1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự LATS đại học luật HN

303 531 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 303
Dung lượng 600,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khó khăn đầu tiên khiến hoạt động bào chữa của luật sư bịcản trở đó là thủ tục cấp gấy chứng nhận người bào chữa của Tòa án, tiếp đó là việcxác định quyền và lợi ích của các bị can, bị c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀĐÀOTẠO

BỘTƯPHÁPTRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀNỘI

NGÔ THỊ NGỌC VÂN

HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ

TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNHSỰ

Chuyênngành : Luật Hình sự và tố tụng hìnhsự

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫnkhoahọc: 1 PGS.TS NGUYỄN VĂNHUYÊN

2 TS PHAN THANH MAI

HÀ NỘI - 2016 LỜI CAM ĐOAN

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Ngô Thị Ngọc Vân

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

1.3 Đánhgiátìnhhìnhnghiêncứuliênquanđếnđềtàiluậnánvànhững

Chương 2: LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ

TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁNHÌNHSỰ 302.1 Kháiniệmhoạtđộngbào ch ữ a củaluật s ư tr on g g i a i đ oạ n x é t xử sơ

2.2 Ý nghĩa hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơt h ẩ m

Chương 3: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÀO

CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ

3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động bào chữa của luậtsư

Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁNHÌNHSỰ 1264.1 Yêu cầu của cải cách tư pháp và vấn đề nâng cao chất lượng hoạtđ ộn g

4.2 Giải pháp về hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 131

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

TÁC GIẢ LIÊN

151

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

TrangBiểu đồ 3.1: Số lượng luật sư tham gia bào chữa trong 5 năm từ năm 2007

Biểu đồ 3.2: Tình hình số luật sư được mời và theo yêu cầu của cơ quan

tiến hành tố tụng trong 5 năm từ năm 2007 đến 2011 83Biểu đồ 3.3: Tình hình luật sư tham gia bào chữa giai đoạn từ 5/2009 đến

Biểu đồ 3.4: Số vụ án luật sư tham gia bào chữa theo yêu cầu của cơ quan

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đềtài

Trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013,vấn đề mở rộng dân chủ, tăng cường pháp chế để bảo vệ có hiệu quả các quyền conngười, các quyền công dân càng trở nên cấp bách và trở thành nhiệm vụ của toàn xãhội Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong đó có hệ thống pháp luật hoànchỉnh và những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội thuận lợi là mục tiêu của cáchmạng trong giai đoạn hiện nay Mặc dù Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới nhiệm

vụ thúc đẩy quá trình dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội, bảo vệ các quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân song sự vi phạm tới các quyền con người, đặc biệttrong lĩnh vực tố tụng hình sự vẫn đang là vấn đề nhức nhối Để đẩy mạnh công tác

tư pháp cho ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trịBan chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết số 08/NQ-

TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Nghị quyết

đã chỉ ra những quan điểm chỉ đạo như“bảo đảm tranh tụng với Luật sư, người bàochữa và những người tham gia tố tụng khác ”, “ các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiêntoà ”.

Như vậy, bảo đảm thực hiện quyền và trách nhiệm của Luật sư trong hoạt động

tố tụng nói chung và trong giai đoạn đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng làvấn đề bức xúc trong cải cách tư pháp, đồng thời có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệpxây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân Đó là yêucầu tất yếu khách quan để bảo đảm quyền con người, quyền công dân Giai đoạn xét

xử sơ thẩm là giai đoạn trung tâm, thể hiện bản chất hoạt động tố tụng hình sự, có vaitrò quyết định trong giải quyết vụ án hình sự Hoạt động bào chữa của Luật sư trong tốtụng hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng là cầnthiết khách quan Khi tham gia giai đoạn xét xử sơ thẩm, trong phạm vi được pháp luậtcho phép, Luật sư bào chữa có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các hoạt động nghềnghề nghiệp khác nhau nhằm bào chữa cho bị can, bị cáo một cách có hiệu quả Hoạtđộng bào chữa của Luật sư trong trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thể hiệntrong các tiểu giai đoạn khác nhau: trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, trongphiên toà sơ thẩm và sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm Các hoạt động này thể hiện cụthể khác nhau, tuỳ theo nhiệm vụ tố tụng, thủ tục tố tụng của mỗi giaiđoạn

Trang 7

BLTTHS năm 1988 cũng như BLTTHS năm 2003 đều ghi nhận các quyền của

bị can, bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, với mục đích bảo vệ họtránh khỏi sự vi phạm từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng Trên thực tế, tất cả cácquyền đó đều sẽ trở thành hình thức nếu không có cơ chế bảo đảm cho nó được thựchiện Do đó, sự tham gia của Luật sư thực chất là để giúp đỡ bị can, bị cáo thực hiệncác quyền mà pháp luật quy định cho bị can, bị cáo Sự giúp đỡ này biểu hiện qua việcLuật sư thực hiện các quyền của mình trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo (thực chất là thông qua hoạt động bàochữa của luật sư) Việc tham gia tố tụng của Luật sư bào chữa là sự giám sát tốt nhấtcác hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; đấu tranh với những hành

vi sai trái để bảo vệ mục đích cuối cùng của quá trình tố tụng hình sự là giải quyết vụ

án một cách khách quan, chính xác, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Bên cạnh

đó, Luật sư bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp luật định để làm sáng tỏnhững tình tiết xác định bị can, bị cáo không có tội, những tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho bị can, bị cáo Hoạt động bào chữa của Luật sư cũng góp phầngiúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác,hợp tình, hợp lý; giúp Toà án cân nhắc, xem xét để đưa ra phán quyết có sức thuyếtphục và nâng cao hiệu quả của pháp luật tố tụng hình sự Tuy nhiên, thực trạng thihành các quy định của BLTTHS về sự tham gia của luật sư bào chữa trong tố tụnghình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng vẫn cònnhiều bất cập, vướng mắc Khó khăn đầu tiên khiến hoạt động bào chữa của luật sư bịcản trở đó là thủ tục cấp gấy chứng nhận người bào chữa của Tòa án, tiếp đó là việcxác định quyền và lợi ích của các bị can, bị cáo không đối lập nhau thường không rõràng dẫn đến trường hợp luật sư buộc phải, hoặc bị từ chối tham gia bào chữa; luật sưkhông được tòa án thông báo về quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thâm chí cótrường hợp quyết định nói trên còn đóng dấu “mật ” khiến luật sư khó nắm bắt đượcnội dung; vấn đề tiếp xúc bị cáo tại phiên tòa chưa thuận tiện khi cán bộ dẫn giải luônyêu cầu sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa… BLTTHS không quy định các trường hợpluật sư được quyền chủ động đề xuất người làm chứng cũng như triệu tập những ngườiliên quan khác có mặt tại phiên tòa nếu không được sự chấp thuận của tòa án; các quyđịnh về sự có mặt của người bào chữa chưa rõ ràng nên trên thực tế nhiều HĐXX tùytiện trong việc quyết định xét xử nếu người bào chữa vắngmặt…

Hoạt động bào chữa của Luật sư thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế.Nguyên nhân của các bất cập, hạn chế đó là do bất cập trong quy định của pháp luật

Trang 8

cũng như nhận thức và tổ chức thực hiện hoạt động bào chữa trên thực tế Việc nângcao hiệu quả hoạt động bào chữa của Luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đòi hỏiphải có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự; làm rõchức năng xét xử, chức năng buộc tội và chú trọng chức năng gỡ tội Theo đó, vị trícủa Luật sư phải được xem là một bên tham gia tố tụng, ngang hàng với Viện kiểm sáttại phiên toà nói chung và phiên toà sơ thẩm nói riêng Nhận thức đó phải được quántriệt trong đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp, đặc biệt là những người tiến hành tốtụng và mọi công dân Đồng thời, cần có giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình

sự, nâng cao phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn của Luật sư; chú ý đến vai tròcủa tổ chức Luật sư trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp; Nhà nước phảitạo hành lang pháp lý và điều kiện cần thiết để khuyến khích Luật sư trong hoạt độngnghề nghiệp, đồng thời nâng cao vai trò tự quản của Đoàn Luật sư Trong quá trình cảicách tư pháp cần củng cố, tăng cường tổ chức và hoạt động của Luật sư Sự đổi mớinày phải đặt trong tổng thể cải cách tư pháp, trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng

về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam Trong quá trình tham khảo cáctài liệu có liên quan, nghiên cứu sinh nhận thấy mới chỉ có các công trình nghiên cứu ởcấp độ thạc sỹ, tiến sỹ, đề tài khoa học cấp cớ sở, cấp Bộ, các bài viết viết trên các tạpchí chuyên ngành của các nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn về vai tròcủa người bào chữa trong tố tụng hình sự nói chung hoặc vấn đề bảo đảm quyền conngười, quyền của bị can, bị cáo …haychỉđề cập đến khía cạnh hẹp của vấn đề mà chưa

có công trình nào nghiêncứumột cáchtrựcdiện, chuyên sâuvềvấn đề hoạt động thực tếcủa luật sư đặc biệt là hoạt động bàochữacủa luật sư Vì vậy, việc nghiêncứulàm rõcácvấnđề lý luận liên quanđếnhoạt động bàochữacủa Luật sư trong xétxửsơ thẩm vụ

án hình sự; đánh giáthựctrạng hoạt động bàochữacủa luật sư trong giaiđoạn nàyvà đề

ra các giải pháp nâng caohiệuquả hoạt động bào chữa của Luật sư có ý nghĩaquantrọngcả trên phươngdiệnlý luận và phương diện thựctiễn

Trang 9

Với mục đích đó, Đề tài nghiên cứu đặt ra các nhiệm vụ sau:

- Làm rõvấnđề lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư trong giaiđoạnxét

xử sơ thẩm vụ án hình sự như:xâydựngkhái niệm hoạt động bàochữacủa luật sưtrong giaiđoạnxét xử sơ thẩm vụ án hìnhsự,nội dunghoạtđộng bàochữa,đặc điểm,mục đích và ý nghĩa của hoạt độngnày

- Làm rõ cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động bào chữa của Luật sư tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự (những kết quả đạt được, hạn chế, vướngmắc, nguyên nhâncủanhững hạn chế, vướngm ắ c )

- Kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạtđộng bào chữa của luật sư trong giaiđoạnxét xử sơ thẩm vụ án hìnhs ự

3 Đối tượng, phạm vi nghiêncứu

Đối tượng nghiên cứu:Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về

hoạt động bào chữa của luật sư trong giaiđoạnxét xử sơ thẩm vụ án hình sự,quyđịnhpháp luật liên quanđếnhoạt động bàochữacủa luật sư, thực trạng hoạt động bào chữacủa luật sư trong giaiđoạnn à y

Phạm vi nghiên cứu:tập trung làm rõ kháiniệmhoạt động bàochữacủa luật sư

trong giaiđoạnxét xử sơ thẩm vụ án hìnhsự,cở sở pháp lý,nộidung,đặcđiểm và ýnghĩacủahoạt động này;làmrõ sựcầnthiếtphải hoàn thiện pháp luậtvềhoạtđộngbàochữacủaluậtsưvànhữngphươnghướng, yêucầu đặtđối với việc kiến nghị hoàn thiệnpháp luậtvà các giải pháp khác.Luậnánnghiêncứunộidung hoạt động bàochữa và

sơthẩmvụánhìnhsựvàtạiphiêntoàsơthẩm(khôngnghiêncứuhoạtđộngbàochữacủaluậtsưtrongmột sốtrườnghợpđặc thùnhưbàochữachongười chưa thành niên, theothủtụcrútgọnvàsauphiêntoàsơthẩm)

Vềphápluật, luậnántậptrung nghiêncứuquyđịnhcủaBLTTHSnăm 2003liênquan đếnhoạt động bàochữacủaluậtsư.Ngoàira, luận áncũng nghiêncứu các văn bảnpháp luật TTHS khácvàvănbảnphápluậtkháccóliênquan đến hoạtđộngbào chữacủaluậtsư.Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề này cũngthuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài ở mức độ phù hợp với yêu cầu và điều kiệnnghiêncứu

Vấnđềthựctrạnghoạtđộngbào chữa của luật sưtronggiai đoạn xétxửsơthẩmvụánhìnhsự, luậnán sẽđánh giáthông quaviệcnghiêncứu, tổngkếtcácvụ ánđã xétxửsơthẩmcósự tham gia của luật sư bào chữa từnăm2005-2014vàhoạtđộngthựctếcủaluậtsưbàochữaởmộtsốtỉnh,thànhphốtrêncơsởbáocáocủaLĐLSViệtNam,củaVKSNDTC,TANDTC,phiếukhảosátvàcácthôngtin,tàiliệukhác

Trang 10

- Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp trong tất cả cácchương của luận án để làm rõ các vấn đề về lý luận, thực trạng và giảipháp.

- Sử dụng phương pháp so sánh khi nghiêncứuvấn đề tổng quan tình hìnhnghiên cứu trên thế giới và trong nước liên quan đến luận án; so sánh với các chuẩnmực quốc tế; đánh giá tình hình luật sư tham gia bào chữa; đánh giá thực trạng hoạtđộng bào chữa của luật sư; so sánh pháp luật mới - cũ, Việt Nam - các nướckhác

- Sử dụng phương pháp thống kê khi tổng hợp các số liệu liên quan đến luật

sư tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự; khảo sát, phỏng vấn đối với các luật

sư đang hành nghề, người tiến hành tố tụng đánh giá về chất lượng hoạt động bàochữa của luậtsư

5 Những điểm mới của luậnán

- Luận án làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư nhưxây dựng khái niệm hoạt động bào chữa, chỉ ra các đặc điểm và ý nghĩa, nội dungcủa hoạt động này trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hìnhsự

- Chỉ rõ những bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự vàpháp luật về hành nghề luật sư ảnh hưởng đến hoạt động bào chữa của luậtsư

- Làm rõ thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án hình sự và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế của hoạt động bàochữa của luật sư trong giai đoạnnày

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thực hiện và nâng caochất lượng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ ánhìnhsự

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luậnán

Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể bổ sung lý luận về hoạt động bào chữacủa luật sư nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng Luận án sẽ là nguồn

tư liệu có ý nghĩa để các cá nhân, cơ quan hữu quan tham khảo, nghiên cứu trong quátrình sửa đổi, bổ sung BLTTHS, Luật Luật sư; là nguồn tài liệu để biên soạn tài liệudạy và học cho các cơ sở đào tạo các chức danh tưpháp

Trang 11

7 Kết cấu của luậnán

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đó đặt ra, luận án có kết cấu như sau:Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận án sẽ gồm 4 chương:

Chương 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Chương 2:Lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án hình sự

Chương 3:Cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 4:Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật sư trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾGIỚI

Hoạt động bào chữa của luật sư là vấn đề đã được nghiên cứu trong một số côngtrình khoa học ở các góc độ tiếp cận, mức độ, phạm vi khác nhau và đã đạt được nhữngkết quả nghiên cứu đáng trân trọng Về mặt lý luận, những nghiên cứu về vấn đề quyềncon người (trong đó nhấn mạnh quyền bào chữa và quyền có người bào chữa củangười bị buộc tội), mô hình tố tụng, chức năng tố tụng và cải cách tư pháp trên thế giới

và ở Việt Nam là cơ sở lý luận và định hướng cho việc nghiên cứu đềtài

Trên diễn đàn nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, có không ít bài báo,công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đề cập đến quyền bào chữa và quyền

có NBC Cuốn“ Brownlie’s document on the man right”của tác giả Lan Brownlie,

GuyS.Goodwin -Grill năm 2010 tập trung phân tích các chuẩn mực pháp lý quốc tế vềquyền bào chữa, quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự và vấn đề bảo vệquyền bào chữa của người bị buộc tội trong đó có việc nhờ người khác bào chữa của

người bị buộc tội Sách“Toward an international criminalprocedure”của tác giả

Christoph Saffeling năm 2003 với nội dung so sánh, phân tích những quy định bảo đảmcác chuẩn mực quốc tế về quyền con người của người bị buộc tội nói chung và quyềnbào chữa nói riêng, đặc biệt, cuốn sách có đề cập đến nội dung tạo hành lang pháp lý

và điều kiện cần thiết để luật sư trợ giúp người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa

của họ Bài viết“Basic principles on the roleof lawyers”của tác giả Adam Paker năm

2008 đã phân tích rõ nội dung nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư trong tố tụnghình sự quốc tế qua việc chỉ ra cácquyđịnh minh bạch về quyền bào chữa và tráchnhiệm của Chính phủ trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền bào chữa của người bị buộc tộinhư được nhanh chóng tiếp cận với luật sư, được tiếp xúc riêng với luật sư Bài viếtcũng phân tích rõ các quyền của luật sư khi tham gia bào chữa như quyền có đủ thờigian và phương tiện chuẩn bị cho việc bào chữa của mình, tranh tụng, tiếp cận đối

tượng có liên quan, thu thập chứng cứ… Bài viết“Quá trình phát triển luật hình sự ở Hoa Kỳ”của GS JamesB Jacobs, Warren.E.Burger tại tạp chí điện tử của Bộ ngoại

giao Hoa Kỳ năm 2001 đề cập đến việc bảo vệ quyền con người trong suốt quá trình tốtụng trong đó có quyền bào chữa, quyền có người bào chữa Bên cạnh đó, một sốnghiên cứu được viết dưới góc độ so sánh và hầu hết mang tính mô tả pháp luật TTHScác nước Ngoài ra,c ó

Trang 13

không nhiều các nghiên cứu có liên quan đến quyền tố tụng của người bị buộc tội đượctiếp cận ở góc độ pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người Nhìn chung, nhữngnghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả một khối lượng kiến thức nền tảng về quyềnbào chữa, quyền có người bào chữa trong TTHS quốc tế và một số quốc gia trên thếgiới Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện về quyền có NBC của người bị buộc tội cũngnhư các cơ chế pháp lý bảo đảm quyền trong sự so sánh và đối chiếu với pháp luậtnước ngoài là thực sự cần thiết và có ýnghĩa.

Nghiên cứu lý luận cơ bản về mô hình tố tụng cần kể đến cuốn sách“Tưpháp hình sự so sánh”của Philip L Reichel (bản dịch tiếng Việt - Viện nghiên cứu Khoa

học Pháp lý) Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích đặc điểm và so sánh các truyềnthống pháp luật khác nhau trên thế giới Tác giả cũng phân tích làm rõ và so sánh cácloại mô hình tố tụng, đặc biệt là mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm và mô hình tốtụng công bằng Những nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù cùng chung mục đích là tìm

ra sự thật, phát hiện và xử lý tội phạm nhưng mỗi truyền thống pháp luật sử dụng mỗi

mô hình tố tụng khác nhau và đặt vấn đề là cách thức nào được xem là tốt nhất để tìm

ra sự thật Sự khác nhau giữa các mô hình tố tụng tất yếu dẫn đến sự khác nhau, trong

đó có sự khác nhau về địa vị pháp lý của các chủ thể và cách thức vận hành các chứcnăng tố tụng, trong đó có sự khác nhau về những quy định liên quan đến hoạt động

bào chữa của luật sư Cuốn sáchKhái quáthệ thống pháp luật của Hoa Kỳ (dịch từ nguyên bản tiếng Anh Outline of the U.S Legal System, Congressional Quarterly, Inc,

2001) cũng là một tài liệu đáng quan tâm nghiên cứu vì cuốn sách này đã “phác họabức tranh toàn cảnh hoạt động luật pháp HoaKỳ- về các thẩm phán, luật sư, bồi thẩmđoàn; về thủ tục TTHS và dân sự; về tòa án tối cao, các tòa sơ thẩm và phúc thẩm cấpbang và liên bang” [21] Đặc biệt, cuốn sách đề cập đến hoạt động và vai trò của luật

sư trong việc thương lượng lời khai (hay còn gọi là mặc cả thú tội), khi mà đổi lấy việcnhận tội, bị cáo được áp dụng pháp luật cả về nội dung và hình thức theo hướng có lợihơn Hoạt động này không có ở Việt Nam nhưng cũng có thể nghiên cứu để rõ hơnmức độ chủ động của luật sư trongTTHS

Bài viết“Phân tích, so sánh hai hệ thống pháp luật Mỹ và Pháp”của tác giả

James Claude và Joseph Daly đã chỉ ra cách thức thực hiện QBC của luật sư PhápvàMỹtrong một vụ án hình sự cũng như đề cập một số kỹ năng bào chữa dưới góc

độ luật sư Mỹ trong một vụ án cụ thể Cuốn sách“Những mô hình tố tụng hình sựtrên thế giới”của Jean -Philippe Rivaud nêu rõ sự tham gia của luật sư ngay từ

khi

mộtngườibịbắtvàcácquyền cơbảncủangười bịbuộctộinhưquyềncóngười

Trang 14

bào chữa, quyền im lặng… Cuốn sách“Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệthống tư pháp Trung Quốc, Indonesia, NHật Bản, Hành Quốc và Nga”do Liên hợp

quốc thực hiện năm 2010 đã làm rõ cơ cấu tổ chức cơ quan tư pháp hình sự, quy định

về quyền bào chữa, tạo điều kiện để luật sư tham gia bào chữa của 5 quốc gia chọn lọc.Trong đó, các vấn đề luật sư được phép sử dụng nhiều phương pháp đặc biệt để thuthập chứng cứ, cho phép luật sư đề nghị Đoàn luật sư địa phương yêu cầu cơ quan, tổchức cung cấp tài liệu, việc hỏi cung không được ghi hình, ghi tiếng khi chưa có sựhiện diện của luật sư … được tập trung nghiên cứu Những nghiên cứu về mô hình tốtụng nói trên có những nội dung liên quan đến hoạt động bào chữa của người bào chữa,trong đó có luật sư Vì vậy, việc tham khảo các tài liệu trên giúp cho việc nghiên cứucủa tác giả có những hiểu biết cần thiết về các mô hình tố tụng, trên cơ sở đó đưa ranhững kiến nghị hoàn thiện pháp luật hợp lý, phù hợp với mô hình tố tụng pha trộn màcải cách tư pháp ở Việt Nam đang hướngtới

Liên quan đến vấn đề hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án hình sự, cuốn sách “Bào chữa trong các vụ án hình sự ở Liên bangNga”đăng trên trang web:http://bit.ly/ntMTwqcủa William Burnham năm 2012,

Giáo sư Luật, có nội dung phân tích quyền của luật sư bào chữa, cụ thể tập trung vàocác vấn đề: Liệt kê các văn bản pháp luật của các nước mà bạn là chuyên gia quy định

về quyền của luật sư bào chữa; đưa ra tỷ lệ phần trăm các vụ án hình sự có sự tham giacủa luật sư bào chữa từ giai đoạn xét xử; chủ thể nào được đại diện cho bị can, bị cáotrong các vụ án hình sự… Bài viết phân tích rõ về giai đoạn điều tra: quy định củaHiến pháp Liên bang Nga (điều 51) quy định về việc bảo vệ chống lại sự buộc tội bằngviệc bảo đảm rằng “không ai có nghĩa vụ khai, làm chứng chống lại chính anh ta hoặc

cô ta, hoặc chống lại vợ hoặc chồng hoặc những người có quan hệ thân tích với anh ta/

cô ta” Ngoài ra, chuyên gia đi sâu phân tích quy định của Bộ luật TTHS Liên bangNga năm 2001 quy định các biện pháp bảo vệ quan trọng để đảm bảo rằng các quyềnnày được bảo vệ Cụ thể là các văn bản pháp luật này quy định quyền bào chữa củaluật sư từ giai đoạn đầu tiên của quá trình tốtụng

- ngay từ khi tự do của người bị tình nghi hoặc của bị can bị ngăn chặn bởi các cơ quan

có thẩm quyền.; luật sư không cần thiết phải có sự chấp thuận hoặc cho phép cụ thểnào ngoài sự thừa nhận của Đoàn luật sư nơi mà luật sư tham gia và có một lệnh từ tổchức luật sư ủy quyền cho luật sư đại diện cho khách hàng Bên cạnh đó, trong giaiđoạn điều tra, người bào chữa có quyền và phải có mặt khi người bị tình nghi hoặc bịcan đưa ra lời khai trước điều tra viên, và thậm chí trước cả giai đoạn đó Theo đó,quyền bào chữa được bắt đầu khi một người thực sự bị bắt giữ hoặc

Trang 15

“khi có bấtkỳbiện pháp tố tụng có tính cưỡng bức nào khác hoặc có hành vi tố tụngkhác xảy ra xâm phạm các quyền tự do của một người bị tình nghi là phạm một tội”.

Bộ luật TTHS Liên bang Nga 2001 chỉ rõ “thời điểm thực sự bị bắt” là khi người dó

“thực tế bị tước quyền tự do di chuyển” Trong giai đoạn này, luật sư được quyền thamgia vào hai hoạt động điều tra: (i) khi xét hỏi người bị tình nghi hoặc bị can (ii) trongcác hoạt động điều tra khác được thực hiện có sự tham gia của người bị tình nghi, bịcan và các hoạt động điều tra được thực hiện theo yêu cầu của người bị tình nghi, bịcan Bài viết cũng đề cập đến vấn đề thu thập chứng cứ như việc điều tra độc lập củangười bào chữa là một trong những điểm mới lớn nhất của Bộ luật TTHS Liên bangNga năm 2001 Theo đó, điều 83 của luật này quy định người bào chữa có quyền thuthập chứng cứ bằng: thu thập vật, tài liệu, thông tin khác; hỏi người khác nếu được họđồng ý; yêu cầu cung cấp các ghi chép, ý kiến tham khảo và các tài liệu khác của các

cơ quan chính quyền, các cơ quan tổ chức địa phương, cơ quan tổ chức xã hội Những

cơ quan, tổ chức này có trách nhiệm cung cấp tài liệu được yêu cầu hoặc bản sao tàiliệu đó Giai đoạn truy tố: Ở cấp sơ thẩm, BLTTHS Ngaquy địnhcó giaiđoạnđiềutratrướckhi xétxửvà giai đoạn xétxử.Trong giaiđoạnđiều tratrướcxét xử, một ngườiphạm tội có thể là“ngườibị tình nghi” khi bị bắt và sau đó là“bịcan” khi những buộc tộichính thức được đưa ra Quyền tham gia bàochữacủa luật sư xuất hiện từ “thời điểm bịbắt trênthựctế”, quyềnnàykhông cósựkhác biệt đối với hai nội dung nêu trên Tronggiaiđoạnxét xử, các vấn đề về việc tiếp cận của người bàochữavới khách hàngcủamìnhtrong giaiđoạntrước xét xử và giaiđoạnxét xử không cósựkhác biệt, nên sẽ không có sựcản trởnàođối với luật sư ở giai đoạn xétxử.Trongquátrình xétxử,nếu ngườibàochữakhông xuất hiện tại phiên tòa (trongtrườnghợp được chỉ định) thì vụ án phảiđược hoãn sang mộtngàykhác.Bịcáo có 5ngàyđểlựa chọn người bàochữamới và nếu họngười bào chữa mới không thể có mặt thì tòa án chỉ định người bàochữa

Trong tài liệu tại Hội thảo quốc tế về Bộ luật TTHS năm 2003 và quyền của luật

sư bào chữa năm 2012, tác giả Tian Wen Chang - chuyên gia Trung Quốc công bố bài

viết“Suy nghĩ và đánh giá tổng thể về bản dự thảo sửa đổi Luật tố tụng hìnhsự Trung Quốc”.Bài viết này đã đề cập đến những khó khăn trong công tác xây dựng Luật Tố

tụng hình sự nhằm bảo đảm về mặt pháp lý và tạo bình diện mở rộng cho sự tham gia

tố tụng hình sự của luật sư Bởi lẽ, công tác bào chữa trong vụ án hình sự là lĩnh vựchành nghề quan trọng, có những đóng góp đáng kể trong việc bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của bị cáo, bảo vệ sự công bằng trong tư phápvà

Trang 16

thúc đẩy xây dựng hệ thống pháp luật hình sự của Trung Quốc Tác giả đề cập đến nộidung bản kiến nghị hoàn thiện Luật Tố tụng hình sự của Trung Quốc Trong đó, vấn đềbào chữa tại phiên tòa sơ thẩm được đề xuất theo hướng thực hiện chế độ đối kháng.

Cụ thể: Hoàn thiện chế độ làm chứng tại tòa của người làm chứng; hoàn thiện quy chếthẩm vấn chéo; tăng cường quyền bào chữa, tạo sự cân bằng giữa cơ quan tố tụng vàbên bào chữa, đảm bảo cho bên bảo chữa tham gia xét xử một cách hiệu quả và thựcchất; đề phòng trường hợp cơ quan kiểm sát lạm dụng quyền truy tố, bảo đảm quyền

và lợi ích hợp pháp của bên bào chữa; giảm bớt màu sắc chức trách trong hoạt động xét

xử của tòa án, thực hiện tính trung lập của tòa án, tăng quyền tham dự và quyền quyếtđịnh của các bên tố tụng và bên bào chữa

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆTNAM

Thời gian qua, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu làm rõ nhữngvấn đề lý luận về quyền con người, quyền bào chữa của bị can, bị cáo, điạ vị pháp lýcủa luật sư, các giai đoạn tố tụng hình sự Các nội dungnàyđược tiếp cận ở phạm virộng, hẹp khác nhau, trong đó có đề cập đến vấn đề hoạt động bào chữa của luật sư.Những vấn đề lý luận đó giúp cho tác giả luận án có được cách tiếp cận đúng đắn vềquyền bào chữa và hoạt động bào chữa của luật sư, xác định hướng kiến nghị hoànthiện pháp luật trên nguyên tắc vừa bảo đảm quyền bào chữa của đối tượng bị buộc tội,vừa bảo đảm lợi ích nhà nước, lợi ích chung của xã hội, bảo đảm lợi ích của cơ quan,

tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác cũng như đưa ra các giải phápnâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án hìnhsự

1.2.1 Nhóm các công trình liên quan đến cơ sở lý luận của luậnán

Những nghiên cứu về quyền con người có thể kể đến các cuốn sách chuyên

khảo: “Quyền con người - tiếp cận đa ngành và liên ngành Luật học”- GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội 2010 (2 tập); “Cơ chế bảo đảm và bảovệ quyền con người”- G.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội 2011; “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người” của nhóm tác giả gồm

GS.TS Nguyễn Đăng Dung, TS Vũ Công Giao và Th.S Lã Khánh Tùng chủ biên,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011 và bài viết “Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền conngười bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự” của PGS TSKH.

Lê Cảm, Tạp chí TAND số 11, 13 và 14/2006 Nhóm các công trình này đã phântích nội dung, khẳng định quyền con người là quyền tự nhiên, xuất hiện trước khicác nhà nước ra đời và quyền bào chữa là quyền cơ bản của người bị buộc tội.Trong mối quan hệ tố tụng giữa chủ thể buộc tội và người bị buộc tội, người bị buộctội luôn

Trang 17

yếu thế do đó nhà nước phải ghi nhận quyền bào chữa trong tố tụng hình sự để họ cóthể tự bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình Quyền bào chữa của người bị buộc tộicần được nhà nước thể chế hoá trong quy định pháp luật thì mới có thể thực hiện trênthực tế và đây là một trong các quyền cấu thành nên quyền được xét xử công bằngtrong luật pháp quốctế.

Quyền bào chữa, quyền có NBC của người bị buộc tội được ghi nhận từ rất sớmtrong lịch sử TTHS thế giới cũng như trong TTHS Việt Nam Theoquyđịnh của phápluật Việt Nam, quyền có NBC được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật TTHS như làmột nguyên tắc cơ bản định hướng các hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tốtụng (THTT) Mặc dù vậy, việc bảo đảm quyền này trong thực tế còn tồn tại nhiều hạnchế, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều quốc gia khác trên thế giới Trên thực tế, việcnghiên cứu nhằm tìm kiến những giải pháp bảo đảm có hiệu quả quyền lợi của người

bị buộc tội trong TTHS đã được nhiều nhà khoa học tiến hành Tuy nhiên hầu hết cácnghiên cứu đều đề cập ở phạm vi bảo đảm các quyền tố tụng cơ bản của người bị buộctội Những nghiên cứu trực tiếp về bảo đảm quyền có NBC còn khá khiêm tốn, đặc biệtchưa có nghiên cứu nào được thực hiện dưới góc độ so sánh pháp luật Ở Việt Nam,các nghiên cứu có liên quan đến quyền bào chữa và bảo đảm quyền có NBC còn chưa

nhiều Tài liệu“Nghiên cứu QBC trong phápluật TTHS và thực tiễn tại Việt Nam”do

nhóm nghiên cứu Nguyễn Hưng Quang và cộng sự năm 2012 đã làm rõ các tiêu chuẩnquốc tế về QBC thông qua việc nghiên cứu các văn bản pháp lý quốc tế, khu vực nhưICCPR, ECHR, quy chế Rome… ; đánh giá mức độ bảo đảm, tạo điều kiện của cơquantiến hành tố tụng đối với việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội,

luật sư Bên cạnh đó, các công trình khác như Luận văn thạcsỹ“Thực hiện pháp luật về quyền bào chữa của bịcan, bị cáo ở Việt Nam”của tác giả Nguyễn Tường Vi; luận án tiếnsỹ“Bảo đảmquyền có người bào chữa của người bị buộc tội - So sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Mỹ và Đức”của tác giả Lương Thị Mỹ Quỳnh; cuốn“Bảo đảm quyềnbào chữa của người bị buộc tội”của tác giả Phạm Hồng Hải xuất bản năm 1999; cuốn“Địa vị pháp lý và mối quan hệ của người bào chữa với bị can, bị cáo trong tốtụng hình sự”của tác giả Nguyễn Văn Tuân năm 2003… cũng đề cập đến vấn đề

QBC, quyền có NBC, người bào chữa ở những khía cạnh nhất định Hầu hết cácnghiên cứu nêu trên mới chỉ dừng ở mức độ diễn giải luật thực định Nhìn chung, nộidung đề cập trong các bài viết này tập trung ở 3 khía cạnh: một là nghiên cứu nhữngquy định của Bộ luật TTHS dưới góc độ bảo đảm quyền con người (bao gồmquyềnc ủ a n g ư ờ i b ị b u ộ c t ộ i ) ; h a i l à n g h i ê n c ứ u n g u y ê n t ắ c T T H S v ề b ả o đ

ả m

Trang 18

quyền bào chữa nói chung của người bị buộc tội; ba là nghiên cứu vai trò của NBCtrong TTHS Bên cạnh đó, một số rất ít bài viết khoa học đề cập đến bảo đảm quyềnbào chữa nói chung trong bối cảnh của cuộc cải cách tư pháp Một vài nghiên cứu dướidạng sách và luận án (ở cấp độ thạc sĩ và tiến sĩ) đã trở nên lạc hậu, không còn tínhthời sự Ở quy mô lớn hơn, đã có những nhóm chuyên gia tiến hành nghiên cứu vềthực trạng thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS như đã nêutrên Mặc dù vậy, kết quả từ những nghiên cứu trên đã giúp làm sáng tỏ quy định củaluật TTHS về quyền bào chữa và bảo đảm quyền bào chữa nói chung, cũng như chỉ ratương đối những bất cập còn tồn tại Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn chưa tiếp cậntrực tiếp và toàn diện về bảo đảm quyền có NBC, nhất là hoạt động bào chữa củangười bào chữa.

Những công trình khoa học nghiên cứu lý luận về chức năng của TTHS, trong

đó có chức năng gỡ tội cũng góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài luận án

Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như “Mô hình TTHS Việt Nam”do VKSNDTC chủ trì soạn thảo trong Đề án về Mô hình TTHS Việt Nam.Đề án này

nghiên cứu những mô hình TTHS điển hình trên thế giới và mô hình tố tụng của một

số nước; nghiên cứu lịch sử mô hình TTHS Việt Nam; tổng kết thực tiễn thi hành

BLTTHS năm 2003 và phương hướng xây dựng mô hình TTHS ở Việt Nam.Đề án này

nghiên cứu những mô hình TTHS điển hình trên thế giới và mô hình tố tụng của một

số nước; nghiên cứu lịch sử mô hình TTHS Việt Nam; tổng kết thực tiễn thi hànhBLTTHS năm 2003 và phương hướng xây dựng mô hình TTHS ở Việt Nam Luận án

tiến sĩCác chức năng trong TTHS Việt Nam - Nhữngvấn đề lý luận và thực tiễncủa tác

giả Nguyễn Mạnh Hùng, năm 2012 Trong luận án, tác giả đã làm rõ những vấn đề lýluận về các chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử trong TTHS;tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện các chức năng này trong thực tiễn TTHS ViệtNam và đề xuất những giải pháp cần thiết để thực hiện hiệu quả các chức năng của

TTHS Bài viết “Phân định rành mạch cácchức năng cơ bản của TTHS: Buộc tội, bào chữa và xét xử”của tác giả Hà An [73] đã phân tích sự cần thiết phải tạo được cơ chế

bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong việc thực thi các chứcnăng buộc tội và bào chữa, nâng cao vai trò của người bào chữa trong các giai đoạntốtụng

Các nghiên cứu về thủ tục, phương thức thực hiện các hoạt động tố tụng,trong đó có hoạt động bào chữa của luật sư cũng là những nghiên cứu liên quan đến

đề tài luận án, đặc biệt là các nghiên cứu về tranh tụng Có thể kể đến luận án tiến sĩ

“Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn”

Trang 19

của tác giả Nguyễn Văn Hiển, năm 2010 Trong luận án này, tác giả đã nghiên cứutoàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn để chứng minh sự tồn tại khách quan củanguyên tắc tranh tụng trong các mô hình TTHS; khả năng xây dựng và áp dụng có hiệuquả nguyên tắc này phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam mà không cần thayđổi mô hình tố tụng truyền thống Từ đó, khẳng định tầm quan trọng của chức năng gỡ

tội và hoạt động bào chữa của người bào chữa Ngoài ra còn có bài viết “Một số vấn đề

về tranh tụng trong TTHS”của tác giả Lê Tiến Châu, tạp chí Khoa học pháp lý số 1, năm 2003; bàiNguyên tắc tranh tụng trong hệ thống nguyêntắc cơ bản của luật TTHScủa PGS.TSKH Lê Cảm, tạp chí Luật học, số 6, năm 2004; bài “Thực trạng tranh tụng và vấn đề nâng cao vai trò của luật sư trongtranh tụng trước yêu cầu cải cách tư pháp” của TS Nguyễn Văn Tuân, tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 3/2010 (216); bài“Bảo đảm quyền của bị cáo trong phiêntoà mở rộng tranh tụng”của

TS Nguyễn Văn Huyên, tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên để về tranh tụng năm

2003, luận văn thạc sỹ“Tranh tụng tại phiên toà sơthẩm hình sự, những vấn đề lý luận

và thực tiễn”của tác giả Lưu Bình Dương năm 2004… Các công trình trên đã phân tích

khía cạnh khác nhau về quyền bào chữa, bảo đảm quyền bào chữa nhưng nhìn chung

đã cho chúng ta cái nhìn tổng thể về quyền bào chữa và đảm bảo thực hiện quyền nàytrên thực tế cũng như làm sáng tỏ về mặt lý luận nội dung quyền này; nhận diện đượcvai trò của người bào chữa trong đó có luật sư trong tố tụng hình sự; bất cập và nguyênnhân của những hạn chế trong thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tế,giải pháp nâng cao hiệu quả bào chữa Những công trình nghiên cứu trên đều có nộidung liên quan đến quyền bào chữa và hoạt động bào chữa, trong đó có hoạt động bàochữa của luậtsư

1.2.2 Nhóm công trình liên quan trực tiếp đến nội dung luậnán

Những vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài cũng được nghiên cứu ở nhiều

phạm vi và mức độ khác nhau Ở mức độ đại cương, “Giáo trình Luật TTHS”của Trường Đại học Luật Hà Nội,“Giáo trình Luật TTHS”của Học viện Tư pháp cũng

như giáo trình của các cơ sở đào tạo luật khác nghiên cứu về khái niệm người bàochữa nói chung và luật sư nói riêng; nghiên cứu, phân tích quy định của BLTTHS

về quyền, nghĩa vụ tố tụng của người bào chữa cũng như những quy định điều

chỉnh các hoạt động cụ thể của luật sư trong quá trình tố tụng Giáo trình “Kỹ nănghành nghề luật sư”của Học viện Tư pháp (năm 2001), giáo trình “Kỹ năng thamgia giải quyết các vụ án hình sự”của Học viện Tư pháp được sửa đổi, bổ sung năm 2013, giáo trình “Kỹ năng chuyên sâu của Luật sư trong một số vụ án hìnhsự”nă m

Trang 20

2015 nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp của luật sư trong các lĩnh vực hoạt động,trong đó có hoạt động bào chữa của luật sư trong TTHS Những nội dung trong cáccuốn giáo trình này là những kiến thức đại cương, cơ bản về mặt pháp luật và những

kỹ năng mềm liên quan đến hoạt động bào chữa của luật sư và kỹ năng hành nghề củaluật sư

Nghiên cứu chuyên sâu có liên quan đến vấn đề này có thể kể đến luận án tiến sĩ

“Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS”của TS Hoàng Thị Sơn,

Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2003 Trong luận án tác giả trìnhbàymột số vấn đềchung về quyền bào chữa của bị can, bị cáo; hình thức thực hiện quyền bào chữa của bịcan, bị cáo; các bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo; thực tiễn thựchiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo; trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất các giải pháp

có giá trị để nâng cao hiệu quả thực hiện quyền bào chữa Luận án này là một côngtrình nghiên cứu có giá trị, tác giả đã nghiên cứu toàn diện về cả lý luận và thực tiễn vềviệc thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo, những hoạt động của người bào chữanhằm thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo và đã đề xuất nhiều kiến nghị hoànthiện pháp luật nhằm thực hiện có hiệu quả quyền bào chữa của bị can, bị cáo có tínhkhoa học và khả thi Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu về pháp luật của luận án làBLTTHS năm 1988, vì vậy có những vấn đề không còn mới trong thời điểm hiện nay

Về sách chuyên khảo phải kể đến cuốn “Vai trò của luật sư trong TTHS”của TS.

Nguyễn Văn Tuân, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, năm 2001, trong cuốn sách này tácgiả đã làm rõ vị trí, vai trò của luật sư trong việc bảo đảm quyền cơ bản của công dân

và phân tích sâu vai trò của luật sư trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Nội dung

cơ bản của cuốn sách tập trung phân tích các quyền và nghĩa vụ của luật sư trong tốtụng hình sự nói chung và vai trò của luật sư trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét

xử Vai trò của luật sư được thể hiện rõ nét thông qua việc thực hiện các quyền màBLTTHS quy định như có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bịcan và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trongnhững hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham giacủa mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa; đề nghị Cơquan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung

bị can; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịchtheoquyđịnh của Bộ luật này; thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bàochữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ

cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can,bị

Trang 21

cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;đọc, ghi chép và sao chụpnhững tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tratheo quy định của pháp luật; tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà.

Đề tài khoa học “Hoàn thiện pháp luật TTHS nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng bào chữa của luật sư”năm 2003 của trường ĐH Luật Hà Nội năm 2013 cũng

có những nội dung liên quan mật thiết với luận án Nội dung đề tài đề cập đến việc xâydựng khái niệm khoa học về hoạt động bào chữa của luật sư trên cơ sở phân tích làm

rõ những đặc điểm của hoạt động này; làm rõ ýnghĩavềchínhtrị,xã hội vàpháplý củahoạtđộng bàochữa củaluậtsư;làm rõ những điều kiện bảo đảm thực hiện hoạt động bào chữacủa luật sư; nghiên cứu yêu cầu của cải cách tư pháp, nghiên cứu những tiêu chí của hệthống pháp luật, so sánh với thực trạng pháp luậthiệnnay,từđólýgiảisựcầnthiếtcủaviệchoànthiệnphápluậtTTHSđểnângcaohiệu quả hoạtđộng bào chữa củaluậtsư đápứngyêucầu của cảicáchtưpháp;nghiên cứu các quy định củaBLTTHS năm 2003 về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, về hoạt động bào chữacủa luật sư và những quy định pháp luật có liên quan, xác định những bất cập của cácquy định này dẫn đến việc chưa thực sự bảo đảm hiệu quả hoạt động bào chữa của luậtsư; nghiên cứu thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư, tìm hiểu những vướng mắc,hạn chế trong hoạt động bào chữa của luật sư và xác định nguyên nhân về phương diệnpháp luật của thực trạng đó; đề xuất những kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung mộtsốquyđịnh pháp luật TTHS nhằm tạo khung pháp lý phù hợp cho hoạt động bào chữacủa luật sự đạt hiệu quả caohơn

Trên các tạp chí chuyên ngành luật đã có một số bài viết liên quan nhưng chưathực sự đi sâu về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự Tạp chí luật học số 5/2003, PTS TS Phạm Hồng Hải, Viện Nghiên cứu Nhà

nước và pháp luật, Trung tâm KHXH&NV quốc gia đã có bài viết“Vị trí của luật sư bào chữa trong phiên tòa xét xử”.Bài viết phân tích vai trò của luật sư bào chữa trong

phiên tòa xét xử, việc thể hiện quyền bào chữa của những người bị buộc tội trongTTHS; khẳng định vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của luật sư trong thực tế không chỉ

là nét dân chủ của Luật TTHS XHCN mà còn tạo điều kiện cho tố tụng hình sự đạtđược những mục đích đặt ra, trong đó có mục đích bảo vệ có hiệu quả quyền, lợi íchhợp pháp của công dân; phân tích sự tham gia của luật sư với tư cách là người bàochữa tại phiên tòa xét xử Theo đó, giai đoạn xét xử được tác giả phân tích theo nghĩarộng, không chỉ bao gồm phiên tòa xét xử mà cả khoảng thời gian chuẩn bị xét xử Sựtham gia của luật sư đã được Bộ luật TTHS

Trang 22

quy định cụ thể các quyền của họ như: quyền đề nghị Tòa án quyết định trả lại hồ sơ

để điều tra bổ sung (Điều 154), quyết định tạm đình chỉ vụ án (Điều 155), thay đổihoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (Điều 152) hoặc đề nghị Viện kiểm sát rút một phầnhoặc toàn bộ quyết định truy tố (Điều 156); đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằmnâng cao vị trí, vai trò của luật sư trong phiên tòa xét xử, trong đó có những đề xuất,kiến nghị với Tòa án trong việc tạo điều kiện cho luật sư thực hiện quyền của mình; đềxuất, kiến nghị trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của luật sư trên thực tế trongquá trình xét xử các vụ án hìnhsự…

Vào năm 2005, PGS.TS, luật sư Phạm Hồng Hải tiếp tục công bố bài viết“Thực trạng hoạt động của luật sư - Người bào chữa qua hơn một năm thì hành Bộluật Tố tụng hình sự năm 2003”trên Tạp chí kiểm sát số 24 (12-2005) với nội dung phân tích

những điểm mới quy định về luật sư - người bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2003 Bài viết chỉ rõ Điều 11 Bộ luật TTHS năm 2003quy địnhvề nguyên tắc bảođảm quyền bào chữa trong TTHS, Điều 58 Bộ luật TTHS 2003 khi quy định về quyền

và nghĩa vụ của người bào chữa đã ghi nhận nhiều nội dung mới so với luật cũ như:người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ của cơ quanđiều tra đối với một người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặcđang bị truy nã; người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thờigian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can; quy định người bào chữa

có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan tới việc bào chữa từ người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những ngườinàyhoặc từ cơ quan, tổ chức, cánhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can…; phân tích thực trạng hoạt động củaluật sư - người bào chữa hiện nay, bài viết đi sâu phân tích thực trạng của việc cấp giấychứng nhận bào chữa trên thực tế không thực hiện đúng theo quy định tại khoản 4,Điều 56 Bộ luật TTHS; việc gặp bị can đang bị tạm giam trên thực tế cũng rất khókhăn; quá trình tham gia hỏi cung bị can của luật sư còn nhiều hạn chế, những câu hỏi,

ý kiến của luật sư không được điều tra viên quan tâm; việc tuân thủ nguyên tắc “khi xét

xử, HĐXX phải căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa” rất ít được

áp dụng trên thực tế, mà chủ yếu Thẩm phán chủ tọa phiên tòa dựa vào những “địnhhướng” của Ủy ban thẩm phán về tội danh và mức hình phạt sẽ được áp dụng đối với

bị cáo; đưa ra một số kiến nghị trên cơ sở phân tích thực trạng như kiến nghị các cơquan có thẩm quyền ban hành Thông tư hoặc Thông tư liên ngành để giải thích, hướngdẫn thực hiện các quy định của Bộ luật TTHS về trình tự, thủ tục và nội dung tham giabào chữa của luật sư trong trong các vụ án hình sự; đơn giản hóa thủ tục cấpgiấyc h ứ n g

Trang 23

nhận bào chữa cho luật sư và thủ tục cho phép luật sư vào gặp bị can, bị cáo trong trạigiam; các ý kiến tranh luận tại phiên tòa của luật sư cần được đánh giá như ý kiến củakiểm sát viên và phải được chấp nhận khi có căn cứ Các ý kiến không được chấp nhậncũng phải được phân tích, lập luận trong bản án hoặc quyết định của Hội đồng xét xử.Những đề xuất, kiến nghị của bài viết rất cụ thể, có căn cứ, phù hợp với thực tế hoạtđộng của luật sư hiện nay khi tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bịcáo trong các giai đoạn của quá trình tố tụng Những đề xuất, kiến nghị này giúp chocác cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành các văn bản dưới luật trong việc hướngdẫn một số điều của Bộ luậtTTHS.

Trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 5 - 2008), ThS Nguyễn Văn Trượng,

Tòa án Quân sự Trung ương có bài viết“Bàn về việc bảo đảm quyền bình đẳng củaluật

sư bào chữa khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự” Bài viết đi sâu phân tích

những quy định của Bộ luật TTHS hiện hành trong việc đảm bảo quyền bình đẳng củaluật sư khi tham gia tranh luận tại phiên tòa, cụ thể là quyền của người bào chữa đượcquy định tại Điều 58 Bộ luật TTHS, theo đó quyền của người bào chữa đượcquyđịnh

cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi hơn chongườibàochữak h i t h a m g i a

t r a n h luậnlại phiên tòa Trong các giaiđoạncủa quá trìnhtốtụng, người bàochữacòn

có các quyền cụ thểđược quyđịnh từ giaiđoạnđiều tra, truy tố và xét xử vụ ánhìnhsự.Tácgiảcũng đưa ranhữnggiải pháp nhằmđảmbảo quyền bình đẳng củaluậtsưbàochữakhi tham gia tranh tụng tại phiên tòa,cụt h ể :

(i) cần nhận thức và xác định đúng vai trò,vịtrí của luật sư bào chữa trongTTHS;(ii) hoànthiệnpháp luật TTHS theohướngbổ sung thêm quyền của người bào chữakhi tham giatốtụng; (iii)xây dựngcơchếđảm bảo cho cácquy địnhcủa pháp luật vềquyềncủaluật sưđượcthực hiện trênthựctế; (iv) tăngcườngcông tác đào tạo, bồidưỡng, tập huấn để nâng cao trìnhđộnghiệp vụ vàkỹnăng tranh tụng cho các luật sưbàochữa

Năm 2009, ThS Lê Văn Thảo, Đại học Vinh có bài viết“Coi trọng hoạtđộng nghề nghiệp của luật sư và phiên tòa tranh tụng nhằm nâng cao chất lượng xét xử các

vụ án hình sự ở nước ta hiện nay”trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 4 - 2009) Tác

giả đã phân tích những kết quả đạt được trong công tác xét xử của ngành Tòa án trongnhững năm gần đây; phân tích, đánh giá những tồn tại, hạn chế của công tác xét xử,của đội ngũ thẩm phán; phân tích những sai sót trong công tác xét xử các vụ án hình

sự Cụ thể, đội ngũ thẩm phán còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị củamột bộ phân cán bộ còn yếu; quá trình thẩm vấn, tranh luận tại phiên tòa chưađầyđủ,đánh giá căn cứ thiếu khách quan, toàn diện dẫntới

Trang 24

áp dụng tội danh không đúng; việc chấp hành các quy định về thủ tục tố tụng trongviệc giải quyết các vụ án hình sự còn nhiều thiếu sót Trên cơ sở phân tích những tồntại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, bài viết đưa ra những giải pháp

cụ thể để cơ quan, người tiến hành tố tụng coi trọng đúng mức hoạt động nghề nghiệpcủa luật sư và phiên tòa tranh tụng, cụ thể: hoàn thiện pháp luật về luật sư; tăng thêmcác trường hợp và mở rộng quy mô đào tạo đội ngũ luật sư; hoàn thiện cơ chế bảođảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa; Nhà nước cần tạo điều kiệnthuận lợi cho việc hoạt động của các Đoàn luật sư, tạo điều kiện về pháp lý để phát huychế độ tự quản của tổ chức luật sư, đề cao trách nhiệm của tổ chức đối với thành viêncủa mình; thực hiện đúng và đầy đủ các điểm c, d, mục 1, phần B Nghị quyết08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chínhtrị

Bàn về cácquyđịnh pháp luật liên quan đến hoạt động của luật sư bào chữa, bài

viết“Thực trạng quy định của pháp luật về hoạt động tham gia tố tụng của luậtsư với

tư cách là người bào chữa và hướng hoàn thiện”trên Tạp chí Tòa án nhân dân (kỳ II,

tháng 4/2012, số 08) của ThS Vũ Huy Khánh, Vụ Pháp chế, Bộ Công an đã phân tíchnhững điều kiện để được cấp giấy chứng nhận bào chữa Theo đó, tác giả phân tích cụthể Điều 27 Luật luật sư quy định về điều kiện được cấp giấy chứng nhận bào chữanhư: đối với trường hợp luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư; đối với luật

sư hành nghề với tư cách cá nhân; đối với trường hợp luật sư tham gia bào chữa theoyêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng; những vướng mắc về pháp luật khi luật sư thamgia tố tụng với tư cách là người bào chữa, theo đó thủ tục cấp giấy chứng nhận bàochữa, thời hạn cấp giấy chứng nhận bào chữa, giá trị của giấy chứng nhận bào chữa,việc tham gia tố tụng của người tập sự hành nghề luật sư là những vướng mắc được chỉra; đưa ra những đề xuất, kiến nghị sửa đổi Bộ luật TTHS, cụ thể: giữ nguyênquyđịnhcấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư khi tham gia tố tụng với tư cách là ngườibào chữa; bổ sung quy định về thời hạn cấp giấy chứng nhận bào chữa trong trườnghợp bào chữa cho người bị tạm giữ; quy định cụ thể hơn về giá trị của giấy chứngnhận người bào chữa; nghiên cứu việc cho phép người tập sự hành nghề luật sư đượctham gia vào một số hoạt động tố tụng hìnhsự

Liên quan đến hoạt động bào chữa của luật sư, ThS Thẩm phán Nguyễn

Hữu Chính, Phó Chánh án, TAND Tp.HàNộicông bố bài viết“Những thuận lợi,khó khăn đối với hoạt động hành nghề luật sư trong giai đoạn xét xử tại Tòa án và một

số giải pháp hoàn thiện”trên Tạp chí Tòa án nhân dân,kỳII tháng 9/2012 (số 18).

Tác giả phân tích vai trò của luật sư trong công cuộc xây dựng Nhà nướcpháp

Trang 25

quyền XHCN, trong đó bằng các hoạt động cụ thể của luật sư với vai trò là người bàochữa cho bị can, bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự trong các vụ ánkinh tế, lao động…; phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của luật sư trong quátrình xét xử tại Tòa án, trong đó đưa ra những đánh giá về mặt thuận lợi từ phía Tòa

án, luật sư và những khó khăn làm ảnh hưởng đến vai trò của luật sư trong giai đoạnxét xử; đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của luật sư trong giai đoạn xét xử, cụthể: phải nâng cao chất lượng đào tạo luật sư đặc biệt là chú trọng đào tạo về kỹ nănghành nghề nói chung vàkỹnăng tranh tụng nói riêng; nâng cao trách nhiệm của luật sư;Liên Đoàn luật sư Việt Nam cần quán triệt đối với các luật sư khi tham gia tố tụng tạiTòa án cần có thái độ hợp tác và đúng mực với HĐXX và cán bộ Tòa án Các kiếnnghị này khá cụ thể và khả thi để giúp các cơ quan chức năng sửa đổi pháp luật nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động hành nghề luật sư trong giai đoạn xét xử Tại tòaán

ThS Đào Thị Nga, Phó Chánh tòa - Tòa phúc thẩm TANDTC tại HN và ThS.Nguyễn Trí Chinh, Trưởng phòng TKTH - Tòa phúc thẩm TANDTC tại HN đã có bài

viết“Hoạt động của luật sư trong giai đoạn xét xử”trên Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ I

tháng 10/2012 (số 19) Bài viết phân tích những thuận lợi, khó khăn của luật sư khitham gia tố tụng trong các vụ án tại Tòa án, cụ thể là về thủ tục khi luật sư liên hệ vớiTòa án để biết thông tin về vụ án mà mình được tham gia tố tụng; khó khăn về thủ tụccấp Giấy chứng nhận tham gia tố tụng cho luật sư; về việc sao chụp tài liệu, chứng cứ

và nghiên cứu hồ sơ vụ án; về việc tham gia phiên tòa của luật sư Đây là những khókhăn, vướng mắc làm ảnh hưởng đến vai trò của luật sư trong các giai đoạn xét xử Tácgiả đã đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho hoạtđộng hành nghề luật sư trong hoạt động tố tụng, trong đó có những kiến nghị cụ thể vềphía Tòa án, Liên Đoàn luật sư Việt Nam trong việc thực hiện đúng các quy định củapháp luật tố tụng, thực hiện bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ thư ký Tòa án.Những đề xuất này cụ thể, chi tiết và có giá trị trong việc giúp các cơ quan chức năng

có những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của đội ngũ luật sư trong giai đoạn xétxử

Đầu năm 2012, TS Lê Hữu Thể, Phó Viện trưởng VKSNDTC và Ths Lê Thị

Thủy, VKSNDTC có bài viết“Hoàn thiện chế định người bào chữa trong Bộ luậtTTHS năm 2003 đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp”công bố trong tài liệu

Hội thảo quốc tế về Bộ luật TTHS năm 2003 và quyền của luật sư bào chữa Bàiviết phân tích thực trạng chế định người bào chữa trong TTHS Việt Nam Theo đó,quá trình phát triển của mô hình TTHS Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ môhìnhT T H S

Trang 26

của Pháp và Liên Xô Mô hình TTHS ở VN là mô hình kết hợp thiên về thẩm vấn, mặc

dù trong quá trình phát triển, đã tiếp thu một số hạt nhân của mô hình tố tụng hình sựtranh tụng Với mô hình tố tụng này, VN vẫn thiên về việc huy động các cơ quan tốtụng chuyên nghiệp của nhà nước vào quá trình giải quyết vụ án Trên cơ sở các Chỉthị, Nghị quyết của Đảng, Bộ luật TTHS năm 2003 đã có những sửa đổi, bổ sung liênquan đến chế định bào chữa như: quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụngsớm hơn bổ sung một số quyền để người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa(quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ; quyền xem các biên bản về hoạt động

tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người màmình bào chữa…) bổ sung thời hạn ràng buộc trách nhiệm các cơ quan tiến hành tốtụng phải cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người bào chữa và trong trường hợpkhông cấp giấy chứng nhận phải nêu rõ lý do Các tác giả cũng phân tích những yêucầu của cải cách tư pháp và những vấn đề đặt ra đối với việc sửa đổi, bổ sung chế địnhngười bào chữa Theo đó, tăng cường tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự là tưtưởng mang tính đột phá, được xác định là một trong những vấn đề quan trọng nhấtcủa cải cách tư pháp Bài viết đi sâu phân tích các yêu cầu của Nghị quyết 08/NQ-TWcủa Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới,theo đó nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranhtụng của luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Phân tíchcác yêu cầu của Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng tranh tụng tạicác phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của cải cách tư pháp Trên cơsởphân tíchcác yêu cầu nêu trên, bài viết đưa ra những đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của

- Sửa đổi, bổ sung các quy định để tạo điều kiện thuận lợi cho người bàochữa nhanh chóng tham gia tố tụng, tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án theohướng đơn giản hóa các thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa và các thủ tục thamgia bàochữa;

Trang 27

- Quy định trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành tố tụng phải tôntrọng kết quả bàochữa;

- Quy định trách nhiệm của người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa, tôntrọng sự thật và các lợi ích pháp luật, không được xuyên tạc, bóp méo sựthật…

- Hoàn thiện các thời hạn tố tụng theo hướng bổ sung các thời hạn tố tụngcho các hoạt động tố tụng cụ thể để đảm bảo mọi hoạt động tố tụng, mọi hành vi tốtụng phải bị ràng buộc bởi các hoạt động tố tụng cụthể

- Sửa đổi một số thủ tục tố tụng để những người tham gia tố tụng dễ tiếp cậnhơn với công lý và với quá trình giải quyết vụ án, tăng cường tính công khai, minhbạch của hoạt động tốtụng;

- Mở rộng diện các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa nhằm khắc phụctình trạng thiếu luật sư và hỗ trợ các bị can, bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khănkhông có điều kiện nhờ luật sư bàochữa

Cũng trong tài liệu tại Hội thảo quốc tế về Bộ luật TTHS năm 2003 và quyềncủa luật sư bào chữa năm 2012, Luật sư NguyễnHuyThiệp, Phó CN Đoàn luật sư

Tp.HN công bố bài viết“Hoàn thiện các quy định của bộ luật TTHS năm 2003 vềbảo đảm quyền bào chữa của luật sư” Bài viết phân tích cơ sở pháp lý, căn cứ cần bảo

đảm quyền bào chữa của luật sư Theo đó, quyền bào chữa và nhờ người khác bàochữa cho mình của bị can, bị cáo đã được quy định trong Hiếp pháp qua cácthờikỳ(điều 67 Hiếp pháp 1946; điều 101 Hiếp pháp 1959; điều 133 Hiến pháp 1980

và điều 132 Hiến pháp 1992) Ngoài ra, tác giả cũng phân tích cơ sở để thực hiện cácquyền của luật sư được ghi nhận trong Nghị quyết 08/NQ-TW về một số nhiệm vụtrọng tâm trong cải cách tư pháp thời gian tới Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân, thựctrạng của những hạn chế, cản trở quyền hành nghề của luậtsư:

- Donhậnthức,quanđiểmcủanhữngngườitiếnhànhtốtụngvàngườibàochữa;

- Tốtụng hìnhsựchưa được coitrọngđúngmức, trongkhi tốtụngdân sự, kinhtếquyđịnhrõràngnếucó vi phạmnghiêmtrọngvềhình thức thì hợpđồngvôhiệuvàkhôngxét nộidung,còn TTHSchỉ quyđịnhtrảhồsơđểđiềutrabổsung,những nhữngtàiliệu,chứngcứđượcthuthậpkhôngđúngtốtụngvẫnđượcsửdụng;

- Việc tham gia của người bào chữa từ khi khởi tố vụ án còn hạn chế, chủyếu có mặt để chứng kiến, còn muốn tham gia xét hỏi phải được sự đồng ý của Điềutra viên Ngoài ra, thủ tục hành chính còn rườm rà, gây khó khăn, kéodài

Trên cơ sở phân tích những tồn tại, hạn chế, bài viết đã đưa ra một số kiến nghị,giải pháp như cần quán triệt và thay đổi nhận thức về hoạt động, về vai trò, tác dụngcủa người bào chưa; quy định cụ thể trong Bộ luật TTHS về trách nhiệm của

Trang 28

cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc tạo điều kiện cho ngườibào chữa tham gia như: quy định về việc mời luật sư; đơn giản hóa và thống nhất quytrình làm thủ tục và cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa, khắc phục tình trạngmỗi cơ quan tố tụng, mỗi địa phương có quy định khác nhau; cần tạo điều kiện thuậnlợi cho người bào chữa nghiên cứu hồ sơ, sao chụp tài liệu Tác giả cũng mạnh dạn đềxuất sửa đổi các quy định của BLTTHS, cụthể:

- Điều 34 nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó thủtrưởng cơ quan điều tra, đề nghị chuyển trách nhiệm “cấp, thu hồi Giấy chứng nhậnngười bào chữa” được quy định tại khoản 2, điểm g sang điều 35 để giảm phiền hà,khó khăn cho việc cấp giấy chứng nhận bàochữa;

- Điều 35 đề nghị bổ sung thêm trách nhiệm “Cấp, thu hồi Giấy chứng nhậnbào chữa”; điều chỉnh các điều 36, 37,38 và39

- Điều 42 bổ sung vào khoản 3 nội dung “Có biểu hiện cản trở quyền bàochữa của luật sư, quyền được bào chữa của bị can, bịcáo”;

- Điều 57 về lựa chọn thay đổi người bào chữa bỏ đoạn “hoặc đề nghịUBMTTQ VN, tổ chức thành viên của mặt trận cử người bào chữa cho thành viêncủa tổ chứcmình

- Điều 190 Bộ luật TTHS cần điều chỉnh theo hướng “những trường hợp bấtkhả kháng hoặc có lý do chính đáng, người bào chữa không thể có mặt, Hội đồngxét xử xem xét và chỉ tiến hành xét xử nếu bị cáo đồng ý xử không có mặt luậtsư”

Bên cạnh những bài viết có liên quan khá mật thiết đến luận án của các tácgiả nêu trên, đã có một số công trình đăng tải trên các tạp chí có tính liên quan nhất

định đến đề tài như bài viết“Vai trò của luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hìnhsự”đăng trên tạp chí công an nhân dân số 5/2006” của TS.Nguyễn Văn Huyên, bài viết“Đào tạo nghề luật sư - nhiệm vụ quan trọng của Bộ Tư pháp” trên tạp chí Nghề luật số 3/2006 của TS.Nguyễn Văn Huyên; bài viết “Hoàn thiện chế địnhngười bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”của TS.Lê Hữu Thể- Phó viện trưởng VKSNDTC, đăng trên websitewww.liendoanluatsu.org.vn; “Vai trò của luật sư bào chữa trong tố tụnghình sự theo mô hình tranh tụng của một số nước” của TS.Nguyễn Ngọc

Khánh- Phó tổng biên tập tạp chí Kiểm sát, đăng trênwebsitewww.tapchikiemsat.org.vn.Ngoài ra, đã có những bài báo mang tính chấttrao đổi, đề xuất các nội dung cần được pháp luật quy định để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của bị can, bị cáo cũng như bảo đảm quyền hành nghề của luật sư bàochữa đăng trên các website của các báo viết, báo điện tử nhưng hoàn toàn không cótính chất nghiên cứu màt h u ầ n

Trang 29

tuý chỉ là sự phản ánh thông tin về hoạt động bào chữa nói chung của luật sư hoặc bìnhluận về vai trò của luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự… Đáng kể là một số bài viếtsau đây:

- Bảo đảm quyền bào chữa của tác giả Phan Thương và Tiến Hiểu, đăng trênwebsitewww.phapluattp.vn;

- Quyền bào chữa: “Rào cản” do con người, đăng trên website www.phapluattp.vn;

- Đặc điểm tâm lý của hoạt động bào chữa đăng trên websitewww.luathoc.cafeluat.com;

- Bảo đảm quyền bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử tại tòa án củatác giả Thu Hằng, đăng trên websitewww.dangcongsan.vn;

- Báo cáo đánh giá thực trạng bảo đảm quyền bào chữa và quan điểm sửa đổi,

bổ sung BLTTHS năm 2003 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam đăng trênwebsitewww.liendoanluatsu.org.vn;

Những bài báo nội dung nghiên cứu chủ yếu về lý luận như bài “Địa vị pháplý và mối quan hệ của người bào chữa với bị can, bị cáo trong TTHS”củaTS Nguyễn Văn Tuân, tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 11/2008; bài “Bàn về sự thamgia bắt buộc của người bào chữa trong TTHS”củaTS Nguyễn Thái Phúc, tạp chí Kiểm sát, số Xuân 1/2009; bài “Nâng cao vị thế của người bào chữa tại phiên toàhình sự”của tác giả Nguyễn Ngọc Khanh, tạp chí Luật học, số 7/2008; bài “Bàn vềsự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong giai đoạn điều tra trong TTHS”của Nguyễn Trương Tín, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/2010; bài “Về sựtham gia của người bào chữa vào quá trình TTHS theo BLTTHS năm 2003”của

Nguyễn Duy Hưng, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2004 Nhóm các bài viết nàychủ yếu tập trung phân tích vấn đề quyền và nghĩa vụ cơ bản của luật sư trong tốtụng hình sự, vị trí của luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự và sự tham gia củaluật sư bào chữa trong một số trường hợp bắt buộc phải có luậtsư

Những nghiên cứu của các nhà khoa học về thực trạng hoạt động bào chữa

có thể kể đến một số bài như bài “Người bào chữa trong vụ án hình sự”của TS Nguyễn Mai Bộ, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/1999; và bài “Một số vấn đề lýluận và thực tiễn trong việc thực thi các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền của luật sư trong quá trình tham gia TTHS, dân sự”của TS Phan Trung Hoài, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2007;“Thực trạng hoạt động của luật sư - người bàochữa qua hơn một năm thi hành Bộ luật TTHS” Các bài viết này đã đưa ra đánh

giá vềsốlượngluậtsưthamgiabàochữatạicácphiêntoàhìnhsựcáccấpởmộtsố

Trang 30

thờiđiểmnhấtđịnh; nhậnđịnh chungvềhoạtđộng bào chữa củaluậtsưvà chỉrõmột số rào cảntrongthực tếkhiếnchất lượnghoạtđộng bào chữa củaluậtsưchưacao.

Bên cạnh đó, LĐLS Việt Nam cũng đã tổ chức những Hội thảo khoa học

nghiên cứu hoạt động bào chữa của luật sư như hội thảo “Cải cách tư pháp vàphòng chống oan sai trong hoạt động tố tụng”tổ chức tại Hà Nội ngày 2- 3/11/2009; Hội thảo “Hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2003 về bảo đảmquyền bào chữa

và quyền hành nghề của luật sư”tổ chức trong hai ngày 29 và 30/03/2012 tại Hà

Nội Trường Đại học Luật Hà Nội và UNDP cũng tổ chức hội thảo quốc tế “Nângcao vai trò của luât sư trong tố tụng hình sự” vào tháng 6/2015 Nhiều luật sư thamgia các hội thảo này đã có những tham luận trong đó có những kiến nghị xác đáng,đúc rút từ thực tiễn hành nghề và thể hiện những trăn trở, tâm huyết với nghề luậtsư.Ngoài các công trình kể trên, có thể nói, nhiều công trình nghiên cứu về các vấn

đề khác nhau của khoa học luật TTHS đều ít nhiều đề cập đến hoạt động của người bàochữa nói chung và của luật sư nói riêng Các công trình mặc dù đã đề cập, nghiên cứu ởnhững phạm vi, mức độ khác nhau về hoạt động bào chữa của luật sư nhưng chưa cócông trình nào nghiên cứu ở phương diện pháp luật một cách trực tiếp, toàn diện và sâusắc về hoạt động bào chữa của luật sư nói chung và hoạt động bào chữa của luật sưtrong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng

1.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊNCỨU

1.3.1 Về khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hìnhsự

Phần lớn các công trình khoa học đã công bố đều chưa đưa ra được khái niệmhoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cũng nhưlàm rõ đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của hoạt động này Nhiều công trình mới chỉ dừnglại ở việc nghiên cứu và xây dựng khái niệm quyền bào chữa, người bào chữa và làm

rõ vai trò của người bào chữa hay luật sư Việc nghiên cứu nội hàm hoạt động bàochữa chưa được chú trọng, đặc biệt chưa đề cập tới vấn đề xây dựng khái niệm hoạtđộng bào chữa của luật sư nói chung và hoạt động bào chữa của luật sư nói riêng trongmột giai đoạn cụ thể như giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Bởi vậy, việc nghiêncứu, xây dựng khái niệm hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án hình sự là cần thiết Nghiên cứu sinh dự định xây dựng khái niệm và xácđịnh ý nghĩa của hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự trên cơ sở làm rõ các vấn đềsau:

Trang 31

+ Chủ thể thực hiện

+ Cách thức tiến hành hoạt động

+ Đặc điểm của hoạt đông

+ Thời điểm thực hiện

+ Cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động

+ Mục đích của hoạt động

+ Ý nghĩa của hoạt động

1.3.2 Về thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hìnhsự

Trong các công trình đã công bố, vấn đề thực trạng hoạt động bào chữa của luật

sư là điều mà nhiều tác giả chưa có sự quan tâm bình luận nhất Phần lớn các tác giảmới dừng lại ở nhận định chung chung về chất lượng hoạt động bào chữa chưa thực sựtốt mà không chỉ ra được minh chứng cho nhận định của mình Đặc biệt, việc đánh giámới chỉ dừng lại ở cụm từ “hoạt động” nói chung mà chưa nhận định được cụ thể chấtlượng công việc, thao tác cụ thể mà luật sư phải thực hiện Đa số tác giả khẳngđịnh:

- Việc cấp giấy chứng nhận bào chữa trên thực tế không thực hiện đúng theoquy định tại khoản 4, Điều 56 Bộ luậtTTHS;

- Việc gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam trên thực tế cũng rất khókhăn;

- Quá trình tham gia hỏi cung bị can của luật sư còn nhiều hạn chế, nhữngcâu hỏi, ý kiến của luật sư không được điều tra viên quantâm;

- Việc tuân thủ nguyên tắc “khi xét xử, HĐXX phải căn cứ vào những chứng

cứ đã được xem xét tại phiên tòa” rất ít được áp dụng trên thực tế, mà chủ yếuThẩm phán chủ tọa phiên tòa dựa vào những “định hướng” của Ủy ban thẩm phán

về tội danh và mức hình phạt sẽ được áp dụng đối với bịcáo;

- Khó khăn về thủ tục khi luật sư liên hệ với Tòa án để biết thông tin về vụ

án mà mình được tham gia tốtụng;

- Khókhăntrongviệcsaochụptàiliệu,chứngcứvànghiêncứuhồsơvụán…

- Donhậnthức,quanđiểmcủanhữngngườitiếnhànhtốtụngvàngườibàochữa;

- Việc tham gia của người bào chữa từ khi khởi tố vụ án còn hạn chế, chủyếu có mặt để chứng kiến, còn muốn tham gia hỏi cung phải được sự đồng ý củaĐiều tra viên Ngoài ra, thủ tục hành chính còn rườm rà, gây khó khăn, kéodài…

Về nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động bào chữa của luật sư cũngđược tập trung nghiên cứu Nhiều bài viết đều nhận định hoạt động bào chữa của luật

sư chưa thực sự hiệu quả bởi các lý do:

Trang 32

- Pháp luật chưa hoànthiện;

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng còn hạnchế;

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Luật sư chưa đáp ứng yêucầu;

- Vấn đề đạo đức nghề nghiệp của các Luậtsư;

- Chế độ, chínhsách;

- Cơ chế giám sát và xử lý vi phạm đối với người tiến hành tố tụng và luật sưkhi có viphạm…

Có thể khẳng định, đến thời điểm hiện nay, phần lớn các công trình được công

bố mới chỉ phân tích, bình luận các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữacủa bị can, bị cáo; vị trí tố tụng của luật sư; quyền hành nghề của luật sư và nhữngthuận lợi, khó khăn khi luật sư hành nghề Việc phân tích cụ thể thực trạng hoạt độngbào chữa của luật sư thông qua đánh giá các công việc, thao tác nghề nghiệp mà luật sưthực hiện trên thực tế chưa được nghiên cứu Bởi vậy, luận án sẽ tập trung làm rõ cơ sởpháp lý của hoạt động bào chữa của luật sư, đánh giá việc thực hiện hoạt động này trênnền quy định của BLTTHS năm 2003 và quy định mới của BLTTHS năm 2015 (cóhiệu lực vào ngày 1/7/2016); làm rõ thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư tronggiai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, từ đó chỉ ranguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động bào chữa của luật sư nói chung vàtrong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng Do đó, nội dung đánh giá thựctrạng hoạt động bào chữa của luật sư trong luận án sẽ không trùng lặp với phần viếtcủa các công trình đã công bố vì đề cập tới thực trạng hoạt động bào chữa cụ thể củaluật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Luận án sẽ tiếp thu những điểm

có liên quan trong các công trình đã công bố để làm giàu thêm nguồn tư liệu đánh giá

- Sửa đổi, bổ sung các quy định để tạo điều kiện thuận lợi cho người bàochữa nhanh chóng tham gia tố tụng, tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án theohướng đơn giản hóa các thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa và các thủ tụct h a m

Trang 33

gia bào chữa; sửa đổi một số thủ tục tố tụng để những người tham gia tố tụng dễ tiếpcận hơn với công lý và với quá trình giải quyết vụ án, tăng cường tính công khai, minhbạch của hoạt động tốtụng;

- Hoàn thiện các thời hạn tố tụng theo hướng bổ sung các thời hạn tố tụngcho các hoạt động tố tụng cụ thể để đảm bảo mọi hoạt động tố tụng, mọi hành vi tốtụng phải bị ràng buộc bởi các hoạt động tố tụng cụthể

- Mở rộng diện các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa nhằm khắc phụctình trạng thiếu luật sư và hỗ trợ các bị can, bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khănkhông có điều kiện nhờ luật sư bàochữa

Bên cạnh điểm nhấn là nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự,một số nhóm giải pháp khác cũng đã được đề cập đến nhưng chưa sâu và chỉ mang tínhchất liệt kê Cụ thể:

- Giải pháp nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của luật sư bào chữa khi thamgia tranh tụng tại phiêntòa

- Những giải pháp cụ thể để cơ quan, người tiến hành tố tụng coi trọng đúngmức hoạt động nghề nghiệp của luật sư và phiên tòa tranhtụng

Nhóm các giải pháp nêu trên có những điểm phù hợp với những giải phápmàluậnán dựđịnhphântích.Tuynhiên, phầnlớn các công trìnhđãcôngbốchưaphân tíchsâuvàmới chỉramộtsốgiải phápcầnthiết,chưaphântíchđượccơchế đảm bảo cho cácquyđịnhcủa phápluậtvềquyền củaluậtsưđược thựchiệntrên thựctếcũngnhư chế tài cầnthiết đối vớinhữnghànhvigâycảntrở; hoạtđộngnhằm nângcao trìnhđộnghiệpvụ vàkỹnăngtranhtụng cho các luậtsưbào chữa,nângcaochất lượnghoạt động củangườitiếnhànhtốtụngcũng nhưthayđổinhậnthức của đốitượngcó quyềnbàochữavàngườithâncủahọ.Khácvớicác bài viếtđãcông bố, luậnán sẽkhôngdừng lạiởviệcliệtkêtên cácgiảiphápmà sẽphân tíchrõ lý do đề xuất, kiến nghị Đồng thời, luận án cũng chỉ ra các giảipháp mớinhư:

* Đối với người tiến hành tố tụng

- Nâng cao nhận thức của người tiến hành tố tụng về vai trò của luậtsư

- Nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm choluật sư thực hiện cácquyền

- Xử lý nghiêm những hành vi gây cản trở hoạt động của người bàochữa

- Nâng cao chất lượng người tiến hành tốtụng

* Tăng cường chất lượng đội ngũ luậtsư

- Về chuyênmôn

Trang 34

- Về kỹnăng

- Về đạo đức nghềnghiệp

* Tăng cường cơ chế giám sát, xửlý

- Giám sát phát hiện người tiến hành tố tụng gây khó khăn, vi phạm phápluật, không tạo điều kiện cho luật sư thực hiện quyền và chế tài xửlý

- Giám sát phát hiện luật sư vi phạm pháp luật và chế tài xửlý

* Đổi mới chế độ, chính sách, tuyên truyền giáo dục phápluật

Kết luận chương 1

Thực tiễn cho thấy, những năm qua, hoạt động bào chữa của luật sư đã có đónggóp quan trọng góp phần xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; thực hiện việcdân chủ hoá hoạt động tố tụng, tăng cường tranh tụng theo tinh thần Nghị quyết08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

bị can, bị cáo Hoạt động này đã từng bước đáp ứng những yêu cầu của cải cái tư pháp

Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học được công bố và đề cập đến hoạt độngbào chữa của luật sư ở cả trong và ngoài nước nhưng do bị giới hạn về phạm vi nghiêncứu cũng như cấp độ nghiên cứu nên các vấn đề liên quan đến hoạt động bào chữa củaluật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thường không được trình bàyriêng biệt mà chỉ được đề cập ở một số khía cạnh khi viết về người bào chữa nóichung Với một số công trình nghiên cứu riêng về hoạt động bào chữa của luật sư tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,các vấn đề lý luận chuyên sâu cũng chưa được

đề cập đến một cách toàn diện và có hệ thống Chính vì vậy, với tư cách là một côngtrình nghiên cứu toàn diện về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án hình sự, luận án tiếp tục nghiên cứu ở mức độ sâu hơn để trở thành mộtcông trình nghiên cứu toàn diện, có tính hệ thống và tính mới trong lĩnh vực này tạiViệtNam

Trang 35

2.1.1 Hoạt động bào chữa của luậtsư

2.1.1.1 Khái niệm hoạt động bào chữa của luậtsư

Cơ sở phát sinh hoạt động bào chữa của luật sư trong tố tụng hình sự nói chung

và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng là quyền bào chữa của người

bị buộc tội (người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo) Một trong các quyền tự do dân chủcủa con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa là quyền được đưa ra những bằng chứng,căn cứ để chứng minh về sự không có lỗi hoặc để giảm lỗi của họ trước cơ quan Nhànước có thẩm quyền Đó là một trong những nội dung của quyền bào chữa trong tốtụng hình sự Quyền bào chữa của người bị buộc tội (bao gồm cả quyền tự bào chữa vàquyền nhờ người khác bào chữa) là một trong những chế định cổ xưa và lâu đời củapháp luật tố tụng hình sự Đó là tất cả những việc mà pháp luật tố tụng hình sự chophép người bị buộc tội được phép thực hiện nhằm hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội,chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ tội hoặc đểbảovệ những quyền và lợi ích hợp phápkhác của mình Pháp luật tố tụng hình sự các nước trên thế giới đều quy định về quyềnbào chữa như một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất của người bị buộc tội.Việc pháp luật ghi nhận quyền bào chữa của người bị buộc tội không chỉ vì đó là mộttrong những quyền mang tính chất tự nhiên của con người được thừa nhận ở bất cứđâu, trong bất kỳ phạm vi không gian, thời gian nào, mà còn do vai trò quan trọng,không thể thiếu của chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự Nếu trong tố tụng hình

sự có chức năng buộc tội thì song song với nó phải có chức năng gỡ tội hay chức năngbào chữa Cùng với chức năng buộc tội, sự hiện hữu của chức năng bào chữa là mộttrong những điều kiện cần thiết giúp cho phán quyết của Toà án được công bằng,kháchquan

Người có quyền bào chữa chính là người bị buộc tội và quyền bào chữa là mộtloại quyền năng tố tụng, nó không thuộc về cơ quan, người tiến hành tố tụng hay ngườitham gia tố tụng nào khác ngoài người bị buộc tội Việc pháp luật quy định các cơquan tiến hành tố tụng phải áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để tạo điều kiện chongười bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa của họ nhằm giải quyết vụ án khách quan,chính xác là phù hợp Điều này đã được ghi nhận cụ thể tạiĐ i ề u

Trang 36

14 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR) với nội dung: một người bịcáo buộc về một hành vi phạm tội sẽ có quyền được có khoảng thời gian hợp lý và cácđiều kiện đầy đủ để chuẩn bị việc bào chữa và có quyền trao đổi với NBC do mình lựachọn; có quyền tự bào chữa hoặc thông qua NBC do mình lựa chọn; trong trường hợpmột người không có NBC, NBC chỉ định sẽ được cung cấp cho anh ta; vì lợi ích chungcủa công lý, NBC sẽ được chỉ định miễn phí nếu một người không có khả năng chi trảchoNBC1.

Ở phạm vi khu vực, hiện tại quyền có NBC (nhờ người khác bào chữa hoặcngười bào chữa chỉ định) được ghi nhận trong các Công ước về quyền con người ở 3khu vực, bao gồm Châu Âu, ChâuMỹvà Châu Phi Dựa trên lý thuyết về mối liên hệgiữa quyền của người bị buộc tội với nguyên tắc về quyền được xét xử công bằng, cácCông ước quốc tế về quyền con người về cơ bản ghi nhận những quyền làm cơ sở choviệc thực hiện hoạt động bào chữa của người bị buộc tội hoặc người được họ nhờ bàochữa Phần lớn các văn bản pháp lý quốc tế quy định trách nhiệm của nhà nước phảibảo đảm những điều kiện thuận lợi cho người bị buộc tội và NBC chuẩn bị công việcbào chữa Trước tiên, đó là quyền được có đủ thời gian và điều kiện chuẩn bị cho việcbào chữa được quy định tại Điều 14(3)(b) Công ước LHQ về quyền dân sự và Chính trị(ICCPR), Điều 6(3)(b) Công ước Châu Âu về quyền con người (ECHR), và Điều 8(2)(c) Công ước ChâuMỹLa Tinh về quyền con người (AmCHR) Theo các định nghĩađược đưa ra ở các văn bản này, quyền được chuẩn bị cho việc bào chữa bao gồm haikhía cạnh: bảo đảm một thời gian hợp lý và tạo điều kiện cho việc chuẩn bị bào chữa.Theo Nhận xét chung số 13 của Ủy ban quyền con người của Liên Hợp quốc, “việc xácđịnh thế nào là ‘đủ thời gian’ tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể” (đoạn 9) Mộtnhân tố tác động quan trọng nữa là tính phức tạp của vụ việc Đối với khái niệm “tạođiều kiện”, Ủy ban quyền con người của Liên hợp quốc cũng chỉ ra rằng “tạo điều kiệnbao gồm việc tiếp cận đối với tài liệu và chứng cứ mà người bị buộc tội phải chuẩn bịcho lập luận của mình, cũng như cơ hội tiếp xúc và trao đổi với NBC” (đoạn 9) Tương

tự, Điều 6.3(b) ECHR quy định người bị buộc tội có quyền có đầy đủ thời gian và điềukiện

đểchuẩnbịchoviệcbàochữa.Cácphánquyết củaTòaánnhânquyềnChâuÂu

1 Bên cạnh đó, quyền có NBC còn được bảo đảm bởi các văn bản pháp lý quốc tế khác có liên quan, ví dụ như Bộ các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về vai trò của Luật sư (United Nations Basic Principles on the Role of Lawyers), Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế (Rome Status of the International Criminal Court)… Ngoài ra, nhận định của các tổ chức thuộc LiênHợpquốc cũng có ý nghĩa trong việc giải thích các điều khoản của Công ước về quyền có NBC, ví dụ như Ủy ban nhân quyền của Liên Hợp quốc (United Nations Commission on Human Rights -UNCHR).

Trang 37

(EctHR) cũng thể hiện cách hiểu nhất quán về quyền được chuẩn bị cho việc bào chữa.Thời hạn được coi là “thời gian cần thiết” không được quy định cụ thể bởi vì nó phụthuộc rấtnhiềuvào tính phức tạp của từng vụviệc.Cáctrườnghợp có thểbịcoilàviphạmtớiquyền chuẩnbị bào chữa làthôngbáo vềphiênxửmuộn, thời giannộp kháng cáoquángắn,thay đổiluật sư hoặc nộp bằng chứng mới quá gần vớingàyxétxử[87].Ngoàira,tạođiều kiệnđểchuẩnbị cho việc bào chữacónghĩalàngườiđangbịtạmgiam,tạmgiữcóquyềnđược gặp gỡluậtsư màkhôngcó sự giámsát[78] vàquyềnđược

tiếp cận với hồsơ vụán[79].Ởnghĩa rộng hơn,sựbảođảmcần thiếtcho việcchuẩn bịviệcbào

chínhkịpthời.CácnguyêntắccơbảncủaLiênHợpquốcvềvaitròcủaluậtsưquyđịnhrằngmỗiquốcgiathành viêncủaLiênHợp quốcphảicung cấpđủnguồnlực cần thiết để người dânnghèotiếpcận được với dịchvụpháp luật [31] Như vậy,quyềnbàochữa làquyềnđược xét xửđúng đắn, cótính chấtquan trọng đượcluậtphápnhânquyềnquốctếvàtập quánquốctếbảovệ.Quyềnnàylà mộtphần trongchuẩn mực juscogenscủaquyềnđược xétxửcôngbằng.Quyềnđượccóngườibào chữatrong giaiđoạntrước khi xétxử vàtronggiai đoạn xétxửtrongcácvụánnghiêmtrọng hoặc phức tạp đã đượcỦybanNhân quyền Liên HiệpQuốcvàTòaánChâuÂu vềquyềncon ngườicủngcốvà được ghi vào trong hệ thống tư pháphìnhsựquốctế Quyền bào chữacũngbaogồm cảviệc cung cấp tư vấn pháp luậtmiễnphíchonhữngngười bịbuộctộikhôngcó đủkhả năng chi trả.Có 9quyềncơbản

luậtphápvềnhânquyềnquốctếvàtậpquánquốctế[41],baogồm:

- Quyền được có người bào chữa do mình lựachọn;

- Quyền được có đủ thời gian để chuẩn bị cho phiên tòa, bao gồm tiếp xúc với người bàochữa;

- Quyền được giao tiếp bí mật với luậtsư;

- Quyền bào chữa thông qua trợ giúp pháplý;

- Quyền được tạm hoãn thủ tục tố tụng để được tham vấn luậtsư;

- Quyền được tự bàochữa;

- Quyền bào chữa là hành vi bảo vệ quyền lợi của bịcáo;

- Quyền không phải tiến hành tố tụng với luật sư bào chữa là người không đủnăng lực hoặc thiếu cẩn thận trong khi bị can, bị cáo đã có luật sư phùhợp;

- Quyềnbàochữatrongtấtcảcácgiaiđoạntốtụngđốivớihìnhphạtántửhình

Có thể thấy, một trong những quyền quan trọng của người bị buộc tội là

đượctiếpcậnvớiNBCtrongthờigiansớmnhấtcóthể.Tuynhiênquyềntiếpcận

Trang 38

với NBC chưa được công nhận một cách đầy đủ trong tất cả các Công ước quốc tế vềquyền con người Mặc dù vậy, nhìn chung quyền được tiếp cận với NBC đã được ápdụng trong cả giai đoạn điều tra tiền xét xử và giai đoạn xét xử Ủy ban về quyền conngười của Liên Hợp quốc trong nhiều trường hợp đã tuyên bố rằng quyền được cóNBC phải được bảo đảm trong thời gian điều tra tiền xét xử [75] Tương tự, ECtHRcho rằng việc thiếu sự hỗ trợ về mặt pháp luật trong giai đoạn xét hỏi người bị tìnhnghi có thể làm hạn chế các quyền bào chữa của họ [80] Vì vậy, người bị buộc tộicũng có quyền tiếp cận tới luật sư ngay từ thời điểm bị cảnh sát bắt [81] Quyền nàyđược bảo đảm trong giai đoạn tiền xét xử [82] và đương nhiên là quyền tiếp cận luật sưxuất hiện tại bất thời điểm nào tiến hành việc xét hỏi [83] Để bảo đảm cho người bịbuộc tội được tiếp cận ngay lập tức với luật sư, anh ta phải được thông báo một cáchphù hợp về quyền được trợ giúp bởi NBC của mình Nếu thông báo không đầy đủ, cónghĩa là người bị buộc tội chưa thực sự được tạo điều kiện để thực hiện quyền tiếp cậnvới sự trợ giúp pháp lý[84].

Người bị buộc tội còn có quyền được có sự trợ giúp pháp lý miễn phí được quyđịnh tại Điều 14(3)(d) ICCPR, Điều 6(3)(c) ECHR và Điều 8(2)(e) AmCHR và cácvăn kiện pháp lý khác ví dụ như Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư ban hànhnăm 1990 (Quy tắc 6) , Điều 67.1(d) Quy chế Rome của Tòa án hình sự quốc tế v.v…Theo đó, người bị buộc tội có quyền có NBC miễn phí nếu không có khả năng tự mìnhthanh toán cho dịch vụ đó Theo quy định của AmCHR, quyền được có sự trợ giúppháp lý miễn phí là quyền không thể thiếu trong trường hợp cá nhân không có khảnăng để tự mình thanh toán Trong cả ICCPR và ECHR, quyền này được quy địnhkhác đi đôi chút với việc thêm vào cụm từ “vì lợi ích của công lý” Để xác định đượcthế nào là lợi ích của công lý, bản thảo Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền được xét

xử và chế tài công bằng (United Nations Draft Declaration on the Right to a Fair Trialand a Remedy) ghi nhận “lợi ích công lý” trong một trường hợp cụ thể cần được xácđịnh thông qua việc xem xét tính nghiêm trọng của hành vi vi phạm mà người bị buộctội bị cho là đã thực hiện và mức độ nặng của hình phạt mà người đó có thể phải đốimặt.” Tòa án châu Âu về quyền con người khi giải thích về cụm từ này đã đi xa hơnmột chút với việc xem xét cả những yếu tố liên quan tới việc chỉ định đại diện pháp lý.Người bị buộc tội có quyền được trợ giúp pháp luật miễn phí với điều kiện người đó

“không có đủ khả năng chi trả” và “vì lợi ích công lý” Tuy nhiên vẫn không có trường

là“khôngđủkhảnăng”.Vìvậy, đãcótrườnghợpchorằngngười bịbuộctộicó

Trang 39

trách nhiệm phải chứng mình rằng mình không có đủ khả năng mặc dù việc xác nhậnđiều này là khá phức tạp Tuy nhiên, người bị buộc tội không bắt buộc phải chứngmình điều đó một cách tuyệt đối mà chỉ cần đưa ra một vài bằng chứng về việc không

đủ khả năng Trong khi đó, yếu tố “vì lợi ích công lý” là một điều kiện phải cung cấpNBC miễn phí chủ yếu dựa vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt

có thể áp dụng, cũng như phụ thuộc vào mức độ phức tạp của vụ việc và khả năng củangười bị buộc tội có thể tự mình bào chữa Một khía cạnh khác của quyền có NBCmiễn phí là trách nhiệm bắt buộc phải cung cấp NBC miễn phí từ phía nhà nước Hầunhư tất cả các văn bản pháp lý quốc tế đều chỉ ra rằng người bị buộc tội có quyền tựbào chữa hoặc thông qua NBC mà mình lựa chọn, nhưng phần lớn lại không quy địnhnghĩa vụ cung cấp NBC bắt buộc Trong khi đó, nghĩa vụ bắt buộc phải chỉ định NBCmiễn phí được ghi nhận trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới (ví dụ Nga, Đức,Trung quốc, Việt Nam, v.v…), đặc biệt liên quan tới nhóm người dễ bị tổn thương nhưngười chưa thành niên hoặc người khuyết tật Ở nhiều nước khác, thậm chí còn quyđịnh việc cung cấp người bào chữa bắt buộc cho những người bị buộc tội nghiêmtrọng

Cùng với các quyền trên, người bị buộc tội còn có quyền được liên lạc vớingười bào chữa Điều 14.3(b) ICCPRquyđịnh người bị giam giữ có quyền được liênlạc riêng tư với NBC2 Ủy ban về quyền con người của Liên hợp quốc đã lưu ý rằngquyền được tiếp cận tới NBC là hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ quyền củangười đang bị giam giữ (Bình luận chung số 20, đoạn 11) Tổ chức này cũng lưu ý,việc liên lạc với NBC cần phải được thực hiện trong những điều kiện bảo đảm sự bímật của việc trao đổi và “luật sư cần phải được tư vấn và đại diện cho thân chủ củamình theo các chuẩn mực nghề nghiệp đã được thiết lập mà không được có sự hạn chế,

áp lực hoặc tác động không chính đáng từ bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào.” (Bìnhluận chung số 13, đoạn 9) Trong phần lớn các vụ việc có liên quan tới vấn đề này của

Ủy ban về quyền con người của Liên hợp quốc, quyền được liên lạc với NBC đượcxem là điều kiện cần để bảo vệ các quyền của người bị buộc tội khi đang bị tạm giam,hay khi họ không thể thuê NBC hoặc khi việc liên lạc cá nhân của người bị buộc tội bị

từ chối [88] Cũng với tinh thần trên, các bản án của ECtHR [85] cũng cho rằng sự liênlạc giữa người bị buộc tội với thế giới bênn g o à i

2 Nội dung tương tự cũng được quy định tại Điều 8.2(d) ACHR, Điều 6(3)(c) ECHR, Điều 7(1)(c) AfCHPR, Nguyên tắc 8 - 22 của Tập nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về vai trò của luật sư, Nguyên tắc 18 của Bộ nguyên tắc về bảo vệ chống lại bất kỳ hình thức bắt giam hoặc phạt tù, và Quy tắc 93 của Bộ quy tắc ứng xử tối thiểu của Liên hợp quốc đối với tù nhân.

Trang 40

(bao gồm cả với người bào chữa) phải được cho phép một cách tự do và bảo đảm sựriêng tư Sự liên lạc có thể được thực hiện thông qua thư, điện thoại hoặc bấtkỳphươngtiện liên lạc nào Bên cạnh việc ghi nhận quyền của người bị buộc tội, quyền của NBCđược đề xuất chứng cứ và thẩm vấn người làm chứng tại phiên tòa cũng được đề cập rõràng Đây là một định hướng cần thiết đối với các quốc gia trong việc bảo đảm quyền

có NBC, vì người bị buộc tội nói chung đều cần sự trợ giúp của NBC Ở khía cạnhthực hiện quyền bào chữa thông qua người khác, hoạt động bào chữa của NBC là thực

sự quan trọng Nếu NBC không được phép thực hiện hoạt động của mình một cách đầy

đủ theo một cách thức độc lập và công bằng, chức năng bào chữa sẽ không được bảođảm Tuy nhiên, quyền này chỉ được đề cập tại AmCHR (Điều 8.6) Như vậy, tinh thầnchung của các Công ước về quyền con người về bảo đảm quyền có NBC thể hiện ở hai

bình diện:một là, việc bảo đảm quyền không chỉ đối với người bị buộc tội mà với cả NBC của họ;hai là,nhấn mạnh trách nhiệm của nhà nước trong việc giúp đỡ NBC và

thân chủ của họ có những điều kiện cần thiết để thực hiện quyền của mình Những quyđịnh trên là những định hướng cơ bản mà các quốc gia thành viên phải tuân thủ vàtôntrọng

Từ nội dung được ghi nhận trong các văn bản quốc tế, quyền bào chữa củangười bị buộc tội là một nội dung quan trọng mà các quốc gia đều quan tâm, do đóđược quy định khá đầy đủ, toàn diện trong BLTTHS các nước Người bị buộc tội đượcthông báo về quyền và được tạo điều kiện để bảo đảm thực hiện các quyền, đặc biệt làquyền bào chữa, quyền được tự do đưa ra ý kiến đáp lại những lời buộc tội mình,không buộc phải nhận mình có tội hoặc phải đưa ra lời khaichốnglạimình(Có 6/7 nước(trừ Trung Quốc) Điều 114b, 115, 136, 243 BLTTHS Đức, Điều 63-1 BLTTHS Pháp,Điều 46, 47 BLTTHS LB Nga, Điều 311 BLTTHS Nhật Bản) Để bảo đảm thực hiệnquyền bào chữa, nhiều nước quy định người bị buộc tội được quyền xem hồ sơ vụ ánsau khi kết thúc điều tra; được đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liênquan đến việc buộc tội, kể cả với sự trợ giúp của các phương tiệnkỹthuật (Khoản 4Điều 47 BLTTHS LB Nga, Điều 180 BLTTHS Nhật Bản) Trong trường hợp người bịbuộc tội thực hiện quyền bào chữa thông qua NBC do mình lựa chọn, pháp luật tốtụng hình sự nhiều nước đều quy định người bào chữa là luật sư Tuy nhiên, ở một sốnước khác, người khác cũng thuộc diện người bào chữa, như: người được tổ chức đoànthể hoặc đơn vị quản lý của bị can, bị cáo giới thiệu; người giám hộ, người thân hoặcbạn bè của bị can, bị cáo (Điều 32 BLTTHS Trung Quốc), họ hàng thân thíchcủabị canhoặc người khác theo yêucầu

Ngày đăng: 22/11/2016, 07:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trang Anh (2001), “Luật sư thích cãi chỉ định”, Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08/08/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sư thích cãi chỉ định”, "Báo Pháp luật thành phốHồ Chí Minh
Tác giả: Trang Anh
Năm: 2001
2. Nguyễn Tuấn Anh (1999), “Nhọc nhằn nghề luật sư”, Báo Công an nhân dân, ngày 26/7/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhọc nhằn nghề luật sư”, "Báo Công an nhândân
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 1999
3. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về mộtsố nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của BộChính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Bộ Công an (2011), Thông tư số 70/TT-BCA ngày 7/10/2011 quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 70/TT-BCA ngày 7/10/2011 quy định chitiết thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến việcbảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2011
6. Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Từđiển Bách khoa - Nxb Tư pháp
Năm: 2006
7. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư, Tài liệu Hội nghị tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
8. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Chủ biên), (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốcgia
Năm: 2011
9. Nguyễn Tiến Đạm (2002), “Hành trình qua các giai đoạn của luật sư trong vụ án”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình qua các giai đoạn của luật sưtrong vụ án”
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạm
Năm: 2002
11. Đảng đoàn Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2013), Báo cáo số 26- BC/ĐĐLĐLSVN ngày 18 tháng 7 năm 2013 của Đảng đoàn Liên đoàn luật sư Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 26-BC/ĐĐLĐLSVN ngày 18 tháng 7 năm 2013 của Đảng đoàn Liên đoànluật sư Việt Nam
Tác giả: Đảng đoàn Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Năm: 2013
12. Trần Văn Độ (1992), “Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo”, Tạp chí Toà án nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bịcáo”
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 1992
13. Đức Hạnh (2001), “Luật sư những chuyện ngoài luật”, Báo Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sư những chuyện ngoài luật”
Tác giả: Đức Hạnh
Năm: 2001
14. Nguyễn Văn Hiển (2010), Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam -những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển
Năm: 2010
15. Phạm Hồng Hải (1999), “Vị trí của luật sư bào chữa trong phiên toà xét xử”,Tạp chí Luật học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của luật sư bào chữa trong phiên toà xét xử”,"Tạp chí Luật học
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
16. Phạm Hồng Hải (1999), Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
17. Phan Trung Hoài (2007), Hành nghề luật sư trong vụ án hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành nghề luật sư trong vụ án hình sự
Tác giả: Phan Trung Hoài
Nhà XB: Nxb Tưpháp
Năm: 2007
18. Phan Trung Hoài (2002), “Phán quyết của Toà án phải dựa vào kết quả trình bầy tại phiên toà”, Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phán quyết của Toà án phải dựa vào kết quảtrình bầy tại phiên toà”
Tác giả: Phan Trung Hoài
Năm: 2002
19. Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Các chức năng trong tố tụng hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chức năng trong tố tụng hình sự ViệtNam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 2012
20. Lê Trọng Hùng (1998), “Những rào cản khi hành nghề luật sư”, Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18/08/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những rào cản khi hành nghề luật sư”, "BáoPháp luật thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Trọng Hùng
Năm: 1998
21. Khái quát hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ
Tác giả: Khái quát hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w