nghiên cứu hiện trạng chăn nuôi trâu bò, chăn nuôi heo, dê, gà, gia cầm trên địa bàng huyên Thăng Bình,Hiện trạng cơ cấu đàn vật nuôi theo các địa bàn ở huyện Thăng Bình, tinh Quảng Nam,Ảnh hưởng của nguồn thức ăn và dịch bệnh đến các loài vật nuôi ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam,Một số giải pháp đặt ra để giải quyết nguồn thức ăn và dịch bệnh lảm ảnh hưởng đến các loài vật nuôi để góp phần phát triển nghành chăn nuôi của huyện và đề xuất phân vùng sinh thái chăn nuôi tại tỉnh Quảng Nam...
Trang 1NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÂN VÙNG SINH THÁI CHĂN NUÔI TRÊN ĐỊA BÀNHUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, ngành chăn nuôi có vai trò quan trọng với người nông dân, việc phát triển chăn nuôitrong nông thôn không những làm tăng sản phảm cho xã hội mà còn góp phần khai thác và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực (lao động, đát đai, vốn…), tăng thu nhập cho nông hộ, tham gia vàochuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, góp phần xóa đóa giảm nghèo Chăn nuôi là cơ sở để phát huytiềm năng sẵn có của vùng
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi của huyện Thăng Bình có bước chuyển biến tích cực, tổngđàn gia súc, gia cầm ổn định, chất lượng ngày càng tăng Tổng giá trị sản phẩm ngành chăn nuôitrong ngành nông nghiệp chiếm 25,04% (Báo cáo TKNN năm 2013) Tuy nhiên, tốc độ phát triểnchăn nuôi còn chậm, năng suất, chất lượng và giá trị số lượng sản phẩm còn thấp, chưa tương xứngtiềm năng của huyện Việc nghiên cứu “hiên trạng và đề xuất phân vùng sinh thái chăn nuôi trênđịa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” là yêu cầu bức thiết, nhằm tìm các giải pháp và phânvùng chăn nuôi hợp lý để khai thác có hiệu quả hơn các lợi thế tiềm năng, tạo điều kiện cho ngànhchăn nuôi phát triển mạnh hơn trong những năm tới
2 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng chăn nuôi ở địa phương, phát hiện điểm hạnchế và khó khăn, từ đó đề xuất phân vùng và một số giải pháp để nhằm phát triển chăn nuôi huyệnThăng Bình
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Đánh giá thực trạng chăn nuôi ở huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam những năn qua, xác địnhđược những nhân tố ảnh hưởng
- Đề xuất phân vùng hợp lý và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi hiệu quả ởnhững năm tiếp theo của huyện
Trang 2II. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình, vai trò và đặc điểm của nghành chăn nuôi Việt Nam
1.1.1 Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam
Trong những năm gân đây, ngành chăn nuôi Việt Nam đã phát triển đáng kể Kể từ năm 1990 đến nay ngànhchăn nuôi có hướng phát triển tương đối ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt đến 5,27% năm Chăn nuôigia cầm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất 15 năm qua Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm tăng rõ rệt, tư 3,5%năm trong các giai đoạn 1990-1995 lên đến 6,7% năm trong giai đoạn 1996-2000 và trong các năm còn lại đă tănglên tới 9,1% năm
Chăn nuôi lấy thịt là hình thức phổ biến nhất ở nước ta Tổng sản lượng thịt hiện nay đạt 2 triệu tấn các loại,trong đó thịt lợn chiếm tới 76% Hơn 90% thịt lợn và trên 60% thịt gia cầm sản xuất ở các nông hộ được tiêu thụtrên thị trường nội địa
Tuy có tốc độ tăng trưởng cao, song cơ cấu tỷ trọng thịt không thay đổi nhiều trong những năm gần đây, dù
tỷ trọng thịt lợn có tăng từ 73,5% năm 1990 lên 77% năm 2004, trọng lượng thịt gia cầm tăng lên gần 16% trongtổng sản lương thịt so với 15% vào năm 1995
Bên cạnh tình hình chăn nuôi lấy thịt, chăn nuôi bồ sữa cũng phát triển mạnh trong những năm gần đây vàkhông chỉ cung cấp sưa tươi cho tiêu thụ mà còn cung cấp cho các nhà máy chế biến sữa Số lượng bồ sữa tăng từ11.000 con năm 1990 lên gần 80.000 con năm 2004, trong đó, bò cái sinh sản có khoảng 50.000 con, bò sữa xấp xỉ40.000
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn tồn tại một số vấn đề:
Thứ nhất, quy mô trang trại quá nhỏ Xu hướng phát triển các trang trại lợn công nghiệp quy mô lớn là lựclượng xuất khẩu chính Số lượng các trang trại này tăng mạnh từ năm 1996 đến năy Năm 2003 cả nước có khoảng2.000 trang trại chăn nuôi.Mặc dù vậy, tỉ lệ trang trại chăn nuôi còn nhỏ, chỉ chiếm 2,9% trong tổng số trang trạicác loại của cả nước và phần lớn trang trại tập trung ở vùng Đông Nam Bộ Tỉ lệ nông dân nuôi trên 11 con lợnchiếm chưa đến 2% Phần lớn nông dân chỉ nuôi dưới 3 con lợn
Thứ hai, năng suất nuôi lấy thịt của Việt Nam còn tương đối thấp và tăng chậm trong vòng 10 trở lại đây.Tốc độ tăng trưởng bình quân của sản lượng thịt tính trên đầu con chỉ đạt 7,7%/năm Đây là tỷ lệ áp dụng giống cảitiến thấp và chăn nuôi tận dụng (sử dụng thức ăn thừa, thức ăn xanh, nguyên liệu thô)
Bên cạnh đó, chất lượng thịt cua Việt Nam còn thấp, biểu hiện ở tỉ lệ mỡ cao, bệnh dịch thường xuyên xảy ranhất là đại dịch cúm gia cầm gần đây
1.1.2 Vai trò của ngành chăn nuôi
+ Đối với nền kinh tế quốc dân
Trong nền kinh tế quốc dân, chăn nuôi đóng vai trò khá quan trọng, nó góp phần làm tăng trưởng nền kinh
tế và góp một lượng hàng hoá cho xuất khẩu Tuỳ theo lợi thế so sánh của mình, mỗi nước có thể xuất khẩu cácsản phẩm nông nghiệp mà trong đó có một phần là sản phẩm chăn nuôi để thu ngoại tệ hay trao đổi để lấy các sảnphẩm công nghiệp đầu tư lại cho ngành nông nghiệp và các ngành kinh tế khác Vì thế sự phát triển của ngànhchăn nuôi sẽ ảnh hưởng tới phân bổ và phát triển các ngành sản xuất công nghiệp
Chăn nuôi không những cung cấp nguồn sản phẩm hàng hoá cho thị trường trong nước và cho xuất khẩu
mà nó còn giúp sử dụng một cách đầy đủ và hợp lí lực lượng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn Dođặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, hơn nữa lao động trong nông nghiệp lại chiếm một tỉtrọng khá lớn trong tổng số lao động của nước ta và các nước đang phát triển khác Lực lượng lao động này có mộtthời gian nhàn rỗi quá lớn do tính chất thời vụ trong sản xuất sinh ra Do đó việc phát triển ngành chăn nuôi đãgiúp tạo công ăn việc làm cho nông dân và giúp họ tăng thu nhập
+ Đối với ngành nông nghiệp
Đối với sản xuất nông nghiệp chăn nuôi có một vai trò rất quan trọng Trong sản xuất nông nghiệp thì haingành chính cấu thành nên nó là ngành trồng trọt và chăn nuôi Hai ngành này có sự liên hệ mật thiết với nhau,thúc đẩy nhau cùng phát triển.Một nền nông nghiệp muốn phát triển được một cách bền vững và ổn định thì cầnphải có sự phát triển một cách cân đối giữa hai ngành trồng trọt và chăn nuôi Trồng trọt cung cấp thức ăn chongành chăn nuôi phát triển, mặt khác chăn nuôi cung cấp phân bón, sức kéo cho ngành trồng trọt Nguồn phân hữu
Trang 3cơ mà chăn nuôi cung cấp cho ngành trồng trọt có vai trò hết sức quan trọng Vì thế để có một nền nông nghiệpbền vững thì không bao giờ được phép coi nhẹ vai trò của ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp.
+ Đối với hộ nông dân
Ở nước ta hiện nay trong nền kinh tế thị trường, hộ nông dân đã được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ thì vaitrò của ngành chăn nuôi càng được coi trọng Một thực tế không thể chối cãi được đó là ngành chăn nuôi chiếmmột vai trò quan trọng trong thu nhập của người nông dân, sản phẩm hàng hoá của nông hộ chủ yếu là sản phẩmthu được từ quá trình chăn nuôi Chăn nuôi đã gắn bó mật thiết đối với đời sống của người dân, giúp tận dụngnhững sản phẩm dư thừa trong sinh hoạt hàng ngày, tận dụng lao động nhàn rỗi và làm tăng thu nhập, cải thiện bữa
ăn hàng ngày của nông hộ.Từ những phân tích trên cho thấy chăn nuôi có một vai trò rất to lớn không chỉ trongnông nghiệp mà còn kể cả trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong đời sống xã hội Nó không ngừng đóng gópmột phần đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân mà nó còn sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên vànhân lực, từ đó làm tăng thu nhập cho người lao động góp phần định và cải thiện đời sống cho các hộ nông dân nóiriêng và xã hội nói chung
1.1.3 Đặc điểm ngành chăn nuôi ở Việt Nam
Sản xuất chăn nuôi Việt Nam chủ yếu tập trung ở các hộ quy mô nhỏ Chủ yếu là chăn nuôi tận dụng và
sử dụng lao động gia đình Theo báo cáo của IFPRI, hơn 92% người sản xuất chăn nuôi chỉ sử dụng laođộng của hộ gia đình trong sản xuất chăn nuôi Tuy nhiên các hộ không chỉ tập trung vào chăn nuôi màcòn đa dạng hóa các hoạt động trồng trọt và phi nông nghiệp khác.Trong các vùng chăn nuôi ở Việt Nam,Đông Nam Bộ là nơi tập trung cao nhất các gia trại chăn nuôi gia cầm với quy mô lớn
Sản phẩm chăn nuôi do các trang trại tạo ra chiếm chưa đến 10% tổng sản phẩm của nghành, 90% còn lại
do các hộ chăn nuôi theo phương thức chăn nuôi truyền thống, tận dụng sản phẩm phụ , lấy công làm lãi.Chi phí sản xuất chăn nuôi chủ yếu là chi phí thức ăn Tỷ lệ nuôi gia công hợp đồng ít Hoạt động, hiệuquả thú y còn nhiều yếu kém (Cơ sở vật chất, mạng lưới thú y còn nghèo nàn, chăn nuôi chăn thả dễ lâylan, hệ thống giám sát dịch bệnh kém hiệu quả, ý thức phòng bệnh của người chăn nuôi còn yếu )
- Cơ sở thức ăn cho chăn nuôi đã có những tiến bộ vượt bậc nhờ những thành tựu khoa học - kĩ thuật Cácđồng cỏ tự nhiên được cải tạo, các đồng cỏ trồng với các giống mới cho năng suất và chất lượng cao ngàycàng phổ biến Thức ăn cho gia súc, gia cầm được chế biến bằng phương pháp công nghiệp
- Trong nền nông nghiệp hiện đại, ngành chăn nuôi có nhiều thay đổi về hình thức (từ chăn nuôi chăn thả,sang chăn nuôi nửa chuồng trại, rồi chuồng trại đến chăn nuôi công nghiệp) và theo hướng chuyên mônhóa (thịt, sữa, len, trứng )
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi
1.2.3 Các yếu tố tự nhiên
- Thời tiết, khí hậu
Giống như các đối tượng khác của sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên,mỗi vùng khác nhau thì số lượng, chất lượng và tính năng sản xuất chăn nuôi cũng khác nhau Thời tiết,khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến chăn nuôi, khi di chuyển vật nuôi tới những vùng có khí hậu khác nhau sẽlàm ảnh hưởng tới sức khỏe của chúng, đặc biệt là sự nhập nội của giống cao sản " nếu chúng khôngđược sống trong điều kiện thuận lợi sẽ làm giảm sức sản xuất, tăng chi phí thức ăn, giảm chất lượng sảnphẩm, ngoài ra còn giảm khả năng chống bệnh "
Các giống vật nuôi có nguồn gốc từ các nước ôn đới thường không thích nghi tốt với khí hậu ở vùngnhiệt đới đặc biệt là tính chịu nóng Khí hậu, thời tiết tác động tới sự hình thành và phát triển của một sốdạng bệnh Khí hậu nóng khô và khí hậu nóng ẩm thường gây nên những rối loạn quá mức về điều hòanhiệt, dẫn đến ngất do nóng, co rút do say nắng, suy kiệt do mất nhiều nước cơ thể Đối với gia súc nhiềubệnh truyền nhiễm đã phát sinh và phát triển trong mùa ẩm như: dịch tả, tụ huyết trùng
- Nhiệt độ
Yếu tố đầu tiên tác động tới cơ thể gia súc là nhiệt độ Khi nhiệt độ không khí gần bằng nhịêt độ cơ thể,con vật khó thải được nhiệt mà nó tạo ra và nhiệt độ môi trường lên cao vượt quá khả năng điều hòa củagia súc thì sẽ dẫn đến rối loạn sinh lý do đó sẽ làm giảm sức sản xuất Nhiệt độ môi trường làm ảnh đếntrao đổi nhiệt của cơ thể dẫn đến ảnh hưởng đến chức phận của tinh hoàn hay buồng trứng, do đó khi thờitiết trở lạnh hay nóng lên có thể làm ngưng trễ quá trình sinh tinh và sinh trứng, ở gia súc dẫn đến rốiloạn sinh dục, giảm khả năng sinh sản Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng tới kích thước của loài haynhững loài gần nhau Khí hậu, thời tiết không những ảnh hưởng trực tiếp đến gia súc mà còn tác động đến
sự phát triển của cây cỏ trên đồng cỏ và các nguồn thức ăn thô xanh khác, gián tiếp ảnh hưởng đến cơ thểvật nuôi
- Nước
Nước có vai trò quan trọng đối với các sinh vật Chất lượng nước xét trên đặc tính hóa học là độ pH và độmặn nó ảnh đến vật nuôi Độ pH trong nước làm thay đổi tính thẩm thấu do đó làm ảnh đến chức năng
Trang 4bài tiết và quá trình sống của gia súc, độ pH trong môi trường nước làm hưng phấn hoặc ức chế hoạt độngcủa 6 hệ thần kinh, làm thay đổi cân bằng của hệ thống hô hấp Nước được coi là một trong những điềukiện mà sức khỏe và sức sản xuất của vật nuôi đều phải phụ thuộc.
1.2.2 Nhóm yếu tố các điều kiện kinh tế xã hội
- Vốn: Đây là vấn đề bức xúc nhất hiện nay làm ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi Ngành chăn nuôi nóichung cần phải có nguồn vốn đầu tư con giống, chuồng trại tốt để có thể mang lại năng suất và lợi nhuậncao cho người chăn nuôi Tuy nhiên người dân chăn nuôi còn lạc hậu, nghèo nàn không đủ điều kiện đểđầu tư nguồn vốn cho việc lựa chọn giống vật nuôi và xây dụng chuông trại hợp lý
- Chính sách kinh tế: Các cấp chính quyền cần phải có một sự chỉ đạo đúng đắn và quan tâm sâu sắc đếnđời sống của người dân cải thiên cuộc sống và giảm bớt thành phần đói nghèo trong xã hội Tùy theo điềukiện tự nhiên của từng vùng mà phát triển ngành nghề thích hợp
- Thị trường tiêu thụ: Đây là yếu tố hàng đầu cần được quan tâm, sản phẩm của chúng ta chưa đi vào thitrường thế giới bởi lẽ chất lượng thấp chưa cạnh tranh được với các nước khác Chính vì vậy mà cần cómột thị trường tiêu thụ rộng lớn để ngành chăn nuôi có thể phát triển hơn nữa
- Giá cả: đây cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới ngành chăn nuôi Giá cả thay đổi làm thay đổi
số lượng chăn nuôi của người dân
Ngoài ra còn một số yếu tố cụ thể quan trọng làm ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi như: nguồn thức ăn,dịch bệnh
1.3 Khái niệm phân vùng và các dạng phân vùng
1.3.1 Khái niệm phân vùng
Phân vùng là phân chia lãnh thỗ, vùng biển ra thành các vùng hay các phần, được phân biệt bởi mức độđồng nhất bên trong nó Những dấu hiệu được sử dụng để phân vùng có thể khác nhau về đặc điểm, theomức độ rộng hẹp của dấu hiệu nào đó về phân bố hoặc theo mục đích phân vùng Thời kỳ đầu nghiên cứulãnh thỗ thường phải phân vùng, từ đó cho phép sử dụng hợp lý tài nguyên và lao động
• Nguyên tắc phân vùng
Theo Lê Bá Thảo phân vùng dựa trên 3 nguyên tắc:
- Về tính đồng nhất tương đối, thường được áp dụng để ohaan định các vùng- cảnh quan, vùng tựnhiên hay vùn văn hóa lịch sử
- Sự khai lợi và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó sự gắn kết của vùng được thể hiện thôngqua vai trò của hệ thống các đô thị các cấp, quan trọng nhất là của thành phoos có sức hút và của vùngảnh hưởng lớn nhất, coi như cực tạo vùng
- Tính hiện hữu của các điều kiện đảm bảo sự quản lý lãnh thổ
- Phân vùng địa lý : là hệ thống phân chia bề mặt trái đất, cơ sở đẻ phân chia và nghiên cứu là tổ hợp
các dấu hiệu bên trong và rất đặc trưng cho riêng nó – thiên nhiên Người ta có thể chia theo từng tổhợp riêng (như địa hình, khí hậu, đất ) hoặc phân chia theo cả một tập hợp các yếu tố (phân vùngcảnh quan)
- Phân vùng khí hậu: Về tự nhiên trái đất được chia thành 6 châu lục, mỗi châu lục có những đặc điểm
về khí hậu khác nhau Trong mỗi châu lục lại có sự phân miền khí hậu Phạm Ngọc Toàn, Phạm TấtĐắc (1993) đã phân chia lãnh thỗ Việt Nam thành 3 miền khí hậu lớn: Miền khí hậu phía Bắc, MIềnkhí hậu Đông Trường Sơn và miền khí hậu phia Nam Ngoài ra còn có thêm một miền khí hậu phụnữa là miền khí hậu Biển Đông
- Phân vùng thổ nhưỡng: được coi là cơ sở khoa học đẻ phân vùng quy hoạch nông nghiệp đồng thời
tạo tiền đề để phân vùng sinh thái nông nghiệp Phân vùng thổ nhưỡng cũng là một căn cứ quan trọng
để đánh giá các đặc điểm và sự phân hóa về mặt lãnh thổ của thổ nhưỡng trong các mối quan hệ chặtchẽ với các thành phần tự nhiên phục vụ cho nghiên cứu sự phân hóa của tự nhiên và phân vùng địa lý
tự nhiên
- Phân vùng sinh thái thảm thực vật
Trên trái đất khí hậu thay đổi từ lạnh sang nóng, từ khô sang ẩm Mỗi loại hình lớn của nó có thànhphần thực vật, động vật đặc trưng – người ta gọi nó là các biomes Biomes đó là hệ sinh thái xâmchiếm vùng rộng lớn có sự guống nhau về khí hậu và sinh vật Cũng có thể coi biomes đó là hệ sinhthái mà ở đó có một số nơi sống cùng tồn tại
Trang 5Ở Việt Nam, theo phân hóa độ cao so với mặt biển, Thái Văn Trừng (1978) đã phân chia thảm thựcvật thành 2 nhóm chính: nhóm các kiểu thảm thực vật nhiệt đới vùng thấp và vùng có độ cao trungbình nhỏ hơn 700m (ở miền Bắc), nhỏ hơn 100m ( ở miền Nam); nhóm các kiểu thảm thực vật vùngnúi có độ cao lớn hơn 700m và lớn hơn 1000m (ở miền Nam)
1.3 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
1.3.1 Điều kiện tự nhiên.
1.3.1.1 Vị trí:
Huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, có tọa độ 15025’ - 150 45’ vĩ độ Bắc, 108007’ - 108030’ kinh
độ Đông
Phía Nam giáp thành phố Tam Kỳ, huyện Tiên Phước, huyện Phú Ninh
Phía Tây giáp huyện Hiệp Đức và huyện Tiên Phước
Phía Bắc giáp huyện Duy Xuyên và huyện Quế Sơn
Phía Đông giáp biển Đông
1.3.1.2 Khí hậu, thời tiết.
Huyện Thăng Bình nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, thuộc vùng khí hậu duyên hải Trung Trung bộ,chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm
1.3.1.3 Tình hình thuỷ văn.
Trên địa bàn huyện có hai con sông chảy qua, đó là con sông Trường Giang và sông Ly Ly Sông TrườngGiang có chiều dài 25 km, chịu tác động triều cường của hai cửa biển là Cửa Đại và cửa An Hoà nên gâychua mặn một diện tích lớn đất sản xuất nông nghiệp ở 7 xã vùng Đông của huyện Sông Ly Ly có độ dốclớn, chỉ có nước nhiều trong mùa mưa, mùa khô lưu lượng rất thấp
Địa hình có độ dốc nghiêng từ Tây sang Đông và bị chia cắt bởi sông, suối, núi đồi, cồn cát Độ cao từ 20mđến 300m so với mặt nước biển
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội.
1.3.2.1 Địa hình đất đai và tình hình sử dụng đất.
Tổng diện tích tự nhiên: 38.560,24 ha, trong đó diện tích đất nông lâm nghiệp toàn huyện là 24.986,88ha,diện tích đất trồng lúa chủ động nước 7.390ha
Địa hình của huyện có độ dốc lớn từ Tây sang Đông và được phân chia thành 3 vùng
Vùng Tây (vùng đồi núi thấp) giáp với các huyện miền núi của tỉnh (Hiệp Đức, Tiên Phước) mang đặc điểmcủa vùng bán địa sơn, bao gồm 7 xã: Bình Quế, Bình Phú, Bình Chánh, Bình Định Nam, Bình Định Bắc,Bình Trị, Bình Lãnh, có địa hình tương đối phức tạp, phần lớn đất được hình thành tại chổ và bao gồm cácloại đất: Fralít vàng đỏ, đá mẹ Granít, Gnai Diện tích đất canh tác bình quân đầu người của vùng1.047m2/người Diện tích đất bằng và chưa sử dụng 2.530 ha Hiện nay đang đưa vào đề án trồng rừng Điềukiện cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi còn gặp nhiều khó khăn và đang dần dần khắc phục
Vùng Trung (vùng đồng bằng): Có địa hình tương đối bằng phẳng, hầu hết là đất xám, đất bạc màu và phù sa
cổ Vùng Trung có 7 xã, thị trấn: Bình Nguyên, Bình Quý, Thị trấn Hà Lam, Bình Phục, Bình Tú, BìnhTrung, Bình An
Vùng Đông (vùng đất cát ven biển): hầu hết là đất cát, cát pha, thịt nhẹ, đất cát ven biển chiếm tỷ lệ tươngđối lớn Vùng Đông có 8 xã: Bình Dương, Bình Giang, Bình Đào, Bình Triều, Bình Minh, Bình Sa, BìnhHải, Bình Nam
Chính vì những đặc điểm tự nhiên, điều kiện thổ nhưỡng, nước tưới và tập quán canh tác của mỗi vùng đãchi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến việc bố trí cây trồng, con vật nuôi khác nhau của huyện
1.3.2.2 Dân số và lao động.
Thăng Bình có 48.716 hộ với 180.912 nhân khẩu, 88.580 lao động, trong đó lao động Nông - Lâm - Thuỷsản: 66.072 người, lao động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (chiếm khoảng 75%), các ngành công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ còn ít phát triển chưa giải quyết hết được nguồn lao động, đây là
áp lực lớn về giải quyết việc làm và các vấn đề khác về xã hội
b Hình thức tổ chức sản xuất:
Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp: 19 HTX, có 01 HTX dùng nước chuyên khâu thuỷ lợi Hợp tác xã dùngnước kênh N16 liên xã Bình Chánh, Bình Quý, Bình Tú được thành lập năm 2012 phục vụ 2 khu tưới mẫu
Trang 6theo đề án hỗ trợ thuỷ lợi Việt Nam (WRAP), bước đầu mới hình thành hoạt động có hiệu quả.
Trang 7CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tôi tiến hành điều tra nghiên cứu về hiện trạng chăn nuôi trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.Trên cơ sở điều tra về thành phần loài, dạng sống và những thuận lợi khó khăn về chăn nuôi của một số hộđược chọn điều tra, kết hợp với điều tra về số liệu thống kê của huyện để phân vùng chăn nuôi hợp lý ởhuyện Thăng Bình
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được bắt đầu nghiên cứu vào tháng 2 đến tháng 4 năm 2015
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn hộ điều tra
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp phân tích đánh giá: thống kê, chuyên gia chuyên khảo
Trang 8CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Thực trạng ngành chăn nuôi của huyện Thăng Bình
3.1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi
Thăng Bình những năm gần đây mặc dù dịch bệnh gia súc, gia cầm liên tục xảy ra nhưng tổng đàn vẫn tương đối
ổn định về số lượng, biến động không lớn và đã có hướng cải thiện về chất lượng (tỉ lệ bò lai từ 23% năm 2010 nay
đã tăng lên hơn 46,9%/ tổng đàn), tuy nhiên về tổng đàn bò có giảm so với cùng kỳ các năm
Hình thức chăn nuôi gia đình từng bước được cải tiến theo hướng nuôi bán công nghiệp, có đầu tư, có chuồng trạikiên cố cho từng loại vật nuôi
Các xã vùng Đông có kinh nghiệm và lợi thế để phát triển nuôi heo nái sinh sản, sản xuất heo sữa Các xã vùngTrung phát triển nuôi heo thịt, nuôi trâu, nuôi vịt đàn, gà đẻ công nghiệp Các xã vùng Tây có điều kiện để pháttriển trồng cỏ chăn nuôi bò và nuôi bò nhốt bán thâm canh
Những năm gần đây đang hình thành một số mô hình chăn nuôi heo có hiệu quả tại các xã như Bình Chánh, BìnhQuý, Bình Trung, Bình Tú, Bình Nguyên, Bình Đào…; nuôi bò nhốt bán thâm canh ở Bình Chánh, Bình Phục,Bình Giang, Bình Quý, Bình Lãnh; trang trại nuôi gà đẻ ở Bình Nguyên, Bình An; nuôi vịt ở Bình Giang, BìnhTriều, Bình Chánh, Bình An…
Từ chăn nuôi nhỏ lẻ nông hộ đến nay đã bước đầu hình thành và phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất
hàng hóa Tuy các gia trại chưa đủ tiêu chí để công nhận trang trại (theo Thông tư 27 của Bộ NN&PTNT), nhưng
đã có nhiều mô hình chăn nuôi khá, đàn heo thịt 30 - 50 con/ hộ, đàn bò 10 - 15 con/ hộ, đàn gia cầm 1.000 - 3.000con/ hộ; sản phẩm chăn nuôi đã được xuất bán ra các địa bàn trong và ngoài tỉnh, tăng thu nhập đáng kế cho ngườichăn nuôi Nhận thức của người dân trong việc phát triển kinh tế chăn nuôi đã được chú ý đầu tư, nhất là phát triển
bò lai, lợn hướng nạc; hiệu quả thu được từ chăn nuôi ngày càng cao
Giá trị ngành chăn nuôi năm 2013 là 446 tỉ đồng (theo giá gốc 2010), đạt 25,04% giá trị cơ cấu ngành nôngnghiệp
3.1.1.1 Chăn nuôi trâu, bò:
Năm 2013 đàn trâu có 9.050 con, tổng đàn trâu tương đối ổn định qua các năm Với lợi thế tự nhiên có đấthoang, đồng ruộng sau vụ thu hoạch, bãi thả, lượng rơm dự trữ từ sản xuất lúa, do vậy nông dân có điều kiện chănnuôi để ổn định đàn trâu
Tổng đàn bò: 18.100 con, trong đó bò lai 8.500 con (tỉ lệ 46,9%/ tổng đàn); số bò đực giống lai do chươngtrình khuyến nông của tỉnh và khuyến khích nông nghiệp của huyện hằng năm hỗ trợ hiện còn 18 con và hơn 30con của người dân tự mua nuôi làm giống tại các địa phương
Chương trình cải tạo đàn bò từng bước đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi nhờ nâng cao tầm vóc
và khả năng tăng trọng, vì vậy đã làm thay đổi tâm lý, tập quán chăn nuôi của nông dân
Tranh thủ sự hỗ trợ của các chương trình dự án chuyển giao những tiến bộ KHKT mới trong chăn nuôi như:
Ủ men sinh học làm thức ăn, mô hình vổ béo bò, ủ rơm bằng Urê, phát triển trồng cỏ để chăn nuôi bò tại chuồngđược Trạm Khuyến nông, Hội nông dân, Hội phụ nữ, ở các xã, thị trấn triển khai đã được nông dân đồng tìnhhưởng ứng bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi trâu bò
3.1.1.2 Chăn nuôi heo:
Năm 2013 tổng đàn heo có giảm so với các năm gần đây do giá cả thị trường không ổn định, giá thức ăn
tăng liên tục, tổng đàn hiện có 67.300 con, trong đó heo nái 26.000 con chiếm 38%/ tổng đàn, (heo nái ngoại, nái lai F 1 , F 2 là 1.900 con, heo nái Móng cái 24.100 con).
Đàn heo nái người dân đang nuôi để đáp ứng nhu cầu heo sữa cho thị trường thời gian qua chủ yếu là heo náiMóng Cái nhưng đã qua nhiều năm nuôi dưỡng, chọn lọc bằng nguồn giống tại địa phương nên chất lượng đàngiống đã dần bị thoái hóa do đồng huyết, bị chết do dịch tai xanh nên người dân đang có nhu cầu về con giống tốt
để tái lập đàn mỗi khi hết dịch và cải tạo lại đàn heo giống theo hướng heo nạc
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng hiệu quả kinh tế cần tiếp tục tuyên truyền, khuyến cáo người chănnuôi thực hiện chương trình nuôi heo hướng nạc bằng các biện pháp cải tạo giống như nuôi heo nái lai 2 máu F1,
F2 và nuôi heo nái ngoại để sản xuất đàn heo giống nuôi thịt có tỉ lệ nạc cao
3.1.1.3 Tình hình chăn nuôi gia cầm:
Chăn nuôi gia cầm phát triển về số lượng tổng đàn; nhiều hộ gia đình chăn nuôi đã chuyển tập quán chănnuôi từ nuôi quảng canh sang hướng tập trung bán thâm canh ngày càng nhiều, qui mô từ 300 - 500 con trở lên,
(vừa cho ăn thức ăn công nghiệp vừa tận dụng thức ăn sẳn có ở địa phương) do đó rút ngắn được thời gian nuôi,
tăng số lứa nuôi/năm, nên trọng lượng thịt xuất chuồng tăng cao, song để đảm bảo về môi trường và an toàn dịchbệnh cần phải có địa điểm quy hoạch cách ly khu vực dân cư để tổ chức chăn nuôi
Trang 9Chăn nuôi vịt đàn thời vụ phổ biến tại các xã vùng Trung của huyện như Bình An, Bình Trung, Bình Tú, BìnhPhục, Bình Nguyên và các xã vùng Đông dọc sông Trường Giang như Bình Giang, Bình Dương, Bình Đào, BìnhHải, Bình Nam.
Tổng đàn gia cầm huyện Thăng Bình có hơn 500.000 con (trong đó gà 300.000 con, vịt 150.000 con và gia cầm khác khoảng 50.000 con ).
3.1.2 Cơ sở vật chất nguồn lực của chăn nuôi:
Trên địa bàn huyện có 1 trại giống heo của Trung tâm giống Nông - Lâm nghiệp Quảng Nam nên thuận lợicho việc giao lưu, tiếp cận con giống tốt và nguồn tinh lỏng phục vụ dẫn tinh cho đàn nái hiện có trên địa bànhuyện
Toàn huyện có 2 trại heo đực giống chuyên sản xuất tinh lỏng (hộ ông Phan Công Toàn tại xã Bình Nguyên,
bà Nguyễn Thị Bích Ngọc tại xã Bình Quý) và có hơn 200 con heo đực giống rãi rác ở các xã, thị trấn đã đáp ứngđược nhu cầu phối tinh cho đàn heo nái tại các địa phương
Công tác cải tạo đàn bò, toàn huyện hiện có 29 cán bộ dẫn tinh viên đã góp phần rất lớn vào chương trình cảitạo đàn bò cho các địa phương Phong trào trồng cỏ chăn nuôi trâu, bò còn ít phát triển, tại một số xã như: BínhQuý, Bình Lãnh, Bình Chánh, thị trấn Hà Lam …trồng cỏ với diện tích hơn 10 ha, phần nào giải quyết được tìnhtrạng khan hiếm thức ăn về mùa Đông và mùa khô hạn
Thực hiện dịch vụ thú y trọn gói: Nhằm chủ động công tác phòng, chống dịch bệnh cho vật nuôi, ngân sáchhuyện đã trang bị cho các địa phương 14 tủ lạnh để bảo quản vắc xin phục vụ công tác tiêm phòng
Hoạt động công tác chăn nuôi thú y Thăng Bình với 06 cán bộ trạm Thú y, 01 cán bộ trạm Khuyến nông, 02cán bộ phòng NN&PTNT và 22 cán bộ Thú y cơ sở có nghiệp vụ chuyên môn từ trung cấp trở lên, đã tích cực chỉđạo công tác chăn nuôi - thú y, bảo vệ an toàn dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm
3.1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ, chế biến sản phẩm chăn nuôi:
Trên địa bàn huyện chưa có cơ sở chế biến sản phẩm chăn nuôi và lò giết mổ tập trung, việc giết mổ chủ yếu
ở các điểm giết mổ gia súc tư nhân Mức tiêu thụ các sản phẩm thịt trâu, bò, heo trên địa bàn huyện không lớn; một
số sản phẩm heo sữa chưa đảm bảo tiêu chí vệ sinh thú y nên chưa đáp ứng yêu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu
Chăn nuôi heo trong những năm qua có chiều hướng phát triển, song sản phẩm thịt chưa đáp ứng nhu cầucủa thị trường (tỉ lệ nạc còn thấp), bên cạnh đó sản phẩm chăn nuôi còn được các thương lái vận chuyển từ các nơikhác đến tiêu thụ do vậy thị trường không ổn định, giá cả bấp bênh
3.2 Thành phần và sự phân bố các loài vật nuôi trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Trang 10- Đà điểu
Nhìn chung các loài vật nuôi của huyện phân bố tương đối hợp lí nhưng có sự chênh lệch tương đối cao giữacác xã trong huyện do điều kiện tự nhiên và nguồn thức ăn
3.3 Hiện trạng cơ cấu đàn vật nuôi theo các địa bàn ở huyện Thăng Bình, tinh Quảng Nam
3.3.1 Một số nghiên cứu điều tra của một số hộ chăn nuôi thuộc huyện Thăng Bình
* Điều tra trang trại nuôi dê của chú Đặng Văn Phương trú tại thôn Tân An, xã Bình Minh
Hình 1: đồng cỏ chú Phương thả dê ăn ở thôn Tân An, xã Bình Minh
Trang 11Hình 2: Trai nuôi dê của chú Phương ở thôn Tân An, xã Bình Minh
Hình 3: Dê ở trại chú Phương đang mang thai
Với quy mô nuôi khoảng hơn 100 con mỗi năm (đã tính dê con) chú đã xây dựng trang tại của mình ngaytrên đồng cỏ ở gần nhà.Mỗi năm gia đình chú thu lại lợi nhuận khoảng hơn 100 triệu Với kinh nghiệm hơn 10 (kể
từ năm 2004 ) chú đã chia sẽ một số đặc điểm và kinh nghiệm nuôi dê của mình:
- Về thức ăn: chủ yếu ăn cỏ, rau lang, có nhiều lạo cỏ động vật khác ăn không được nhưng dê vẫn có thể ănđược Một ngày, thả dê đi ăn 2 lần và ăn không quá 8 tiếng Dê khi đi ăn thường đi theo đàn và thường đi theohướng mặt trời lặn để dễ nhớ đường về
- Về giống: từ 1 đến 2 con đực giống, và cứ khoảng 1 đến 2 năm đổi giống 1 lần để khỏi xảy ra trùng huyết
- Về sinh đẻ: khoàng từ 8 tháng đến 1 năm con mẹ đẻ 1 lứa khoảng từ 1 đến 2 con, rất hiếm có trường hợp
đẻ 3 vì dê mẹ chỉ có 2 vú đẻ 3 sẽ khó nuôi con Khi đẻ dê mẹ có thể tự lo cho mình được mà không cần tới củ trại
- Về xuất chuồng: khoảng trên 25kg thì bán, mỗi kí 130 nghìn (có thể dao động do nhu cấu sử dụng củakhách hàng, giá cả thị trường )
- Về thích nghi và dịch bệnh: dê rất ít thích nghi với trời lạnh, phát triển tố trong trời nắng Trời lạnh dê đẻ ítđạt, dê con khả năng chết là 10 đến 15% Ngoài ra mùa mưa dê dễ mắc nhiều bệnh và chết Nếu dê ăn phải thức ăn
bị sương sẽ rất dễ gây tiêu chảy thương hàn, êcoli Nếu trường hợp phát hiện dê bị bệnh với một số triệu chứngthường gặp như lười ăn, mệt mỏi hay nằm thì phải tách riêng để theo dõi và điều trị để tránh lây lan cho nhữngcon khác
- Thuận lợi: điều kiện thời tiết khí hậu dễ chịu ấm áp
- Khó khăn: điều kiện về đất đai và cỏ tự nhiên hạn hẹp dẫn đến nguồn thức ăn không kịp cung cấp cho dê,nên số lượng nuôi không được nhiều
Trang 12* Điều tra chăn nuôi gia đình chú Trần Thanh Minh trú tại đội 13, Vân Tiên, xã Bình Đào
Hình 4: Chú Minh với trâu mẹ và trâu con ở trại của mình
Hình 5: Trại nuôi trâu của chú Minh
Trang 13Hình 6: Chú Minh với trại heo nái của mình
Hình 7: Trại heo nái của chú Minh