Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất của vừng.. Mục đích của đề tài Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp n
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Khóa học : 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS Ma Thị Phương
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập nghề nghiệp là giai đoạn hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình học tập và rèn luyện của mỗi sinh viên ở tất cả các trường Đại Học, Cao Đẳng, Trung Học Chuyên Nghiệp Với phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tế”, thực tập tốt nghiệp sẽ giúp sinh viên củng cố và
hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học và áp dụng sáng tạo những kiến thức đã học trên đồng ruộng đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất.Từ đó giúp sinh viên học hỏi và rút ra những kinh nghiệm thực tế lao động sản xuất, nhằm nâng cao chuyên môn để khi ra trường trở thành một cán
bộ khoa học đáp ứng được nhu cầu xã hội
Qua thời gian học tập và rèn luyện ở trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nhận được sự giúp đỗ rất tận tình của các thầy cô giáo trong trường nói chung và các thầy cô giáo trong Khoa Nông Học Đặc biệt em xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn: ThS Ma Thị Phương đã
tận tình trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình làm đề tài cũng như hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô giáo để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày…… tháng… năm 2015
Sinh viên
Vũ Quỳnh Mai
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng thành phần dinh dưỡng có trong bột vừng và trong thịt 18 Bảng 2.2 Vừng dùng cho thực phẩm, dược, công nghiệp và mỹ nghệ 20 Bảng 2.3 tiềm năng của một số cây có dầu dùng cho sản xuất dầu sinh học
(Biodiesel) 21 Bảng 2.4 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới năm (2009 – 2013) 22 Bảng 2.5 Tình hình sản xuất vừng của một số châu lục năm 2013 23 Bảng 2.6 Diện tích, năng suất, sản lượng của mười nước sản xuất hạt vừng
lớn nhất thế giới năm 2013 24 Bảng 2.7 Tình hình sản xuất cây vừng ở Việt Nam Năm (2009 – 2013) 26 Bảng 4.1 Thời tiết khí hậu của tỉnh Thái Nguyên năm 2015 34 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của mật độ đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của
giống vừng đen V10 vụ xuân năm 2015 35 Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống vừng đen V10 trong vụ
xuân năm 2015 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên 38 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ đến đặc điểm hình thái của giống
vừng V10 40 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến CSDTL và KNTLVCK của
giống vừng đen V10 trong vụ xuân năm 2015 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên 41 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng của giống
vừng V10 43 Bảng 4.7 Tình hình sâu bệnh hại trên giống vừng đen V10 tại thí nghiệm
năm 2015 45
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
CSDTL : Chỉ số diện tích lá
LSD0,05 : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa KNTLVCK : Khả năng tích lũy vật chất khô NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 3
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1.Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Nguồn gốc – phân loại đặc điểm thực vật 4
2.1.1 Nguồn gốc 4
2.1.2 Phân loại 5
2.2 Đặc điểm thực vật học 7
2.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây vừng 10
2.3.1.Yêu cầu nhiệt độ 10
2.3.2.Yêu cầu với ánh sáng 10
2.3.3.Yêu cầu với độ ẩm 11
2.3.4.Yêu cầu đối với đất và dinh dưỡng 11
2.4 Đặc điểm sâu bệnh hại vừng 12
2.4.1 Những loại sâu hại chính 12
2.4.2 Những bệnh hại chính 14
2.5 Giá trị dinh dưỡng và ứng dụng của cây vừng 16
2.5.1 Giá trị thực phẩm 16
2.5.2 Ứng dụng trong dược phẩm 18
2.5.3 Ứng dụng trong công nghiệp kỹ nghệ và tiềm năng cho biodiesel (dầu sinh học) 20
2.6 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới và trong nước 22
Trang 72.6.1 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới 22
2.6.2 Tình hình sản xuất vừng ở Việt Nam 25
2.7 Những nghiên cứu về mật độ cho cây vừng 26
2.7.1 Những nghiên cứu về mật độ trồng vừng trên thế giới 26
2.7.2 Những nghiên cứu về mật độ trồng vừng ở Việt Nam 28
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Vật liệu nghiên cứu 29
3.2 Thời gian địa điểm nghiên cứu 29
3.3 Nội dung nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 29
3.4.2 Quy trình kĩ thuật 30
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu 31
3.5.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển 31
3.5.2 Chỉ tiêu về sinh lý 32
3.5.3 Đánh giá tính chống chịu của các giống thí nghiệm 32
3.5.4 Các yếu tố cấu thành năng suất 33
3.6 Phương pháp sử lý số liệu 33
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Điều kiện tự nhiên và khí hậu vụ xuân năm 2015 tại Thái Nguyên 34
4.2.1 Ảnh hưởng của mật độ đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống vừng đen V10 vụ xuân năm 2015 35
4.2.2 Ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao cây 37
4.2.3 Ảnh hưởng của mật độ đến đặc điểm hình thái giống vừng V10 39
4.2.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống vừng đen V10 trong vụ xuân năm 2015 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên 40
4.2 Các yếu tố cấu thành năng suất của giống vừng V10 43
Trang 84.3 Mức độ nhiễm bệnh của giống vừng V10 44
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.1.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng của giống Vừng V10 46
5.1.2 Năng suất của giống vừng 46
5.1.3 Khả năng chống chịu 46
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Mè (tên khoa học là Sesamum indicum L.) còn gọi là vừng, là cây công
nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao và được biết đến như một loài cây lấy hạt có dầu quan trọng và lâu đời nhất trên thế giới, hạt vừng có hàm lượng dầu và protein cao Hạt vừng chứa 45-55% dầu, 19-20% protein, 8-11% đường, 5% nước, 4-6% tro Thành phần axít hữu cơ chủ yếu là
2 loại axít béo chưa no (Axít oleic C18H34O2:45,3-49,4%; axít linoleic
C18H32O2: 37,7- 4,2%); hàm lượng axít có trong bột vừng và trong thịt (bảng 2.1) Ngoài ra hạt vừng chứa nhiều chất khoáng và năng lượng, vừng là loại dầu quý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực
Bên cạnh đó cây vừng còn có giá trị dinh dưỡng, sinh lý học và dầu vừng có tính oxy hóa cao nên khó bị ôi so với các loài dầu khác Dầu vừng chứa vitamin E và một vài chất chống ôxy hóa quan trọng khác Các chất chống oxy hóa như sesaminol và sesamolinol duy trì các axít béo kể cả làm giảm mật độ lipoprotein Tương tự, các chất chống oxy hoá như sesamolin và sesamol cũng đã tìm thấy trong dầu vừng Tác giả (Cooney và cộng sự trong năm 2001), [11] đã báo cáo rằng dầu vừng có chứa gamma tocopherol cùng với sự hoạt động của vitamin E được tin tưởng là ngăn ngừa bệnh ung thư và bệnh tim mạch
Cây mè có thời gian sinh trưởng ngắn (khoảng 70 – 90 ngày) thuận lợi trong tiêu dùng ở phạm vi nông hộ, đồng thời cũng là cây trồng “dễ tính”, ít đòi hỏi thâm canh, có khả năng tận dụng đất đai, mùa vụ, dễ tiêu thụ trên thị trường, thích hợp luân, xen canh và gối vụ Trong đời sống hiện nay, dầu thực vật đã trở thành một nguyên liệu rất quan trọng cần thiết, là một trong những nguồn dinh dưỡng cải thiện sức khỏe con người và có nhu cầu ngày càng tăng Diện tích trồng vừng năm 2013 của thế giới đạt 9,399 (triệu ha), năng suất đạt 5,061 (tạ/ha), năng suất đạt sản lượng 4,757 (triệu tấn) Trong đó diện
Trang 10tích trồng vừng của Việt Nam đạt 47 (nghìn ha), năng suất đạt 4,681 (tạ/ha), sản lượng đạt 22 (nghìn tấn) Điều này cho thấy cây vừng là một trong những cây công nghiệp có giá trị và có diện tích trồng vừng tương đối lớn so với các cây trồng khác theo (Fao.stat, 2015), [23]
Trong các yếu tố cấu thành năng suất thì mật độ đóng một vai trò rất quan trọng Nếu trồng dày, số cây trên đơn vị diện tích nhiều, diện tích dinh dưỡng cho một cây hẹp dẫn tới cây thiếu dinh dưỡng, thiếu ánh sang, ít phân cành, sớm bị che phủ làm cho lá rụng nhiều, số hoa ít, số quả/cây ít, khối lượng 1000 hạt nhỏ Ngược lại nếu trồng thưa diện tích dinh dưỡng của cây trồng rộng cây phân nhánh nhiều, số hoa và số quả/cây nhiều, khối lượng
1000 tăng nhưng trồng thưa mật độ thấp nên năng suất không cao
Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất của vừng Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng nếu gieo trồng đúng mật độ thích hợp thì sẽ cho năng suất cao Thực tế trong sản xuất hiện nay diện tích trồng vừng còn nhỏ lẻ và manh mún, nên việc áp dụng khoa học tiến bộ như máy gieo vừng là không có Hơn thế nữa là những vùng chuyên canh, người dân chưa chú ý áp dụng khoa học
kỹ thuật vào trong sản suất còn làm theo kinh nghiệm truyền thống như gieo vãi, mà khồng để ý đến mật độ thích hợp cho từng giống cho từng mùa vụ Dẫn đến tình trạng lãng phí về giống và không phát huy về tiềm năng năng suất của giống Vì vậy việc xác định được mật độ gieo trồng thích hợp cho mỗi giống phù hợp với điều kiện sinh thái và điều kiện canh tác là rất cần thiết Từ đó cơ sở giúp người dân hiểu và áp dụng các mật độ thích hợp vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất
Từ những nhận định trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống vừng đen V10 vụ xuân năm 2015 tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trang 111.2 Mục đích của đề tài
Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp nhất cho giống vừng V10 trong điều kiện vụ xuân tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nhằm tạo điều kiện cho giống sinh trưởng phát triển tốt nhất và đạt năng suất cao,
ổn định
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống vừng đen V10 thí nghiệm trong vụ xuân năm 2015 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giồng vừng đen V10
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1.Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học
để áp dụng vào thực tiễn, tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm vốn kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất
- Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn, nâng cao tay nghề, đồng thời rèn luyện thái độ làm việc nghiêm túc, tích lũy kinh nghiệm, có phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Sự thành công của đề tài này sẽ có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn sản xuất, góp phần đưa giống Vừng V10 ra sản xuất với mật độ thích hợp để đảm bảo năng suất, hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho người dân
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc – phân loại đặc điểm thực vật
2.1.1 Nguồn gốc
Hạt vừng được coi là loại hạt cho dầu lâu đời nhất của nhân loại Cây vừng có nhiều loài, và những loài hoang dã được khai thác lâu đời nhất ở Châu Phi và Ấn Độ Hồ sơ từ Babylon và Assyria có niên đại khoảng 4000 năm trước đây đã đề cập đến vừng Tàng tích hạt vừng rang thu hồi từ các cuộc khai quật khảo cổ học có niên đại khoảng 3500-3050 năm trước Công
nguyên Nhiều ý kiến cho rằng Etiopi là nguyên sản của giống vừng trồng
hiện nay Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng Afghan – Pesian mới là nguyên sản của các giống vừng trồng là loại cây có dầu được trồng lâu đời (khoảng 200 năm trước công nguyên) Sau đó được đưa vào vùng Tiểu Á (Babylon) và được di chuyển về phía tây – vào Châu Âu và phía nam vào Châu Á , Đến Ấn Dộ và một số nước Nam Á (Trung Quốc, Ấn Độ) được xem
là trung tâm phân bố cây vừng (Ths Ma Thị Phương, 2014), [8], (Papyrus Ebers và cộng sự, 1608 -16/8/1661), [17] trong tác phẩm của mình đã đề cập đến mối giao dịch buôn bán hạt vừng giữa vùng Lưỡng Hà và khu vực mà hiện nay là Pakistan và Ấn Độ xảy ra vào năm 2000 trước Công nguyên Một
số báo cáo khác khẳng định cây vừng được trồng trong Ai Cập trong thời kỳ Ptolemiac Các thư tịch cổ Ai Cập cho biết nhà Y học Papyrus Ebers (cách nay khoảng 3600 năm) cây vừng đã có tên là “sesemt” là một cây dùng làm thuốc chữa bệnh
Báo cáo khảo cổ học từ Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy cây vừng đã được trồng
và ép để trích xuất dầu ít nhất 2750 năm trước đây trong đế chế của Urartu Cây vừng cổ đại được trồng rộng rải ở các khu vực khô hạn ở rìa sa mạc, nơi không có cây trồng khác phát triển được Cây vừng đã được gọi là
một cây trồng “sống sót”
Trang 13Đây là một cây được thuần hóa ở các vùng nhiệt đới khắp thế giới và được trồng để lấy hạt ăn do hạt có hàm lượng chất béo và chất đạm cao ngoài ra vừng còn được dùng làm thuốc
Cây vừng rất chịu hạn, một phần do hệ thống rễ sâu rộng của nó Tuy nhiên, nó đòi hỏi phải có độ ẩm thích hợp cho sự nảy mầm và phát triển sớm Độ ẩm trước khi trồng và thời kỳ ra hoa, đậu trái là quan trọng nhất
Ở Nam Mỹ, cây vừng được du nhập từ Châu Phi sau khi người Âu Châu khám phá ra ở Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chritophecoloms, người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) giới thiệu
Từ những năm 1950, cây vừng đã sản xuất mở rộng ở Mỹ phần lớn tập trung tại bang Texas với diện tích dao động từ 10.000 đến 20.000 mẫu Anh (4.000 - 8.000 ha) trong những năm gần đây Tuy nhiên sản lượng hạt vừng ở
Mỹ không đáp ứng kịp nhu cầu tiêu dùng trong nước, Mỹ phải nhập nhiều sản phẩm hạt vừng và dầu vừng ở nước ngoài, chủ yếu ở nam Mỹ
Cây Vừng (Tên khoa học: Sesamum indicum L syn S orientale L.) là
cây hàng niên và là cây có dầu Giống Vừng Sesamum có khoảng 30 loài khác nhau, nhưng loại được trồng phổ biến là Vừng trắng (Sesamum indicum
Trang 14L.), và Vừng đen (Sesamum orientale L.) Thời gian sinh trưởng của cây Vừng từ 75 tới 150 ngày tuỳ theo giống, nhưng loại được trồng phổ biến ở Việt Nam và Campuchia có thời gian sinh trưởng từ 75 tối 100 ngày, với chiều cao cây từ 1 tới 2,0 mét Cây Vừng bắt nguồn từ Trung Mỹ lan rộng tới các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới khác, mọc chủ yếu ở châu Á và châu Phi Loài cây này được trồng làm hàng rào để bảo vệ các khu vườn và ruộng khỏi
bị thú phá hoại Cây Vừng chịu được độ khô hạn cao (thậm chí có thể sống được ở hoang mạc và do đó không cạnh tranh với các loài cây lương thực) Cây Vừng cũng được biết đến như là một loại cây vua có dầu trong các loại cây có dầu Vì hàm lượng dầu trong hạt rất cao, từ 50 tới 60% dầu trên trọng lượng hạt Cây Vừng chịu hạn rất tốt và nó có thể trồng và sinh trưởng trên các loại đất khác nhau ở Việt Nam
Hạt vừng chứa dầu có thể được sử lý để tạo dầu diesel sinh học chất lượng cao, sử dụng cho các động cơ diesel tiêu chuẩn Trên thế giới Vừng Trắng (tên khoa học: Sesamun indicum linn) được trồng phổ biến Có lượng nhiễm sắc thể 2n =26, ngoài ra còn có S capennsen; Salanum; S chenkii; S laniniatum có 2n = 64 (Phạm Đức Toàn, 2008), [3] Vừng có nhiều giống và nhiều dòng khác nhau về thời gian sinh trưởng, màu sắc của hạt và dạng cây
Cây Vừng có 2 chủng loại chính (Phạm Văn Thiều, 2005), [4]:
Vừng đen: Vỏ hạt có màu đen, dễ trồng, cây sinh trưởng khỏe, sai quả
Thời gian sinh trưởng khoảng 3,5 – 4 tháng Nó thích hợp với điều kiện đất đai đồi núi, tính chịu rét tốt Giá trị xuất khẩu làm dược liệu cao hơn vừng trắng
Vừng trắng: Vỏ hạt có màu vàng hoặc trắng, có loại quả tròn như
giống vừng cối xay Loại này cho sai quả, lắm hạt nhưng chín sớm hơn Vừng đen Thời gian sinh trưởng khoảng 2,5 – 3 tháng thích hợp cho việc trồng xen
canh gối vụ
Giống Vừng nói chung là khá phong phú, người ta dựa vào một số đặc điểm sau đây để phân loại chúng:
Trang 15- Thời gan sinh trưởng
- Mùa vụ gieo trồng
- Số quả/nách lá
- Kiểu sinh trưởng là đơn thân hoặc phân cành
- Màu sắc và kích thước của cây
- Số vách ngăn trong quả
Có hai dạng hình cơ bản được sử dụng để phân biệt hệ thống rễ, đó là dạng hình có thời gian sinh trưởng dài có hệ thống rễ phát triển mạnh và dạng hình có thời gian sinh trưởng ngắn có hệ thống rễ nông hơn và hẹp hơn Bên cạnh đó hệ thống dễ còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai và chế độ canh tác
Thân cành
Cây Vừng thuộc dạng thân thảo, dáng thẳng đứng, có thể phân cành hoặc không phân cành tùy thuộc vào giống và kĩ thuật canh tác Thân thường
Trang 16có hình 4 cạnh với những rãnh dọc, có giống có dạng hình thân tròn, thân bẹt (dẹt), có thân dạng hình chữ nhật Thân có thể nhẵn, có thể có lông hoặc rất nhiều lông tùy thuộc theo từng giống Màu sắc của thân thay đổi từ màu xanh nhạt đến màu tím nhưng phổ biến nhất là màu xanh đậm, khi quả đã chín thì thân chuyển sang màu vàng cả Chiều cao thân thay đổi theo giống, môi trường và điều kiện trồng trọt, biến động từ 60 – 120cm (trong điều kiện hạn thì thân có thể thấp hơn: 40 – 60 cm), các giống vừng trồng ở nước ta thường
có chiều cao từ 80 - 120cm
Phạm vi phân cành và kiểu phân cành cũng là một đặc tính quan trọng của giống, nhất là vị trí độ cao mà ở đó cành đầu tiên xuất hiện Số lượng cành trên cây phụ thuộc vào giống, xuất phát từ thân chính thường có từ 2 đến – 6 cành mọc từ nách lá gần gốc Mức độ phân cành phụ thuộc vào di truyền giống và sự sinh trưởng của cây, trực tiếp ảnh hưởng của môi trường mật độ, lượng mưa, độ dài ngày và những tác động của biện pháp kĩ thuật khác như mật độ gieo trồng, lượng phân bón, lượng nước tưới v.v…
Lá
Lá vừng mọc cách và mọc đối Lá có nhiều hình dạng khác nhau và thay đổi rất lớn về hình dạng và kích thước ngay trên cùng một cây và giữa các giống Vừng khác nhau Thông thường các lá ở vị trí thấp hơn thường to
và rộng hơn, lá đôi khi có thùy, mép lá có răng cưa Các lá ở vị trí giữa thân
có răng cưa nhỏ, các lá ở vị trí cao hơn thường nhỏ và hẹp hơn
Tùy thuộc vào đặc điểm của giống mà các lá có thể mọc đối hay mọc xen kẽ nhau, hoặc ở dưới mọc đối ở trên mọc xen kẽ Sự sắp xếp lá trên thân rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới số hoa sinh ra ở các nách lá, do đó ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất thật trên cây Kích thước lá thay đổi chiều từ 3-17,5cm, rộng 1-1,5cm, chiều dài cuống lá từ 1-5cm Bề mặt lá vừng có nhiều lông thường có màu xanh nhạt và có chất nhờn Màu sắc lá thay đổi đậm nhạt phụ thuộc đặc điểm di truyền giống
Trang 17 Hoa
Hoa vừng có dạng hình chuông, cuống ngắn, tràng hoa gồm 5 cánh hợp thành hình chuông, đài hoa màu xanh chia làm 5 thùy nông, ống hoa dài 3-4cm, nhị đực gồm 5 cái dài 0,5-0,6cm, cái hoạt động một cái bất dục Bầu nhụy nằm đáy hoa có 2-4 ngăn được phân thành nhiều vách giả mang rất nhiều noãn, màu cánh hoa thường trắng, phớt hồng, tím Đốt đầu tiên mang hoa của thân tính từ mặt đất trở lên là đặc điiểm di truyền của giống và có sự tương quan chặt chẽ với chiều cao cây Hoa mọc ra từ các nách lá ở phần trên của thân và cành, hoa thường mọc đơn nhưng có trường hợp mọc thành chùm
có tới 8 hoa
Vừng là cây tự thụ phấn, côn trùng và gió có thể xúc tiến quá trình thụ phấn Thời gian ra hoa lên quan đến điều kiện thời tiết khí hậu (nhiệt độ, ánh sáng) và đặc điểm di truyền giống
Quả
Quả vừng thuộc loại quả nang có chứa nhiều hạt nhỏ bên trong, lát cắt
có hình chữ nhật có nhũng khía sâu, mỏ quả ngắn ở đỉnh quả Nhìn chung mỗi dạng hình quả là một đặc tính của giống và có liên quan chặt chẽ tới điều kiên môi trường Độ dài của quả có thể thay đổi từ 2,5 - 8cm với đường kính quả
từ 0,5 - 2cm và số vách ngăn trên quả thay đổi từ 4 - 12 Trên quả có nhiều lông, mật độ lông này là điều kiện tiêu chuẩn để phân loại giống Quá trình chín của quả diễn ra từ gốc lên ngọn như quá trình ra hoa trước đó Khi quả chín vỏ sẽ nứt dọc theo vách ngăn từ đỉnh quả xuống đáy quả hoặc mở rộng 2
lỗ trên đỉnh quả, chất lượng quả cũng khác nhau tùy vị trí đóng quả (thường quả ở vị trí thấp có hạt lớn hơn)
Trong quả vừng có rất nhiều hạt nhỏ, vừng là hạt song tử diệp, cấu tạo
có nội phôi nhũ, có hình trứng dẹt, vỏ hạt có thể nhẵn hoặc giáp Chiều dài từ 2-4mm, chiều rộng khoảng 1,5 - 2mm, dày 1mm Trọng lượng 1000 hạt từ 2 -
Trang 184g Các giống vừng địa phương có hạt bé hơn, trọng lượng 1000 hạt chỉ trên 2g, hạt vừng có nhiều màu sắc khác nhau như: trắng, vàng hơi đỏ, nâu, xám v.v…màu sắc của hạt là đặc trưng riêng của từng giống Vừng đen có to hơn vừng vàng và nâu Hạt vừng chứa nhiều dầu và alơrôn, bình thường trong hạt vừng có khoảng 50% dầu, 25% protein, 5% khoáng chất, 1% canxi, 3% các chất hữu cơ, 4% chất sơ và 6% thủy phần …(Phạm Văn Thiều, 2005), [5]
Do vừng có chứa hàm lượng dầu cao vừa khó khăn cho việc bảo quản dễ mất sức nảy mầm Hàm lượng dầu của hạt vừng cũng thay đổi rất lớn phụ thuộc vào giống và vụ mùa gieo trồng, có thể có mối tương quan giữa giống và vị trí trồng đối với năng suất và hàm lượng của hạt vừng
2.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây vừng
2.3.1 Yêu cầu nhiệt độ
Vừng là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới nên tổng tích ôn yêu cầu trung bình 2.7000C trong suốt thời kỳ sinh trưởng Nhiệt đô thích hợp cho sinh trưởng, phát triển biến động trong phạm vi 25 – 300C Trong đó nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt, sinh trưởng dinh dưỡng và sự hình thành hoa khoảng 25 – 270C Nhiệt độ thích hợp cho sự nở hoa và sự phát triển quả trong khoảng 28 – 320C Nếu nhiệt độ dưới 200C kéo dài thời gian nảy mầm Nhiệt độ dưới 180C sẽ gây khó khăn cho sự phát triển, dưới 100C cây ngừng phát triển và chết Nhiệt độ cao trên 400C vào thời gian ra hoa sẽ cản trở sự thụ phấn, thụ tinh, tăng tỷ lệ hoa rụng và do đó làm giảm số hoa, tăng tỷ lệ hạt lép và tỷ lệ tách quả trên đồng ruộng
2.3.2 Yêu cầu với ánh sáng
Vừng là cây ngày ngắn Trong điều kiện thời gian chiếu sáng dưới 10 giờ/ngày sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng dinh dưỡng Vừng sẽ ra hoa sớm hơn 15 - 20 ngày trong điều kiện tự nhiên (12giờ/ngày) Cường độ ánh sáng,
số giờ nắng trong ngày ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của vừng Trong thời gian sinh trưởng, nhất là sau khi trổ hoa, vừng cần khoảng 200 - 300 giờ
Trang 19nắng/tháng cho tới khi trái chín hoàn toàn Kết quả nghiên cứu về cường độ ánh sáng trên cây vừng cho thấy: Cường độ ánh sáng trong thời gian kết quả đến chín đạt 28.000 lux thích hợp nhất cho quá trình hình thành dầu Hàm lượng dầu trong hạt giảm 8% nếu cường độ ánh sáng giảm xuống 7.000 lux [1]
2.3.3 Yêu cầu với độ ẩm
Độ ẩm đất là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất vừng Vừng là cây tương đối chịu hạn nhưng cũng rất nhạy cảm với sự thiếu nước Khi độ ẩm đất xuống dưới 70% kéo dài > 20 ngày trong thời kỳ ra hoa và quả phát triển, năng suất hạt sẽ giảm >25% Vừng cho năng suất tương đối ổn định ở lượng mưa 500 - 650mm Trong điều kiện có tưới tổng lượng nước cần thiết là 900 - 1000mm, vừng sẽ đạt năng suất tối đa Tuy nhiên nhu cầu nước khác nhau giữa các giai đoạn sinh trưởng: Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 34%; thời kỳ ra hoa kết quả 45%; và thời kỳ chín là 21% Độ ẩm đất thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của vừng là 70 - 80% Vừng cũng được đánh giá là cây chịu hạn khá Các tài liệu nghiên cứu cũng như trong thực tiễn sản xuất cho thấy vừng có thể cho năng suất trong điều kiện lượng mưa 200 - 300mm phân bố đều trong cả vụ Mưa lúc thu hoạch sẽ làm phẩm chất vừng giảm do nhiễm bệnh Vừng rất dễ mẫn cảm với nước, nếu mưa liên tục sẽ làm cây đổ ngã và chết Sau khi gieo hạt nếu mưa nhiều, hạt sẽ bị úng, không nảy mầm và phải gieo lại Để nâng cao năng suất và hạn chế những rủi ro do sự bất thường về độ ẩm đất, vùng trồng vừng phải được quy hoạch trong vùng an toàn về lượng mưa hoặc chủ động tưới tiêu
2.3.4 Yêu cầu đối với đất và dinh dưỡng
Vừng phát triển được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng có hiệu quả cao nhất trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ phỳ cao, tầng canh tác dày, tưới tiêu chủ động Khả năng thoát nước có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, cây sẽ chết nếu nước ngập kéo dài quá 24h, nhất là thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng Tính thích nghi của vừng trên nhiều loại đất đã được nhấn mạnh trong
Trang 20nhiều tài liệu khác nhau Cách đây nhiều thế kỷ, người Roma cho rằng: vừng yêu cầu đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng Yêu cầu của đất và dinh dưỡng đất đối với cây vừng nhìn chung biến động trong một phạm vi khá lớn, song các loại đất cát, thịt nhẹ có pH từ 5,5 – 8,0, độ ẩm đất 70 - 80%, có hàm lượng mùn từ trung bình trở lên, khả năng giữ nước tốt đều có thể trồng và phát triển cây vừng Những loại đất có độ phì tự nhiên thấp, nhưng có lợi thế về thành phần
cơ giới nhẹ, mực nước ngầm nông, nếu chọn được cơ cấu cây trồng thích hợp, chú ý vấn đề thủy lợi, đầu tư thêm phân hữu cơ và các loại phân bón khác, thì
có thể thu được hiệu quả kinh tế cao khi sản xuất vừng trên những loại đất này
2.4 Đặc điểm sâu bệnh hại vừng
2.4.1 Những loại sâu hại chính
Cây vừng tuy có ít sâu bệnh hơn so với các giống cây trồng khác, tuy nhiên trong quá trình sinh trưởng nó vẫn bị một só loại sâu bệnh phá hoại,
nhất là ở những vùng trồng tập trung, vùng chuyên canh màu v.v…
- Sâu cuốn lá, đục thân: Có màu kem vạch vàng nâu, sâu lớn màu xanh
vàng nhiều dốm đen, đầu màu nâu, làm tổ ở ngọn và lá non cây Biện pháp phòng trừ: ngắt bỏ ổ trứng, ổ sâu non mới nở, bắt sâu và rũ sâu khi mật độ sâu lên cao và trở thành dịch hoặc sử dụng thuốc hóa học có nồng độ cao tưới vào đống bả để giết sâu Làm đất kĩ luân canh cây vừng với các cây trồng khác
- Sâu sừng: Sâu non mập cơ thể có nhiều ngấn, có gai nhọn như căn
sừng ở phía sau, màu sắc thay đổi từ màu xanh lục sang màu nâu Sâu non đầy sức dài 7-8cm, hóa nhộng dưới đất, nhộng màu nâu đỏ và có vòi uốn cong Bướm lớn thân dài 40-50mm màu nâu và nhiều vân đen Bướm thích hoạt động vào ban đêm, thích vị chua ngọt Sâu non thích ăn lá, đặc biệt là lá non [20]
Biện pháp phòng trừ: Dùng bẫy chua ngọt để bắt bướm, cày ải phơi đất
để diệt nhộng, luân canh với cây trồng khác, diệt sâu non có thể dùng một
Trang 21trong các loại thuốc: Alphatap, Alpha, Alpha cypermetrin, Lannate, Fenthion, Admire, Fenbis, Decis, Regent 2 lá xanh
- Sâu xám: Thành trùng là một loại ngài đêm, sãi cánh 35-40 cm, thân màu nâu tối, râu con cái hình sợi chỉ, râu con đực hình răng lược kép Cánh trước có màu nâu thâm hoặc màu nâu đen, cánh trước có 3 vân, gần gốc cánh
có một vân hình, giữa hình tròn, cuối cánh hình hạt đậu Cánh sau màu xám trắng Trứng hình bán cầu có nhiều gờ nổi, mới đẻ màu trắng sữa -> hồng nhạt -> tím sẩm Sâu non mới nở màu xám đất đẩy sức 18 cm, càng lớn có màu đất bóng mỡ, phần bụng màu nhạt hơn; trên mỗi đốt phía trên có 4 u lông nhỏ, phía dưới có 4 u lông lớn Đốt cuối cùng ở mảnh lưng có 2 vệt màu nâu đậm Nhộng có màu bóng Thông thường ngài vũ hoá buổi tối, hoạt động ban đêm trong đất, cỏ dại, khả năng đẻ trứng của con cái phụ thuộc nhiều vào dinh dưởng, ít thu hút bởi ánh sáng đèn Tuổi 1 sống trên cây gặp những mô lá làm thủng lỗ nhỏ Tuổi 2 chui xuống đất, ban đêm cắn cây con Tuổi 3-4 sống xung quanh gốc cây Sâu tuổi lớn hơn: ăn phá mạnh hơn Khi thiếu thức ăn
có thể di chuyển từ ruộng này sang ruộng khác Sâu non có tính giả chết và
có khả năng sâu xé lẫn nhau Khi đẫy sức, sâu non chui xuống đất 3-5 cm hoá nhộng
Biện pháp phòng trị:
- Tiêu diệt cỏ dại
- Gieo trồng đúng thời vụ nhanh gọn
- Dùng bẫy chua ngọt để bẫy bướm (4 phần đường đen + 4 phần dấm +1 phần rượu + 1 phần nước + 1% thuốc BHC)
- Dùng Basudin, Furadan
- Sâu khoang: Có tên gọi là sâu ăn tạp (spodoptera litura), sâu non có
màu xám tro, lưng có vạch vàng trên đót bụng thứ nhất có đốm đen lớn, cuối bụng có đôi gai lớn, khi sâu còn nhỏ khoang đen này dính với nhau tạo thành một khoang đen nên gọi là sâu khoang đen [20] Bướm màu nâu cánh trước
Trang 22có đường vân màu sẫm, xung quanh viền vàng mép ngoài có đường chấm nâu đen, cánh sau có màu xám trắng cuối bụng con cái có túm lông, trứng đẻ thành ổ dưới mặt lá, mỗi ổ có hàng trăm trứng, bên ngoài phủ một lớp lông tơ màu nâu vàng
Biện pháp phòng trừ: Ngắt bỏ ổ trứng , ổ sâu non mới nở, bắt sâu và rũ sâu khi mật độ sâu lên cao và trở thành dịch, sử dụng bẫy cây trồng , dùng các loại thúc ăn mà sâu ưa thích (như cây khoai lang, lá bắp cải già… Để thành từng đống nhỏ rải rác trên đồng ruộng để dẫn dụ sâu tới rồi rũ bả giết sâu), hoặc sử dụng thuốc hóa học có nồng độ cao tưới vào đống bả để giết sâu Làm đất kĩ luân canh cây vừng với các cây trồng khác
Ngoài ra còn có rất nhiều loại sâu hại khác như: Sâu sừng, sâu róm, rệp xanh, rệp bong, bọ trĩ, rầy v.v…
2.4.2 Những bệnh hại chính
Có nhiều bệnh hại trên cây vừng do các tác nhân như nấm, vi khuẩn, vi rút gây ra Tuy nhiên, tuy thuộc vào chế độ đất đai và chế độ canh tác của từng vùng mà mức độ gây hại khác nhau, những bệnh gây hại chính ở cây mè thường là bệnh lở cổ dễ, bệnh héo vàng, bệnh đốm lá, bệnh phấn trắng, bệnh thán thư…
- Bệnh héo rũ: Ban đầu một số lá bị mất sức trương của tế bào gây héo
xanh, mềm, cây rũ xuống, 1 – 2 ngày đầu các lá của cây héo vẫn còn xanh và
có thể phục hồi vào ban đêm càng về sau lá càng nặng, từ xanh chuyển vàng gây héo toàn cây làm cho cây khô và chết
Phòng trừ: Cần làm đất sạch bệnh, cày bừa kĩ Dùng formol, Mocap 10G, Furadan 3H, vôi, CuSO4, Metyl brovide xử lý đất
- Bệnh lở cổ rễ: Còn gọi là bệnh chết cây con (Rhroctonia solani ), bệnh
phát triển mạnh khi ẩm độ và nhiệt độ cao, đất không thoát nước Bệnh hại chủ yếu giai đoạn cây con phần thân tiếp giáp với mặt đất có màu xanh tái chuyển
Trang 23sang nâu mọng nước, cuối cùng khô teo, phía ngọn héo và chết hàng loạt làm
giảm mật độ nghiêm trọng (Ts.Tạ Quốc Tuấn – Ths Trần Văn Lợi), [9]
Biện pháp phòng trừ: Cần thu dọn tàn dư cây bệnh, bón vôi và cày phơi
ải để diệt hạch nấm Sử dụng các loại thuốc trừ bệnh như: Validacin, Anvil, Derosal nằm phần dưới gốc thân, bệnh có thể nằm theo chiều dọc thân làm cây sinh trưởng kém
- Bệnh héo vàng: Bệnh hại chủ yếu trên thân, hiện tượng thường có
màu nâu, các lá trở nên vàng, rộng dần từ dưới lên trên, bệnh nặnglàm toàn thân bị héo vàng khô và chết
Biện pháp phòng trừ: Thu dọn tàn dư cây trồng và cỏ dại, nhỏ bỏ và tiêu hủy cây bệnh Có thể dùng thuốc Anvil, Derosal
- Bệnh phấn trắng: Thường xuất hiện khi có ẩm độ cao, mưa kéo dài
Lúc đầu vết bệnh là những đốm nhỏ màu vàng nhạt, sau đó vết bệnh lan rộng không có hình thù rõ rệt, trên vết bệnh là những bào tử phát triển thành khối
có màu trắng bao phủ trên bề mặt lá, sau đó chuyển sang màu vàng và làm cho lá héo dần, cây sinh trưởng kém, hoa quả rụng hạt lép
Biện pháp phòng trừ: Cần tưới đủ ẩm, bón phân cân đối Khi bệnh phát triển có thể dùng thuốc: Zineb, Anvil, Viben-C, Carbenzim
- Bệnh Thán thư: Bệnh có thể xuất hiện cả trên thân và lá Vết bệnh đầu
tiên xuất hiện có màu xanh đục, sau đó chuyển sang màu nâu đen, hình tròn
có thể ăn sâu vào cành và thân tạo thành những vết nứt, bệnh phát triển theo chiều dọc của thân Thời tiết nóng, ẩm và mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển, nấm bệnh tồn tại trên hạt giống ở dạng bào tử Bệnh tương đối khó phòng trị, chủ yếu phòng: Xử lý hạt trước khi gieo, sử dụng hạt giống sạch bệnh, xác định thời vụ trồng hợp lý
- Bệnh đốm lá: Bệnh do vi khuẩn gây ra với các triệu chứng như các
vết bệnh thường có góc cạnh nằm sát phần gân lá lúc đầu thường có màu nâu vàng, các bệnh khô có màu nâu sáng, mép các vết bệnh có màu tía đậm hơn
Trang 24Khi bệnh nặng các vết bệnh có thể liên kết với nhau tạo thành vết bện lớn hơn
và chạy dọc theo phần gân hay cuống lá Bệnh nặng có thể tập trung thành khối và trở thành những vùng tế bào chết trên lá Bệnh có thể xuất hiện trên
nụ với vết bệnh lõm có màu tía hoặc sáng
2.5 Giá trị dinh dƣỡng và ứng dụng của cây vừng
2.5.1 Giá trị thực phẩm
Vừng đen nguyên chất là một loại dầu thực vật chứa rất nhiều dinh dưỡng nên được hấp thụ trực tiếp vào tế bào và được cơ thể tiêu dùng ngay Loại chất béo này cũng cung cấp khí oxy cho cơ thể để đốt các thức ăn thành
ra năng lượng góp phần hữu hiệu trong sự thanh lọc để loại trừ các chất cặn
bã Dầu mè đen cũng còn phòng ngừa và chữa trị được bệnh táo bón, bệnh ung mủ, da chốc lở và một số bướu độc nữa Nó cũng công hiệu để làm cho
an thần, chữa chứng mất ngủ, kích thích sự hoạt động và gia tăng sức mạnh của cơ tim vì nó chứa nhiều thành phần sinh tố E và đặc biệt rất hữu ích cho người phụ nữ trong thời kỳ thai nghén Hạt mè đen và dầu vừng đen là một thứ thức ăn rất tốt cho những bệnh nhân đau gan và mật vì nó là một loại dầu rất tốt cho hệ tiêu hóa
- Đặc điểm thực vật cây vừng:
Vừng là cây hàng năm có thời gian sinh trưởng từ 75 - 150 ngày tuỳ giống và loài, nhưng loài được trồng phổ biến ở Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Đông Nam Trung Quốc có thời gian sinh trưởng từ 75 - 100 ngày, với chiều cao cây từ 1,0 - 1,5 m, lá đơn và kép 3 lá phụ, có lông, hoa vàng nhạt, nang có khía, hạt nhỏ Hạt mè không những chứa khoảng trên dưới 50% dầu
và 25% protein mà còn chứa nhiều khoáng chất Trong hạt mè chứa rất nhiều các axit béo, khoảng 39% oleic, 44% linoleic và có cả vitamin E theo tác giả (Phạm Đức Toàn và cộng sự, 2008), [3] thì hàm lượng dầu trung bình trong
Trang 25hạt mè ở Việt Nam và Campuchia là 51%, có thành phần axit béo trong hạt như sau:
Vừng được sủ dụng rất phổ biến để chế biến nhiều loại thức ăn (bánh,
kẹo, chè vừng…) Hạt vừng, theo sách bản thảo cương mục thì ”hạt vừng có
vị ngọt, tính hàn độc, chất trơn, nhuận tràng , giải độc, sát khuẩn tiêu nhiệt, chữa mụ lở rất công hiệu” Hạt vừng là thành phần trong rất nhiều loại thức
ăn Khoảng 70% sản lượng vừng trên thế giới chủ yếu được chế biến trong bữa ăn, và ép dầu Trong tổng số hạt vừng tiệu thụ đó thì khoảng 65% dùng
ép dầu và 35% dùng trong thực phẩm [22] Ở Việt Nam hạt vừng dùng phần lớn trong chế biến thức ăn như bánh kẹo, bột vừng, và ép lấy dầu Ở Ai Cập hạt vừng được chế biến bánh, kem, trong khi đó các nước Châu Phi thì dùng hạt vừng như là thành phần chính của các món canh, gia vị, và họ cũng dùng trong chế biến bánh kẹo, và dầu ăn Dầu vừng là một trong những loại dầu thực vật rất tốt, và nó được mệnh danh là nữa hoàng của các loại dầu thực vật Bởi vì dầu vừng chứa rất nhiều các chất chống oxy hoá, điển hình là chất sesamol Các chất chống oxy hoá sẽ giúp dầu vừng không bị giảm phẩm chất
và chất lượng khi bảo bảo trong thời gian dài Trong lịch sử, người Nhật,
Trang 26người Việt Nam hay người Châu Á nói chung, đã dùng dầu vừng trong nấu nướng, chiên xào Và người Châu Âu thì dùng dầu vừng để thay thế dầu olive, trộn salad
Bột vừng dùng để ăn, làm kem Và bột vừng có hàm lượng protein khá cao, hàm lượng methionine và tryptophan cũng cao, khoảng 10 tới 12% trong dầu vừng Theo báo cáo của (Morris, 2002), [15], trong hạt vừng chứa hàm lượng calcium cao gấp ba lần calcium trong sữa Ngoài ra các phụ phẩm trong quá trình chế biến hạt vừng cũng có thể tận dụng trong trồng trọt và chăn nuôi (Bảng 2.1) thành phần dinh dưỡng có trong bột vừng và trong thịt vừng
Bảng 2.1 Bảng thành phần dinh dƣỡng có trong bột vừng và trong thịt
2.5.2 Ứng dụng trong dược phẩm
Dầu vừng chứa vitamin E và một vài chất chống ôxy hóa quan trọng khác Các chất chống oxy hóa như sesaminol và sesamolinol duy trì các axít béo kể cả làm giảm mật độ lipoprotein Tương tự, các chất chống oxy hoá như sesamolin và sesamol cũng đã tìm thấy trong dầu vừng Tác giả Cooney và
Trang 27cộng sự trong năm 2001 đã báo cáo rằng dầu vừng có chứa gamma tocopherol cùng với sự hoạt động của vitamin E được tin tưởng là ngăn ngừa bệnh ung thư và bệnh tim mạch
Thêm nữa, chất sesaminol và sesamin trong dầu vừng kết hợp với sự hoạt động của vitamin E cung cấp khả năng chống lão hóa của cơ thể Và chất cephalin tìm thấy trong hạt vừng có hàm lượng từ 133168 đến 233586 ppm, chất này được xem như là một hợp chất cầm máu Hạt mè cũng chứa Licithin
và Myristic axít, các chất này như là chất chống oxy hóa, chất cầm máu, và chất ngăn ngừa ung thư (xem trong bảng 2.2)(Morris, 2008), [15]
Năm 1976, Tyler và cộng sự đã báo cáo rằng vừng được dùng như là một loại dược phẩm và dầu vừng được dùng như là một hoạt chất hoà tan các chất trong cơ thể, dinh dưỡng Năm 2000 tác giả Jellin và cộng sự đã báo cáo rằng Lecithin có hiệu quả để làm giảm sự nhiễm mỡ trong gan và điều trị thành công bệnh viêm da, khô da Hàm lượng Lecithin trong hạt vừng là 58 tới 395 ppm và Myristic axít được tìm thấy trong hạt vừng với hàm lượng 328 tới 1728 ppm Và hạt vừng, dầu vừng cũng được dùng như là một chất nhuận tràng (Morris, 2002), [15] Ở Việt Nam hạt vừng được dùng phần lớn trong chế biến thức ăn như bánh kẹo, bột vừng, và ép lấy dầu Ở Ai Cập hạt vừng được chế biến làm bánh, kem, trong khi đó các nước Châu Phi lại dùng hạt vừng như là thành phần chính của các món canh, gia vị cũng như trong chế biến bánh kẹo và dầu ăn.Hạt vừng không chỉ là nguồn cung cấp chất béo không bão hòa đơn và đa và các chất chống oxy hóa mà còn là nguồn cung cấp dồi dào nhiều loại chất khoáng như: Canxi, đồng, mangan, magie, photpho, sắt, kẽm, vitamin và cả chất xơ có tác dụng phòng và ngăn chặn nhiều bệnh như: Phòng chống các bệnh về tim mạch và hô hấp, ung thư, các bệnh về xương khớp Đông y coi vừng đen là một vị thuốc bổ, có vị ngọt, tính bình, vào các kinh can, thận, phế và tỳ Có tác dụng cường thân, nhuận ngũ tạng, đại bổ can thận, chống lão suy, làm đen râu tóc, sáng mắt Thường dùng chữa các chứng suy nhược như tóc bạc sớm, huyễn vận (hoa mắt chống
Trang 28mặt do suy nhược), lưng gối đau mỏi, đại tiện táo bón (Huyên Thảo,sức khỏe
và đời sống, 2010), [2] Dầu vừng đã được biết là dùng để làm giảm cholesterol và chứng cao huyết áp Theo báo cáo của (Morris, năm 2002), [15] thì dầu vừng đã được dùng từ thế kỷ thứ IV ở Trung Quốc, như là một loại thuốc chữa bệnh răng miệng, và thuốc đánh răng Ở Ấn Độ người ta dùng dầu vừng như một loại thuốc súc miệng sát trùng kháng vi khuẩn, trị các bệnh liên quan tới hội chứng lo âu, mất ngủ
Bảng 2.2 Vừng dùng cho thực phẩm, dƣợc, công nghiệp và mỹ nghệ
Dược phẩm
Các axit béo chống oxy hóa, lão hoá
Ngăn ngừa bệnh tim, trị bệnh về da, làm mịn da
Thuốc trị lo âu, mất ngủ và nhuận tràng
Sự hoạt động của Hypoglycaemic
Ngăn ngừa các khối u
Chống oxy hoá và chứng gan nhiễm mỡ
Ngăn ngừa bệnh ung thư
Sesamin, sesamolin Sesame oil
Sesame oil Flavonoids Linoleate in triglyceride form Lecithin
Myristic acid
Thực phẩm (rất nhiều cách dùng khác nhau)
Kẹo, bánh, bánh tráng, bánh mì, gia vị, soup
Dầu ăn, dầu trộn salad
Sesame seeds Sesame oil
Trang 29nước hoa Cologne đã được sản xuất ra từ chính hoa vừng Các hoạt chất li trích
từ vừng đã được dùng trong các mục đích khác nhau Ví dụ, Myristic axit được dùng trong mỹ phẩm, và ngăn ngừa ung thư Sesamin và sesamolin được dùng như là chất hỗ trợ trong thuốc diệt khuẩn, diệt côn trùng Theo tác giả (Hasan
và cộng sự báo cáo, năm 2000), [12] chất chlorosesamone sinh ra từ rễ cây vừng có chất kháng nấm và nó đã được dùng như là một chất diệt nấm
Ngày nay, nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng trên thế giới trong khi nguồn năng lượng hoá thạch ngày càng cạn kiệt Vì thế dầu thực vật sẽ là tiềm năng có thể thay thế dầu mỏ trong tương lai Vừng và các cây có dầu khác là một sự hứa hẹn cung cấp nguồn năng lượng mới, sạch và thân thiện với môi trường Tiềm năng của một số cây có dầu có thể dùng để sản xuất biodiesel được tác giả Richard Bell trình bày chi tiết tại hội thảo về năng lượng sạch, năng lượng có thể tái tạo tại Bangkok, Thailan (Richard Bell, năm 2008), [18] (bảng 2.3)
Bảng 2.3 tiềm năng của một số cây có dầu dùng cho sản xuất dầu sinh
học (Biodiesel)
Loại cây có dầu Sản lƣợng Biodiesel(thùng/năm/mile
vuông – Mile 2 )
(Nguồn: Richard Bell,2008, [19]
Trang 302.6 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới và trong nước
2.6.1 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới
Hằng năm trên thế giới có khoảng hơn 7 triệu ha vừng được gieo trồng tập trung ở một số nước khu vục Châu Á, Châu phi, Châu Mỹ với tổng sản lượng gần 4,7 triệu tấn, trong đó các nước Châu Á chiếm 47,8% diện tích và 51,8% sản lượng, các nước khu vực Châu phi chiếm 51,97% diện tích và 44,5% sản lượng, phần còn lại không nhiều nhưng được phân bố ở châu mỹ
và một số nước khác Về diện tích có hai quốc gia có diện tích gieo trồng vừng lớn nhất thế giới là Sudan với diện tích 2,157 triệu ha, tiếp đó là nước
Ấn Độ với diện tích là 1,860 triệu ha kế đến là Myanmar với diện tích là 1,590 triệu ha Các nước còn lại không nhiều, biến động từ 70.000 ha (ở Thái Lan) đến 290.000 ha (ở Uganda)
Tình hình sản xuất vừng trên thế giới năm 2009 - 2013 (bảng 2.4)
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới năm (2009 – 2013)
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
đó đến diện tích năm Năm 2013 diện tích trồng vừng tăng mạnh lên đến
Trang 319,399 (triệu ha), năng suất là 5,061 (tạ/ha), sản lượng 4,757 (triệu tấn), do ứng dụng của vừng ngày càng được biết đến nhiều hơn, nhu cầu sử dụng của chúng ta cũng cao hơn
Bảng 2.5 Tình hình sản xuất vừng của một số châu lục năm 2013 Chỉ tiêu
Châu lục
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
Trang 32Bảng 2.6 Diện tích, năng suất, sản lượng của mười nước sản xuất hạt
vừng lớn nhất thế giới năm 2013 Chỉ tiêu
Quốc gia
Diện tích (triệu
ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2 là Ấn Độ có diện tích trồng vừng là 1,860 (triệu ha), có năng suất đạt 3,419 (tạ/ha), cao hơn năng suất của Sudan nhưng vẫn thấp hơn mức năng suất của thế giới, đứng thức 3 là Myanmar có diện tích trồng vừng là 1,590 (triệu ha),
có năng suất là 5,597 (tạ/ha), xấp xỉ với mức năng suất của thế giới.Về năng suất thì Somalia là nước có năng suất lớn nhất 10 (tạ/ha) trong nhóm 10 nước
có diện tích lớn nhất thế giới,sau đó đến Thái Lan 7,429 (tạ/ha), nhưng Thái Lan lại là quốc gia có diện tích trồng nhỏ nhất trong nhóm Mặc dù Sudan là quốc gia có diện tích trồng vừng lớn nhất thế giới 0.070 (triệu ha), nhưng Somalia lại là quốc gia có năng suất cao nhất 10 (tạ/ha), trong khi đó Sudan năng suất chỉ có 2,605 (tạ/ha) lại là quốc gia có năng suất thấp nhất
Trang 332.6.2 Tình hình sản xuất vừng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đất đai và khí hậu rất thích hợp cho cây vừng sinh trưởng, phát triển và trên thục tế nó cũng đã trở thành tập quán lâu dời của người nông dân ở nhiều vùng sinh thái khác nhau trong các hệ thống canh tác luân, chuyển vụ với các loại cây trồng khác theo công thức luân canh cây trồng hợp
lý Cây vừng có khả năng thích ứng rộng, dễ trồng và đầu tư sản xuất vừng cũng không nhiều Tuy nhiên, do không được coi là cây trồng chính nên các hình thức canh tác chủ yếu vẫn là quảng canh, năng suất thấp Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, nên so sánh với các cây có dầu ngắn ngày như lạc, đỗ tương …thì diện tích cây vừng có quá nhỏ bé Cây vừng là một trong những cây có hàm lượng cao, vừng rất dễ trồng thích hợp cho luân canh gối vụ Sản phẩm của cây vừng không những dung cho thực phẩm mà còn dùng cho các mục đích khác trong công nghiệp, kỹ nghệ, dược liệu, xa hơn nữa là dầu sinh học v.v…
Tiềm năng phát triển cây có dầu là rất lớn nhưng nguồn nguyên liệu để sản xuất dầu ở Việt Nam vẫn phải nhập tới 90% năm 2001, nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng khoảng 6,8% nhu cầu trong nước Việt Nam cũng
đã chú trọng đến phát triển cây có dầu đặc biệt trong những năm gần đây, với diện tích 35200 ha, năng suất 3 tạ/ha năm 2000, mặc dù năng suất thấp nhưng vẫn được gieo trồng do không đầu tư thâm canh Thời gian đây trong công tác nghiên cứu của các nhà chọn tạo giống đã đưa ra một số giống vừng cho năng suất cao như: Giống vừng VĐ 10, giống V6, V26… Theo thông tin của (Bộ nông nghiệp 55/2003NĐ và thông tin của bộ nông nghiệp CP 28/05/2003),[5]
Trang 34
Bảng 2.7 Tình hình sản xuất cây vừng ở Việt Nam Năm (2009 – 2013)
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
2010 năng suất giảm xuống còn 0,017 (tạ/ha), năm 2011 tăng lên được 0,012 (tạ/ha) Từ năm 2012 đến nay sản lượng quá các năm đều giảm là 0,022 (tạ/ha) Tuy nhiên năng suất trung bình vẫn chưa đạt chuẩn trung bình thế giới, cần quan tâm chú ý nhiều hơn đến các giống mới, tiến bộ kĩ thuật, thâm canh tăng năng suất cho cây
2.7 Những nghiên cứu về mật độ cho cây vừng
2.7.1 Những nghiên cứu về mật độ trồng vừng trên thế giới
- Nâng cao năng suất theo hướng khoảng cách và mật độ trồng thích hợp Theo tác giả (M Delgado và cs, năm 1975), [14] nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến năng suất của vừng, kết quả cho thấy chiều cao cây
và chiều cao đóng quả chỉ ảnh hưởng rõ rệt khi mật độ thay đổi Với khoảng cách cây cách cây lớn vừng sẽ phân nhiều cành Với khoảng cách cây cách
Trang 35cây 30cm giống vừng Baco cho 7,30 cành cấp 1/cây trong khi đó khoảng cách cây cách cây là 2.5cm thì số cành chỉ có 0.4 cành cấp 1/cây Chiều dài quả là ngắn nhất và số hạt/quả là ít nhất khi khoảng cách 2,5cm Số quả/cây và khối lượng hạt/cây tăng lên khi khoảng cách rộng nhất Tuy nhiên tổng số quả/m2
giảm dần khi khoảng cách cây tăng dần và khối lượng hạt/m2 cao nhất khi khoảng cách cây ở 7.5cm
Tác giả (M Alpaslana và cs, năm 2001), [ 13] nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách hàng và nước tưới trong 2 năm từ 1998-1999 đến chất lượng của hạt vừng, kết quả đã chỉ ra rằng tưới nước ảnh hưởng rất rõ rệt đến hàm lượng dầu trong hạt trong khi đó khoảng cách hàng không ảnh hưởng lớn đến hàm lượng dầu trong hạt Trong khi đó hàm lương protein lại bị ảnh hưởng cả hai yếu tố là khoảng cách hàng và nước tưới Khoảng cách hàng 70cm cho hàm lượng protein trong hạt đạt giá trị cao nhất cao hơn khoảng cách hàng là
60, 50, 40cm Ngoài ra khoảng cách hàng và nước tưới đều ảnh hưởng đến acid oleic và acid linoleic trong hạt vừng (Riaz Ahamad và cs 2002), [17] nghiên cứu ảnh hưởng của 3 khoảng cách trồng 30, 45, 60 cm đến năng suất
và chất lượng của 2 giống vừng 92001 và TS3 Kết quả cho thấy năng suất hạt đạt cao nhất khi khoảng cách hàng là 30 cm đạt (0,7147 tấn/ha) và giống vừng TS3 cho năng suất và hàm lượng dầu cao hơn giống 92001 là 110% và 1,37% Tác giả (A Rahnama và cs 2006), [10] xác định khoảng cách hàng tối
ưu và mật độ cây cho giống vừng phân cành trong 2 năm từ năm 2000 đến
2001 kết quả chỉ ra rằng tăng khoảng cách hàng từ 37,5 đến 60cm đã làm tăng một số chỉ tiêu như đường kính thân, số quả/cây và khối lượng 1000 hạt Ngoài ra nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng tăng khoảng cách cây cách cây từ 5 – 20cm làm giảm chiều cao cây, tăng đường kính thân, tăng số quả/thân và tăng
số hạt/quả Với giống vừng phân cành trồng tại Khuzenstan thì khoảng cách hàng và cây cách cây là (37.5 x 10cm) cho năng suất đạt cao nhất
Trang 362.7.2 Những nghiên cứu về mật độ trồng vừng ở Việt Nam
Nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng vừng đã được các tác giả (Trần Đình Long đề cập trong báo cáo tổng kết nghiên cứu đề tài vừng và hướng dương ở Việt Nam giai đoạn 2001-2004), [7] Kết quả đã cho thấy mật
độ cho cây vừng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm của giống, điều kiện thâm canh Những giống không phân cành, ít thâm canh có thể trồng ở mật độ 30-35 cây/m2, các giống phân cành nhiều, chịu thâm canh được bố trí
ở mật độ 25-30 cây/m2 Đồng thời để thuận lợi cho việc tưới tiêu, chăm sóc, vừng cần được trồng theo hàng với khoảng cách 40cm trong phạm vi kích thước luống 1,4x10,0m Tuy nhiên trong thực tế sản xuất ở miền Trung vừng vẫn được gieo vãi, không lên luống với mật độ 35-50 cây/m2 Điều kiện này
đã và đang là một trong những hạn chế rất lớn đến công tác chăm sóc, tưới tiêu và phòng trừ sâu bệnh, là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới bị úng ngập sau nhiều ngày mưa, bão, làm thất thu nghiêm trọng hàng nghìn ha trong nhiều năm qua
Trang 37PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Giống vừng đen V10 nhập nội do Viện khoa học kĩ thuật Nông Nghiệp Việt Nam cung cấp giống làm đối tượng nghiên cứu
3.2 Thời gian địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại trung tâm thực hành thực nghiệm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Vụ xuân năm 2015
- Điều kiện thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành trên đất trồng mầu
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng, phát triển của giống vừng đen V10 tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
- Ảnh hưởng của mật độ đến yếu tố cấu thành năng suất của giống vừng đen V10
- Ảnh hưởng của mật độ đến tình hình sâu bệnh của giống vừng đen V10
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (Randomized Complete Block Design - RCBD) gồm 3 công thức và 3 lần nhắc lại
- Kích thước mỗi ô: 10m2 = 2m x 5m
Tổng diện tích thí nghiệm là: 90m2 (không kể rãnh và hàng rào bảo vệ)
Trang 38- Công thức 1(Đ/C): 35 cây/m2 (hàng cách hàng: 40 cm, cây cách cây: 7 cm)
- Công thức 2: 45 cây/m2 (hàng cách hàng: 40 cm, cây cách cây: 5 cm)
- Công thức 3: 55 cây/m2 (hàng cách hàng: 40 cm, cây cách cây: 4 cm)
Thời gian bắt đầu gieo trồng: Ngày 25/2/2015
Lượng phân bón cho 1 ha: 7 tấn phân hữu cơ + 70kg P2O5 + 40kg N + 60kg K2O + 300kg vôi bột/ha
- Cách bón:
Trang 39+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% vôi + 1/3 N + 100% P2O5
+ Bón thúc lần 1: Khi cây được 3 – 5 lá thật lượng bón 2/3 N + 1/3 Kali + Bón thúc lần 2: Bón 1/3 N + 2/3 Kali còn lại khi cây vừng ra hoa rộ kết hợp với vun gốc, làm cỏ, tưới nước
Chăm sóc sau khi trồng: Gieo hạt giữ ẩm, sau khi mọc 1-2 lá thật thì dặm, tỉa định cây đúng mật độ quy định
Làm cỏ và xới xáo chia làm 3 đợt:
+ Đợt1: Khi cây được 3-5 lá thật, xới nhẹ khắp mặt luống + Đợt 2: Khi cây được 10 - 15 lá, làm sạch cỏ, xới sát gốc, vun nhẹ và kết hợp bón thúc lần 1
+ Đợt 3: Khi cây ra hoa rộ ta tiến hành xới cỏ và bón thúc lần 2 hết lượng vôi, phân bón còn lại kết hợp vun cao gốc
Xác định cây mẫu theo dõi kết hợp với phòng trừ sâu bệnh hại
Tưới nước: Trong quá trình chăm sóc luôn phải giữ ẩm, khi bị khô phải tưới nước, nhất là thời kì đâm tỉa, ra hoa, tạo quả
Thu hoạch và bảo quản: Thu hoạch vào ngày nắng ráo
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu
- Các chỉ tiêu theo dõi, lấy cây mẫu 3 điểm theo đường chéo trong ô thí nghiệm
- Các chỉ tiêu theo dõi lấy ngẫu nhiên 5 cây/ ô Sau đó lấy kết quả trung bình
3.5.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển
- Ngày mọc: Tính khi có 50% số cây trong ô thí nghiệm có 2 lá mầm xòe ngang ra trên mặt đất
- Ngày ra hoa: Tính khi 50% số cây trong ô thí nghiệm có hoa đầu tiên
- Ngày chắc xanh: Tính khi có 50% số cây trên ô có quả đã vào chắc
- Ngày chín: Tính khi 95% số quả trên ô đã chín, khi mà vỏ quả chuyển sang màu vàng hoặc xám
- Chiều cao cây (cm): Đo từ vết 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính lúc thu hoạch, đo 5 cây mẫu/ô rồi tính trung bình
Trang 40- Đường kính thân (cm): Đo ở giữa đốt đầu tiên trên thân chính lúc thu hoạch của 5 cây mẫu
3.5.2 Chỉ tiêu về sinh lý
- Chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất): Đánh giá ở 2 thời kỳ hoa rộ và chắc xanh + Phương pháp theo dõi: Nhổ 5 cây liên tiếp trên ô, chuẩn bị 1dm2 bìa cứng, lấy lá ở các tầng giữa, gốc và ngọn cây xếp cho kín 1dm2 bìa cứng rồi cân nhanh được khối lượng PA, sau đó cân toàn bộ khối lượng lá của 5 cây (PB)
CSDTL =
PB
x mật độ (m2 lá/m2 đất)
PA x 100 x 5 Trong đó:
PA: Khối lượng 1 dm2 lá (g)
PB: Khối lượng toàn bộ lá của 5 cây (g)
- Khả năng tích luỹ vật chất khô: Nghiên cứu vào 2 thời kỳ hoa rộ và chắc xanh + Phương pháp theo dõi: Đem sấy khô phần trên mặt đất của 5 cây/ô Sấy đến khi cân 3 lần không đổi được PK Tính khả năng tích lũy vật chất khô theo công thức:
PK: Khối lượng khô của 5 cây
PT: Khối lượng tươi của 5 cây
3.5.3 Đánh giá tính chống chịu của các giống thí nghiệm
- Sâu, bệnh hại (Lamprosema Indicata Fabr): Đếm số lá bị hại/tổng số
lá/cây của 5 cây theo dõi
Tỉ lệ hại (%) = Số lá bị hại x 100
Tổng số lá điều tra