1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ quyền trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật

20 401 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 360,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu của dự án “Tăng cường thực hiện quyền trẻ em với nhóm trẻ em vi phạm pháp luật” do Viện nghiên cứu thanh niên thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực hiện trên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÂM THỊ PHƯƠNG THANH

BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI

PHẠM PHÁP LUẬT

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 603801

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Hoàng Thị Kim Quế

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Năm 1924 Tuyên bố Giơnevơ đã nêu “ mọi dân tộc có trách nhiệm tạo cho trẻ em điều tốt đẹp nhất, tuyên bố và chấp nhận đó là nhiệm vụ của mình, vượt lên trên mọi sự quan tâm về chủng tộc, quốc tịch và nòi giống”; là lứa tuổi quyết

định tương lai của mỗi quốc gia, trẻ em luôn được quan tâm, giáo dục để có thể

phát triển bình thường nhất Công ước Liên hiệp quốc 1990 về quyền trẻ em (có

192 quốc gia thành viên) đã tạo khung pháp lý thống nhất cho các quốc gia thành

viên quy định về quyền trẻ em Mọi quy định phải hướng tới “Những người trẻ tuổi nên có một vai trò và góp phần tích cực trong xã hội và không nên bị xem chỉ

là mục tiêu của sự xã hội hóa hay sự kiểm soát” - Hướng dẫn số 3 của Hướng dẫn

Riyadh

Việt Nam là quốc gia luôn nhận thức sâu sắc rằng "Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước", Nhà nước và toàn xã hội có trách nhiệm đối với việc tăng cường đầu tư cho trẻ em, nhằm tạo ra những thế hệ thanh niên khoẻ mạnh, thông minh, hiểu biết và sáng tạo cho quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam là quốc gia thứ hai tham gia Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em và cam kết thực hiện Kế hoạch hành động vì trẻ em ngay từ thập niên 90 thế kỷ trước

Bằng nhiều chính sách, Chính phủ Việt Nam đã thu hút nhiều nguồn lực đầu

tư cho các mục tiêu bảo vệ và chăm sóc trẻ em, phấn đấu thực hiện các cam kết của mình với thế giới vì sự phát triển của trẻ em Việt Nam Các hoạt động truyền thông, giáo dục, tư vấn và hỗ trợ, giúp đỡ đào tạo nghề, tạo việc làm, tổ chức học văn hóa, giúp đỡ trẻ em lang thang hồi gia, ổn định cuộc sống ngày càng được chú trọng Ý thức trách nhiệm của các cấp chính quyền đối với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em ngày càng được nâng cao

Sự đổi mới về cơ chế kinh tế mang lại nhiều thành tựu, tuy nhiên cũng bộc

lộ nhiều mặt trái, như: phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, sự chênh lệch quá

Trang 3

lớn trong thu nhập, mức sống của các tầng lớp nhân dân, sự hình thành lối sống thực dụng, gia tăng tệ nạn xã hội, giáo dục của gia đình bị buông lỏng… đã ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của giới trẻ nói chung và trẻ em nói riêng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những vi phạm pháp luật mà đối tượng là trẻ em, lứa tuổi chưa đầy đủ nhận thức và trách nhiệm gánh chịu những hành vi vi phạm đó

Đã có nhiều chương trình, giải pháp tổ chức thực hiện nhằm phòng ngừa những tác động xấu và bảo vệ trẻ em, tuy nhiên ở một số nơi, vấn đề bảo vệ quyền trẻ em đối với người chưa thành niên chưa thực hiện tốt Tình trạng khá phổ biến là việc thực hiện quyền bảo vệ trẻ em đôi khi chỉ mang tính hình thức, thậm chí có những vụ việc chính người bảo vệ pháp luật còn lợi dụng gia cảnh của các em để kiếm tiền Thực trạng đó đòi hỏi phải có nghiên cứu để tăng cường các giải pháp bảo

vệ trẻ em trên cơ sở luật pháp quốc tế và quốc gia

Trên cơ sở nghiên cứu của dự án “Tăng cường thực hiện quyền trẻ em với nhóm trẻ em vi phạm pháp luật” do Viện nghiên cứu thanh niên thuộc Trung ương

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực hiện trên địa bàn Quận Thanh Xuân – Hà Nội, tác

giả đã chọn vấn đề “Quyền bảo vệ trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật” cho đề tài luận văn thạc sĩ của mình Qua luận văn, tác giả chú trọng tới

việc phân tích thực trạng, mở rộng vấn đề về bảo vệ quyền trẻ em của người chưa thành niên vi phạm pháp luật hiện nay ở Việt Nam, định hướng cho phù hợp với pháp luật quốc tế và khu vực

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Cho đến nay, vấn đề Quyền con người và Quyền trẻ em nói riêng theo pháp luật quốc tế và theo pháp luật Việt Nam đã được các nhà khoa học, các luật gia ở trong và ngoài nước tìm hiểu và nghiên cứu, đã có những đóng góp không nhỏ cho

sự đảm bảo về mặt thể chế, lập pháp quy định quyền cơ bản của người chưa thành

niên Về Quyền con người nói chung có tác phẩm Tìm hiểu về quyền con người – tài liệu hướng dẫn về giáo dục quyền con người do Wolfgang Benedek (chủ biên) –

Trang 4

Tài liệu dịch, Nhà xuất bản Tư pháp 2008 Các nghiên cứu trong nước cho thấy,

Quyền trẻ em đã và đang là chủ đề được nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan nghiên cứu nhằm mục đích phục vụ hoạt động của mình, như công trình của Bộ Công An

về Cẩm nang pháp luật Quyền trẻ em – dành phục vụ cho công tác tại trại tạm giam

và trường giáo dưỡng Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu khảo sát thực tế của Ủy ban Văn hóa giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Viện nghiên

cứu thanh niên, tổ chức Save the Children về Quyền trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, Hà Nội năm 2007 Nguyễn Ngọc Bích “Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành chính với người chưa thành niên” Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2003 Nguyễn Thị Hiền “Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên”, Luận án thạc sĩ luật học Đinh Hạnh nga, “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam hiện hành” Tạp chí kinh tế - Luật, số 4/2003

Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu toàn diện về các vấn đề lý luận, nguyên nhân, thực trạng, sự đảm bảo quyền trẻ em đối với người chưa thành niên

vi phạm pháp luật Kế thừa và tiếp thu những công trình đó, tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài này bằng một cách thức khác với hy vọng có được sản phẩm nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và thực tiễn hơn, có đóng góp nhất định trong vấn đề này

3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Góp phần bổ sung và làm rõ cơ sở lý luận khái niệm trẻ em và người chưa thành niên

- Nghiên cứu tình hình vi phạm pháp luật của người chưa thành niên trên địa bàn cụ thể, từ đó làm rõ các nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

- Nêu thực trạng pháp luật đảm bảo quyền trẻ em cho người chưa thành niên

vi phạm pháp luật hiện nay

Trang 5

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được các mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu các Văn kiện quốc tế, Việt Nam về quyền trẻ em, vấn đề đảm bảo quyền trẻ em của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

- Đưa ra số liệu thống kê, các biểu đồ để làm rõ thực trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại các địa bàn cụ thể và cả nước

- Trên cơ sở các nội dung trên, luận văn đưa ra một số đề xuất đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và đảm bảo quyền trẻ em theo pháp luật quốc tế, đáp ứng yêu cầu khách quan và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam

4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn:

- Nội dung cơ bản của Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1990; các văn kiện quan trọng khác của Quốc tế liên quan đến các vấn đề của trẻ

em

- Nội dung của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật giáo dục, luật hình sự, luật dân sự, pháp luật hành chính, các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam liên quan đến đảm bảo quyền trẻ em và trách nhiệm pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

- Nội dung các báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, của các tổ chức quốc tế về chủ đề đảm bảo quyền trẻ em đối với người chưa thành niên

vi phạm pháp luật hiện nay

- Số liệu thực tế trên địa bàn quận Thanh Xuân, TP Hà Nội, tại các báo cáo khác, trên các phương tiện thông tin đại chúng để làm rõ các vấn đề phân tích trong luận văn

Trang 6

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài là phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và Pháp quyền Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực tiễn áp dụng

Bên cạnh đó, tác giả còn đặc biệt coi trọng sử dụng các phương pháp phân tích quy phạm; điển hình hoá, mô hình hóa các quan hệ xã hội, tổng hợp, hệ thống, điều tra xã hội học, phương pháp lịch sử, so sánh, phân tích, đánh giá để giải quyết các vấn đề của đề tài đặt ra

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

- Góp phần bổ sung và làm rõ cơ sở lý luận khái niệm trẻ em và người chưa thành niên

- Phân tích thực trạng quy phạm pháp luật quốc tế và Việt Nam về quyền trẻ

em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật

- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm

ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan người chưa thành niên

Chương 2: Thực trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em của họ

Chương 3: Giải pháp đảm bảo quyền trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM

CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT

1.1 Trẻ em và Người chưa thành niên

1.1.1 Khái niệm Trẻ em và Người chưa thành niên

Trẻ em là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, về mặt xã hội chưa có những nhận thức đầy đủ, đúng đắn và toàn diện các vấn đề

Tuyên ngôn về quyền trẻ em đã khẳng định “Trẻ em, dù còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”

Trong hệ thống pháp luật quốc tế liên quan đến trẻ em, Công ước về quyền trẻ em có phạm vi và tính pháp lý cao nhất, nhằm bảo vệ các quyền của trẻ em trên phạm vi quốc tế; theo đó quy định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi

người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp quy định tuổi thành niên sớm hơn”[3, Điều 1] Trong Công ước quy định khái niệm trẻ em là những người dưới 18 tuổi,

tuy nhiên công ước cũng đã đưa ra cơ chế không bắt buộc cho các nước tham gia công ước là cũng phải quy định trẻ em dưới 18 tuổi, mà tùy từng quốc gia căn cứ vào điều kiện, khả năng thực tế của mình về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em để quy định độ tuổi trẻ em thấp hay cao cho phù hợp [23] Việt Nam là một trong những nước

đi đầu trong việc phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, phê chuẩn công ước vào ngày 20/2/1990

và được Liên hợp quốc công nhận phê chuẩn ngày 28/02/1990 Ngay sau đó năm 1991, Việt Nam ban hành Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và được thay thế năm 2004 Theo các quy

định pháp luật về trẻ em ở nước ta, thì trẻ em được định nghĩa “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”[14, Điều 1], “Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”[Điều 20]

Trang 8

Bộ luật dân sự 2005 quy định tại điều 18 “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên

là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”

Bộ luật lao động “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới

18 tuổi”

Luật thanh niên 2005 quy định ngay tại điều 1 “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” Về độ tuổi

thanh niên: căn cứ phân tích về phát triển thể chất, tâm lý, sinh lý, sự phát triển về mặt xã hội, ý thức tự lập, tự chủ của thanh niên; vừa đảm bảo sự kế tiếp với tuổi trẻ

em đã được quy định trong Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam và có tham khảo về quy định độ tuổi thanh

niên của các nước trong khu vực và trên thế giới

Thực tế, Việt Nam đã quy định trẻ em là những người dưới 16 tuổi, điều này

có nghĩa là Công ước về quyền trẻ em chỉ áp dụng cho lứa tuổi từ 16 tuổi ở Việt

Nam Điều 58 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nêu rõ “Việc xử lý trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trẻ em phải quy định theo pháp luật đối với người chưa thành niên” Điều này, giải thích

tại sao khi nói đến chủ thể là trẻ em vi phạm pháp luật thường người ta dùng thuật ngữ là “người chưa thành niên vi phạm pháp luật” mà không dùng “trẻ em vi phạm pháp luật”

Xét dưới khía cạnh Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, trẻ em là một chủ thể pháp luật Cũng như các chủ thể pháp luật khác (như các cá nhân là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch, các tổ chức như Nhà

nước và các tổ chức có tư cách chủ thể khác), “trẻ em có khả năng trở thành các bên tham gia quan hệ pháp luật, có được những quyền và nghĩa vụ pháp lý trên cơ

sở những quy phạm pháp luật” [24, tr394]

Trong khoa học Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật chưa có khái niệm thống nhất về sự điều chỉnh pháp luật đối với trẻ em Theo đó, xét một cách phổ

quát nhất, sự điều chỉnh pháp luật về trẻ em là một bộ phận của sự điều chỉnh pháp

Trang 9

luật nói chung, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành

và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến trẻ em

Sự điều chỉnh pháp luật xác định địa vị pháp lý của trẻ em Địa vị pháp lý này được hiểu là tổng thể những quyền và nghĩa vụ pháp lý của trẻ em cùng với những đảm bảo pháp lý cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ này [35]

Pháp luật về trẻ em có phạm vi điều chỉnh rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau Nếu xét ở góc độ lĩnh vực quan hệ xã hội thì pháp luật về trẻ em liên quan đến quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ lao động, quan hệ hình sự, quan hệ hành chính Còn nếu xét ở góc độ ngành luật thì hầu hết các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam đều điều chỉnh về trẻ em như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Quốc tịch, Luật Hình sự, Luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình và các Luật Tố tụng hình sự, Dân sự Ngoài ra còn có những ngành luật điều chỉnh riêng về trẻ em như: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học, Luật Giáo dục Nhưng do phạm vi điều chỉnh riêng, trong mỗi ngành luật, sự điều chỉnh pháp luật về trẻ em đều mang nét đặc thù [35]

Tiếp cận từ góc độ xã hội học - dân cư có thể định nghĩa “chưa thành niên” là một bộ phận phức hợp của dân cư của một quốc gia - dân tộc bao gồm tất cả các cá thể ở trong độ tuổi dưới 18 tuổi Như vậy, bộ phận dân cư được gọi là “người chưa thành niên” này chỉ phân biệt một cách tương đối với các bộ phận dân cư khác của

quốc gia - dân tộc ấy trên một tiêu chí duy nhất là giới hạn độ tuổi Có thể nói

“người chưa thành niên” là một nhóm xã hội - dân cư “động” chứ không phải là một nhóm “tĩnh”, ổn định Đặc trưng này hàm chứa cả những ưu điểm và cả những nhược điểm của nhóm xã hội - dân cư “người chưa thành niên” Một mặt, nhờ quy luật là nhóm “động” thường xuyên cho nên nó luôn là chủ thể chuyển tải liên tục các

giá trị liên thế hệ Vì thế sự chuyển động của nhóm có sự biến động rõ rệt về quy

mô, số lượng của các nhóm tuổi Đối tượng người chưa thành niên cũng có thể được

Trang 10

phân nhóm theo độ tuổi, xuất phát từ sự phát triển về thể chất, nhận thức mang tính tương đối

Với tính cách là một nhóm xã hội - dân cư, “người chưa thành niên” có nguồn gốc xuất thân khác nhau, thuộc mọi giai tầng trong xã hội, với đặc điểm khác nhau về tôn giáo, sắc tộc, giới tính, nơi sinh sống Hơn nữa, xét riêng về độ tuổi thì nhóm xã hội - dân cư “người chưa thành niên” cũng chỉ là một nhóm lớn, bao gồm trong đó nhiều nhóm nhỏ thuộc các độ tuổi khác nhau, như nhóm tuổi dưới 6 tuổi chưa có năng lực hành vi dân sự, nhóm từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 14 tuổi; nhóm tuổi trên 14 tuổi Đây là lứa tuổi góp phần quan trọng trong định hướng phát triển tương lai của đất nước, có ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội trong tương lai gần

Hiện nay, trong thực tiễn các quy định pháp luật trong nước và quốc tế, chúng ta thường sử dụng các thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên” để chỉ những người chưa đầy đủ về nhận thức, điều kiện để thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của một công dân như đối với người trưởng thành Tuy nhiên khi nghiên cứu, so sánh các quy định đó có thể thấy được vấn đề phân biệt chỉ là độ tuổi Người chưa thành niên bao gồm trẻ em và nhóm lứa tuổi từ 16 tuổi đến 18 tuổi được gọi là vị thành niên

Tuy nhiên, độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi lại nằm trong lứa tuổi được gọi là thanh

niên theo Luật thanh niên 2005 Có lẽ không một quốc gia nào lại có nhiều tên gọi

cho độ tuổi này như ở Việt Nam, người ta không hiểu trong trường hợp nào, thì dùng khái niệm nào Điều này gây ra sự lúng túng và không thống nhất khi áp dụng các văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh chủ thể đặc biệt này

Nếu như lứa tuổi dưới 18 tuổi theo công ước quốc tế là trẻ em thì pháp luật nước ta cho đây là những người chưa thành niên Việc pháp luật quy định độ tuổi trẻ em trong giai đoạn hiện nay là dưới 16 tuổi (ít hơn 2 tuổi so với quy định của pháp luật quốc tế) không làm ảnh hưởng đến việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ

Ngày đăng: 21/11/2016, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w