1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC (khóa luận tốt nghiệp)

77 916 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 507 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC do sinh viên ưu tú của trường đại học hàng đầu về đào tạo pháp luật thực hiện, đề tài được đánh giá cao. (Có thể chỉnh sửa đề tài theo yêu cầu)

Trang 1

TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN

CHỨC 1

1.1 Khái niệm tuyển dụng viên chức 1

1.2 Nguyên tắc tuyển dụng viên chức 3

1.2.1 Ý nghĩa của các nguyên tắc tuyển dụng viên chức 3

1.2.2 Các nguyên tắc tuyển dụng viên chức 4

1.3 Thẩm quyền tuyển dụng viên chức 9

1.4 Căn cứ tuyển dụng viên chức 11

1.5 Điều kiện của người dự tuyển viên chức 14

1.5.1 Những điều kiện của người dự tuyển viên chức 14

1.5.2 Những người không được đăng ký dự tuyển viên chức 18

1.5.3 Ưu tiên trong tuyển dụng viên chức 19

1.6 Hình thức tuyển dụng viên chức 20

1.6.1 Thi tuyển viên chức 20

1.6.2 Xét tuyển viên chức 22

1.7 Quy trình tuyển dụng viên chức 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Ở NƯỚC TA VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN 27

2.1 Thực trạng tuyển dụng viên chức ở nước ta 27

2.1.1 Những thành công của công tác tuyển dụng viên chức ở nước ta thời gian qua 27

2.1.2 Những bất cập của pháp luật hiện hành về công tác tuyển dụng viên chức 33

2.1.2.1 Bất cập pháp luật về thẩm quyền tuyển dụng viên chức 33

2.1.2.2 Bất cập pháp luật về điều kiện dự tuyển viên chức 34

2.1.2.3 Bất cập pháp luật về quy trình tuyển dụng 39

2.1.2.4 Những bất cập khác của pháp luật về tuyển dụng viên chức 40

2.1.3 Thực tiễn tuyển dụng viên chức ở nước ta 41

2.2 Một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác tuyển dụng viên chức ở nước ta 53

2.2.1 Những giải pháp về pháp luật 54

2.2.2 Những giải pháp về thực tiễn 61

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 4

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hoạt động sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp công lập thời gian qua đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Với sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, các đơn vị sự nghiệp công lập đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển một cách bền vững đồng thời bảo đảm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân Những kết quả đạt được trên đây phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ viên chức - nguồn nhân sự chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập Thành công của công tác tuyển dụng viên chức tác động trực tiếp đến hiệu quả làm việc và chất lượng cung cấp các dịch vụ công phục vụ những nhu cầu thiết yếu và cơ bản của cộng đồng, xã hội.Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tuyển dụng viên chức, pháp luật

về viên chức đã có rất nhiều quy định cụ thể để điều chỉnh công tác này Việc ban hành Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn đã tạo ra nhiều sự thay đổi tích cực trong pháp luật về viên chức nói chung và pháp luật về tuyển dụng viên chức nói riêng, đã giúp cho công tác tuyển dụng viên chức trên thực tế diễn ra có hiệu quả, góp phần hoàn thiện đội ngũ viên chức Tuy nhiên, chế định tuyển dụng viên chức vốn phức tạp và cần thay đổi theo thời gian nhằm phù hợp với nhiệm vụ, chức năng

cụ thể của các đơn vị sự nghiệp công lập, do đó pháp luật về tuyển dụng viên chức cũng tồn tại nhiều bất cập; bên cạnh đó, sự độc lập, tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập trong công tác tuyển dụng cũng tạo ra phần nào độ “vênh” trong thực tiễn tuyển dụng so với quy định của pháp luật Vì vậy, cần có những nghiên cứu thực tế, khách quan về các vấn đề có liên quan đến quản lý viên chức trong đó có công tác tuyển dụng để làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này Với

những lý do như phân tích ở trên, “Tuyển dụng viên chức: Thực trạng và giải pháp” là một đề tài rất có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận

Những kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần bổ sung và hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác tuyển dụng viên chức tại các đơn vị

sự nghiệp công lập Trên cơ sở đó, khóa luận đưa ra một số vấn đề mang tính phổ biến và tính gợi mở trong việc hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của công tác tuyển dụng viên chức

3 Mục đích nghiên cứu của khóa luận

Trang 5

ra một số giải pháp về hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật về công tác tuyển dụng viên chức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập, sự tác động của một số yếu tố tới thực tiễn tuyển dụng và những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyển dụng viên chức

Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung vào thực trạng công tác tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp của nước ta hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng viên chức

5 Phương pháp nghiên cứu khóa luận

Trong khóa luận, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích - tổng hợp trong việc nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan tới tuyển dụng viên chức và tác động của cơ chế, pháp luật tới thực tiễn Phương pháp so sánh được sử dụng khi tìm hiểu sự khác biệt giữa tuyển dụng viên chức với tuyển dụng cán bộ, công chức, và khác biệt giữa các quy định tuyển dụng viên chức trong các văn bản quy phạm hiện hành với các văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực Phương pháp thống kê cũng được sử dụng để tìm hiểu số lượng, cơ cấu viên chức được tuyển dụng ở nước ta trong những những năm gần đây

6 Kết cấu của khóa luận

Tên đề tài: “Tuyển dụng viên chức: Thực trạng và giải pháp”

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm có 02 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận - pháp lý về tuyển dụng viên chức

Chương 2: Thực trạng tuyển dụng viên chức ở nước ta và giải pháp góp phần hoàn thiện

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC

1.1 Khái niệm tuyển dụng viên chức

Viên chức là một trong những chủ thể cơ bản của pháp luật hành chính đồng thời là đội ngũ nhân sự quan trọng trong các đơn vị sự nghiệp công lập Thông qua hoạt động của mình, họ góp phần vào việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội

mà Nhà nước đề ra, bảo đảm sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và ổn định, công bằng xã hội, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất

nước Cụ thể, viên chức là người đóng vai trò to lớn trong hoạt động cung ứng các dịch vụ công cơ bản cho người dân và cộng đồng ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội như: giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, thể dục - thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên - môi trường,…

Đặc thù lao động của viên chức không nhân danh quyền lực nhà nước, không phải là các hoạt động quản lý nhà nước như của cán bộ, công chức mà chỉ thuần tuý

là các hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ Điểm khác biệt giữa hoạt động quản lý nhà nước với hoạt động cung ứng các dịch vụ công là yếu tố

cơ bản tạo nên nét đặc thù trong công tác tuyển dụng viên chức, đó chính là khả năng tác động của các hoạt động này tới lợi ích của các chủ thể trong xã hội và mức

độ sử dụng quyền lực nhà nước trong các hoạt động đó Quản lý nhà nước là chức năng của các cơ quan công quyền, sử dụng quyền lực nhà nước để tiến hành các hoạt động nhằm hướng tới các mục tiêu chung của Nhà nước, thông qua đó tác động gián tiếp đến lợi ích của các chủ thể trong xã hội Xét về mặt tài chính, các hoạt động quản lý nhà nước dựa vào nguồn ngân sách của Nhà nước và không tạo

ra được các nguồn thu khác Còn hoạt động cung ứng dịch vụ công của các đơn vị

sự nghiệp công lập đáp ứng trực tiếp các nhu cầu thiết yếu hàng ngày của từng chủ thể trong xã hội Ngoại trừ một số ít dịch vụ mang tính chất công cộng được hỗ trợ hoàn toàn từ nguồn ngân sách nhà nước, hầu hết các dịch vụ này có khả năng tạo ra nguồn thu riêng mà không nhân danh quyền lực nhà nước

Từ những sự khác biệt trên mà Luật Viên chức năm 2010 (sau đây gọi là Luật Viên chức) đã làm rõ hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp

vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan Điều 2 Luật Viên chức đã quy định vị trí pháp lý của viên chức phù hợp với tính đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức, cụ thể:

“Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại

Trang 7

đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.

Hoạt động cũng như chất lượng của đội ngũ viên chức có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập Chính vì vậy, tuyển dụng đội ngũ viên chức có chất lượng là hoạt động mà tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập đều phải chú trọng

Trước đây, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 121/2006/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định số 116/2003/NĐ-CP) đưa ra khái niệm “tuyển dụng” tại khoản 6 Điều 3

như sau: “Tuyển dụng là việc tuyển người theo hình thức hợp đồng làm việc trong

biên chế ở đơn vị sự nghiệp của Nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển” Có thể

thấy, khái niệm “tuyển dụng” theo Nghị định số 116/2003/NĐ-CP không đặt ra một điều kiện cụ thể nào liên quan đến bản thân cá nhân người tham gia dự tuyển Trong

khi đó, Luật Viên chức lại quy định: “Tuyển dụng là việc lựa chọn người có phẩm

chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”

Khái niệm “tuyển dụng” tại khoản 4 Điều 3 Luật Viên chức được giải thích theo hướng đặt ra các yêu cầu về tư cách đạo đức, trình độ chuyên môn và khả năng làm việc đối với cá nhân người tham gia dự tuyển Các nhà làm luật đã đơn giản hóa khái niệm “tuyển dụng” bằng cách thay thế các dấu hiệu “theo hình thức hợp đồng làm việc”, “thông qua thi hoặc xét tuyển” bằng dấu hiệu “vào làm viên chức” Điều

2 Luật Viên chức đã quy định rõ khái niệm viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, chính vì vậy, dùng cụm từ “vào làm viên chức” đã bao hàm các dấu hiệu khác quy định tại Nghị định số 116/2003/NĐ-CP Bên cạnh đó, một trong những điểm mới của Luật Viên chức là trong khái niệm tuyển dụng viên chức

đã bỏ đi cụm từ “trong biên chế” Theo đó, tuyển dụng viên chức sẽ không căn cứ vào chỉ tiêu biên chế như trước đây, thay vào đó các đơn vị sự nghiệp công lập phải dựa trên vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp để tuyển dụng nguồn nhân sự cho đơn vị mình

Một trong những sự khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức chính là chế độ tuyển dụng Chế độ tuyển dụng viên chức gắn với vị trí việc làm thông qua chế độ hợp đồng làm việc và lương được hưởng từ quỹ lương của đơn vị

sự nghiệp công lập nơi viên chức làm việc Trong khi đó, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, trong biên chế Nhà nước

Trang 8

Tuyển dụng viên chức là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý viên chức, đồng thời là khâu đầu tiên trong quá trình quản trị nhân sự của đơn vị sự nghiệp công lập Đây là quá trình rất quan trọng, nó bổ sung những người

đủ tiêu chuẩn, năng lực, phẩm chất vào đội ngũ viên chức, đáp ứng nhu cầu nhân sự cho đơn vị sự nghiệp công lập trong từng giai đoạn cụ thể Có thể nói, tuyển dụng viên chức là nền tảng, là cơ sở để đơn vị sự nghiệp công lập có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Đây là một hoạt động diễn ra thường xuyên và cần thiết để bảo đảm tính liên tục, kế thừa và xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức Nếu hoạt động tuyển dụng diễn ra thành công sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị cũng như chất lượng phục vụ người dân và cộng đồng của các đơn

vị sự nghiệp công lập Còn nếu ngược lại sẽ gây ra rất nhiều tổn thất cho đơn vị sự nghiệp công lập như: phải tuyển dụng lại, đào tạo lại, gây lãng phí cả về tiền bạc và thời gian, ảnh hưởng đến chất lượng công việc, thậm chí có thể khiến cho đơn vị rơi vào tình trạng ngưng trệ

Chính vì vậy, hiện nay các đơn vị sự nghiệp công lập có sự đầu tư rất lớn về thời gian và vật chất cho công tác tuyển dụng viên chức

Như vậy, tuyển dụng viên chức là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những

người là công dân Việt Nam có phẩm chất, trình độ và năng lực theo vị trí việc làm vào làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Mục tiêu của tuyển dụng viên chức là nhằm tuyển được những người có phẩm chất, trình

độ và năng lực đáp ứng các yêu cầu của vị trí việc làm để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập

1.2 Nguyên tắc tuyển dụng viên chức

1.2.1 Ý nghĩa của các nguyên tắc tuyển dụng viên chức

Nguyên tắc tuyển dụng viên chức là các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo do Nhà nước đặt ra và yêu cầu phải được thực thi trong suốt quá trình hoạt động nhằm đạt hiệu quả trong công tác tuyển dụng viên chức Các nguyên tắc này là nền tảng pháp

lý chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ các hoạt động trong quá trình tuyển dụng viên chức và là căn cứ pháp lý để xác định tính hợp pháp của các hành vi do các chủ thể tham gia tuyển dụng viên chức thực hiện

Các nguyên tắc tuyển dụng viên chức có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với

nhau, nguyên tắc này dựa trên cơ sở nguyên tắc kia và là nền tảng cho nguyên tắc khác, chúng không độc lập, mâu thuẫn mà hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất điều chỉnh các hoạt động trong quá trình tuyển dụng viên chức Nếu xem nhẹ hoặc vi phạm một nguyên tắc nào đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc tuân

Trang 9

thủ các nguyên tắc còn lại Chính vì vậy, cần phải áp dụng đầy đủ và triệt để tất cả các nguyên tắc này trong công tác tuyển dụng viên chức.

Bên cạnh đó, việc tuân thủ các nguyên tắc này còn có ý nghĩa rất lớn đối với

công tác tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập, thể hiện qua các điểm sau đây:

Một là, bảo đảm cho công tác tuyển dụng diễn ra đúng pháp luật, hạn chế sơ

sót, hạn chế khiếu nại, tố cáo Đặc biệt, việc tuân thủ các nguyên tắc tuyển dụng

viên chức bảo đảm cho quá trình tuyển dụng được diễn ra có hiệu quả, thu hút

được nhân tài

Hai là, bảo đảm sự giám sát của công dân đối với các hoạt động của cá nhân,

cơ quan có thẩm quyền cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm của những chủ thể này trong quá trình tuyển dụng, từ đó, hạn chế sự chuyên quyền, quan liêu, nạn tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong quá trình tuyển dụng viên chức.

Ba là, góp phần áp dụng thống nhất pháp luật của các đơn vị sự nghiệp công lập trong phạm vi cả nước Qua đó, bảo đảm tính ổn định trong chính sách quản lý

nguồn nhân lực và tình trạng nhân lực nói chung của các đơn vị sự nghiệp công lập

1.2.2 Các nguyên tắc tuyển dụng viên chức

Điều 21 Luật Viên chức quy định tuyển dụng viên chức phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật.

- Công khai: Công tác tuyển dụng viên chức phải có kế hoạch cụ thể và công

bố rộng rãi thông qua các kênh thông tin phổ biến và đặc thù như trang thông tin điện tử của từng đơn vị Các đơn vị sự nghiệp công lập phải niêm yết công khai tại

trụ sở làm việc các nội dung như: tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển, thời

hạn và địa điểm tiếp nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển,… để tất cả mọi người đều có thể biết và tiếp cận Việc công khai các thông tin tuyển dụng viên chức là một trong những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm thiết chế dân chủ; qua đây người dân có thể thực hiện chức năng giám sát của mình đối với hoạt động của các đơn vị

sự nghiệp công lập Công khai là một trong những yếu tố tiên quyết để bảo đảm thực thi các nguyên tắc còn lại của quá trình tuyển dụng viên chức

- Minh bạch: Minh bạch trong tuyển dụng viên chức không chỉ là sự rõ ràng,

dễ hiểu và đúng đắn, mà còn bao hàm cả sự toàn diện, tin cậy và kịp thời Các thủ tục, nội dung trong tuyển dụng viên chức cần phải dễ hiểu, thuận lợi cho việc thực hiện Nếu chúng rườm rà, chồng chéo, phức tạp sẽ khiến cho người dân khó hiểu, khó tiếp nhận đồng thời tạo điều kiện nảy sinh các biểu hiện tiêu cực gây khó khăn,

Trang 10

phiền hà cho người dân Điều này đi ngược lại với những nội dung mà khoản 2 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định1.

- Công bằng: Nguyên tắc này xuất phát từ tính công bằng xã hội được quy

định tại Điều 3 Hiến pháp năm 2013 Các đơn vị sự nghiệp công lập phải bảo đảm tất cả mọi người đều có cơ hội như nhau trong quá trình tuyển dụng Dưới góc độ pháp lý, bình đẳng là yếu tố cơ bản hợp thành sự công bằng, tính công bằng thường gắn liền với tính bình đẳng Bình đẳng trước pháp luật là điều kiện cơ bản để đạt đến sự công bằng: mọi công dân, nam, nữ thuộc các dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật nói chung

và quy định về tuyển dụng viên chức nói riêng

Pháp luật viên chức có nhiều quy định nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này như các quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật Viên chức về điều kiện đăng ký dự tuyển; quy định tại Điều 10 và Điều 13 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về xác định người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức và xác định người trúng tuyển trong

kỳ xét tuyển viên chức,… hay tại khoản 3 Điều 19 Luật Viên chức quy định những việc viên chức không được làm trong đó có phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức

- Khách quan: Quá trình tuyển dụng phải được tiến hành dựa trên cơ sở tôn

trọng thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động Nói cách khác, quá trình tuyển dụng phải được thực hiện dựa trên các quy định của pháp luật, thực tiễn xã hội, yêu cầu thực tế của chính đơn vị sự nghiệp công lập trong từng giai đoạn Cần loại trừ sự tùy tiện, cảm tính cá nhân, ý chí chủ quan trong quá trình tuyển dụng Đơn vị tuyển dụng phải bảo đảm tất cả những người dự tuyển được đánh giá một cách khách quan trên cơ sở thực tài ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tuyển dụng Muốn thực hiện được điều này thì công tác ra đề thi, coi thi và chấm thi cũng cần phải được tiến hành một cách khách quan và công tâm2

- Đúng pháp luật: Mọi chủ thể phải tôn trọng và tuân thủ các quy định của

pháp luật nói chung và pháp luật về tuyển dụng viên chức nói riêng một cách tự giác, nghiêm minh, đầy đủ, thống nhất Đây là một trong những quy định nhằm xây

1 “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”.

2 Để nguyên tắc khách quan được thực hiện trên thực tế, pháp luật viên chức đã quy định rất chi tiết về quá trình thi tuyển và xét tuyển, điển hình là các quy định tại Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức (sau đây gọi là Thông tư số 15/2012/TT-BNV); Thông tư số 16/2012/TT-BNV ngày

28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ Ban hành quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và nội quy kì thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức (sau đây gọi là Thông tư số 16/2012/TT-BNV).

Trang 11

dựng nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước Việc thực hiện nguyên tắc này không chỉ bảo vệ được quyền lợi của công dân mà còn góp phần kiểm soát, giám sát hành vi của các chủ thể có thẩm quyền một cách hữu hiệu, ngăn chặn tình trạng tha hóa quyền lực, xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Nhằm bảo đảm nguyên tắc này, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 09/2012/TT-BNV ngày 10 tháng 12 năm 2012 về Quy trình, nội dung thanh tra về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công, viên chức Bên cạnh đó, Luật Viên chức cũng quy định về kiểm tra, thanh tra trong quá trình tuyển dụng viên chức (Điều 50) và các hình thức xử lý vi phạm đối với viên chức (Điều 52)

Thứ hai, bảo đảm tính cạnh tranh.

Tính cạnh tranh trong tuyển dụng cần được nhìn nhận trên cả hai phương diện:

số lượng và chất lượng

Về số lượng, việc tuyển dụng phải bảo đảm có tỉ lệ “lựa chọn” phù hợp3, nói cách khác, phải bảo đảm số người dự tuyển nhiều hơn số người cần tuyển, hay còn gọi là số dư trong tuyển dụng Có như vậy mới đủ số lượng để sàng lọc, so sánh, lựa chọn, kể cả để dự phòng trong những tình huống phát sinh khác Nếu “số lượng người dự tuyển ít hơn số chỉ tiêu cần tuyển sẽ dẫn đến việc các đơn vị không tuyển được người hoặc tuyển người chưa xứng đáng với vị trí cần tuyển Điều này khiến cho việc tuyển dụng viên chức không đạt được hiệu quả cao như mong muốn”4

Về chất lượng, cách thức tuyển chọn là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác tuyển dụng Các tiêu chí đánh giá và hệ thống các thứ bậc trong tiêu chí đánh giá ứng viên nếu không tự thân nó tạo ra các giá trị để phân loại chất lượng ứng viên thì đơn vị tuyển dụng sẽ rất khó khăn trong việc lựa chọn những ứng viên có chất lượng phù hợp với nhu cầu của mình

Tính cạnh tranh còn được bảo đảm khi các ứng viên tham gia dự tuyển được đối xử một cách công bằng, khách quan

Thứ ba, tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm.

“Tuyển chọn đúng người” có nghĩa là người được tuyển chọn phải có năng lực, kĩ năng chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng các yêu cầu của vị trí việc làm Nói cách khác, hoạt động tuyển dụng viên chức phải hoàn toàn gắn với việc, dựa vào việc để tìm người chứ không phải vì người mà tìm việc Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm sẽ tạo điều kiện cho người trúng tuyển viên chức phát huy được năng lực của bản thân đồng thời hoàn thành tốt các công việc,

3 Tương tự như cách hiểu tỉ lệ “chọi” trong tuyển sinh.

4 Nguyễn Huy Hoàng (2011), Tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta hiện nay,

Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.29.

Trang 12

nhiệm vụ được giao Từ đó, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.

Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc này Điều 20 Luật Viên chức quy định một trong những căn cứ để tuyển dụng viên chức chính là vị trí việc làm

Thứ tư, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.

Đây là một trong những nội dung nhằm cụ thể hóa chủ trương xã hội hóa, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp công lập, góp phần đẩy mạnh cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công Chủ trương này còn được thể hiện qua các quy định tại: khoản 3 Điều 10 Luật Viên chức quy định về chính sách xây dựng và phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền

tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập

Theo khoản 2 Điều 9 Luật Viên chức, đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm đơn

vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ Đối với đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ thì trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập là rất lớn

Nguyên tắc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được thể hiện qua các quy định tại Nghị định số 29/2012/NĐ-CP như:

- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức thực hiện việc tuyển dụng viên chức; quyết định tuyển dụng viên chức qua thi tuyển hoặc xét tuyển5;

- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thể được cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập phân cấp để thực hiện việc tuyển dụng6

Ngoài ra, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập còn có vai trò quan trọng trong các hoạt động của quá trình tuyển dụng viên chức như: quyết định hình thức

và nội dung thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm7; quyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc ít người8; quyết định người trúng tuyển trong trường hợp từ 02 người trở lên có kết quả thi bằng nhau9;

Thứ năm, ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số.

Trang 13

Nguyên tắc này không vi phạm nguyên tắc công bằng, khách quan bởi vì các điều kiện ưu tiên này đã được Nhà nước dự liệu trước và quy định trước trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Mục tiêu của nguyên tắc ưu tiên người có tài năng là nhằm thu hút được sức lực, chất xám, trí tuệ của nhân tài, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập Ngoài ra, “ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài” chính là một trong những nội dung quy định tại khoản 3 Điều 61 Hiến pháp năm 2013 Cùng với các chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, việc nhấn mạnh thực hiện nguyên tắc này trong tuyển dụng viên chức còn là động lực, khuyến khích các cá nhân nỗ lực học tập, rèn luyện, nâng cao, hoàn thiện các kĩ năng chuyên môn nhằm tạo ra cho mình lợi thế riêng so với các ứng viên khác khi đăng ký dự tuyển viên chức Nguyên tắc ưu tiên người có tài năng được thể hiện qua các quy định về miễn thi10 và xét tuyển đặc cách11

Ưu tiên người có công với cách mạng là quy định có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người có công với cách mạng đồng thời nhằm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị,

xã hội Đây là một nguyên tắc Hiến định được ghi nhận tại khoản 1 Điều 59 Hiến pháp năm 2013 Bên cạnh đó, nguyên tắc này phù hợp với mục tiêu mà Pháp lệnh

Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 (sửa đổi và bổ sung năm 2012) hướng đến

Nguyên tắc ưu tiên người dân tộc thiểu số trong tuyển dụng viên chức là nguyên tắc xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc - là nguyên tắc Hiến định quy định tại khoản 2 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 Phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay đều sinh sống ở những vùng kinh tế khó khăn, đặc biệt là trình độ dân trí còn kém phát triển Chính vì thế, Nhà nước có các chính sách

ưu tiên đối với người dân tộc thiểu số nhằm khuyến khích họ tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước và góp phần quan trọng trong việc phát triển đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước Đồng thời, nguyên tắc này cũng nhằm cụ thể hóa quy định tại khoản 4 Điều 5 Hiến pháp năm 201312

Nguyên tắc ưu tiên người có công với cách mạng và người dân tộc thiểu số được thể hiện thông qua các quy định về xác định người trúng tuyển trong kì thi tuyển hoặc xét tuyển viên chức Những đối tượng này sẽ được ưu tiên trong trường

10 Điều 8 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

11 Điều 14 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

12 “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Trang 14

hợp có từ 02 người trở lên có kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng và tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành hoặc điểm phỏng vấn, điểm thực hành bằng nhau (khoản 2 Điều 10

và khoản 2 Điều 13 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP)

1.3 Thẩm quyền tuyển dụng viên chức

- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ: nhằm bảo đảm

quyền chủ động và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập, cũng như tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, Điều 24 Luật Viên chức quy định người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ sẽ tổ chức thực hiện việc tuyển dụng viên chức, quyết định tuyển dụng viên chức qua thi tuyển hoặc xét tuyển

Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ quyết định thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm: Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; Phó Chủ tịch Hội đồng là người phụ trách công tác tổ chức cán bộ của đơn vị sự nghiệp công lập; Ủy viên kiêm thư ký Hội đồng là viên chức giúp việc về công tác tổ chức cán bộ của đơn vị sự nghiệp công lập; Các ủy viên khác là những người có chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến vị trí tuyển dụng

- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ thì cơ quan

có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng hoặc phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện Quy định này nhằm tránh sự tùy tiện trong tuyển dụng cũng như bảo đảm cho ngân sách nhà nước được sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả vì những đơn vị chưa được giao quyền tự chủ còn phụ thuộc khá lớn vào nguồn ngân sách của nhà nước

Hội đồng tuyển dụng viên chức có 05 hoặc 07 thành viên do người đứng đầu

cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập hoặc người đứng đầu đơn

vị sự nghiệp công lập (trong trường hợp được phân cấp) thành lập, bao gồm: Chủ tịch Hội đồng do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định; Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; Ủy viên kiêm thư ký Hội đồng là người đại diện bộ phận làm công tác tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức; Các ủy viên khác là người có chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến vị trí tuyển dụng

Có thể thấy, Luật Viên chức có những quy định khác nhau về thẩm quyền tuyển dụng viên chức phù hợp với đặc thù của từng loại đơn vị sự nghiệp công lập

Trang 15

Tuy nhiên, giữa chúng vẫn tồn tại một điểm chung, cụ thể: chịu trách nhiệm tuyển dụng viên chức là một hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa

số và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ Quy định này một mặt tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc cơ bản trong hệ thống quản lý điều hành nói chung (tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số), mặt khác tạo cơ chế bảo đảm người dự tuyển sẽ được nhìn nhận, phân tích, đánh giá đa chiều dưới các góc

độ chuyên môn khác nhau của từng thành viên trong hội đồng, theo đó người trúng tuyển sẽ được lựa chọn một cách khách quan Đồng thời đây còn là cơ sở để hạn chế đến mức tối đa tình trạng lạm dụng quyền hạn cá nhân trong quá trình tuyển dụng, đặc biệt là ở các vị trí có quyền chi phối như Chủ tịch Hội đồng Bên cạnh đó, các quy định về Chủ tịch Hội đồng và Phó Chủ tịch Hội đồng tuyển dụng thể hiện

rõ nguyên tắc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập, điều này tạo điều kiện cho các đơn vị được chủ động hơn trong việc tuyển chọn nguồn nhân sự

Hội đồng tuyển dụng viên chức có vai trò quan trọng trong công tác tuyển dụng viên chức nhưng hội đồng này chỉ là bộ phận chuyên trách, do người đứng đầu

cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức ra quyết định thành lập và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ Bên cạnh đó, Hội đồng tuyển dụng viên chức còn chịu trách nhiệm thay mặt người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng thực hiện các hoạt động tuyển dụng theo đúng các nguyên tắc mà pháp luật viên chức quy định, nói cách khác, hoạt động của hội đồng này chỉ mang tính chất “tham mưu” cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức Cụ thể, Hội đồng tuyển dụng viên chức phải báo cáo kết quả tuyển dụng cho người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phê duyệt13; căn

cứ vào kết quả tuyển dụng, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập sẽ ký kết hợp đồng làm việc với người trúng tuyển vào viên chức14 Như vậy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng mới là chủ thể cuối cùng quyết định việc tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập Quy định này nhằm đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức cũng như bảo đảm giá trị pháp lý của quyết định tuyển dụng viên chức

1.4 Căn cứ tuyển dụng viên chức

Điều 20 Luật Viên chức quy định việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào

04 yếu tố, gồm: nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập

13 Khoản 3 Điều 16 và khoản 3 Điều 17 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

14 Khoản 2 Điều 24 Luật Viên chức.

Trang 16

Thứ nhất, nhu cầu công việc:

Nhu cầu công việc là những đòi hỏi, yêu cầu của các công việc cụ thể mà đơn

vị sự nghiệp công lập thực hiện Công việc cụ thể ở đây có thể là những công việc

có tính chất thường xuyên, liên tục, ổn định, lâu dài, lặp đi lặp lại có tính chu kỳ như công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành; công việc thực thi, thừa hành mang tính chuyên môn, nghiệp vụ hoặc những công việc có tính thời vụ, đột xuất

Muốn xác định được nhu cầu công việc thì cần phải tiến hành phân tích công việc nhằm nắm được bản chất của công việc, từ đó có thể biết được vị trí nào còn thiếu, khối lượng công việc, điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng người viên chức cần thiết phải có để thực hiện công việc đó Trên cơ sở những nội dung này, các đơn vị sự nghiệp công lập xác định số lượng viên chức cần tuyển dụng, các điều kiện về phẩm chất, trình độ, năng lực của người tham gia dự tuyển để có thể tuyển chọn đúng người cho công việc Nếu việc tuyển dụng viên chức không dựa trên nhu cầu công việc sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa nhân sự, gây lãng phí cả nhân lực và vật lực

Thứ hai, vị trí việc làm:

Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn

Triển khai xác định vị trí việc làm được thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập và Thông tư số 14/2012/TT-BNV ngày

18 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi là Thông tư số 14/2012/TT-BNV).Mỗi vị trí việc làm gắn với nội dung chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể, gắn với chức danh nghề nghiệp, hạng chức danh nghề nghiệp và chức danh lãnh đạo, quản

lý trong đơn vị sự nghiệp công lập16

15 http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=26503&print=true (truy cập ngày 08/5/2014).

16 Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 14/2012/TT-BNV.

Trang 17

Nguyên tắc để xác định vị trí việc làm là phải tuân thủ quy định của pháp luật

về quản lý viên chức; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị sự nghiệp công lập; phải gắn với chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý tương ứng

và phải bảo đảm tính khoa học, khách quan, công khai, minh bạch, phù hợp với thực tiễn

Có 05 yếu tố là căn cứ để xác định vị trí việc làm, bao gồm: Chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và công việc thực tế của đơn vị sự nghiệp công lập; Tính chất, đặc điểm, nhu cầu công việc của đơn vị sự nghiệp công lập; Mức độ phức tạp, quy mô công việc; phạm vi, đối tượng phục vụ; quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của luật chuyên ngành; Mức độ hiện đại hóa công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin; Thực trạng bố trí, sử dụng viên chức của đơn vị sự nghiệp công lập.17

Tuyển dụng viên chức dựa trên hệ thống vị trí việc làm có nhiều lợi thế hơn so với hệ thống biên chế như trước đây Hệ thống vị trí việc làm sẽ giúp các đơn vị sự nghiệp công lập thuận lợi hơn trong việc huy động nguồn nhân lực cần thiết, đồng thời có cơ sở để tuyển được đúng và đủ người vào đơn vị, hạn chế sự tùy tiện trong tuyển dụng Các đơn vị sự nghiệp công lập có thể xác định và điều chỉnh vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị mình Vị trí việc làm được thể hiện dưới hình thức bản mô tả công việc, khung năng lực, chức danh nghề nghiệp tương ứng, số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp sẽ là căn cứ để các đơn vị sự nghiệp công lập xác định các vấn đề cơ bản như: chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm; các điều kiện riêng đối với người đăng ký dự tuyển; hình thức và nội dung thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành

Thứ ba, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp:

Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp; được sử dụng làm căn cứ

để thực hiện công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức18

Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là yêu cầu về phẩm chất, trình độ, năng lực cần có để thực hiện công việc, nhiệm vụ được dùng để: phân loại, quy hoạch, nâng hạng viên chức; đánh giá viên chức; đào tạo, bồi dưỡng viên chức; tuyển dụng, bố trí, đề bạt và thuyên chuyển, sắp xếp lại viên chức theo vị trí việc làm; là mục tiêu

17 Điều 4 Nghị định số 41/2012/NĐ-CP.

18 Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 12/2012/TT-BNV ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức (sau đây gọi là Thông tư số 12/2012/TT-BNV).

Trang 18

phấn đấu của viên chức; là cơ sở để trả lương, thù lao và thực hiện các chế độ, chính sách khác đối với viên chức19

Các yêu cầu về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp phải phù hợp đối với mỗi vị trí việc làm và phải phải gắn với vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập Có thể hiểu các yêu cầu này là khung tiêu chuẩn năng lực chức danh

Bộ quản lý viên chức chuyên ngành căn cứ yêu cầu, đặc điểm, tính chất của hoạt động nghề nghiệp, chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng, ban hành Bộ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức thuộc ngành, lĩnh vực

sự nghiệp được giao quản lý20

Kết cấu chung của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, bao gồm: Tên và hạng của chức danh nghề nghiệp; Nhiệm vụ: liệt kê chi tiết và cụ thể những công việc phải thực hiện có mức độ phức tạp phù hợp với hạng chức danh nghề nghiệp; Tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp; Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là cơ sở để đơn vị sự nghiệp công lập xác định: các điều kiện đối với người đăng ký dự tuyển, nội dung thi các môn như tin học văn phòng và ngoại ngữ,…

Một điểm mới của Luật Viên chức là đã quy định việc sử dụng “chức danh nghề nghiệp” áp dụng đối với người được tuyển vào viên chức để phân biệt với việc

sử dụng “ngạch” áp dụng đối với người được tuyển vào công chức, nhằm phân định

rõ nét đặc thù của viên chức là hoạt động trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ chứ không phải là thi hành công vụ như công chức Viên chức làm việc trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học, văn hóa,… đều có các chức danh nghề nghiệp riêng Các cụm từ “bác sĩ”, “y tá”, “giáo viên”, “giảng viên”, “đạo diễn”, “diễn viên”, thực chất là được dùng để chỉ các chức danh ứng với nghề nghiệp của viên chức, nhưng trong một thời gian dài lại được dùng để quy định thành các “ngạch” cho viên chức giống như áp dụng đối với công chức Quy định này không phù hợp với tính chất, đặc thù lao động của viên chức đã tạo nên nhiều hạn chế trong sử dụng, quản lý và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức Vì vậy, việc sử dụng “chức danh nghề nghiệp” sẽ khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quản lý đội ngũ viên chức hiện nay

Thứ tư, quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập:

Quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm tất cả các khoản tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương

19 don-vi-su-nghiep-cong-lap.html (truy cập ngày 08/5/2014).

http://www.lyluanchinhtri.vn/index.php/dien-dan/item/619-mo-ta-cong-viec-theo-vi-tri-viec-lam-trong-20 Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 12/2012/TT-BNV.

Trang 19

Viên chức được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập21, được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao22 Vì vậy, đơn vị

sự nghiệp công lập phải bảo đảm quỹ tiền lương của mình bảo đảm được nguồn thu nhập, chế độ đãi ngộ công bằng, xứng đáng với trình độ, năng lực của viên chức cũng như hiệu quả hoạt động của đơn vị

Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Viên chức, có ý kiến đề nghị bỏ quy định việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập Đề nghị này đã không được chấp nhận vì quỹ tiền lương của đơn

vị sự nghiệp công lập được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và hầu hết là từ nguồn ngân sách nhà nước Do đó quy định trên nhằm bảo đảm khả năng duy trì hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm đời sống, mức lương cho đội ngũ viên chức, tránh việc tuyển dụng tràn lan không căn cứ vào nhiệm vụ và khả năng bảo đảm kinh phí hoạt động của đơn vị23 Bên cạnh đó, việc tuyển dụng viên chức trên cơ sở quỹ tiền lương là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cán cân bình ổn sử dụng nguồn ngân sách và hiệu quả sử dụng ngân sách trong việc chi trả lương cho viên chức của đơn vị sự nghiệp công lập

1.5 Điều kiện của người dự tuyển viên chức

1.5.1 Những điều kiện của người dự tuyển viên chức

Điều kiện của người dự tuyển viên chức là những yêu cầu, đòi hỏi mà đối tượng muốn dự tuyển viên chức phải đáp ứng

Điều kiện tuyển dụng viên chức phải thể hiện được tính công bằng, bình đẳng của các ứng viên khi tham gia tuyển dụng viên chức, đồng thời bảo đảm thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân Người dự tuyển viên chức phải đáp ứng các điều kiện chung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 22 Luật Viên chức và điều kiện riêng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 22 Luật Viên chức Điều kiện chung là điều kiện bắt buộc mà bất cứ công dân nào muốn trở thành viên chức đều phải hội đủ Điều kiện riêng là điều kiện gắn với vị trí việc làm, thể hiện tính chất, đặc điểm riêng của các lĩnh vực dịch vụ công và mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể Theo đó, người dự tuyển viên chức phải đáp ứng các điều kiện sau:

Một là, có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam:

21 Điều 2 Luật Viên chức.

22 Khoản 1 Điều 12 Luật Viên chức.

23 Cao Vũ Minh (2012), “Một số điểm tiến bộ và hạn chế của Luật Viên chức năm 2010”, Nhà nước và pháp

luật, (6), 50-58.

Trang 20

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước nên người tham gia dự tuyển phải có quốc tịch Việt Nam Theo quy định của Luật Viên chức thì có thể suy ra người dự tuyển có thể có nhiều quốc tịch, trong đó phải có một quốc tịch là Việt Nam Luật Quốc tịch năm 2008 có quy định Nhà nước Việt Nam cho phép công dân Việt Nam được phép mang quốc tịch của nước khác Như vậy, Luật Viên chức đã quy định cởi mở hơn về vấn đề quốc tịch nhằm mở rộng đối tượng được tham gia dự tuyển viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập.Khác với người dự tuyển viên chức, người đăng ký dự tuyển công chức phải là công dân Việt Nam và chỉ mang một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam24 do hoạt động của công chức là hoạt động công vụ - một hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, thực thi và thừa hành pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhân dân, của xã hội và quốc gia Công chức phải có nghĩa vụ trung thành với thể chế chính trị, với Nhà nước Vì vậy, nhất thiết công chức Việt Nam tham gia vào công vụ phải là công dân Việt Nam và chỉ mang một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam25 Trong khi đó, hoạt động của viên chức là hoạt động nghề nghiệp, yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ Chính vì vậy, Luật Viên chức quy định người dự tuyển có thể có nhiều quốc tịch nhằm thu hút chất xám, trí tuệ, phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đồng thời bảo đảm sự bình đẳng về quyền

và nghĩa vụ giữa công dân có một quốc tịch là Việt Nam và công dân có nhiều quốc tịch trong đó có quốc tịch Việt Nam

Vấn đề người dự tuyển viên chức phải cư trú tại Việt Nam vẫn còn khá nhiều

quan điểm trái chiều Quan điểm thứ nhất cho rằng cần cho phép người Việt Nam

định cư ở nước ngoài được đăng ký dự tuyển viên chức vì “chúng ta cần tranh thủ chất xám trí tuệ, kinh nghiệm, chuyên môn của người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài vì đây là lực lượng có trình độ chuyên môn cao và nếu sử dụng họ thì chúng

ta tiết kiệm được rất nhiều kinh phí cho việc đào tạo nguồn lực”26 Quan điểm thứ

hai đề nghị không tuyển dụng công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài làm viên

chức tại Việt Nam Trường hợp cần huy động chất xám, trí tuệ, kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài vào các hoạt động chuyên môn tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam thì “có thể sử dụng các cơ chế khác như hợp tác nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn, chuyển giao công nghệ hoặc dưới hình thức ký hợp đồng vụ việc, hợp đồng lao động có thời hạn theo quy định hiện hành của pháp luật Trên thực tế, các hoạt động này

24 Điểm a khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

25 http://tochucnhanuoc.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/5020/0/5007/Tieu_chuan_cong_chuc_va_van_de_n ang_luc_trong_qua_trinh_tiep_tuc_cai_cach_cong_vu_cong_chuc (truy cập ngày 06/5/2014).

26 hoc vien tuphap.edu.vn/desktops/news/download.aspx?id=223 (truy cập ngày 05/5/2014).

Trang 21

đang được thực hiện không chỉ ở các đơn vị sự nghiệp công lập mà cả các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập”27.

Mặc dù không quy định trực tiếp nhưng Luật Viên chức đã gián tiếp thể hiện quan điểm thứ hai Các nhà làm luật cho rằng tuy hoạt động của viên chức chủ yếu mang tính chất chuyên môn, nghiệp vụ, song đây là một nguồn lực quan trọng góp phần thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, đảm đương các nhiệm vụ được Nhà nước giao phó, vì vậy, không nên tuyển dụng công dân Việt Nam định cư

ở nước ngoài làm viên chức ở Việt Nam Bên cạnh đó, quy định như vậy cũng nhằm bảo đảm cho công tác quản lý Nhà nước đối với đội ngũ viên chức dễ dàng hơn Trong quá trình thảo luận dự án Luật Viên chức, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng diễn giải rằng hoạt động của viên chức phải gắn với đơn vị sự nghiệp công lập, do vậy không thể có viên chức làm việc thường xuyên tại Việt Nam mà lại định

cư ở nước ngoài

Hai là, từ đủ 18 tuổi trở lên Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật:

Mười tám tuổi là độ tuổi bảo đảm khả năng thực hiện công việc cũng như chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của bản thân người tham gia dự tuyển Quy định này phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự, lao động và hình sự

Trước đây, Pháp lệnh Cán bộ, công chức và Nghị định số 116/2003/NĐ-CP quy định người đăng ký dự tuyển viên chức phải có tuổi đời dưới 45 tuổi, trong một

số trường hợp đặc biệt thì dưới 50 tuổi Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho viên chức khi đến tuổi được hưởng chế độ trong điều kiện pháp luật về bảo hiểm xã hội còn nhiều hạn chế, bất cập Tuy nhiên, việc quy định tuổi trần của ứng viên đã hạn chế cơ hội tham gia dự tuyển của công dân Mặt khác, hoạt động nghề nghiệp của viên chức yêu cầu trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ và để đạt được những điều đó đòi hỏi cần phải có quá trình tích lũy kinh nghiệm lâu dài thì việc giới hạn độ tuổi của ứng viên sẽ khiến cho các đơn vị sự nghiệp công lập mất đi một nguồn nhân lực nhiều kinh nghiệm Hơn thế nữa, việc quy định giới hạn độ tuổi người đăng ký dự tuyển còn vi phạm nguyên tắc tuyển dụng viên chức - nguyên tắc công bằng Trong khi đó, pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện nay đã quy định hình thức bảo hiểm tự nguyện bên cạnh hình thức bảo hiểm bắt buộc Điều này sẽ tạo điều kiện cho những người khi đến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội Vì những lý do trên mà Luật Viên chức không quy định mức trần độ tuổi tuyển dụng của những người tham gia dự tuyển

27 hoc vien tuphap.edu.vn/desktops/news/download.aspx?id=223 (truy cập ngày 05/5/2014).

Trang 22

Quy định độ tuổi của người dự tuyển có thể thấp hơn đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao là hợp lý Vì những người hoạt động trong các lĩnh vực trên thường có “năng khiếu, tố chất và tài năng bẩm sinh”

và họ “chỉ phát huy, cống hiến nhiều nhất khi đang ở độ tuổi còn trẻ, sung sức”28 Tuy nhiên, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người dự tuyển dưới 18 tuổi thì pháp luật quy định trong trường hợp này cần phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật

Ba là, có đơn đăng ký dự tuyển:

Đơn đăng ký dự tuyển thể hiện ý chí tự nguyện và nguyện vọng của người tham gia dự tuyển Ngoài ra, nó cũng thể hiện sự cam kết, cam đoan chấp hành các quy định của Nhà nước và của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng Mẫu đơn đăng ký dự tuyển viên chức là mẫu số 1 ban hành kèm theo Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức

Một bản Sơ yếu lý lịch rõ ràng còn là cơ sở để đánh giá tư tưởng chính trị cũng như phẩm chất đạo đức của người dự tuyển

Năm là, có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm:

Hoạt động chuyên môn của viên chức chủ yếu dựa trên kỹ năng nghiệp vụ, chuyên môn, mang tính nghề nghiệp cao nên người được tuyển dụng phải được đào tạo bài bản, thể hiện qua các văn bằng, chứng chỉ do các cơ sở giáo dục đào tạo cấp Tuy nhiên, việc quá chú trọng đến các văn bằng, chứng chỉ có thể sẽ bỏ sót nhân tài,

bỏ sót những người có tâm huyết, phẩm chất, năng lực nhưng không có bằng cấp Ngoài ra, có một số “hoạt động nghề nghiệp trong một số lĩnh vực như văn hóa, nghệ thuật, thể thao đòi hỏi phải có năng khiếu, tố chất, tài năng bẩm sinh Trong

28 Trần Anh Tuấn (2010), “Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập”,

Tổ chức nhà nước, (5), 16-19.

Trang 23

trường hợp này văn bằng chứng chỉ không phải là yếu tố quan trọng mà là năng khiếu, tài năng và họ chỉ phát huy, cống hiến nhiều nhất khi ở độ tuổi còn rất trẻ”29

Sáu là, đủ sức khỏe để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ:

Để có thể thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả thì đòi hỏi ở các ứng viên không chỉ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có sức khỏe tốt Vì vậy, khoản 4 Điều 2 Thông tư số 15/2012/TT-BNV quy định hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức phải có giấy chứng nhận sức khỏe còn giá trị sử dụng

do cơ quan y tế đủ điều kiện được khám sức khỏe chứng nhận theo quy định tại Thông tư số 13/2007/TT-BYT ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn khám sức khỏe

Cuối cùng, đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn

vị sự nghiệp công lập xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật:

Các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ công trên rất nhiều lĩnh vực như: y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa - thể thao,… mà mỗi lĩnh vực có những đặc điểm, yêu cầu đặc thù chuyên biệt nên ngoài các điều kiện bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật Viên chức được phân tích ở trên thì đơn vị sự nghiệp công lập được bổ sung các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm nhưng các quy định này không được trái với quy định của pháp luật và phải được cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập phê duyệt trước khi thực hiện Các điều kiện này có thể là: kỹ năng giao tiếp, giải quyết xung đột, khả năng chịu áp lực cao hoặc về hình thức: không nói ngọng, không nói lắp,

Ví dụ tại Thông báo số 390/TB-ĐHL ngày 15 tháng 03 năm 2014 của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuyển dụng viên chức năm 2014 có quy định người tham gia dự tuyển phải tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ hoặc đang theo học chương trình đào tạo thạc sĩ, hoặc nghiên cứu sinh, có bằng đại học hệ chính quy đạt loại khá trở lên, có bảng điểm (đại học và sau đại học) phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ dự kiến tuyển dụng

1.5.2 Những người không được đăng ký dự tuyển viên chức

Tuy đáp ứng được tất cả các điều kiện dự tuyển trên đây nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật Viên chức, những người sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức:

(i) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự 30 :

Đây là điểm mới của Luật Viên chức so với Nghị định số 116/2003/NĐ-CP Nghị định số 116/2003/NĐ-CP không quy định người mất năng lực hành vi dân sự

29 Trần Anh Tuấn (2010), “Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập”,

Tổ chức nhà nước, (5), 16-19.

30 Điều 22, Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Trang 24

hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì không được đăng ký dự tuyển viên chức, đây là một thiếu sót lớn của Nghị định này vì những đối tượng này không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình hoặc khả năng nhận thức của họ bị hạn chế do tác động của chất ma túy, chất kích thích khác Họ không thể bảo đảm các điều kiện về sức khỏe cũng như nhận thức, khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình nếu trở thành viên chức.

(ii) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định

về hình sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng:

Những đối tượng này đang trong thời gian bị hạn chế một số quyền công dân

do phải chịu trách nhiệm về hình sự hoặc hành chính nên họ không được đăng ký

dự tuyển viên chức Quy định này còn nhằm bảo đảm xây dựng một đội ngũ viên chức có năng lực và phẩm chất đạo đức

1.5.3 Ưu tiên trong tuyển dụng viên chức

Theo khoản 2 Điều 10 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP thì những đối tượng sau đây sẽ được ưu tiên trong tuyển dụng viên chức: Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động; Thương binh; Người hưởng chính sách như thương binh; Con liệt sĩ; Con thương binh; Con của người hưởng chính sách như thương binh; Người dân tộc

ít người; Đội viên thanh niên xung phong; Đội viên tri thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ; Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự; Người dự tuyển là nữ

Đối với công chức, Điều 5 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 03 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 93/2010/NĐ-CP) quy định những đối tượng ưu tiên được liệt kê trên đây sẽ được cộng thêm điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển Còn đối với tuyển dụng viên chức thì Nghị định số 29/2012/NĐ-CP không quy định cộng điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển viên chức cho các đối tượng ưu tiên Mà những đối tượng ưu tiên chỉ được xét vào viên chức theo thứ tự ưu tiên sau khi có từ 02 người trở lên có kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng và tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành hoặc điểm phỏng vấn, điểm thực hành bằng nhau Có thể thấy, cùng một nguyên tắc ưu tiên người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số nhưng Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (khoản

4 Điều 38) và Luật Viên chức năm 2010 (khoản 5 Điều 21) có hai cách khác nhau

để cụ thể hóa nguyên tắc này

1.6 Hình thức tuyển dụng viên chức

Trang 25

Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển31 Mỗi hình thức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Việc lựa chọn phương thức tuyển dụng là do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp căn cứ vào tình hình cụ thể để quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trong khi

đó, hình thức tuyển dụng công chức được thực hiện chặt chẽ hơn và thường phải thông qua thi tuyển (trừ trường hợp được xét tuyển với điều kiện người đó có đủ điều kiện về sức khỏe, văn bằng, độ tuổi, cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn)32

Có thể thấy, Luật Viên chức quy định đa dạng các hình thức tuyển dụng nhằm tạo ra sự linh hoạt trong việc lựa chọn hình thức tuyển dụng phù hợp với điều kiện cũng như nhu cầu ở từng giai đoạn của đơn vị mình cho các đơn vị sự nghiệp công lập, qua đó góp phần thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập và phát huy thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu

1.6.1 Thi tuyển viên chức

Thi tuyển viên chức là thông qua kết quả bài thi của các ứng viên để chọn ra người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập Hình thức thi tuyển trong tuyển dụng viên chức góp phần xóa bỏ cơ chế

“xin – cho” đã tồn tại trong một thời gian dài Đây là hình thức tuyển dụng khá phổ biến trên thế giới vì nó có tính khách quan cao, có sự cạnh tranh rõ rệt giữa các ứng viên Với những quy định chặt chẽ về quy chế thi, môn thi, đề thi, chấm thi, giám sát kì thi thì hình thức này góp phần bảo đảm sự công bằng và khách quan trong tuyển dụng Thi tuyển viên chức được quy định chi tiết tại mục 2 chương II Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

Về nội dung thi 33 : Người dự thi tuyển viên chức phải thực hiện các bài thi kiến

thức chung và thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành Việc thi tin học văn phòng

và ngoại ngữ đối với người dự thi tuyển viên chức thực hiện theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và yêu cầu của vị trí việc làm

Một điểm đặc biệt, theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 15/2012/TT-BNV thì nội dung thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành trong kỳ thi tuyển viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm cần

31 Trong một số trường hợp đặc biệt, việc tuyển dụng còn được thực hiện thông qua hình thức xét tuyển đặc cách quy định tại Điều 14 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP và Điều 7 Thông tư số 15/2012/TT-BNV Đây là hình thức tuyển dụng hoàn toàn mới so với quy định tại Nghị định số 116/2003/NĐ-CP, nhằm thu hút người

có tài năng, có trình độ tham gia vào hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời nhằm cụ thể hóa nguyên tắc ưu tiên người có tài năng quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật Viên chức.

32 Điều 37 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

33 Điều 7 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

Trang 26

tuyển Vì vậy, trong cùng một kỳ thi tuyển viên chức, những người tham gia thi tuyển vào các vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành khác nhau thì cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải xây dựng các đề thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành khác nhau phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển

Người đăng ký dự tuyển được miễn thi môn ngoại ngữ hoặc tin học nếu có các bằng tốt nghiệp về ngoại ngữ và công nghệ thông tin quy định tại Điều 8 Nghị định

số 29/2012/NĐ-CP

Về cách tính điểm 34 : Bài thi được chấm theo thang điểm 100 trong đó thi kiến

thức chung tính điểm hệ số 1; thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành: phần thi viết hoặc thi trắc nghiệm tính hệ số 1, phần thi thực hành tính hệ số 2

Kết quả thi là tổng số điểm của bài thi kiến thức chung và các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành Trường hợp người dự tuyển thi ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc ít người, thi tin học văn phòng, kết quả các bài thi này là điểm điều kiện và không tính vào tổng số điểm thi, trừ trường hợp ngoại ngữ và công nghệ thông tin là phần thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành

Có thể thấy, vì hoạt động nghề nghiệp mang tính đặc thù, chuyên sâu của viên chức nên cách tính điểm trong kì thi tuyển viên chức thể hiện sự chú trọng đến nghiệp vụ chuyên ngành và phần thực hành35 Yêu cầu của kì thi tuyển viên chức là tuyển chọn được những người có khả năng về chuyên môn, nghiệp vụ Chính vì vậy, các môn ngoại ngữ, tiếng dân tộc ít người và tin học văn phòng chỉ là các môn thi điều kiện, trừ trường hợp ngoại ngữ và công nghệ thông tin là phần thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành

Về cách xác định người trúng tuyển 36 :

Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức phải có đủ 03 điều kiện sau:(i) Có đủ các bài thi của các môn thi;

(ii) Có điểm của mỗi bài thi đạt từ 50 điểm trở lên;

(iii) Có kết quả thi tuyển cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm

Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả thi bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng thì người có tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển; nếu tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành bằng nhau thì người đứng đầu cơ quan có thẩm

34 Điều 9 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

35 Đây là điểm khác biệt so với công chức, trong thi tuyển công chức không có phần thi thực hành mà chú trọng vào bài thi viết môn nghiệp vụ chuyên ngành

36 Điều 10 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

Trang 27

quyền tuyển dụng viên chức quyết định người trúng tuyển theo thứ tự ưu tiên quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức Trường hợp vẫn không xác định được người trúng tuyển theo thứ

tự ưu tiên quy định tại khoản 2 Điều 10 thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức trực tiếp phỏng vấn và quyết định người trúng tuyển

1.6.2 Xét tuyển viên chức

Xét tuyển viên chức là thông qua kết quả học tập, phỏng vấn hoặc thực hành

về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển để chọn ra người

có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập So với hình thức thi tuyển thì hình thức xét tuyển tiết kiệm được nhiều thời gian

và chi phí hơn

Mục 3 chương II Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức quy định chi tiết về xét tuyển viên chức:

Về nội dung xét tuyển 37 :

Xét tuyển viên chức gồm 02 nội dung:

(i) Xét kết quả học tập bao gồm điểm học tập và điểm tốt nghiệp của người dự tuyển;

(ii) Kiểm tra, sát hạch thông qua phỏng vấn hoặc thực hành về năng lực, trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển

Trước đây, việc xét tuyển không có quy định nội dung kiểm tra, sát hạch thông qua phỏng vấn hoặc thực hành, thay vào đó là xem xét xem ứng viên có đạt yêu cầu, tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch tuyển dụng hay không38 Điểm mới này của Luật Viên chức “nhằm tạo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong việc lựa chọn cho mình đội ngũ viên chức có chất lượng một cách sát thực nhất”39 Mặt khác, việc kiểm tra, sát hạch thông qua phỏng vấn hoặc thực hành giúp cho người tuyển dụng có thể nắm bắt cũng như kiểm tra được khả năng vận dụng các kiến thức chuyên môn vào thực

tế, các kĩ năng giải quyết công việc của những người dự tuyển một cách sát thực nhất

39 Lê Minh Hương (2012), “Một số vấn đề về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức theo Nghị định số

29/2012/NĐ-CP của Chính phủ”, Tổ chức nhà nước, (5), tr.9.

40 Điều 13 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

Trang 28

(i) Có điểm học tập, điểm tốt nghiệp, điểm phỏng vấn hoặc thực hành, mỗi loại đạt từ 50 điểm trở lên;

(ii) Có kết quả xét tuyển cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp đến hết chỉ tiêu được tuyển dụng của từng vị trí việc làm

Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả xét tuyển bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng thì người có điểm phỏng vấn hoặc điểm thực hành cao hơn là người trúng tuyển; nếu điểm phỏng vấn hoặc điểm thực hành bằng nhau thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định người trúng tuyển theo thứ tự ưu tiên quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số

29/2012/NĐ-CP Trường hợp vẫn không xác định được người trúng tuyển theo thứ

tự ưu tiên thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định người trúng tuyển

1.7 Quy trình tuyển dụng viên chức

Quy trình tuyển dụng viên chức là một loại thủ tục hành chính nên ngoài việc tuân theo các nguyên tắc tuyển dụng viên chức được quy định tại Điều 21 Luật Viên chức thì còn phải thỏa mãn các nguyên tắc chung của thủ tục hành chính41

Quy trình tuyển dụng viên chức được quy định tại mục 4 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP Theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này thì hàng năm, đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng kế hoạch tuyển dụng viên chức trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc quyết định theo thẩm quyền để tổ chức thực hiện

Quy trình tuyển dụng viên chức là các bước tiến hành tuyển dụng viên chức bao gồm:

Bước 1: Thông báo tuyển dụng 42

Cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải thông báo tuyển dụng công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị (nếu có) và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc

Nội dung thông báo tuyển dụng bao gồm:

- Tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký dự tuyển;

- Số lượng viên chức cần tuyển theo từng vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp tương ứng;

- Nội dung hồ sơ đăng ký dự tuyển, thời hạn và địa điểm nộp hồ sơ dự tuyển,

số điện thoại liên hệ;

41 Những nguyên tắc chung này được quy định tại Điều 7 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm

2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số CP).

48/2013/NĐ-42 Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP và Điều 3 Thông tư số 15/2012/TT-BNV.

Trang 29

- Hình thức và nội dung thi tuyển hoặc xét tuyển; thời gian và địa điểm thi tuyển hoặc xét tuyển; lệ phí thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật.

Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ dự tuyển 43

Thời hạn nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển ít nhất là 20 ngày làm việc

kể từ ngày thông báo tuyển dụng công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.Chậm nhất 10 ngày làm việc trước ngày tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải lập danh sách người đủ điều kiện dự tuyển để niêm yết công khai tại trụ sở làm việc và thông báo trên trang điện

tử của đơn vị (nếu có)

Bước 3: Tổ chức tuyển dụng viên chức 44

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nhận hồ sơ của người đăng ký

dự tuyển, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định thành lập Hội đồng tuyển dụng để thực hiện việc thi tuyển hoặc xét tuyển

Hội đồng tuyển dụng viên chức thành lập và phân công cụ thể cho bộ phận giúp việc thực hiện các nhiệm vụ:

- Thành lập các ban giúp việc gồm: ban đề thi, ban coi thi, ban phách, ban chấm thi, ban phúc khảo, ban kiểm tra, sát hạch;

- Tổ chức thu phí dự tuyển và sử dụng theo quy định của pháp luật;

- Tổ chức thi và chấm thi hoặc kiểm tra, sát hạch;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật

Chậm nhất trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển, Hội đồng tuyển dụng viên chức phải tổ chức chấm thi hoặc tổ chức tổng hợp kết quả xét tuyển và báo cáo với người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức

Bước 4: Thông báo kết quả tuyển dụng 45

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển của Hội đồng tuyển dụng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải niêm yết công khai kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển tại trụ sở làm việc và trên trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức (nếu có)

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày niêm yết công khai kết quả thi tuyển, người dự tuyển có quyền gửi đơn đề nghị phúc khảo kết quả thi tuyển Người

43 Khoản 2 và khoản 3 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

44 Điều 16 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

45 Điều 17 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP.

Trang 30

đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức giao Hội đồng tuyển dụng tổ chức chấm phúc khảo trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn nhận đơn phúc khảo.

Sau khi thực hiện các công việc trên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phê duyệt kết quả tuyển dụng

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định phê duyệt kết quả tuyển dụng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải gửi thông báo công nhận kết quả trúng tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển qua đường bưu điện theo địa chỉ mà người dự tuyển đã đăng ký và thông báo công khai trên trang tin điện tử của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức (nếu có) Nội dung thông báo phải ghi rõ thời gian và địa điểm người trúng tuyển đến ký hợp đồng làm việc

Bước 5: Ký kết hợp đồng làm việc và nhận việc 46

Trong thời hạn chậm nhất là 20 ngày làm việc, kể từ ngày công bố kết quả tuyển dụng, người trúng tuyển viên chức phải đến ký hợp đồng làm việc (hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng) với đơn vị sự nghiệp công lập theo thông báo công nhận kết quả trúng tuyển bằng văn bản của người đứng đầu

cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức

Trong thời hạn chậm nhất là 20 ngày làm việc, kể từ ngày hợp đồng làm việc được ký kết, người trúng tuyển phải đến nhận việc, trừ trường hợp hợp đồng làm việc quy định thời hạn khác Trường hợp người trúng tuyển có lý do chính đáng mà không thể đến nhận việc thì phải làm đơn xin gia hạn trước khi kết thúc thời hạn nêu trên gửi cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức

Trường hợp người trúng tuyển không đến ký hợp đồng làm việc trong thời hạn nói trên hoặc đến nhận việc sau thời hạn nói trên thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức hủy bỏ kết quả trúng tuyển hoặc chấm dứt hợp đồng đã ký kết

Trường hợp người trúng tuyển viên chức đến ký hợp đồng làm việc và nhận việc đúng theo quy định của pháp luật thì sau khi thực hiện xong hợp đồng làm việc xác định thời hạn, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập căn cứ vào nhu cầu của đơn vị, trên cơ sở đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ của viên chức, quyết định ký kết hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc xác định thời hạn đã ký kết trước đó đối với viên chức

Tiểu kết: Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có nhiều nội

dung mới, tiến bộ, có tính kế thừa và mang tính cải cách mạnh mẽ so với cơ chế

46 Điều 19 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP và Điều 6 Thông tư số 12/2012/TT-BNV.

Trang 31

tuyển dụng viên chức trước đây Nhìn chung, các quy định điều chỉnh công tác tuyển dụng viên chức phù hợp với đặc điểm và tính chất hoạt động nghề nghiệp của viên chức, điều này cho thấy pháp luật viên chức đã có nhiều tư duy đổi mới trong việc tạo ra cơ chế thông thoáng hơn đối với hoạt động quản lý nói chung và tuyển dụng viên chức nói riêng trong khu vực dịch vụ công Đây cũng chính là cơ sở pháp

lý có giá trị cao nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng tại các đơn vị sự nghiệp công lập của nước ta, qua đó xây dựng và quản lý đội ngũ viên chức có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và cộng đồng, góp phần thúc đẩy phát triển khu vực sự nghiệp công lập phù hợp và đồng bộ với xu hướng chuyển đổi sang nền hành chính phục vụ, với cơ chế thị trường, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC

Ở NƯỚC TA VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN

2.1 Thực trạng tuyển dụng viên chức ở nước ta

2.1.1 Những thành công của công tác tuyển dụng viên chức ở nước ta thời gian qua

Trước khi Luật Viên chức có hiệu lực (ngày 01 tháng 01 năm 2012), công tác tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm

2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (được sửa đổi và bổ sung bởi Nghị định số 121/2006/NĐ-CP); Thông tư số 10/2004/TT-BNV ngày 19 tháng 02 năm 2004 của

Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 116/2003/NĐ-CP; Thông tư số 04/2007/TT-BNV ngày 21 tháng 06 năm 2007 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ và Nghị định số 121/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm

2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 116/2003/NĐ-CP

về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước

Bên cạnh các văn bản của Chính phủ và Bộ Nội vụ trên thì các Bộ, cơ quan ngang Bộ cũng ban hành một số văn bản điều chỉnh công tác tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc hoặc hoạt động trong ngành, lĩnh vực mà mình quản lý như: Quyết định số 32/2006/QĐ-BYT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Quy định tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế bằng hình thức xét tuyển”; Quyết định số 49/2005/QĐ-BYT ngày 30 tháng 12 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Quy định nội dung, hình thức thi tuyển viên chức y tế”; Quyết định số 62/2007/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 10 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về nội dung và hình thức tuyển dụng giáo viên trong các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông công lập và trung tâm giáo dục thường xuyên;…

Nhìn chung các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trong giai đoạn này

đã đạt được những thành công nhất định, góp phần thay đổi cơ chế tuyển dụng theo hướng phù hợp hơn với đặc thù hoạt động nghề nghiệp của viên chức; đẩy mạnh công tác phân cấp quản lý viên chức; thể chế hóa công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng, quản lý viên chức và bước đầu gắn tiêu chuẩn chức danh với công tác tuyển

Trang 33

dụng, bố trí, sử dụng,… Tuy nhiên, quá trình xây dựng, ban hành và áp dụng các văn bản của các cơ quan nêu trên vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế chưa được giải quyết một cách đồng bộ, dứt điểm dẫn đến việc các văn bản quy phạm pháp luật chưa thể điều chỉnh đầy đủ các hoạt động phát sinh trong quá trình tuyển dụng viên chức, đặc biệt là hai phương thức thi tuyển và xét tuyển, khiến quá trình tuyển dụng diễn ra không hiệu quả, xảy ra nhiều tiêu cực Bên cạnh đó, việc có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản điều chỉnh dẫn đến hoạt động tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập, các địa phương trên cả nước không có

sự thống nhất, thậm chí là còn có sự mâu thuẫn Những hạn chế trên đã khiến cho các đơn vị sự nghiệp công lập gặp nhiều lúng túng, vướng mắc trong công tác tuyển dụng nguồn nhân sự cho đơn vị mình, mặt khác làm giảm chất lượng và hiệu quả điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật trong công tác tuyển dụng công chức viên chức nói chung

Nhận thức rõ tầm quan trọng của đội ngũ viên chức cũng như công tác tuyển dụng viên chức, sau khi Luật Viên chức được ban hành, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết các vấn đề liên quan đến tuyển dụng viên chức được ra đời, cụ thể là: Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng

12 năm 2012 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc

và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư số BNV ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ Ban hành quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức

16/2012/TT-và nội quy kì thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức Các văn bản trên đây đều bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất Có thể thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành khá đầy đủ, đúng thủ tục, trình tự và thẩm quyền; về cơ bản có tính khả thi cao, điều chỉnh khá toàn diện và đầy đủ các quan hệ phát sinh trong công tác tuyển dụng viên chức, khắc phục được những hạn chế của các quy định pháp luật trước đây, đồng thời đã đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu khách quan của thực tiễn Đây là cơ sở pháp lý vững chắc góp phần quan trọng để công tác tuyển dụng viên chức diễn ra một cách hiệu quả và tạo ra sự thống nhất trong hoạt động tuyển dụng nhân sự giữa các đơn

vị sự nghiệp công lập trong phạm vi cả nước

Quy định tuyển dụng viên chức căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp

và yêu cầu của vị trí việc làm là một trong những bước tiến quan trọng trong hoạt

Trang 34

động quản lý viên chức nói chung và công tác tuyển dụng viên chức nói riêng Đây

là cơ sở để tổ chức, bố trí lại bộ máy nhân sự bảo đảm tính khoa học, hiệu quả, công khai, minh bạch, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức đồng thời thực hiện tinh giảm những viên chức không đáp ứng yêu cầu công việc; tránh lãng phí nguồn nhân lực, góp phần tiết kiệm chi phí công Thực hiện đề án vị trí việc làm và tuyển dụng viên chức theo đề án vị trí việc làm, từ thực tế cho thấy là cơ hội giúp đơn vị sự nghiệp công lập rà soát lại tổ chức bộ máy, đội ngũ viên chức và xác định từng vị trí trong tổ chức gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Công việc này còn giúp đơn vị tránh tình trạng định sẵn nhân sự rồi mới tạo ra công việc và tránh sự chồng chéo khi phân công, giao việc Nhờ đó, khắc phục tình trạng vừa thừa, vừa thiếu nhân lực, giảm thiểu nạn tham nhũng và những biểu hiện tiêu cực trong công tác tuyển dụng Mặt khác, xác định vị trí việc làm giúp cho viên chức thấy được vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trong tổ chức, không thể đùn đẩy, thoái thác công việc Đồng thời đây còn là cơ sở quan trọng để thực hiện việc sàng lọc, đánh giá nhân sự ứng tuyển trong suốt quá trình tuyển dụng và giai đoạn làm việc sau tuyển dụng

Việc tuyển dụng theo hình thức hợp đồng làm việc đã xóa bỏ hình thức biên

chế trước đây, khắc phục được tâm lý “an phận” của viên chức; giúp cho các đơn vị

sự nghiệp công lập sử dụng nguồn ngân sách một cách hiệu quả, linh hoạt hơn, đáp ứng được nhu cầu của viên chức Đây là động lực để viên chức chủ động, tích cực trong hoạt động nghề nghiệp, không ngừng phấn đấu, rèn luyện, học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân Đồng thời, việc ký hợp đồng làm việc với viên chức còn là một trong những lý do để các đơn vị sự nghiệp công lập tạo ra nhiều ưu đãi cũng như nâng cao chất lượng môi trường làm việc nhằm “giữ chân” những người có năng lực, trình độ Ngoài ra, cơ chế hợp đồng làm việc có thời hạn nhất định đã tạo ra khả năng chủ động, linh hoạt hơn trong việc thay đổi nhân sự của đơn vị sự nghiệp công lập cũng như mối liên kết chặt chẽ hơn giữa kết quả làm việc của đội ngũ viên chức với đơn vị sự nghiệp công lập

Pháp luật viên chức với những quy định rõ ràng là cơ sở pháp lý vững chắc giúp cho công tác tuyển dụng viên chức ở nước ta thời gian qua diễn ra quy củ và

nề nếp hơn Các đơn vị sự nghiệp công lập đã tự tin và yên tâm hơn trong công tác tuyển dụng nguồn nhân sự cho đơn vị mình

Với chủ trương tăng cường quyền tự chủ, quyền tự chịu trách nhiệm, các đơn

vị sự nghiệp công lập ngày càng chủ động và tích cực hơn trong việc tổ chức bộ máy nhân sự nói chung và công tác tuyển dụng viên chức nói riêng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao Nhằm xây dựng và phát triển đơn vị bằng chính

Trang 35

nội lực của mình, các đơn vị sự nghiệp có sự đầu tư nhất định vào công tác tuyển dụng, thu hút được nhân tài, cạnh tranh với các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và các tổ chức khác Các đơn vị sự nghiệp công lập quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức theo hướng chuẩn hoá, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, đặc biệt chú trọng nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động sự nghiệp trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Cụ thể, các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay đều có sự điều chỉnh hợp lý về

số lượng tuyển dụng Theo số liệu tổng hợp từ Báo cáo của Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tính đến năm 2009 số lượng viên chức là 1.118.650 người; đến hết 31/12/2012, số lượng này đã là 1.699.288 người, trong đó,

số tuyển dụng mới năm 2010 là 79.838 người, năm 2011 là 89.211 người, năm 2012

là 94.515 người; số lượng tiến sĩ là 12.199 (0,7%), 70.923 thạc sĩ (4,2%), 731.506

cử nhân đại học (43%)47

Có thể thấy, số lượng viên chức được tuyển dụng tăng dần qua từng năm Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân Trước hết, phần lớn các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập khá sớm, được Nhà nước bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị nên đã tạo ra được chỗ đứng, uy tín trong hoạt động cung cấp các dịch vụ công Tâm lý chung của hầu hết người dân Việt Nam là muốn vào làm việc tại các cơ quan Nhà nước để có những bảo đảm tốt hơn về chế độ, chính sách và pháp luật Thêm vào đó, quá trình tuyển dụng viên chức được quy định chặt chẽ, bảo đảm công khai, minh bạch đã tạo được niềm tin, thu hút được nhiều nguồn lực, nhiều thành phần kinh tế trong xã hội tham gia dự tuyển Ngoài ra, sự tăng trưởng dân số dẫn đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ công ngày càng cao đòi hỏi đội ngũ viên chức ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng trong các đơn vị sự nghiệp công lập Chính vì vậy, hàng năm các đơn vị sự nghiệp công lập đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và y tế thường phải tuyển dụng thêm viên chức nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội Hơn nữa, với những yêu cầu cấp bách của nền kinh tế ngày càng phát triển, các đơn vị phải mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dịch vụ để tương xứng với sự phát triển đó Vì vậy, nhu cầu tuyển dụng viên chức ngày càng cao nhằm bổ sung nguồn nhân lực cho các đơn vị sự nghiệp công lập

Cùng với việc dành nhiều ưu tiên cho đối tượng dự tuyển là nữ và dân tộc thiểu số, công tác tuyển dụng viên chức đã góp phần quan trọng trong việc đẩy

47 Theo Báo cáo số 535/BC-UBTVQH13 ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Kết quả giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật trong công tác tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”.

Trang 36

mạnh thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giữa các dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng đội ngũ viên chức Cụ thể, viên chức nữ, viên chức là dân tộc thiểu số luôn chiếm một tỷ lệ nhất định trong cơ cấu đội ngũ viên chức của nước ta thời gian qua Cụ thể, tổng số viên chức (tính đến 2009) là 1.622.225 người, trong đó viên chức là nữ có 1.018.764 người (62,8%), viên chức là dân tộc thiểu số có 130.623 người (8%) Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi, các chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã tạo động lực cho một bộ phận người trúng tuyển tới làm việc tại những khu vực trên, góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội tại những khu vực khó khăn này Từ đó, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về đời sống giữa các vùng miền, khắc phục được tình trạng bất hợp lý về cơ cấu, số lượng viên chức ở vùng khó khăn so với vùng thuận lợi cũng như góp phần quan trọng trong việc phân

bổ hợp lý nguồn nhân lực trên cả nước

Với những điều kiện, yêu cầu về phẩm chất, năng lực, trình độ đề ra trong công tác tuyển dụng một cách công khai, minh bạch cùng với các hình thức tuyển dụng đa dạng, các đơn vị sự nghiệp công lập đã lựa chọn được những viên chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao Hầu hết viên chức mới tuyển dụng đều được đào tạo chính quy, chuyên ngành phù hợp với vị trí việc làm Đội ngũ viên chức cơ bản có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có ý thức, tinh thần trách nhiệm trong công tác được giao Số lượng viên chức là tiến sĩ, thạc sĩ trong các đơn

vị sự nghiệp công lập ngày càng tăng

Tiêu biểu như thành phố Hà Nội, trong 3 năm từ 2010-2012, thành phố đã tuyển 18.110 viên chức giáo dục và 2903 viên chức sự nghiệp khác Bên cạnh đó, thành phố cũng quan tâm thực hiện chính sách tuyển dụng đối với người có trình độ cao (như thủ khoa, thạc sỹ, tiến sỹ, tốt nghiệp loại giỏi ở nước ngoài…) vào làm việc tại các cơ quan của thành phố Từ năm 2009 đến nay thành phố đã tuyển dụng

37 thủ khoa, đặc cách tuyển dụng 27 nghệ sỹ diễn viên, 37 vận động viên, huấn luyện viên xuất sắc, tiếp nhận 42 viên chức ngoại tỉnh có trình độ tiến sỹ và thạc sỹ…48 Có được đội ngũ viên chức có năng lực và giàu kinh nghiệm này là nhờ vào chính sách ưu tiên tuyển dụng những người có tài năng của các đơn vị sự nghiệp công lập

Cùng với yêu cầu về trình độ chuyên môn, công tác tuyển dụng viên chức rất chú trọng đến phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của người tham gia dự tuyển Hiện nay, đa số viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối,

48 http://banthiduakhenthuongtw.gov.vn/tabid/74/Entry/2568/Default.aspx (truy cập ngày 26/5/2014).

Trang 37

chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao, ý thức cầu tiến, ham học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Trong công việc, hầu hết viên chức có ý thức tự chủ, năng động và sáng tạo, tích cực tu dưỡng, rèn luyện phục vụ nhân dân, có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành tốt nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị Vì vậy, đội ngũ viên chức ngày càng được quần chúng nhân dân tín nhiệm, tin yêu

Phần lớn đội ngũ viên chức mới được tuyển dụng được bố trí làm việc phù hợp với năng lực, các đơn vị sự nghiệp công lập đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để viên chức có thể phát huy hết kiến thức, sở trường, khả năng chuyên môn trong công việc, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, hiệu quả công việc trong hoạt động sự nghiệp

Bên cạnh đó, nhằm bảo đảm công tác tuyển dụng viên chức được diễn ra một cách công khai, minh bạch và đúng pháp luật thì các hoạt động kiểm tra, giám sát thời gian qua được triển khai một cách rộng rãi và đem lại nhiều kết quả tích cực Điển hình là ngày 31 tháng 01 năm 2013 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 564/NQ-UBTVQH13 thành lập Đoàn giám sát về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật trong công tác tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức” giai đoạn từ 01/01/2010 đến ngày 31/12/2012, đối tượng giám sát bao gồm Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Ban công tác đại biểu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Giai đoạn từ 01/01/2010 đến ngày 31/12/2012 là giai đoạn bản lề, giai đoạn chuyển tiếp khi mà các quy định về pháp luật về viên chức nói chung và pháp luật về tuyển dụng viên chức nói riêng bắt đầu có hiệu lực Việc thành lập Đoàn giám sát

đã góp phần bảo đảm các quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức được triển khai thực hiện một cách thống nhất trên thực tế, đồng thời nhanh chóng phát hiện những tồn tại, khó khăn, vướng mắc, xác định nguyên nhân, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan để kịp thời chấn chỉnh, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về tuyển dụng viên chức; góp phần xây dựng đội ngũ viên chức đủ

về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, có năng lực hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao

Nhìn chung, công tác tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập

ở nước ta thời gian qua cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu xây dựng đội ngũ viên chức vững mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội và cộng đồng; tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người trên cả nước Đồng thời, đóng góp một phần quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa,

Trang 38

hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Công tác tuyển dụng viên chức thời gian qua đã thực hiện có hiệu quả chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, huy động được nhiều nguồn lực xã hội để cùng với nguồn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển các dịch vụ công, tạo điều kiện cho ngân sách nhà nước tập trung đầu tư cho các đơn vị

sự nghiệp công lập phục vụ những vùng còn khó khăn, bảo đảm mọi tầng lớp nhân dân đều có cơ hội được hưởng những dịch vụ cơ bản nhất với chất lượng ngày càng cao, đặc biệt là các đối tượng chính sách xã hội và những người nghèo khó Sự công bằng, minh bạch, khách quan và hiệu quả trong công tác tuyển dụng là tiền đề để nâng cao chất lượng phục vụ, nâng cao ý thức trách nhiệm và mở rộng sự tham gia của toàn dân vào sự nghiệp phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao,… của đất nước Qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với hoạt động của đơn vị

sự nghiệp công lập và của đội ngũ viên chức

2.1.2 Những bất cập của pháp luật hiện hành về công tác tuyển dụng viên chức

Bên cạnh những thành công đã đạt được, pháp luật về tuyển dụng viên chức vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định, làm suy giảm hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập vì chưa thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng

cao Có thể bàn về một số bất cập của pháp luật về công tác tuyển dụng viên chức ở

nước ta như sau:

2.1.2.1 Bất cập pháp luật về thẩm quyền tuyển dụng viên chức

Theo pháp luật hiện hành, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ thì cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng hoặc phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện Trường hợp cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng sẽ tránh được sự tùy tiện trong tuyển dụng cũng như bảo đảm cho ngân sách nhà nước được sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả như đã phân tích ở mục 1.3 Tuy nhiên, quy định này vẫn tồn tại một số bất cập Trong một

số trường hợp người có thẩm quyền tuyển dụng không phải là chuyên gia trong lĩnh vực cần tuyển, điều này có thể dẫn đến hạn chế trong việc đánh giá chính xác được năng lực, khả năng thực sự của người dự tuyển Khi đó, việc tuyển dụng sẽ không đạt được kết quả như mong muốn, sẽ không lựa chọn được người xứng đáng và phù hợp nhất với yêu cầu của vị trí việc làm Các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ rơi vào trạng thái bị động khi phải tiếp nhận những viên chức do cơ quan chủ quản quyết định tuyển dụng Nếu người trúng tuyển làm việc không hiệu quả sẽ càng khiến cho

Ngày đăng: 21/11/2016, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w