm nghiệm Dược phẩm – Bộ y tế - Sài Gòn
- Trung tâm đào tạo và nghiên cứu Y dược học dân tộc
- Viện dược liệu, Hà Nội
Kết quả cho thấy dùng liều cao (gấp 50 – 150 lần liều dùng thông thường cho người) cũng không gây ra nhiễm độc cấp tính, hay trường diễn
Trang 20Do vậy chưa xác định được chỉ số LD 50 trên chuột nhắt trắng Quan sát dài ngày, không thấy biểu hiện bất thường trên chuột thí nghiệm, các thông số hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu,…vẫn trong giới hạn bình thường
Theo cách diễn đạt truyền thống của người phương Đông, các tác dụng lớn của nấm Linh chi như sau (Đoàn Sáng, 2003) [15]:
- Kiện não (làm sáng suốt, minh mẫn)
- Bảo can (bảo vệ gan)
- Cường tâm (thêm sức cho tim)
- Kiện vị (củng cố dạ dày và hệ tiêu hoá)
- Cường phế (thêm sức cho phổi, hệ hô hấp)
- Giải độc (giải tỏa trạng thái dị cảm)
- Trường sinh (tăng tuổi thọ)
Qua phân tích các hoạt chất về mặt dược lý và sử dụng nấm Linh chi, người ta thấy Linh chi có tác dụng với một số bệnh:
Đối với các bệnh tim mạch: Nấm Linh Chi có tác dụng điều hoà, ổn
định huyết áp Khi dùng cho người huyết áp cao, nấm Linh Chi không làm tăng mà làm giảm bớt, dùng nhiều thì huyết áp ổn định Đối với những người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp thì nấm Linh Chi có tác dụng nâng huyết áp lên gần mức dễ chịu nhờ cải thiện, chuyển hoá dinh dưỡng Đối với bệnh nhiễm mỡ, xơ mạch, dùng nấm Linh Chi có tác dụng giảm cholesterol toàn phần, làm tăng nhóm lipoprotein tỷ trọng cao trong máu, làm giảm hệ số sinh bệnh Nấm Linh Chi làm giảm xu thế kết bờ của tiểu cầu, giảm nồng độ mỡ trong máu, giảm co tắc mạch, giải toả cơn đau thắt tim Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra vai trò của các nguyên tố khoáng vết hiếm Vanadium (V) có tác dụng chống tích đọng cholesterol trên thành mạch Germanium giúp lưu thông khí huyết, tăng cường vận chuyển oxy vào mô Hiện nay, chỉ số Ge trong các dược phẩm Linh chi được xem như là một chỉ tiêu quan trọng, có giá trị trong điều trị tim mạch và giảm đau trong trị liệu ung thư (Lê Xuân
Trang 21Thám, 1998)[17]
Đối với các bệnh về hô hấp: nấm Linh Chi đem lại kết quả tốt, nhất là với những ca điều trị viêm phế quản dị ứng, hen phế quản tới 80% có tác dụng giảm và làm nhẹ bệnh theo hướng khỏi hẳn (Nguyễn Hữu Đống và cộng sự, 2002)[5]
Hiệu quả chống ung thư: Bằng việc kết hợp các phương pháp xạ trị,
hoá trị, giải phẫu với trị liệu nấm trên các bệnh nhân ung thư phổi, ung thư
vú và ung thư dạ dày có thể kéo dài thời gian sống trên 5 năm cao hơn nhóm không dùng nấm Nhiều thông tin ở Đài Loan cho biết nếu dùng nấm Linh chi trồng trên gỗ long não điều trị cho các bệnh nhân ung thư cổ tử cung đạt kết quả tốt - khối u tiêu biến hoàn toàn (Nguyễn Hữu Đống, 2005)[4] Các nhà khoa học ở Đại học Haifa, Israel khẳng định nấm linh chi - một loài nấm dại thường dùng trong Đông Y ở Trung Quốc (và Việt Nam) - có thể chữa ung thư tuyến tiền liệt Ung thư tiền liệt tuyến là một trong những dạng ung thư phổ biến nhất ở đàn ông, với hơn 543.000 người được chẩn đoán mỗi năm trên toàn thế giới
Khả năng kháng HIV: Để khảo sát khả năng kháng HIV của các hợp
chất trong nấm Ganoderma lucidum, người ta đã sử dụng dịch chiết từ quả thể trong thử nghiệm kháng virút HIV – 1 trên các tế bào lympho T ở người
Sự nhân lên của virút được xác định qua hoạt động phiên mã ngược trên bề mặt các tế bào lympho T đã được gây nhiễm HIV – 1 Kết quả cho thấy có sự
ức chế mạnh mẽ hoạt động sinh sản của loại virút này (Gau J.P, 1990; Kim, 1996) Do đó, nhiều quốc gia đã đưa Linh chi vào phác đồ điều trị tạm thời, nhằm tăng cường khả năng miễn dịch và nâng đỡ thể trạng cho các bệnh nhân trong khi AZT, DDI, DDC, còn hiếm và rất đắt Các nghiên cứu tại Nhật Bản đã chứng minh các hoạt chất từ nấm Linh chi có tác dụng như sau: (Zgao, J.D., 1994)[22]
Trang 22- Ganoderiol F và ganodermanontirol có hoạt tính chống HIV – 1
- Ganoderderic acid B và lucidumol B có tác động ức chế hữu hiệu protease HIV – 1
- Ganodermanondiol và lucidumol A ức chế phát triển tế bào Meth –
A (mouse sarcoma) và LLC (mouse lung carcinoma) (Lê Xuân Thám, 1996)[16]
Ngoài ra các ganoderma alcohol là lanostane triterpene với nhóm hydroxol (-OH) ở vị trí C25 có khả năng chống HIV – 1, Meth – A và LLC
ở chuột (Đoàn Sáng, 2003)[15]
Khả năng chống oxy hoá: Nhiều thực nghiệm chỉ ra vai trò của các
saponine và triterpenoid, mà trong đó Ganoderic acid được coi là hiệu quả nhất (Wang C.H, 1985) Những nghiên cứu gần đây đang đẩy mạnh theo hướng làm giàu Selenium - một yếu tố khoáng có hoạt tính antioxydant rất mạnh – vào nấm Linh chi Chính vì vậy con người có thể chờ đợi vào một dược phẩm tăng tuổi thọ, trẻ hoá từ nấm Linh chi nói chung và Linh chi Việt Nam nói riêng (Lê Xuân Thám, 1996)[16]
Các hoạt chất sinh học trong nấm Linh chi có khả năng khử một số gốc
tự do trong cơ chế chống não hóa, chống ung thư Bảo vệ và chống ảnh hưởng của các tia chiếu xạ Linh chi cũng có tác dụng giúp cơ thể thải loại nhanh các chất độc, kể cả các kim loại nặng như: Chì, Germanium (Đoàn Sáng, 2003)[15]…
2.1.6 Một số ứng dụng lâm sàng
Trị suy nhược thần kinh: Bệnh viện Hoa Sơn thuộc Viện Y học số 1 Thượng Hải báo cáo: Dùng cả 2 loại Linh chi nhân tạo và Linh chi hoang dại chế thành viên ( mỗi viên tương đương 1g thuốc sống), mỗi lần uống 3 viên, ngày 3 lần, một liệu trình từ 10 ngày đến 2 tháng Trị 225 ca, tỷ lệ kết quả 83,5 - 86,3%, nhận xét thuốc có tác dụng an thần, điều tiết thần kinh thực vật
Trang 23và tăng cường thể lực
Trị chứng cholesterol máu cao: Báo cáo của Sở nghiên cứu kháng
khuẩn tố công nghiệp Tứ xuyên, dùng liên tục từ 1 đến 3 tháng cho 120 ca thuốc có tác dụng hạ cholesterol huyết thanh rõ rệt, tỷ lệ kết quả 86%
Trị viêm phế quản mạn tính: Tổ nghiên cứu Linh chi tỉnh Quảng
Đông báo cáo dùng siro Linh chi và đường Linh chi, trị 1.110 ca có kết quả
và có nhận xét là thuốc có tác dụng đối với thể hen và thể hư hàn
Trị viêm gan mãn tính: Tác giả dùng polysaccarit Linh chi chiết xuất
từ Linh chi hoang dại chế thành thuốc bột hòa nước uống, trị các loại bệnh viêm gan mạn hoạt động, viêm gan mạn kéo dài và xơ gan gồm 367 ca, có nhận xét phần lớn triệu chứng chủ quan được cải thiện, men SGOT, SGPT giảm tỷ lệ 67,7%
Trị chứng giảm bạch cầu: dùng polysaccarit chế thành viên (mỗi viên có
250mg thuốc sống) cho uống, theo dõi 165 ca, ghi nhận tỷ lệ có kết quả 72,57%
Trị bệnh xơ cứng bì, viêm da cơ, bệnh liput ban đỏ, ban trọc: dùng
Linh chi chế thành dịch, tiêm bắp và viên uống Trị xơ cứng bì 173 ca, tỷ lệ kết quả 79,1%, viêm da cơ 43 ca, có kết quả 95%, Liput ban đỏ 84 ca có kết quả 90%, ban trọc 232 ca, có kết quả 78,88%
Theo sách Trung dược ứng dụng lâm sàng: thuốc có tác dụng đối với bệnh loét bao tử, rối lọan tiêu hóa kéo dài, thường dùng phối hợp với Ngũ bội
tử, Đảng sâm, Bạch truật, Trần bì, Kê nội kim, Sa nhân, Sinh khương
Trị xơ cứng mạch, cao huyết áp, tai biến mạch não: thường phối hợp
với Kê huyết đằng, Thạch xương bồ, Đơn bì, Cẩu tích, Đỗ trọng, Thỏ ty tử, Hoàng tinh Thuốc còn cùng chữa bệnh động mạch vành, đau thắt ngực
Dùng giải độc các loại khuẩn: phối hợp với Cam thảo, Gừng, Táo Ngoài ra sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam của Đỗ tất Lợi có ghi: thuốc chữa bệnh phụ nữ thời kỳ mãn kinh, giúp thông minh và trí nhớ,
Trang 24dùng lâu ngày giúp cho nhẹ người, tăng tuổi thọ Nhiều người mua nấm Linh chi về nấu canh, nấu súp làm món ăn cao cấp (Đoàn Sáng, 2003)[15]
2.2 Các sản phẩm chế biến từ nấm Linh chi
Theo các nhà khoa học trên thế giới nấm Linh chi chứa rất nhiều hoạt chất sinh học có có lợi cho sức khỏe con người Với phương pháp truyền thống, loại thảo dược này có trong các bài thuốc đông y và sắc lấy nước uống Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ sinh học phát triển và đặc biệt là sự phát triển của các sản phẩm thực phẩm chức năng Các dạng thương phẩm của nấm Linh chi trên thi trường chủ yếu dưới hình thức bột nấm, dạng khô, các loại trà, hoặc kết hợp cùng các loại nấm khác tạo thành dạng viên nén
Hình 2.3 Trà nấm Linh chi Hình 2.4 Cà phê Linh chi
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu nấm Linh chi trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu nấm Linh chi trên thế giới
Hiện nay nghề trồng nấm đã phát triển trở thành một ngành công nghiệp ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt phải kể đến Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ…
Việc nuôi trồng nấm Linh chi đã được ghi nhận từ năm 1621, nhưng phải đến 300 năm sau, với thành công của GS Dật Kiến Vũ Hưng (Nhật Bản) thì ngành nuôi trồng nấm mới được phổ biến Nếu tính từ năm 1979 sản
Trang 25lượng nấm Linh chi khô ở Nhật Bản đạt 5 tấn/năm thì đến năm 1995 sản lượng đạt 200 tấn/năm Như vậy là sau 16 năm sản lượng của Nhật Bản tăng gấp 40 lần (Lê Xuân Thám, 1998)[17]
Hàng năm, trên thế giới sản xuất khoảng 4300 tấn nấm Linh chi, trong
đó riêng Trung Quốc trồng khoảng 3000 tấn, còn lại là các quốc gia khác như: Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam….Trong khi Nhật Bản là nước đưa ra kĩ thuật nuôi trồng nhưng hiện nay vẫn đứng sau Trung Quốc Kỹ thuật nuôi trồng hiện nay ngày càng phát triển và tại Việt Nam nhiều nhà nghiên cứu đã thành lập một trại nuôi trồng
và bào chế Linh chi ở Sài Gòn từ năm 1987
Nhóm nấm quý họ Linh chi (Ganodermataceae) sống trên cây, trên gỗ
hay rễ cây mục Cho tới nay đã có 386 loài được ghi nhận trên toàn thế giới, trong đó 221 loài được các nhà khoa học công nhận
Trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan thì từ lâu nấm Linh chi đã được nghiên cứu và sử dụng vào việc phòng và điều trị bệnh Đến nay công nghệ nuôi trồng nấm ở các quốc gia này đã phát triển ở quy mô công nghiệp hiện đại và đem lại nguồn thu khá lớn trong kim ngạch xuất khẩu Sản xuất nấm phát triển đã tận dụng các nguyên liệu thừa trong các ngành công nghiệp, nông lâm nghiệp, cùng một lúc đem lại sản phẩm có giá trị, hiệu quả kinh tế cao, đồng thời góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ môi trường
Đến nay việc nghiên cứu nấm Linh chi không còn nằm trong phạm vi đất nước Trung Quốc, mà đã mang tính toàn cầu hóa Hiện nay có khoảng
250 bài báo của các nhà khoa học trên thế giới đã được công bố liên quan tới dược tính và lâm sàng của nấm Linh chi Tháng 7/1994, hội nghị Nấm học thế giới được tổ chức tại Vancouver, Canada đã nhất trí thành lập viện nghiên cứu Linh chi Quốc tế, đặt trụ sở tại NewYork (Hoa Kì)
Trang 26Nhiều công trình nghiên cứu về Linh chi đã chứng minh trong nấm
Linh chi chứa nhiều hợp chất Germanium và Polysaccharid có tác dụng thúc
đẩy quá trình trao đổi chất, làm chậm quá trình lão hóa, tăng cường miễn dịch cho cơ thể, nâng cao khả năng đề kháng bệnh, điều tiết hệ thần kinh trung ương, giúp thăng bằng cơ năng, ổn định huyết áp, bảo vệ gan, bổ não, tăng trí thông minh, tăng trí nhớ, giảm nhẹ các tác dụng phụ ở bệnh nhân ung thư khi điều trị hóa dược liệu,.…Chính vì thế mà ở Châu Á việc sử dụng Linh chi làm thuốc, thực phẩm chức năng, trà thuốc trở nên khá phổ biến và số người sử dụng nấm Linh chi ngày càng tăng trong những năm gần đây (Lê Xuân Thám, 1998)[17]
2.3.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu nấm Linh chi ở Việt Nam
Từ những năm 70, đặc biệt là những năm 80 và 90 của thế kỉ XX ở Việt Nam nấm Linh chi đã đã được quan tâm và nghiên cứu nhiều về thành phần hóa học cũng như tác dụng dược lý và quy trình sản xuất ra các chế phẩm Hiện nay, các chế phẩm từ Linh chi đã được con người ưa chuộng và
sử dụng ngày càng rộng rãi với nhiều hình thức đa dạng về chủng loại như: thuốc tiêm, thuốc cồn, cao dán, thuốc xông, và cao thuốc dùng ngoài Việc nghiên cứu và phân lập hoạt chất làm thuốc còn hạn chế cần được quan tâm nhiều hơn Trong công nghiệp điều chế, nhóm polysaccharid rất được chú ý, ngoài ra các acid amin và các nguyên tố vi lượng cũng được quan tâm (Lê Xuân Thám, 1998)[17]
Ở nước ta, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã khẳng định nấm Linh chi có thể chữa khỏi hoặc hạn chế các bệnh hiểm nghèo như: ung thư, đái đường, tim mạch, hô hấp….Giá trị dược liệu của nấm Linh chi
đã được ghi chép trong các thư tịch cổ, cách đây hơn 4000 năm Trong “Thần nông bách thảo” đã đề cập đến 365 dược thảo và Linh chi được xếp vào hạng
Trang 27thượng dược, ở vị trí số một sau đó mới đến nhân sâm (Đoàn Sáng, 2003)[15]
Ngành nuôi trồng nấm trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, tổng sản lượng ước tính đạt khoảng 100.000 tấn/năm Với công nghệ ngày càng hiện đại nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu thành công các nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm Linh chi thay cho mùn cưa cao su trước đây Kết quả này đã góp phần tránh lãng phí và hạn chế sự ô nhiễm môi trường bởi nguyên liệu được sử dụng là các phế thải của nhà máy đường, công nghiệp dệt như: bã mía, bông thải, (Nguyễn Hữu Đống và công sự, 2000)[5] … Đặc biệt trong một vài năm gần đây con người đã tìm kiếm và phát hiện một lượng khá lớn nấm cổ linh chi tại một số vùng núi cao nước ta Đây là kho tàng sản phẩm quý của y dược Việt Nam, cần được nghiên cứu sâu để ứng dụng đưa vào sản xuất khai thác và phát triển nấm Linh chi ở nước ta (Lê Xuân Thám, 1998)[17]
2.4 Tổng quan về các hoạt chất có trong nấm linh chi
2.4.1 Ganoderma polysaccharide (GLPs)
Có trên 200 loại polysaccharide được ly trích và thu nhận từ nấm Linh chi nhưng polysaccharid gồm 2 loại chính: (Yihuai Gao và cộng sự, 2001)[21]
GL-A: Gal: Glu: Rham: Xyl (3,2: 2,7: 1,8; 1,0) M= 23.000 Da GL-B: Glu: Rham: Xyl (6,8: 2,0: 1,0) M= 25.000 Da GL-A có thành phần chính là Gal, nên gọi là Galactan, còn GL-B có thành phần chính là Glu, nên gọi là Glucan
b (1-3) -D-glucan, khi phức hợp với một protein, có tác dụng chống ung thư rõ rệt (Kishida & al., 1988)
Hầu hết các GLPs hình thành từ 3 chuỗi monosaccharide, có cấu trúc xoắn ốc 3 chiều, giống cấu trúc của ADN và ARN Cấu trúc xoắn này tựa trên khung sườn cacbon, lượng khung sườn từ 100,000 – 1000,000, đa số
Trang 28chúng tồn tại phía trong vách tế bào (CWM) Một phần polysaccharide phân
tử nhỏ không tan trong cồn cao độ, nhưng tan trong nước nóng
Ngoài polysaccharide từ quả thể, polysaccharide cũng được thu nhận
từ quá trình nuôi cấy trong môi trường dịch lỏng và rắn, chúng vẫn có hoạt tính sinh học trong việc chữa trị
Polysaccharid có nguồn gốc từ Linh chi dùng điều trị ung thư đã được công nhận sáng chế (patent) ở Nhật Năm 1976, Cty Kureha Chemical Industry sản xuất chế phẩm trích từ Linh Chi có tác dụng kháng carcinogen Năm 1982, Cty Teikoko Chemical Industry sản xuất sản phẩm từ Linh Chi có gốc glucoprotein làm chất ức chế neoplasm Bằng sáng chế Mỹ 4051314, do Ohtsuka & al (1977), sản xuất từ Linh Chi chất mucopolysaccharid dùng chống ung thư
2.4.2 Ganoderic Acid
Ganoderic acid được định hướng là một cyclopropene hoặc cyclopentene Hàm lượng G.acid thay đổi theo giống Linh chi, môi trường nuôi trồng, giai đoạn bào tử ganodermal Chính sự thay đổi này làm cho mức
độ đắng bị ảnh hưởng Hàm lượng G.acid cao thì có nhiều vị đắng [16, 18]
Triterpenoid là những hợp chất được tổng hợp từ 6 đơn vị isopren Các triterpen có bộ khung chính từ 27 – 30 nguyên tử carbon (C38H48) rất thường gặp trong thực vật Các triterpenoid tồn tại dưới dạng tự do (không có phần đường), có cấu trúc vòng, mang một số nhóm chức như: -OH; -Oac; eter -O-; Carbanil C=O; nối đôi C=C Đặc tính chung là có tính thân dầu (tan tốt trong eter dầu hỏa, hexan, eter ethyl, cloroform), ít tan trong nước ngoại trừ khi chúng kết hợp với đường để tạo thành glycosid (Trần Hùng, 2004 Nguyễn Phước Nhuận, 2001)[7, 12]
Trang 29Bảng 2.4 Các hoạt chất triterpenoid có tác dụng chữa bệnh trong nấm
Linh chi (Ganoderma lucidum)
Ganoderic acid B, D, F, H, K, S, Y Hạ huyết áp
(Lê Xuân Thám, 1996)[16]
Triterpenoid đặc biệt là acid ganoderic có tác dụng chống dị ứng, ức chế sự giải phóng histamin, tăng cường sử dụng oxy và cải thiện chức năng gan Hiện nay, đã tìm thấy trên 80 dẫn xuất từ acid ganoderic Trong đó ganodosteron được xem là chất kích thích hoạt động của gan và bảo vệ gan
2.4.3 Ganoderma Adenosine
Adenosine thuộc nhóm purine và là thành phần chính trong cấu trúc nucleic acid Nấm Linh chi có nhiều dẫn xuất adenosine, tất cả chúng đều có hoạt tính dược liệu mạnh (Trần Thị Văn Thi, 2013)[18]
Chức năng của adenosine:
Giảm độ nhớt máu
Ức chế kết dính tiểu cầu
Ngăn chặn hình thành cục nghẽn
Tăng lượng lipoprotein 2 – 3 phosphricglycerin
Gia tăng khả năng vận chuyển oxygen, tăng lượng máu cung cấp cho não
Lọc máu và tăng tuần hoàn máu trong cơ thể
Trang 302.4.4 Alcaloid
Alcaloid là những hợp chất hữu cơ có chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, chúng có cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học rất
đa dạng (Nguyễn Phước Nhuận, 2001)[12]
Các alcaloid ở dạng tự do hầu như không tan trong nước, thường tan trong dung môi hữu cơ: cloroform, eter diethyl, alcol bậc thấp Các muối của alcaloid thì tan trong nước, alcol và hầu như không tan trong dung môi hữu
cơ như: cloroform, eter, benzen Chính vì thế, tính hòa tan của các alcaloid đóng vai trò quan trọng trong việc ly trích alcaloid ra khỏi nguyên liệu và trong kỹ nghệ dược phẩm điều chế dạng thuốc để uống
Alcaloid là những chất có hoạt tính sinh học, nhiều ứng dụng trong ngành y dược và nhiều chất rất độc Các alcaloid có tác dụng rất khác nhau phụ thuộc vào cấu trúc của alcaloid
- Saponin triterpenoid: Phần aglycon của saponin triterpenoid có 30
cacbon, cấu tạo bởi 6 đơn vị hemiterpen và chia làm 2 nhóm:
- Saponin triterpenoid pentacyclic: phần aglycon của nhóm này có
cấu trúc gồm 5 vòng và phân ra thành các nhóm nhỏ: olean, ursan, lupan, hopan Phần lớn các saponin triterpenoid trong tự nhiên đều thuộc nhóm olean
- Saponin triterpenoid tetracyclic: phần aglycon có cấu trúc 4 vòng
Trang 31và phân thành 3 nhóm chính: dammanran, lanostan, cucurbitan
- Saponin steroid: Gồm các nhóm chính: spirostan, furostan,
aminofurostan, spiroalan, solanidan
Hợp chất Saponin có nhiều công dụng trong y học như:
Trị long đờm, chữa ho
Là chất phụ gia trong một số vắc xin
Tác dụng thông tiểu
Tác dụng kháng viêm, chống khối u
2.4.6 Germanium hữu cơ
Gemanium là nguyên tố hiếm, do nhà khoa học người Đức khám phá vào năm 1885 Germanium có thể cung cấp một lượng lớn oxygen và thay thế chức năng của oxygen Nó kích thích khả năng vận chuyển oxygen tuần hoàn máu trong cơ thể lên đến 1,5 lần Vì thế, làm tăng mức độ trao đổi chất
và ngăn chặn quá trình lão hóa
Cơ thể con người là thành phần của các electron Khi mức năng lượng tăng hoặc giảm thấp, dẫn đến sự xáo trộn cân bằng và biểu lộ tình trạng bệnh
lý Gemanium hữu cơ sẽ duy trì mức năng lượng một cách bình thường trong
cơ thể và bảo vệ sức khoẻ Khi tế bào ung thư xuất hiện, chúng làm xáo trộn quá trình trao đổi chất Gemanium sẽ điều hoà và kiểm soát quá trình này, từ
đó ngăn chặn tế bào ung thư phát triển (Lê Xuân Thám, 1996)[16]
Chức năng của Germanium:
Tăng cường khả năng mang oxygen và giảm nguy cơ xuất hiện ung thư
Giảm nguy hiểm từ kết quả trị liệu phóng xạ
Ngăn chặn bệnh thiếu máu cục bộ
2.5 Vitamin C
2.5.1 Nguồn gốc
Vitamin C có nhiều trong các loại rau quả tươi như nước cam, chanh,
Trang 32quít, và có hàm lượng cao trong rau xanh, đặc biệt là bông cải xanh, tiêu, khoai tây, cải brussel, rau cải, cà chua, xoong cam, quýt, chanh, bưởi…
Trong thiên nhiên, vitamin C có trong hầu hết các loại rau quả tươu Thông thường các loại rau quả trồng ở nơi đầy đủ ánh sáng có hàm lượng vitamin C cao hơn Nếu tính số mg vitamin C có trong 100g rau quả ăn được (mg%) theo "Bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam" (NXB Y học - 1972) thì nó có nhiều nhất trong rau ngót (185mg%), sau đó sau đó là cần tây (150mg%), rau mùi (140%), kinh giới (110mg%), ray đay (77mg%),…Trong các loại quả thì nhiều nhất là thanh trà (177mg%), sau đó là bưởi (95mg%),
ổi (62mg%), quýt, cam, chanh, vải…Hàm lượng vitamin C trong rau quả phân phối không đều, có nhiều ở lớp vỏ hơn ở ruột, ở lá nhiều hơn ở cuống
và thân rau (Dược lý học, 1998)[19]
2.5.2 Tính chất
Vitamin C ở dạng tinh thể trắng, rất dễ tan trong nước, khó tan trong rượu, không tan trong các dung môi hữu cơ, tồn tại được ở 100°C trong môi trường trung tính và acid, bị oxi hóa bởi Oxi trong không khí và càng bị oxi hóa nhanh khi có sự hiện diện của Fe và Cu (Dược lý học, 1998)[19]
2.5.3 Rối loạn liên quan đến Vitamin C
Thiếu Vitamin C: Không như hầu hết các loài động vật khác, cơ thể
người không thể tự sản xuất vitamin C Một bệnh do thiếu hụt vitamin C đã được nhiều sách vở mô tả là bệnh scorbut (scurvy) Các triệu chứng kinh điển của bệnh này gồm: chảy máu nướu răng, chậm lành vết thương, các vết thâm tím rộng trên da (mảng xuất huyết dưới da, dân gian thường gọi là "vết ma cắn") Thêm vào đó là sự dễ bị nhiễm trùng, hysteria và trầm cảm cũng là những tiêu chuẩn chẩn đoán
Bệnh Scurvy đã ảnh hưởng đến rất nhiều bệnh nhân Ai cập, La Mã và Thành Rome cổ đại Bệnh này gắn liền với lịch sử Thế giới vì tỷ lệ cung cấp
Trang 33vitamin C không đầy đủ trong những chiến dịch quân sự và trong các cuộc hành trình trên biển dài ngày Đã có những giai đoạn lịch sử mà bệnh scurvy lan tràn rộng khắp như một bệnh dịch Từ năm 1556 đến 1857, đã có 114 dịch scurvy được báo cáo suốt trong các tháng mùa đông, lúc mà không thể cung cấp đầy đủ nguồn rau xanh Các chiến binh trên các cuộc hải trình dài ngày còn bị ảnh hưởng nặng nề hơn
Một số nhà thám hiểm, như Jacques Cartier năm 1856, đã nhận thấy rằng ăn một số loại thức ăn nào đó có thể làm giảm được tình trạng bệnh Ông đã cùng thủy thủ đoàn ăn loại cây lá kim vân sam; một số thủy thủ đoàn khác ăn cam, chanh, chanh lá cam,…Năm 1742, Jame Lind, một bác sĩ người Anh, đã viết một bài thảo luận chính thức đầu tiên về khả năng gây bệnh scurvy do thiếu hụt dinh dưỡng Theo kinh nghiệm của Lind, ông cho biết các bệnh nhân scurvy có thể phục hồi sau khi cho dùng nước cam Mặc dù có một số nhà thám hiểm đã ủng hộ những khám phá của Lind – như thủy thủ đoàn của thuyền trưởng Jame Cook đã hoàn toàn tránh được scurvy trong 3 cuộc hành trình dài ngày trên biển từ 1768 đến 1779 – Thủy quân Anh quốc vẫn chưa chấp nhận việc sử dụng nước cam chanh cho các thủy thủ mãi đến năm 1804, tức 62 năm sau những khám phá của Lind Xu hướng ngày nay người ta chấp nhận chế độ dinh dưỡng toàn diện nhờ nhiều khám phá mới về vai trò quan trọng của vitamin và khoáng chất, trong đó có vitamin C
Vitamin C được định nghĩa là "yếu tố chống scorbus", được Albert
Szent-Györgyi phân lập năm 1928 Gần 70 năm sau, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra nhiều lợi ích của vitamin C trên sức khỏe Ngày nay mặc dù bệnh scurvy hiếm gặp trong xã hội chúng ta, thiếu hụt vitamin C ở mức độ cận lâm sàng và mức độ giới hạn dưới cũng khá phổ biến, đặc biệt là ở người già
Thiếu vitamin C gây ra bệnh scorbut, với biểu hiện:
Người lớn: viêm lợi, chảy máu chân răng; tụ máu dưới màng xương,