Tình hình, vai trò và đặc điểm của nghành chăn nuôi Việt Nam,Vai trò và đặc điểm ngành chăn nuôi, 2 Các yếu tố làm ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi, 3 Khái niệm phân vùng và các dang phân vùng,Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Đại Lộc, Đặc điểm địa hình, khí hậu và thủy văn, Điều kiện kinh tế xã hội, ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU,Thành phần các loài vật nuôi trên địa bàn huyện Đại Lộc, Hiện trạng cơ cấu đàn vật nuôi trên địa bàn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, Ảnh hưởng của nguồn thức ăn và dịch bệnh đến các loài vật nuôi ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, ?nh h??ng c?a ngu?n th?c ?n và d?ch b?nh ??n các loài v?t nuôi ? huy?n ??i L?c, t?nh Qu?ng Nam
Trang 1NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÂN VÙNG SINH THÁI CHĂN NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM
1. Tính cấp thiết của đè tài
Trong những năm gần đây cùng với ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi của nước ta đã không ngừng phát triển và đã được kết quả đáng kể Đó là sự khởi đầu trong việc triển khai chương trình phát triển chăn nuôi, đưa ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính Khi hội nhập, ngành chăn nuôi được xem là một trong những ngành sẽ phải chịu nhiều ảnh hưởng nhất trước sức ép cạnh tranh từ các sản phẩm thịt nhập khẩu, các tập đoàn chăn nuôi đa quốc gia muốn đầu tư vào Việt Nam
Đại lộc là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển nghành chăn nuôi, tuy nhiên do người dân chưa có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi làm ảnh hưởng đén tiềm năng của huyện Chính vì vậy tôi đã thực hiện nghiên
cứu đè tài “hiên trạng và đề xuất phân vùng sinh thái chăn nuôi trên địa bàn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam” nhằm đánh giá thực trạng tình hình sản xuất, định hướng và đề ra một số biện pháp hợp lý để
thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi huyện
2. Mục tiêu đề tài
Điều tra được thực trạng chăn nuôi của huyện từ đó tìm ra được những khó khăn Và đưa ra những giải pháp và phân vùng hợp lí để phat triển chăn nuôi của huyện Đại Lộc
3. Nhiệm vụ đề tài
- Đánh giá thực trạng chăn nuôi, xác định được những nhân tố ảnh hưởng đén chăn nuôi
- Đề xuất phân vùng hợp lí, và đưa ra một số giải pháp phát triển chănnuôi
4. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập tài liệu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
Trang 2PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình, vai trò và đặc điểm của nghành chăn nuôi Việt Nam
1.1.1 Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam
Theo Tổng cục Thống kê, ước tính tổng đàn trâu cả nước trong tháng 3/2015 giảm 2,5% do diện tích chăn thả bị thu hẹp, số lượng chưa kịp phục hồi sau Tết nguyên đán; tổng số bò tăng khoảng 1,5% so với cùng kỳ năm 2014; đàn bò sữa tiếp tục phát triển khá, tăng 2 – 2,5% Chăn nuôi lợn và gia cầm tương đối ổn định, nhu cầu tái đàn tăng mạnh, Chăn nuôi lợn phát triển tốt, ước tính số lượng lợn hiện tại của cả nước tăng khoảng 2% so với cùng kỳ năm 2014; chăn nuôi gia cầm hồi phục ổn định, dịch cúm gia cầm tuy không bùng phát mạnh nhưng vẫn còn xảy ra ở một vài tỉnh Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tăng khoảng 3-3,5% so với cùng kỳ năm 2014
Theo số liệu ước tính của TCTK, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý I tăng khoảng 1-1,5%, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng khoảng 2-2,5%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 4-5% , sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng khoảng 5,5-6% so với cùng kỳ năm 2014
Theo Cục Chăn nuôi, mức tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi bình quân/người/năm 2014 ước đạt: 50,0 kg thịt hơi các loại (tăng 1,4% so 2013), 88,7 quả trứng (tăng 2,7%), 5,8 lít sữa (tăng 14,2%) Tổng số nhà máy TACN cả nước: 199 nhà máy Trong đó: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 26,6% nhà máy, doanh nghiệp trong nước chiếm 70,9%, còn lại thuộc doanh nghiệp liên doanh Tổng sản lượng TACN công nghiệp 2014 ước đạt 14,7triệu tấn, tăng 9,95% so năm 2013.
Hiện nay các địa phương đang tăng cường công tác kiểm soát gia cầm nhập lậu, dịch bệnh trên gia cầm cơ bản được khống chế nên người chăn nuôi yên tâm đầu tư tái đàn, chuẩn bị nguồn thực phẩm cho thị trường Tết 2015
Theo Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng đầu năm 2014, cả nước nhập khẩu 2.146 con heo giống (+90,6% so
cùng kỳ 2013), 1.540.797 con gia cầm giống (-9,7%), 3,2 ngàn tấn thịt heo (+7,3%), 82,8 ngàn tấn thịt gia cầm (+19,3%), khoảng 208,7 ngàn con trâu bò sống (+66,2%)…Tổng kim ngạch nhập khẩu TACN&NL cả nước đạt
… USD, tăng ….% so cùng kỳ 2013 Dự báo kim ngạch nhập khẩu TACN&NL cả năm 2014 đạt 3,3 tỉ USD, tăng 7,1% so cùng kỳ năm 2013
Thị trường sản phẩm chăn nuôi tại Đông Nam Bộ (vùng chăn nuôi công nghiệp trọng điểm của cả nước):
Biểu đồ: Diễn biến giá heo, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại vùng Đông Nam Bộ đến 23/12/2014.
Theo chăn nuôi Việt Nam
LMLM
Hiện cả nước có 1 ổ dịch Cúm gia cầm H5N1 tại 1 hộ chăn nuôi ở xã Long Mỹ, huyện Măng Thít (tỉnh Vĩnh Long) đã qua 18 ngày và ổ dịch Cúm gia cầm H5N6 tại 2 hộ, 1 thôn thuộc xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia (tỉnh Thanh Hóa) đã qua 16 ngày
Chăn nuôi gia súc tuy bị ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại ở một số huyện vùng núi phía Bắc nhưng do công tác phòng chống đói rét cho đàn trâu, bò của một số địa phương được chuẩn bị khá chu đáo và kịp thời nên hiện tượng trâu, bò chết rét không xảy ra trên diện rộng, chủ yếu là trâu, bò già Theo Cục Chăn nuôi, tính đến hết ngày 14/02/2015 đã có 1.748 con gia súc bị chết, giảm khoảng 19,7% so với cùng kỳ năm 2014 (gồm trâu, bò, lợn,
gà, ngựa và dê) xảy ra tại địa bàn của 5 tỉnh Sơn La (thiệt hại lớn nhất với 1.430 con gia súc, gia cầm bị chết), Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu và Lạng Sơn Hiện chưa có số liệu cập nhật về số liệu thiệt hại trên đàn vật nuôi, tuy nhiên dự kiến giảm từ 20-25% so với cùng kỳ năm trước
Trang 3Nhìn chung, thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán 2015, hoạt động sản xuất chăn nuôi phát triển ổn định, lượng thực phẩm đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân; thời điểm sau Tết, người chăn nuôi tiếp tục tái đàn, tăng đàn nhằm cung cấp nguồn cung con giống cho nhu cầu sản xuất đảm bảo nguồn cung thực phẩm trong nước không bị thiếu hụt
1.1.2Vai trò và đặc điểm ngành chăn nuôi
1.1.2.1 Vai trò nghành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi là một bộ phận quan trọng của nền nông nghiệp Việt Nam Giai đoạn 1990-2001, giá trị sản ohaamr chăn nuôi chiếm đến 17-20% trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Chăn nuôi có một vai trò rất to lớn không chỉ trong nông nghiệp mà còn kể cả trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong đời sống xã hội Nó không ngừng đóng góp một phần đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân mà nó còn sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực Chăn nuôi là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quý giá cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu Không những vậy ngành chăn nuôi còn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển nông thôn Việt Nam Ngành chăn nuôi góp phần phát triển kinh tế , ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm đặc sản tươi sống và sản phẩm chế biến có giá trị cho xuất khẩu.Chăn nuôi đã gắn bó mật thiết đối với đời sống người dân, góp phần đáng kể vào việc cải thiện thành phần dinh dưỡng cho người dân thông qua việc tăng thêm chất đạm vào chế độ ăn uống và giúp xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng cho con người, giúp tận dụng những sản phẩm dư thừa trong sinh hoạt hằng ngày Cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, lâm nghiệp và một số loại thủy sản Giúp sử dụng một cách đầy đủ và hợp lí lực lượng lao động nhàn rỗi trong công nghiệp nông thôn, tạo công ăn việc làm nhằm ổn định và cải thiện đời sống cho các hộ nông dân nói riêng và xã hội nói chung
1.1.2.2 Đặc điểm nghành chăn nuôi
+ Một số đặc điểm sản xuất chăn nuôi Việt Nam
*Sản xuất tập trung tại các hộ quy mô nhỏ
Sản xuất chăn nuôi ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở các hộ quy mô nhỏ Chủ yếu là chăn nuôi tận dụng và sử dụng lao động gia đình Theo báo cáo của IFPRI, hơn 92% người sản xuất chăn nuôi chỉ sử dụng lao động của hộ gia đình trong sản xuất chăn nuôi Tuy nhiên các hộ không chỉ tập trung vào chăn nuôi mà còn đa dạng hoá cả các hoạt động trồng trọt và phi nông nghiệp khác Trong các vùng chăn nuôi của Việt Nam, ĐôngNam Bộ là nơi tập trung cao nhất các gia trại chăn nuôi gia cầm hàng hoá quy mô lớn.Theo điều tra của TCTK năm 2001, trong tổng
số 548 trang trại nuôi lợn với hơn 100con/trang trại có 418 trang trại nuôi lợn tập trung ở vùng NES Tình trạng tương tự đối với các trang trại chăn nuôi gia cầm Sản phẩm chăn nuôi do các trang trại tạo ra chiếm chưa đến 10% tổng sản phẩm củangành, 90% còn lại do các hộ chăn nuôi theo phương thức chăn nuôi truyền thống, tận dụng sản phẩm phụ, lấy công làm lãi Điều này thể hiện qua tỷ lệ thức ăn xanh và thô chiếm tỷ trọng chủ yếu trong chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm của Việt Nam
* Chi phí sản xuất chăn nuôi chủ yếu là chi phí thức ăn
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy, chi phí sản xuất chăn nuôi của Việt Nam chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giá thành, kể cả đối với chăn nuôi lợn, gà và bò
Bảng 1: Cơ cấu chi phí trong tổng chi phí chăn nuôi hàng năm theo quy mô gia trại
Nguồn: IFPRI-MARD,
- Sự phát triển và phân bố ngành chăn nuôi phụ thuộc chặt chẽ vào cơ sở nguồn thức ăn Đây là đặc điểm quan trọng nhất Ngoài các đồng cỏ tự nhiên thì phần lớn thức ăn của ngành chăn nuôi đều do ngành trồng trọt cung cấp.Cơ sở thức ăn cho chăn nuôi đã có những tiến bộ vượt bậc nhờ những thành tựu khoa học - kĩ thuật Các đồng cỏ tự nhiên được cải tạo, các đồng cỏ trồng với các giống mới cho năng suất và chất lượng cao ngày càng phổ biến Thức ăn cho gia súc, gia cầm được chế biến bằng phương pháp công nghiệp Giá thành thức ăn cao do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là do giá nguyên liệu cao Hiện nay chúng ta vẫn phải nhập khá nhiều ngô, đậu tương để phục vụ nhu cầu của các nhà máy chế biến thức ăn Chính vì thế giá nguyên liệu của chúng ta cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ, kiểm soát thị trường của các công ty thức ăn chăn nuôi nước ngoài cũng là một lý do đẩy giá TACN lên caodo yếu tố độc quyền
Trang 4*Tỷ lệ nuôi gia công hợp đồng ít
Chỉ có khoảng 2% số người chăn nuôi có tham gia vào hình thức nuôi gia công Lý do cơ bản của việc ít người tham gia hình thức nuôi gia công là vì không có đơn vị ký nuôi gia công trong vùng của họ Hiện nay một số
cơ sở nuôi gia công cho các công ty, tuy nhiên còn rất hạn chế Phần lớn chưa có nhiều các công ty đặt hàng cho các hộ chăn nuôi, chỉ có một số công ty nước ngoài (CP), công ty tư nhân
* Hoạt động, hiệu quả thú y con nhiều yếu kém
Đây là một trong nguyên nhân chính gây ra đại dịch cúm gà Nhiều nguyên cứu trong và ngoài nước chỉ rõ vấn đề này Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiệu quả công tác thú y còn kém như:
- Cơ sở vật chất, mạng lưới thú y còn nghèo nàn
- Hệ thống giám sát dịch bệnh chưa hiệu quả
- Chưa kiểm soát chất lượng và thị trường thuốc và vắcxin
- Ý thức phòng bệnh người chăn nuôi còn yếu
* Trong nền nông nghiệp hiện đại, ngành chăn nuôi có nhiều thay đổi về hình thức (từ chăn nuôi chăn thả, sang chăn nuôi nửa chuồng trại, rồi chuồng trại đến chăn nuôi công nghiệp) và theo hướng chuyên môn hóa (thịt, sữa, len, trứng )
1.2 Các yếu tố làm ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi
Do bão lũ liên tục xuất hiện gây hại trong những năm gần đây, nhất là trong 2 năm 2006 và 2009 đã làm giảm suốt tổng đàn vật nuôi nghiêm trọng Ngành chăn nuôi thường phải đối diện với nhiều trở lực, các loài dịch bệnh nguy hiểm như Tai xanh, LMLM, cúm H5N1 luôn đe dọa gây hại gia súc gia cầm
Trong sinh thái chăn nuôi hiện đại, các yếu tố khí hậu, thời tiết được đặc biệt chú ý Cũng như con người, cây trồng, các sinh vật khác, vật nuôi chịu nhiều ảnh hưởng, tác động từ phía môi trường ngoài Các yếu tố khí tượng thuỷ văn như: độ ẩm không khí, nhiệt độ, tốc độ gió, hướng gió, lượng bốc hơi nước, lượng mưa, số ngày mưa trong tháng, trong năm… đều ít nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ vật nuôi, nhất là vật nuôi quy mô nhỏ với các chuồng nuôi đơn giản, chưa được trang bị các máy móc điều hoà không khí
Trước khi xây dựng chuồng trại chăn nuôi, người dân thường cân nhắc kỹ các yếu tố khí hậu, thời tiết để tránh cho gia súc phần nào các yếu tố bất lợi của môi trưòng: tránh mở cửa hướng đông bắc, làm nền chuồng cao, làm mái 2 tầng… Ở các nước tiên tiến, người ta còn lắp đặt máy đièu hoà không khí trong chuồng nuôi gia súc, gia cầm
Việc dự báo thời tiết làm giảm nhẹ tổn thất cho ngành chăn nuôi Các tỉnh miền núi phía bắc thường phải hứng chịu gió mùa đông bắc lạnh và khô, sương muối, gió bấc, các tỉnh miền trung với những trận gió lào…làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ của con người và vật nuôi Nhờ công tác dự báo sớm, người dân có thể tích cực, chủ động đối phó với các đợt rét, đợi gió, bảo vệ sức khoẻ cho người và cây trồng, vật nuôi
Nguồn thức ăn cho chăn nuôi chủ yếu là các sản phẩm cây trồng, việc trồng trọt cũng phải chịu nhiều tác động từ phía môi trường ngoài Các số liệu dự báo sớm cụ thể, chi tiết có thể giúp cho người dân tích cực chuẩn bị nguồn thức ăn dự trữ cho vật nuôi vào những tháng thời tiết không thuận lợi
Bên cạnh đó, các yếu tố dịch bệnh làm ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi Dịch bệnh gia súc, gia cầm thường phát theo mùa, phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết và khí hậu Sự phát triển, tăng trưởng của các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm…quan hệ mật thiết với các yếu tố khí hậu, thời tiết
1.3 Khái niệm phân vùng và các dang phân vùng
1.3.1Khái niệm phân vùng
Phân vùng là phân chia lãnh thỗ, vùng biển ra thành các vùng hay các phần, được phân biệt bởi mức độ đồng nhất bên trong nó Những dấu hiệu được sử dụng để phân vùng có thể khác nhau về đặc điểm, theo mức độ rộng hẹp của dấu hiệu nào đó về phân bố hoặc theo mục đích phân vùng Thời kỳ đầu nghiên cứu lãnh thỗ thường phải phân vùng, từ đó cho phép sử dụng hợp lý tài nguyên và lao động
* Nguyên tắc phân vùng: Theo Lê Bá Thảo phân vùng dựa trên 3 nguyên tăc:
Trang 5- Về tính đồng nhất tương đối, thường áp dụng để phân định các vùng – cảnh quan, vùng tự nhiên hay vùng văn hóa lịch sử
- Sự khai lợi và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó sự gắn kết cduar vùng được thể hiện thông qua vai trò của hệ thống các đô thị các cấp, quan trọng nhất lả của thành phố có sức hút và của vùng ảnh hưởng lớn nhất, coi như cực tạo vùng
- Tính hữu hiệu của các điều kiện đảm bảo quản lý lãnh thổ
1.3.2 Các dạng phân vùng
- Phân vùng địa lý : là hệ thống phân chia bề mặt trái đất, cơ sở để phân chia và nghiên cứu là tổ hợp các dấu hiệu bên trong và rất đặc trưng cho riêng nó – thiên nhiên Người ta có thể phân chia theo từng tổ hợp riêng hoặc phân chia theo cả một tập hợp các yếu tố
- Phân vùng khí hậu: Về tự nhiên trái đất được chia thành 6 châu lục, mỗi châu lục có những đặc điểm về khí hậu khác nhau Trong mỗi châu lục lại có sự phân miền khí hậu Phân vùng khí hậu ngày nay, ngoài việc phân chia các đới, vùng còn phân ra các đơn vị nhỏ hơn với sự giống nhau ít nhiều của các điều kiện khí hậu chung hay những đặc điểm riêng biệt của khí hậu, nó có giá trị về mặt khoa học hay kinh tế nông nghiệp
- Phân vùng thổ nhưỡng: được coi là cơ sở khoa học đẻ phân vùng quy hoạch nông nghiệp đồng thời tạo tiền
đề để phân vùng sinh thái nông nghiệp Đó cũng là một căn cứ quan trọng để đánh giá các đặc điểm và sự phân hóa
về mặt lãnh thổ của thổ nhưỡng
- Phân vùng sinh thái thảm thực vật: Trên trái đát khí hậu thay đổi từ lạnh sang nóng, từ khô sang ẩm Mỗi loại hình có thành phần động vật, thực vật đặt trưng Từ đó ta có thể căn cứ sự phân hóa để phân vùng
1.4 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Đại Lộc
1.4.1 Vị trí địa lý
Huyện Đại Lộc nằm hướng Tây Bắc tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp huyện Điện Bàn, phía Nam giáp huyện Duy Xuyên và huyện Quế Sơn có ranh giới tự nhiên là dòng sông Thu Bồn, phía Tây giáp huyên Nam Giang và Đông Giang, phía Bắc giáp quận Hòa Vang thuộc Thành phố Đà Nẵng
Điểm cực Bắc tại: 15053 vĩ độ Bắc trên xã Đại Hiệp
Điểm cực Nam: 15043 vĩ độ Bắc trên xã Đại Thạnh
Điểm cực Đông: 1080 47 kinh độ Đông trên xã Đại Hòa
Điểm cực Tây: 1070 58 kinh độ Đông trên xã Đại Lãnh
1.4.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu và thủy văn
1.4.2.1 Đặc điểm địa hình:
Là một huyện đồng bằng nữa miền núi, có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều sông, suối , đồi gò; địa hình cao ở phía Tây và thấp dần xuống hướng đông
1.4.2.2 Đặc điểm khí hậu:
Chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khí hậu khu vực Trung trung bộ, có 2 mùa, mùa nắng kéo dài từ tháng
2 đến tháng 9 và mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 01 năm sau
Nhiệt độ trung bình năm từ 28 - 30ºC, thấp nhất 14,5ºC thường xuất hiện trong tháng 12 và cao nhất 40ºC vào tháng 6 tháng 8
Độ ẩm trung bình: 80%, thấp nhất 55% vào mùa nắng hạn và cao nhất 95% vào mùa mưa Tổng lượng nhiệt bức xạ hàng năm 140 – 150 Kcal/cm², nền nhiệt khá cao và ít biến động
Chế độ mưa, bão: Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.000 – 2.200 mm, phân bố không được đồng ddeuf, tập trung trong mùa mưa, từ tháng 10 đến tháng 12, thời gian này thường xảy ra bão, lũ lụt, gây thiệt hại lớn cho kinh tế xã hội huyện Hằng năm chịu ảnh hưởng từ 3 – 6 cơn bão, tập trung từ tháng 8 đến tháng 11
1.4.2.3 Điều kiện thủy văn:
Về sông ngòi: Nhận được nguốn nước từ sông Bung, sông A Vương, sông Côn và sông Cái, sông Vu Gia được tạo thành chảy xuôi từ Tây sang Đông trên địa bàn huyện có chiều dài trên 24 km, rộng trung bình 150 m
Trang 6Sông Thu Bồn chảy qua huyện Đại Lộc với huyện Duy Xuyên và Điện Bàn Sông Vu Gia và Thu Bồn hợp thủy tại Giao Thủy, nằm trên địa bàn xã Đại Hòa và Đại An
1.4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
1.4.2.1 Đặc điểm về đất đai
Huyện Đại Lộc có tổng diện tích tự nhiên là 587,08 km² (58.708 ha); trong đó, đất nông nghiệp: 9.469,44 ha, đất lâm nghiệp: 31.882,15 ha, đất phi nông nghiệp: 9.634,14 ha, đất chưa sử dụng: 7.718,54 ha Đất đai cũng đa dạng, gồm 4 loại đất chính: Đất cát, đất phù sa, đất xám bạc màu và đất đỏ vàng
• Đất nông nghiệp: 9.408,54 ha, trong đó:
+ Đất trồng cây hằng năm: 7.199,54 ha:
- Đất canh tác lúa nước: 7.199,75 ha
- Đất canh tác cây hằng năm khác: 2.852,55 ha Trong đó có khoảng 30 ha đất trồng cỏ làm thức ăn chăn nuôi gia súc
Hệ số sử dụng ruộng đất trung bình = 2 Bình quân đất sản xuất nông nghiệp/đầu người: 450 m² Đất sản xuất nông nghiệp ổn định, sản xuất cây lương thực đảm bảo đủ cung cấp cho nhu cầu tại chổ và có thừa một ít phục nhu cầu sản xuất chăn nuôi
• Đất lâm nghiệp: 31.882,15 ha; trong đó:
- Đất có rừng sản xuất: 16.227,22 ha, chủ yếu là rừng trồng cây nhân dân do hộ gia đình quản lý, sử dụng
- Đất rừng phòng hộ: 15.654,93 ha
• Diện tích mặt nước: 3.275,05 ha; trong đó, diện tích đã nuôi trồng thủy sản nước ngọt có gần 110 ha
1.4.2.2 Dân số và lao động
- Tổng dân số: 148.039 người (tính đến ngày 30/12/2012) Mật độ dân số trung bình 251,26 người/km²
- Tổng số lao động: 65.547 lao động; trong đó, lao động nông – lâm nghiệp: 50.291 lao động, chiếm 70,7% trên tổng số lao động
1.4.2.3 Kinh tế xã hôi
Trước đây Đại Lộc là huyện thuần nông, nay đã xuất hiện một số cụm công nghiệp nhỏ và vừa tại các vùng địa hình cao (không bị ngập lụt), chủ yếu là các nhà máy xay xát đá, vật liệu phục vụ nhu cầu xây dựng, hay các xí nghiệp may mặc, cơ khí, chế biến thủy sản phục vụ xuất khẩu, công nghiệp nhẹ Vì nơi đây có nguồn lao động phổ thông dồi dào, giá thành rẻ và cầu thị Mục tiêu đề ra đến năm 2015 trở thành huyện công nghiệp
Đại Lộc ngày nay có nền kinh tế đang trên đà phát triển, người dân thuần nông cây lúa ngày nào đã chuyển đổi con giống, cây trồng làm nền tảng để phát triển kinh tế, bên cạnh của việc chuyển đổi này là việc áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật Thông tin gì mới, đều góp cho chính quyền và nhân dân Đại Lộc áp dụng sản xuất có năng suất cao hơn trước
Trang 7
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
Tôi tiến hành điều tra nghiên cứu về hiện trạng chăn nuôi trên địa bàn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Điều tra về thành phần loài, dạng sống và những thuận lợi khó khăn về chăn nuôi
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được bắt đầu nghiên cứu vào tháng 1năm 2015 đến tháng 4 năm 2015
Trang 8CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần các loài vật nuôi trên địa bàn huyện Đại Lộc
Về thành phần gia súc có:
- Bò : + Cày kéo
+ Bò lai
+ Bò sữa
+ Bò cái sữa
- Trâu
- Lợn : + Lợn nái
+ Lợn thịt
+ Lợn sữa
Về thành phần gia cầm có:
- Gà
- Vịt, ngan, ngỗng
Về chăn nuôi khác có:
- Thỏ
- Dê
3.2 Hiện trạng cơ cấu đàn vật nuôi theo các địa bàn huyện Đại Lộc, Quảng Nam
3.2.1 Một số điều tra của một số hộ chăn nuôi ở huyện Đại Lộc
* Trang tại nuôi vịt của chú Trần Đông, trú thôn Hà Tân, xã Đại Lãnh
Hình 1: đàn vịt của chú Trần Đông
Trang 9Hình 2: hình ảnh chú Trần Đông đứng bên đàn vịt của mình
Mỗi năm chú nuôi 2 đợt, mỗi đợt 2000 con Chăn nuôi theo hình thức chăn thả ở ao, hồ, khe Cho ăn bột và bắp.Trừ mọi chi phí mỗi năm chú thu được hơn 100 triệu đồng
*Trại nuôi bò của chú Nguyễn Văn Dự
Hình 3: đàn bò của chú Nguyễn Văn Dự
Trang 10Hình 4: Hình ảnh chú Nguyễn Văn Dự đang đi chăn đàn bò của mình
Với trại bò 7 con, hình thức nuôi là chăn thả ở các cồn cỏ, hoặc trong các cánh đồng, núi Thức ăn là cỏ
tự nhiên, rơm, bã mía, thân ngô trừ mọi chi phí khi bán anh thu lãi được 4 – 5 triệu đồng/1 con
*Điều tra trại nuôi dê của chú Mai Xuân Chín
Hình 5: Trại nuôi dê của chú Mai Xuân Chín