Nghiên cứu Ảnh hưởng của một số loại giá thể khác nhau đến khả năng sinh trưởng, phát triển của hoa tuylip Hà Lan trồng tại Thái Nguyên.. Với địa hình đa dạng, có nhiều chủng loại đất ở
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
VŨ MẠNH TOÀN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ GIỐNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ ĐẾN
SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA HOA TULIP HÀ LAN
TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên - năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
VŨ MẠNH TOÀN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ GIỐNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ ĐẾN
SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA HOA TULIP HÀ LAN
TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3Thầy giáo TS.Nguyễn Thế Huấn người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em
trong suốt quá trình thực hiện đề tài Đồng thời em cũng xin cảm ơn sự động viên của gia đình và các bạn trong lớp đã luôn cổ vũ, động viên và đồng
hành cùng em trong suốt thời gian thực tập
Do còn hạn chế về thời gian, về trình độ và kinh nghiệm thực tế của bản thân nên không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Vũ Mạnh Toàn
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất hoa ở các nước châu Á năm 2000 11
Bảng 2.2 Diện tíchvà giá trị sản lượng hoa cây cảnh ở Việt Nam năm 2003 14
Bảng 2.3 Tốc độ sản xuất hoa, cây cảnh giai đoạn 1994 – 2006 15
Bảng 2.4 Cơ cấu số lượng, chủng loại hoa ở Việt Nam qua các năm 16
Bảng 2.5 Các quốc gia sản xuất nhiều củ giống hoa Tulip 20
và củ giống hoa Lily trên thế giới ( 2002 – 2003 ) 20
Bảng 2.6 Giá trị tiêu thụ củ giống và hoa tulip cắt cành ở một số quốc gia trên thế giới 21
Bảng 2.7 Diện tích trồng tulip ở Hà Lan qua một số giai đoạn gần đây 22
Bảng 4.1 Đặc điểm hình thái cây và hoa của các giống hoa tulip 40
Bảng 4.2 Tỷ lệ sống và các giai đoạn sinh trưởng của các 41
giống tulip thí nghiệm 41
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống 43
tuylip nghiên cứu 43
Bảng 4.4 Động thái ra lá của các giống tuylip 45
Bản 4.5 Tỷ lệ hoa hữu hiệu và chất lượng hoa của các giống tulip 48
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế của 4 giống tham gia thí nghiệm 50
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của tulip thí nghiệm 51
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống hoa tulip thí nghiệm 53
Bảng 4.9 Động thái ra lá của hoa tuylip 56
Bảng 4.10 Tỷ lệ hoa hữu hiệu và chất lượng hoa tulip ở các giá thể khác nhau 58
Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng một số loại giá thể khác nhau 61
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống nghiên cứu 43Hình 4.2: Động thái ra lá của các giống tuylip nghiên cứu 46Hình 4.3: Một số chỉ tiêu về chất lượng của các giống tulip 48Hình 4.5 Động thái ra lá của hoa tuylip 57Hình 4.6 Tỷ lệ hoa hữu hiệu và chất lượng hoa tulip ở các giá thể khác nhau 59
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu giống 4
2.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu giá thể 4
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa trên thế giới và Việt Nam 8
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới 8
2.2.2 Sản xuất và tiêu thụ hoa ở Châu Á 11
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam 13
2.3 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ hoa Tulip trên thế giới và Việt Nam 17
2.3.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ hoa tulip trên thế giới 17
2.3.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ hoa Tulip ở Việt Nam 22
2 4 Nguồn gốc, phân loại và một số đặc điểm chính của cây hoa tulip 24
2 4.1 Nguồn gốc cây hoa tulip 24
2.4.2 Phân loại thực vật học 24
2.4.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoa tulip 26
2 4.4 Yêu cầu sinh thái của cây hoa Tulip 28
Trang 82.4.5 Kĩ thuật trồng hoa Tulip 30
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 36
3.1.3 Phạm vi nghiên cứu 36
3.2 Nội dung nghiên cứu 36
3 3 Phương pháp nghiên cứu 37
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 37
3.3.2 Các chỉ tiêu và Phương pháp nghiên cứu 38
3.4 Phương pháp xử lí số liệu 39
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống tuylip Hà Lan 40
4.1.1 Đặc điểm hình thái các giống tulip thí nghiệm 40
4.1.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của các giống hoa Tulip Hà Lan ….41
4.1.3 Động thái ra lá của các giống hoa tulip nghiên cứu 45
4.14 Tỷ lệ hoa hữu hiệu và chất lượng hoa của các giống Tulip nghiên cứu….47 4.1.5 Hiệu quả kinh tế của 4 giống tham gia thí nghiệm 50
4.2 Nghiên cứu Ảnh hưởng của một số loại giá thể khác nhau đến khả năng sinh trưởng, phát triển của hoa tuylip Hà Lan trồng tại Thái Nguyên 51
4.2.1.Ảnh hưởng của giá thể trồng đến tỷ lệ sống và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của hoa Tulip Hà Lan Tại Thái Nguyên 51
4.2.2 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của hoa Tulip Hà Lan Tại Thái Nguyên 53
Trang 94.2.3 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến động thái ra lá của hoa Tulip Hà Lan
Tại Thái Nguyên 55
4.2.4 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến tỷ lệ hoa và chất lượng hoa Tulip thí nghiệm 58
4.2.5 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng một số loại giá thể khác nhau 60
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
5.1 Kết luận 62
5.1.1 Kết luận thí nghiệm nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống tuylip Hà Lan 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hoa Tulip hay còn gọi là hoa Uất Kim Cương thuộc lớp một lá mầm
Liliopsida, bộ hành Liliales, họ hành Liliaceae, chi Tulila
Hoa tulip là biểu tượng của tình yêu hoàn hảo, của sự thắng lợi Hoa tulip có nhiều màu sắc như: Màu đỏ, màu vàng, màu kem, màu xanh,màu đỏ viền vàng, màu vàng viền trắng, màu hồng… Hình dáng hoa cũng đa dạng như: hình trụ, hình chén, hình vuông, hình tháp, hình lục lăng,…
Hoa tulip là một loài hoa đẹp được trồng rất nhiều ở Hà Lan, là loại hoa
có nhiều màu sắc và chủng loại, được người tiêu dùng ưa thích và đem lại giá trị kinh tế cao Ở nước ta hiện nay chỉ được trồng nhiều tại Mộc Châu và Đà Lạt, tại Thái Nguyên những năm gần đây cũng được đưa ra trồng thử nghiệm một số tính trạng
Thái Nguyên có vị trí gần thủ đô Hà Nội và là trung tâm của vùng trung
du Bắc bộ, có hệ thống giao thong thuận lợi, nối liền các tỉnh thành phố phát triển từ lâu, dân cư đông đúc, là nơi tập trung của nhiều trường Đại học và các
cơ quan Trung ương khác Đây là thị trường tiềm năng và là đầu mối thuận lợi cho việc tiêu thụ hoa, cây cảnh Với địa hình đa dạng, có nhiều chủng loại đất ở các độ cao khác nhau, có thể phát triển nhiều chủng loại hoa và có khí hậu Á nhiệt đới có 4 mùa rõ rệt, có một số tiểu vùng khí hậu nhỏ, vì vậy có thể phát triển một số loại hoa cây cảnh nhiệt đới, á nhiệt đới và cả ôn đới Bên cạnh đó được sự quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ và chỉ đạo của lãnh đạo các cấp các ngành từ tỉnh đến huyện, xã, phường trên địa bàn Thái Nguyên trong việc phát triển nghề hoa Người dân trồng hoa tại Thái Nguyên đều có một số kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vực sản xuất hoa, cây cảnh Việc sản xuất hoa đã khẳng định được hiệu quả kinh tế hơn hẳn so với các loại cây trồng khác trên
Trang 11địa bàn, chính vì vậy thị trường hoa của Thái Nguyên trong những năm qua
đã có nhiều bước chuyển nổi bật nhưng vẫn còn chưa đa dạng về chủng loại
và cũng chưa đáp ứng được nhu cầu chơi hoa của người dân
Để lựa chọn các giống hoa tulip có chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương, đáp ứng được thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng, đồng thời đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số
giống hoa tulip, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá một số giống và ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng, phát triển của hoa Tulip Hà lan tại Thái Nguyên”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Lựa chọn được giống hoa tulip có năng suất, chất lượng tốt và thích nghi với điều kiện sinh thái của Thái Nguyên và xác định một số loại giá thể phù hợp cho hoa Tulip để nâng cao năng suất, chất lượng hoa và tăng hiệu quả kinh tế sản xuất
Trang 121.3 Ý nghĩa đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu khoa học, đúc rút kinh nghiệm và củng cố những kiến
thức lý thuyết đã học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về cây hoa tulip trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Sự phù hợp của các giống hoa tulip với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái
Nguyên sẽ góp phần đa dạng hóa các chủng loại hoa của Thái Nguyên, từ đó nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu của ngành sản xuất hoa Tìm ra được loại giá thể phù hợp nhất để trồng hoa tuylip cho năng suất, chất lượng ổn định và hiệu quả kinh tế cao
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu giống
Cây hoa tuylip rất đa dạng và phong phú về giống, tuy nhiên mỗi giống thích hợp với từng điều kiện khí hậu tự nhiên khác nhau, sẽ cho năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nếu chúng ta nắm được đặc tính của mỗi giống được trồng trên địa bàn
Nghiên cứu về giống cho chúng ta nắm được phương pháp chăm sóc đối với từng giống, mỗi giống thích hợp mỗi kiểu chăm sóc khác nhau để chúng ta nắm được và đưa ra các biện pháp kĩ thuật, quy trình chăm sóc cụ thể cho từng giống
Vì vậy nghiên cứu về giống để đánh giá phẩm chất và phương thức chăm sóc cho từng giống là không thể thiếu trong các nghiên cứu, đánh giá về hoa tuylip, làm cơ sở cho việc trồng, chăm sóc và làm kinh tế từ loài hoa này
2.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu giá thể
đá, tuy nhiên giá thể được tạo ra phải có độ thông thoáng và giữ nước tốt
Giá thể giúp cây đứng vững và cung cấp một số chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây, mỗi loại giá thể tạo độ tơi xốp, khả năng giữ nước khác nhau, có
độ pH khác nhau, độ bền và chứa chất dinh dưỡng khác nhau vì vậy cần nghiên cứu để đánh giá mức độ phù hợp của từng loại giá thể để có thể ứng
Trang 14dụng vào việc trồng và chăm sóc hoa tuylip sao cho có năng suất, chất lượng
và độ hiệu quả cao nhất
2.1.2.2 Các nghiên cứu về giá thể
Giá thể là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều nước và oxi Ngược lại sỏi thô tạo ra những khoảng trống khá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh [16] Giá thể
có những đặc điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn định pH, thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, nhẹ và rẻ rất thông dụng Giá thể thì có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu), đá trân châu,…Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc Giá thể được để trong những khay chậu Khay chậu
có thể là gỗ, đất nung, sành sứ,…tùy vào điều kiện mà người trồng có thể chọn lựa và sử dụng theo sở thích của mình[17] Giá thể là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng Giá thể được sử dụng hiện nay gồm: Than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, trấu hun, sỏi, đất, bã nấm ,
* Mùn xơ dừa: Là giá thể tơi xốp, thoáng khí, dễ thấm nước, giữ ẩm
cao, không mang mầm bệnh, chứa nhiều vi sinh vật có lợi cho đất, rẻ tiền, dễ kiếm Tuy nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ
bị sâu bệnh
Trang 15* Trấu hun: Rẻ, dễ làm, thoát nước, nhẹ dễ vận chuyển, cung cấp chất khoáng, làm cứng cây Tuy nhiên không có chất hữu cơ, kém dinh dưỡng, hấp thụ nhiệt mạnh nên chỉ dùng cho giâm cây bằng hom và trồng cây giai đoạn đầu
Từ những năm 60 của thế kỷ 20, ở Liên Xô cũ đã tiến hành nghiên cứu
và ứng dụng kỹ thuật trồng cây con trong túi nilông trong nhà lưới có mái che
đã đạt
được kết quả cao Sau đó phương pháp này đã được phổ biến trong sản xuất nông nghiệp Phần cải tiến kỹ thuật vườn ươm, nó đã trở thành một nghề kinh doanh, một số nông dân sản xuất cây con với số lượng lớn để bán cho nông dân khác
Đất không phải là môi trường tốt cho cây con Cho thêm cát hoặc cát + than bùn sẽ tạo ra một hỗn hợp rất tốt Nhiều nơi đã và đang phát triển những hỗn hợp đặc biệt mà có thể được sử dụng Những hỗn hợp này không sử dụng đất ruộng khi đất ruộng bị ô nhiễm do sâu bệnh và do hoá chất Sự khác nhau của môi trường nhân tạo được thể hiện như sau:
Theo Lawtence, Neverell (1950)[12], cho biết ở Anh sử dụng hỗn hợp đất + than bùn + cát thô (tính theo thể tích) có tỷ lệ 2:1:1 để gieo hạt, để trồng cây là 7:3:2
Bunt (1965)[10] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (theo thể tích 1 than bùn rêu nước + 1 cát +2,4kg/m 3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng cây 3 than bùn rêu nước + 1 cát + 1,8kg/m3 đá vôi nghiền đều cho thấy cây con mập và khoẻ
Masstallerz (1977)[13] cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm sét và mùn cát sét và mùn cát
có tỷ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả Cho thêm 5,5 – 7,7g bột đá vôi và 7,7 – 9,6g Superfosfat cho một đơn vị thể tích
Nghiên cứu thành phần giá thể cho cây con cà chua ở Philippin, Duna (1997) [14] cho biết với một khay có kích thước 35x21x10 con có 72 lỗ (kích
Trang 16thước lỗ là 6x6cm) thì thành phần bầu có tỷ lệ đất, phân chuồng, trấu hun, là 1:1:1 (theo thể tích) và 10g NPK (15:15:15)
Đối với cây ớt nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt là
20-30oC.Số ngày trung bình sau khi gieo hạt cho tới khi cây mọc ở t0 đất khác nhau là khác nhau Sự nảy mầm của hạt có thể thay đổi phụ thuộc vào giống, chất lượng hạt giống và hỗn hợp đất gieo trồng
Theo Kaplina (1976)[11] thì đối với cùng một loại cây nhưng với thành phần giá thể khác nhau cho năng suất khác nhau: Để gieo hạt cải bắp cải xanh nếu thành phần giá thể gồm 3 phần mùn + 1 phần đất đồi + 0,3 phân bò và trong 1 kg hỗn hợp trên cho thêm 1g N, 4g P2O5, 1g K2O thì năng suất sớm đạt 181,7 tạ/ha
Nếu thành phần gía thể gồm than bùn 3 phần + mùn 1 phần + phân bò 1 phần và lượng chất khoàng như trên thì năng suất sớm đạt 170tạ/ha Không chỉ đối với cải bắp cải xanh mà đối với dưa chuột cũng thế Nếu thành phần giá thể cây con gồm 4 phần mùn + 1 phần đất đồi và trong 1kg hỗn hợp trên cho thêm 1g N, 4g P2O5, 1g K2O thì năng suất sơm đạt 238 tạ/ha.Nếu thành phần giá thể gồm 4 phần mùn + 1 phần đất trồng thì năng suất sớm đạt 189 tạ/ha
Berke (1997)[16] cho biết ở trung tâm nghiên cứu phát triển rau châu
Á sử dụng khay có 70 lỗ để gieo cây con Môi trường trong các khay là rêu than bùn, đất đã được chuẩn bị, hoặc hỗn hợp trong chậu được chuẩn bị từ: Đất + phân chuồng + trấu hun + chất khoáng và cát Sử dụnghỗn hợp 70% rêu than bùn và 30% chất khoáng thô Nên tự chuẩn bị hỗn hợp trong chậu sử dụng các thành phần không thô nếu có thể nên khử trùng bằng nồi hấp hoặc lò nóng ở nhiệt độ 120oC trong 2 giờ Ngoài ra cho thêm một lượng phụ P2O5 và K2O vào giúp cho sự phát triển của cây con
Trang 17Trung Tâm Nghiên cứu phát triển rau châu Á (AVRDC)[14] (1992) khuyến cáo việc sử dụng rêu than bùn hoặc chất khoáng được coi như môi trường tốt cho cây con
Theo Northen (1974)[15] cho rằng, việc cấy cây Phong lan con lấy ra
từ ống nghiệm nên dùng 3 phần vỏ cây thông xay nhuyễn + 1 phần cát hoặc 8 phần Osmida xay nhuyễn + 1 phần than vụn Giá thể này cho tỷ lệ sống của cây lan con cao và cây sinh trưởng phát triển tốt Có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần của giá thể ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng Tuỳ từng loại cây khác nhau mà giá thể có thành phần khác nhau.Tác giả Phạm Thị Kim Thu và Đặng Thị Vân (1997)[8] cho biết nền đất + phân hữu cơ + cát đen tỷ lệ là 1:1:1 có phủ một lớp cát đen 2 cm lên trên là tốt nhất khi đưa chuối nuôi cấy mô ra vườn ươm Đối với cây con được gieo từ hạt khả năng thích ứng với môi trường là cao hơn với cấy Invitro nhưng thời kỳ cây con ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển năng suất của cây sau này Vì vậy, việc xác định giá thể và hàm lượng chất khoáng cho cây con trong bầu cũng rất quan trọng.Tác giả Trần Khắc Thi (1980)[7] cho biết để trồng cây dựa trên diện tích dành cho cây vụ Đông, dùng bầu đất để gieo cây con với thành phần vật liệu gồm: 60% mùn trấu hoặc rơm đã mục + 20% bùn + 15% phân bắc mục và 5% cát (Tỷ lệ 3: 1: 0,75: 0,25) Có thể trộn thêm phân hoá học với số lượng 1m3 hỗn hợp rắc 0,5kg đạm Sulfat và lân +1,5kg Kali Kết quả cho thấy gieo bầu đảm bảo mật độ cây (do tỷ lệ cây sống cao); chất lượng cây con tốt hơn, tranh thủ được thời gian gieo sớm hơn từ 10-20 ngày; mỗi ha tiết kiệm được 120 –
150 công giảm nhẹ công gieo và tưới nước
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới
Hiện nay việc sản xuất hoa và cây cảnh trên thế giới đang phát triển
mạnh và mang tính thương mại cao Ngành sản xuất hoa cây cảnh mang lại
Trang 18nhiều thuận lợi cao cho nền kinh tế của một số nước, đặc biệt là những nước phát triển
Theo báo cáo năm 2005 của FAO, giá trị sản lượng hoa cây cảnh của toàn thế giới năm 1995 đạt 45 tỉ USD, đến năm 2004 tăng lên 66 tỉ USD ( tốc
độ tăng bình quân năm 20% ) trong đó giá trị xuất khẩu đạt từ 20 - 50 tỉ USD/năm
Theo số liệu thống kê của FAO, sản lượng hoa xuất khẩu chiếm nhiều hơn 13,362 tỉ USD năm 2006, trong đó hoa cắt cành là 6,12 tỉ USD chiếm 45,9% hoa chậu và hoa trồng thảm là 5,79 tỉ USD chiếm 43,3% ; loại chỉ dùng lá để trang trí là 893 triệu USD chiếm 6,7 % và các loại hoa khác là 559 triệu USD chiếm 4,1 %
Những nước có ngành hoa phát triển là Hà Lan, Pháp, Mỹ, Colombia, Kenia… Một số nước đang có kế hoạch đầu tư phát triển mạnh mẽ, đưa hoa lên thành một ngành kinh tế quan trọng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Italia… Trong các nước châu Âu, Hà Lan có thể xem là nước đứng đầu thế giới
về sản xuất và xuất khẩu hoa phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn 80 nước trên thế giới bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và cây trang trí Trung bình một năm Hà Lan cung caaos cho thị trường 7 tỉ bó hoa tươi và
600 triệu chậu hoa cảnh các loại, với tổng kim ngạch xuất khẩu là 2 tỉ USD/năm Tiếp đến là Mỹ, ngành trồng hoa có thể xem như một thành phần trong nền kinh tế Mỹ, với kim ngạch xuất khẩu là 10 tỉ USD/năm; bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và các loại lá để trang trí Ở các nước châu Á thì Nhật Bản là nước dẫn đầu về áp dụng thành tựu khoa học kĩ thuật tiên tiến để tạo ra các giống hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao Thế mạnh của nước này là cây Bonsai, nghệ thuật cắm hoa và lối trang trí độc đáo cho các vườn hoa công viên
Trang 19Sau hai thập kỉ phát triển, ngành sản xuất hoa Trung Quốc đã trở thành một ngành có hứa hẹn bởi sản xuất hoa phát triển hàng năm Diện tích trồng hoa của Trung Quốc là 117.000 ha vào năm 2000, số lượng hoa cắt cành được bán là 3,22 tỉ cành và hoa chậu, hoa thảm là 810 triệu cây Trung Quốc đang phấn đấu đẩy nhanh ngành công nghiệp hoa hoa phát triển và sẽ trở thành một trong những nước dẫn đầu châu Á về sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu hoa
Do cây hoa mang lại lợi nhuận khá cao nên một số một nước rất chú trọng đầu tư, đặc biệt là cho công tác nghiên cứu ứng dụng thành tựu tiên tiến nhất của các nghành nghề khác có nhiều liên quan như: Công nghệ sinh học, tin học, tự động hóa, vật lí, hóa học, ngành công nghiệp làm nhà kính – nhà lưới, ngành côn nghiệp sản xuất giá thể, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh,…
Kết quả mỗi năm trên thế giới tạo ra hàng trăm chủng loại hoa và giống hoa mới, đã xây dựng được nhiều “nhà máy” sản xuất hoa với hàng tỉ bông hoa chất lượng cao cung cấp cho người tiêu dùng đồng thời đã thúc đẩy rất nhiều ngành nghề khác phát triển
Theo phân tích và dự báo của các chuyên gia kinh tế, ngành sản xuất kinh doanh hoa trên thế giới còn tiếp tục phát triển và vẫn có tốc độ phát triển cao ( từ 12 – 15 % ) trong những năm tới
Đặc điểm cơ bản của các nước trồng hoa tiên tiến là nhà nước chỉ tạo
cơ chế chính sách, đầu tư hỗ trợ phát triển ban đầu cho việc nghiên cứu phát triển sản xuất ( kể cả việc chọn tạo giống, nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật ) đều do các công ty tư nhân đảm nhiệm
Phát triển hoa cây cảnh không chỉ đóng một vai trò quan trọng là mang lại lợi nhuận to lớn cho nền kinh tế của đất nước mà còn góp phần đáng kể trong việc cải tạo môi trường sống phục vụ cho nhu cầu thiết kế, xây dựng,
xây dựng, trang trí công cộng và làm cho con người gần gũi thiên nhiên hơn
Trang 202.2.2 Sản xuất và tiêu thụ hoa ở Châu Á
Châu Á có 134.000 ha trồng hoa chiếm 60 % diện tích trồng hoa thế
giới nhưng diện tích trồng hoa thương mại nhỏ Tỉ lệ trị trường hoa chiếm
20 % thị trường hoa thế giới Nguyên nhân là do các nước châu Á có phần lớn diện tích hoa trồng hoa trong điều kiện tự nhiên và chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nội địa
Trong đó các nước có diện tích trồng hoa lớn là Trung Quốc ( sản lượng đạt 2 tỉ cành/năm trong năm 2000 ) với các loại hoa chính như hoa hồng, cúc, phăng, layơn, đồng tiền; Ấn Độ có 65.000 ha ( giá trị 2050 triệu R.S/năm ); Thái Lan có 5.452 ha ( sản lượng 1.667 cành/năm ) ; Việt Nam có 3.500 ha
Tình hình sản xuất hoa ở các nước châu Á được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất hoa ở các nước châu Á năm 2000
( ha )
Sản lượng
1 Trung quốc 117.000 cành / năm 2 tỉ Hồng, phăng, cúc, lay ơn, đồng tiền
2 Ấn Độ 65.000 2.050 triệu RS / năm
Anthurium, huệ gysophila, cúc xuxi, nhài, hồng, lan, các loại
hoa ôn đới
3 Malaysia 1.218 3.370 triệu RM / năm Phăng, hồng, static, cúc huệ, gysophila
4 Srilanka 500 205 triệu cành/
năm
Hồng, phăng, static, cúc huệ,
gysophila
5 Thái Lan 5.425 1.667 triệu
cành / năm Lan, hồng, cúc, phăng, nhài
6 Việt Nam 3.500 1.060 triệu cành/ năm Lan, Anthurium, hồng, cúc
7 Philippin 2.035 850 triệu cành/
năm Lay ơn, heliconia
8 Indonesia 1.570 680 triệu cành / năm Lan, hồng, huệ nhài
( Nguồn: Nguyễn Xuân Linh, 2002 )
Trang 21Các loài hoa được trồng ở châu Á chủ yếu 2 nhóm giống hoa có nguồn gốc nhiệt đới và ôn đới Nhóm giống hoa có nguồn gốc nhiệt đới gồm các loài
hoa lan ( Orchidacea ), hoa đồng tiền ( Gerbera ) … Nhóm có nguồn gốc từ
ôn đới như hoa hồng ( Rosa sp ) , hoa cúc ( Chrysanthemum sp ) , layơn ( Gladiolus ) , huệ … Đặc biệt hoa lan là sản phẩm nhiệt đới , đặc sản hoa
châu Á được thị trường châu Âu và châu Mỹ ưu chuộng
Sản xuất hoa ở châu Á là một tiềm năng quan trọng thúc đẩy nghề trồng hoa phát triển trong tương lai Tuy nhiên hiện nay sự phát triển hoa ở các nước châu Á gặp các điều kiện thuận lợi và khó khăn sau:
Điều kiện thuận lợi của sản xuất hoa ở các nước châu Á:
+ Có nguồn gen cây phong phú và đa dạng
+ Khí hậu nhiệt đới , đất đai phù hợp ới sinh trưởng và phát triển của nhiều loại hoa
+ Nguồn lao động dồi dào, giá nhân công thấp
+ Chính phủ đầu tư, khuyến khích phát triển nghề trồng hoa
+ Đời sống con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu hoa tười ngày ngày càng lớn
Bên cạnh những thuận lợi trên, nghề trồng hoa châu Á còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế
+ Thiếu giống hoa đẹp, chất lượng cao, giống hoa thường phải nhập từ bên ngoài
+ Chưa đủ kĩ thuật sản xuất hoa thương mại
+ Vốn đầu tư cao, vay vốn với lãi suất cao
+ Cơ sở hạ tầng cho sản xuất, bảo quản, vận chuyển còn thiếu
+ Thông tin về thị trường chưa đầy đủ
+ Thiếu vốn đầu tư cho nghiên cứu , đào tạo cán bộ
Trang 22+ Thuế cao, sự kiểm dịch khắt khe của các nước nhập khẩu hoa
2.2 3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam
Nghề sản xuất hoa cây cảnh ở Việt Nam có từ lâu đời nhưng nó chỉ
được coi là một ngành kinh tế và có giá trị hàng hóa từ những năm 1980 Cũng như một số ngành trên thế giới, ngành kinh tế này có tốc độ phát triển khá nhanh
Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha, trong đó diện tích đất trồng hoa vẫn còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 0,02 % diện tích đất trồng trọt Diện tích trồng hoa tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống như Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân, Tây Tựu ( Hà Nội ); Đằng Hải, Đằng Lâm ( Hải Phòng ); Hoành Bồ, Hạ Long ( Quảng Ninh ); Triệu Sơn, Thành phố Thanh Hóa ( Thanh Hóa ); Gò Vấp, Hoóc Môn ( Thành phố Hồ Chí Minh ); Đà Lạt ( Lâm Đồng )… với diện tích trồng hoa khoảng 3.500 ha Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2003 cả nước có 9.430 ha hoa và cây cảnh các loại với giá trị sản lượng đạt 482,6 tỉ đồng
So với năm 1994, diện tích hoa năm 2009 đã tăng 4, 3 lần, giá trị sản lượng tăng 8,2 lần và mức tăng giá trị thu nhập/ha là 182 % Tốc độ tăng trưởng này là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác Sự tăng trưởng của ngành sản xuất hoa cây cảnh luôn ổn định và theo cấp số cộng trong suốt 15 năm qua
Trang 23
Bảng 2.2 Diện tíchvà giá trị sản lượng hoa cây cảnh ở Việt Nam năm 2003
( ha )
Giá trị sản lƣợng ( Tr.đ )
(Nguồn: Số liệu Cục thống kê, 2003)
Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được chú ý phát triển, diện tích hoa tăng nhanh Nhờ giá trị mà cây hoa đem lại nên phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm đây đã tăng rất nhanh, tăng theo từng năm cụ thể như sau:
Trang 24
Bảng 2.3 Tốc độ sản xuất hoa, cây cảnh giai đoạn 1994 – 2006
Mức tăng diện tích so
(Số liệu thống kê và điều tra của Viện nghiên cứu rau quả năm 2010)
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Việt Nam
có trên 8.000 ha trồng hoa Năm 2010, lượng hoa cung ứng ra thị trường khoảng 4,5 tỉ cành, trong đó xuất khẩu 1 tỉ cành, đạt kim ngạch 60 triệu USD Hoa xuất khẩu có 85 % hoa hồng, cúc và lan Sản xuất hoa cành của Việt Nam tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM, Đà Lạt,… Theo các chuyên gia kinh tế, doanh thu từ các vùng chuyên canh rất lớn, có nơi lợi nhuận lên đến 2 tỉ đồng/ha/năm
Về cơ cấu chủng loại hoa, cây cảnh ở Việt Nam: trước 1995, Việt Nam chủ yếu sử dụng những loại hoa, cây cảnh truyền thống, thông dụng như quất, đào, mai, hồng, cúc, layơn, thược dược, huệ,… Những năm gần đây một
số chủng loại hoa, cây cảnh mới, cao cấp đã dần được chú trọng và đang có
xu hướng tăng dần về số lượng và giá trị Bảng 2.4 dưới đây thể hiện được sự thay đổi đó
Trang 25Bảng 2.4 Cơ cấu số lƣợng, chủng loại hoa ở Việt Nam qua các năm
(Số liệu thống kê và điều tra của Viện Nghiên cứu rau quả năm 2010)
Trong bối cảnh Việt Nam ra nhập WTO thì ngoài việc tăng diện tích, sẽ
có nhiều doanh nghiệp ( trong và ngoài nước ), các trang trại đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh hoa cây cảnh, đồng thời những giống hoa truyền thống có
Trang 26phẩm chất kém, nhanh tàn sẽ được thay thế bằng các giống hoa cây cảnh mới
có chất lượng cao như Lily, lan, hồng, tulip, phăng, cúc lá nho,…
Đến năm 2015 sẽ chỉ còn những hộ gia đình sản xuất hoa cây cảnh nhỏ
lẻ ( chủ yếu cây trang trí, cây bonsai, cây dễ làm ) còn các loại hoa cao cấp sẽ chuyển dần cho các công ty, các chủ trang trại có đầy đủ cơ sở vật chất, công nghệ về thị trường đảm nhận
Hiện nay vấn đề quan tâm không chỉ là đảm bảo mục tiêu về diện tích trồng hoa mà còn là chất lượng và hiệu quả bền vững, cần phải đa dạng các loại hoa chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu
2.3 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ hoa Tulip trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ hoa tulip trên thế giới
2.3.1.1 Tình hình nghiên cứu hoa tuylip
Từ khi hoa tulip xuất hiện và trở thành cây trồng thương mại đã có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu về loài hoa đẹp này Trước tiên phải kể đến sự phân loại thực vật học của chi bởi Hall ( 1940 ) dựa trên đặc điểm hình thái học và tế bào học Sau đó, Botschantzeva ( 1982 ) đã xuất bản một luận án toàn diện về hoa tulip Gần đây một sự sửa đổi của chi Tulip dựa trên các đặc điểm về hình thái học và di truyền học tế bào, vượt qua dữ liệu đó, dữ liệu về việc phân bố địa lí đã được đề xuất bởi Van Raamsdonk và các cộng sự ( 1997 )
Ngoài ra sản xuất hoa hạt phấn 2n cũng được báo cáo ở Nhật bản bởi Okazaki ( 2005 ) Các chương trình mở rộng cũng được phát triển để điều tra tính khả thi của lai tạo và chọn giống với những đặc điểm quan trọng cho những người trồng và sản xuất củ giống hoa Đặc biệt những nỗ lực được đặt tính kháng bệnh, chủ yếu là nấm và các virus phá vỡ hoa tulip ( TBV ) Nghiên cứu cũng đề cập đến các khía cạnh khác , bao gồm cả việc truyền tải
Trang 27đặc điểm, sự phát triển của các xét nghiệm sàng lọc cho việc lựa chọn kiểu gen kháng và đánh giá đặc điểm của các giống thương mại ( Van Eijk và Leegwater, 1975 ; Van Eijk và các cộng sự, 1978, 1979 ; Van Eijk và Eikenboom, 1983, 1990 ; Romanov và các cộng sự, 1991 ; Eikenboom và các cộng sự, 1992 ) Các nghiên cứu đã cho thấy rằng một số chất đề kháng đặc biệt với TBV xảy ra trong Tulip fosteriana ( Eikenboom và các cộng sự,
1992 ; Eikenboom và Straathof, 1999 )
Các chương trình nghiên cứu về sử dụng kĩ thuật chuyển giao giữa các loài khác nhau trong lai giống để cho ra các đặc tính kháng bệnh, các đặc điểm về thẩm mĩ và đặc điểm sinh lí mới trong nguồn giống hoa tulip đã được phát triển ở Hà Lan Họ chỉ ra khả năng sử dụng các thể giao nhau khác loài
là bị hạn chế ( Van Eijk và các cộng sự, 1991; Van Raamsdonk và các cộng
sự, 1995 ) Hoặc ức chế hạt phấn không nảy mầm hoặc hạt phấn có sự nảy mầm nhưng sự phát triển của ống phấn kém là những biểu hiện thường được quan sát thấy ( Kho và Baer, 1971 ) Để khắc phục vấn đề này, đã có nhiều kĩ thuật khác nhau, bao gồm kĩ thuật nuôi cấy trong ống nghiệm invitro như thụ phấn trong ống nghiệm, nuôi cấy noãn, nuôi cấy lát mỏng của bầu nhụy ( Van Creij và các cộng sự, 1992, 1999; Okazaki, 2005 ), nuôi cấy phôi và cứu phôi (Custers và các cộng sự, 1997 ) đã được điều tra nghiên cứu Mặc dù một vài kết quả tích cực đã đạt được nhưng chúng lại có nhiều kiểu gen phụ thuộc Sau đó những nghiên cứu nuôi cấy đoạn thân trong ống nghiệm kết hợp với nuôi cấy chồi ngẫu nhiên xảy ra sau ở Hà Lan, tỉ lệ nhân giống lên đến 6.000
củ giống sau 2 năm là có thể thu được ( De Klerk và các cộng sự, 2005 ) Hiện nay, không kĩ thuật nào trong số những kĩ thuật này được sử dụng thường xuyên trong các chương trình nhân giống hoa tulip Nuôi cấy phôi đặc biệt là nuôi cấy phôi chưa trưởng thành được quan tâm cho việc lai giống giữa các loài khác nhau ( Custer và các cộng sự, 1992,
Trang 281995; Okazaki, 2005 ) Khả năng tái sinh của hoa tulip trong ống nghiệm là cần thiết cho các nhà lai giống để có được lợi thế của tất cả các kĩ thuật có thể
sử dụng được trong chuyên đề cây trồng nông nghiệp Ví dụ sản xuất thực vật đơn bội chưa được hoàn thiện mặc dù một số kết quả tích cực đã được công
bố ( Van Den Bulk và các cộng sự, 1994 ) Do bộ gen của hoa tulip có kích thước lớn hơn nên việc sử dụng phân tử đánh dấu bị hạn chế ( Krens và các cộng sự, 2004 ) Tuy nhiên việc sử dụng kĩ thuật Isoenzym còn cho phép nhận biết các giống hoa tulip ( Booy và các cộng sự,1993 ) Ngoài ra còn rất nhiều những tài liệu nghiên cứu có giá trị khác
2.3.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tuylip
Tình hình sản xuất củ hoa giống trên thế giới, nhập khẩu và sử dụng hoa cắt cành, hoa phát triển từ củ như hoa tulip và hoa huệ hiện nay chiếm một vị trí rất xác định Tình hình sản xuất hoa tulip diễn ra trong tại hơn 15 quốc gia trên toàn thế giới với diện tích sản xuất lớn nhất là ở Hà Lan với 10.800 ha ( chiếm 88 % ), 5 quốc gia tiếp theo chính là Nhật Bản ( 300 ha; 2,5 % ), Pháp ( 293 ha; 2,4 % ), Mỹ ( 280 ha; 2,4 % ), Ba Lan ( 200 ha; 1,6 % ) và cuối cùng Đức ( 155 ha; 1, 3 % ) Các quốc gia và vị trí được thể hiện ở bảng 2.5
Trang 29Bảng 2.5 Các quốc gia sản xuất nhiều củ giống hoa Tulip
và củ giống hoa Lily trên thế giới ( 2002 – 2003 )
hoa tulip ( ha )
Diện tích trồng hoa lily ( ha )
và Mỹ Hầu hết các quốc gia này chỉ sử dụng củ giống hoa cho sản xuất hoa
Trang 30diễn ra trong nước và một phần bán khô ( Thông qua các cửa hàng bán lẻ đến tay người tiêu dùng dể sử dụng cho các khu vườn )
Bảng 2.6 Giá trị tiêu thụ củ giống và hoa tulip cắt cành ở một số quốc gia
trên thế giới
( triệu USD )
Hoa cắt cành ( triệu USD )
tỉ củ hoa tulip, trong đó 2,3 tỉ củ ( 53 % ) được sử dụng làm vật liệu khởi đầu cho việc trồng hoa cắt cành Không ít hơn 1,3 tỉ củ trong số này được trồng để
Trang 31phục vụ nhu cầu trong nước Phần còn lại được xuất khẩu sang các nước trong
EU ( 0,63 tỉ củ ) và ngoài EU ( 0,37 tỉ củ ) Những nước nhập khẩu ngoài EU
là Nhật Bản với 179 triệu củ, Mỹ với 147 triệu củ, Na Uy với 60 trieeuh củ và Canada với 48 triệu củ
Tuy nhiên hiện nay diện tích trồng tulip đang có dấu hiệu suy giảm Dưới đây là bảng diện tích trồng tulip ở Hà Lan qua 3 giai đoạn ( 2003 –
2.3.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ hoa Tulip ở Việt Nam
2.3.2.1.Tình hình nghiên cứu hoa tuylip
Cây hoa tuylip ở Việt Nam cũng đã được chú ý đến trong một vài năm gằn đây, tuy nhiên tình hình nghiên cứu về loài hoa này cũng mới chỉ có một
số tài liệu nhắc đến như tài liệu của:
Đặng Văn Đông, Mai Thị Ngoan, Báo cáo thử nghiệm hoa Tulip tại
Hưng Yên và Gia Lâm – Hà Nội Báo cáo khoa học Viện nghiên cứu Rau
Quả 12/2009
Lê Thị Phượng (2011), Nghiên cứu đánh giá giống và biện pháp kỹ
thuật trồng hoa tulip tại Mộc Châu – Sơn La – Đại học Nông nghiệp
Trang 32Hoàng Mạnh Toàn (Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, 2013), “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống và biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa tulip tại Thái Nguyên” cho thấy khả năng sinh trưởng phát triển, chất lượng hoa của một số giống hoa tulip và xây dựng biện pháp kỹ thuật phù hợp trồng hoa tulip Nghiên cứu tập chung ở một số hướng: Khảo nghiệm
để chọn được những giống phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng
Nổi bật là một đề tài thảo luận của một nhóm sinh viên của Đại học Nông nghiệp Hà Nội Bài thảo luận này sưu tầm được những tài liệu về nguồn gốc, sự lan truyền, đặc điểm thực vật học, yêu cầu ngoại cảnh và một số biện pháp kĩ thuật trồng trọt hoa tulip… Ngoài ra trong chương trình “Cùng nông dân bàn cách làm giàu” phát trên sóng VCTV 6 ngày 1/1/2010 Qua cuộc trao đổi với anh Phạm Ngọc Tuấn, Giám đốc công ty Hoa nhiệt đới – Mộc Châu, Sơn La – là người thành công từ mô hình trồng hoa tulip, chương trình cung cấp những thông tin về việc chọn hạt giống, vấn đề phân bón, thổ nhưỡng, khí hậu và những trải nghiệm bài học thất bại trong quá trình trồng hoa
2.3.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tuylip
Ở nước ta hoa tulip tuy đã được trồng ở một số nơi, loài hoa này vẫn
chưa được phổ biến vì nhiều hạn chế của điều kiện tự nhiên và kĩ thuật Hoa tulip xuất hiện ở nước ta từ mùa xuân năm 1996 do công tu hoa Đà Lạt Hasfarm cung cấp Càng ngày hoa tulip càng có sự đa dạng về chủng loại và dần được biết đến Ở Việt Nam hiện nay có 2 nơi sản xuất hoa tulip lớn nhất
là Đà Lạt Hasfarm thuộc tỉnh Lâm Đồng và công ty Hoa nhiệt đới ở Mộc Châu – Sơn La Năm 2004, hoa tulip bắt đầu được trồng ở Mộc Châu – Sơn
La với 15 giống có đủ màu sắc ( duy nhất ở Việt Nam ) Mùa xuân năm 2007, công ty này cung cấp ra thị trường miền Bắc gần 300.000 cành tulip với giá dao dộng từ 15.000 – 30.000 VND/cây Còn lại trồng với mục đích phi thương mại không đáng kể
Trang 332 4 Nguồn gốc, phân loại và một số đặc điểm chính của cây hoa tulip
2 4.1 Nguồn gốc cây hoa tulip
Hoa tulip xuất xứ là một loài hoa dại, mọc ở Trung Á, lần đầu tiên
được trồng ở Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 1000 sau công nguyên Các trung tâm phát sinh của loài hoa này nằm ở dãy Thiên Sơn và dãy Pamir gần Islamabad ngày nay, gần giữa Nga và Trung Quốc Chính từ khu vực này, loài hoa tulip đã phát triển mau chóng về phía Tây và phía Tây Bắc, về phía Đông sang tận Trung quốc và Mông Cổ Vùng đất thứ hai của tulip được hình thành
là vùng Azerbaijan và Armenia Từ những khu vực này, loài hoa tulip đã phát triển mạnh sang những vùng lân cận, trong đó có vùng đất bao la của Châu
Âu Sau đó loài hoa này được Carolus Clusius ( một nhà sinh vật học nổi tiếng người Áo ) đưa vào Tây Âu và Hà Lan khoảng thế kỉ 17, được trồng trang trí trong vườn để chơi hoa tươi hoặc sử dụng làm thức ăn
Ngày nay, chúng ta vẫn tìm thấy loài hoa này mọc tự nhiên rất nhiều nơi trên các quốc gia Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Vịnh Baikal, Thụy Sĩ, Pháp, Italia Tại Hà Lan có đến 75 % sản lượng hoa tulip được trồng dành cho việc xuất khẩu
2.4.2 Phân loại thực vật học
Tulip là một loại hoa thuộc chi Tulipa gồm 150 loài, trong họ Liliaceae
( Jaap và các cộng sự, 2007 ) Hiện nay có hơn 3.500 giống được đặt tên ( J Van Scheepen, 1996 )
Trang 34Tuy cùng hoa đồ nhưng Tulip có nhiều kiểu dáng hoa khác nhau Qua
sự lai giống người ta tạo được nhiều giống hoa mới, và chỉ trong vòng 400 năm, nếu kể cả đến tulip hoang dại, tổng số hoa hiện nay có đến 4000 loại Tuy nhiên trên thị trường tulip ngày nay chỉ có khoảng vài trăm loại là thật sự được phổ biến
Dựa vào quy định quốc tế tùy theo nguồn gốc, đặc điểm của hoa và thời gian nở hoa, người ra chia tulip thành 4 nhóm ( Gruppen ) A, B, C, D và sắp chúng thành 15 giống ( Klassen )
Nhóm A: Gồm những loài nở sớm, từ giữa đến cuối tháng 4 và được
phân ra làm 2 giống Giống 1 với hoa có tràng hoa đơn giản ( einfache Tulpe ) như Tulip Princessin Irene, màu cam óng vàng điểm những vệt như ánh lửa màu đỏ đậm Hoa giống 2 có nhiều tràng hoa ( gefullte Tulpe ) như Tulip Hoangho màu vàng đậm Nhóm tulip này có cuống hoa ngắn ( kurzstielig ),
dễ trồng và cao khoảng 25 – 35 cm
Nhóm B: Có 3 giống, gồm những giống hoa nở giữa mùa, từ khoảng
cuối tháng 4 đến đầu tháng 5, có khi đến tháng 6; với hoa lớn, cánh đơn và
thường nhiều màu như Tulip Olga màu đỏ với phần trắng trên đầu, Tulip
Prince Charles với màu tím thật đậm hoặc Tulip Apeldoorn màu đỏ cam So
với nhóm A, Tulip nhóm B cao hơn khá nhiều, từ 35 – 60 cm
Nhóm C: Có 6 giống, gồm những giống hoa nở muộn, từ tháng 5, có
khi đến tháng 6 Nhóm tulip này có đặc tính là tăng trưởng tốt, chịu đựng được mưa to, hoa trổ lâu dài có khi hơn cả tháng, và tùy giống cao từ 30 – 75
cm, như Tulip Queen of Night ( 75 cm ) màu thật đậm gần như đen, Tulip
West Point ( 50 cm ) màu vàng tươi, Tulip Fantasy màu đỏ hồng, Tulip
Mount Tascona với nhiều tràng hoa màu trắng ngà ( 45 cm )…hay Tulip
Cottage – Tulpen chỉ cao 30 cm với cánh hoa màu vàng ánh điểm những sọc
xanh lá cây
Trang 35Nhóm D: Gồm những giống nguyên thủy hoang dại và các loại giống
lai ( Hydriden ) Năm 1958, nhóm D được chia ra làm 4 giống Tùy theo
giống, hoa có thời gian trổ bông khác nhau, kéo dài từ đầu đến cuối mùa ( giữa tháng 4 đến cuối tháng 6 ).Tulip nhóm này cao khoảng 15 – 40 cm như
Tulip Giuseppe Verdi màu đỏ đậm với viền vàng ( 30 cm ), Tulip Rosa
Empress màu hồng tươi ( 30 cm ), Tulip Red Riding Hood màu đỏ tươi ( 30
cm ),… Và điều đặc biệt cũng nên nhắc tới Tulip Tarda, một loại tulip dại có
chiều cao thấp, có nhiều hoa trên một cây, không như những tulip trong nhóm thường chỉ có một bông
Sự hệ thống hóa, phân loại về tulip đầu tiên được ghi nhận vào năm
1914 – 1915, tuy nhiên đến nay sự việc này vẫn chưa hoàn hảo vì cứ có thêm nhiều giống mới Dẫu sao sự thống kê hóa này cũng giúp ta dễ dàng hơn trong việc lựa chọn tulip thích hợp để trồng trọt
2.4.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoa tulip
Hoa tulip là cây thân thảo lâu năm, phần thân ngầm dưới đất gồm thân hành và rễ, phần trên mặt đất là thân giả, lá và hoa
2.4.3.1 Củ
Củ được tạo thành từ một vài lá vảy, trắng và mọng, chứa nước và các
chất dinh dưỡng, sắp xếp thành các vòng tròn đồng tâm Chính giữa củ là mô phân sinh đỉnh, ở đáy củ là đĩa sơ cấp Bên ngoài củ có một lớp vỏ áo bao bọc ( áo củ ), đa số vỏ củ của các loài có lông ở mặt trong Đây là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt giữa các loài Trong quá trình phát triển hình thành các chồi bên từ gốc củ, mầm chồi chính và đầu chính là cơ sở hình thành củ giống mới cung cấp cho nhân giống
2.4.3.2 Rễ
Là cơ quan để hút nước và dinh dưỡng cho cây Rễ tulip có màu trắng như màu củ, hình ống, rễ phát triển thành búi chùm, rất nhiều rễ do vậy tulip
Trang 36hút được rất nhiều nước và ưa ẩm Chiều dài thay đổi tùy theo giống, điều kiện thời tiết và điều kiện canh tác Rễ mọc ra từ đĩa củ
2.4.3.3 Thân
Thân của cây hoa tulip thuộc loại thân thảo, có chiều dài thay đổi qua các thời kì sinh trưởng có thể từ 10 – 70 cm Khi nhiệt độ cao, thân cây sinh trưởng nhanh, lóng cây vươn dài Thân cây có màu xanh giống màu lá hay có màu đậm hơn, nhất là phần thân gần với hoa, có lông hoặc không có lông
2.4.3.4 Lá
Lá có rất nhiều hình dạng khác nhau Từ dạng dài, dạng mũi mác, elip, ovan hay hình trứng; dạng hình trứng ngược hoặc mác ngược cho đến dạng chữ nhật Màu sắc của lá thường là màu xanh lá cây sáng, một vài loài có đốm đen trên lá, dạng sọc dọc hay ngang, thỉnh thoảng cũng có vạch lông ngắn mép lá
Về kích thước lá cũng có sự biến động khá lớn Chiều rộng biến động
từ dưới 1 – 16 cm, chiều dài biến động từ 10 – 25 cm, có khi lớn hơn 30 cm Những lá có dạng bản thường có thịt lá dày, có bẹ ôm vào thân cây
2.4.3.5 Hoa
Phần lớn mỗi cây tulip chỉ mang một hoa trên thân chính, tuy nhiễn cũng có một vài loài có đến 4 hoa Hoa có thể là hoa đơn hoặc hoa kép Cánh đài cùng màu với cánh tràng Hoa có hình cốc hay hình chén với một đế hoa dạng tròn hay hình phễu, một số giống hoa tulip có hoa hình ngôi sao, hoa kép hoặc một số giống hoa có cánh hoa kéo dài, hoặc tua… Một đặc điểm của hoa tulip là không có tuyến mật
Về cấu tạo hoa bao gồm đế hoa, nhị hoa và bầu nhụy Đế hoa tulip có nhiều màu sắc khác nhau với các phần còn lại của hoa., có mép màu trắng hoặc màu vàng ở chỗ tiếp giáp với màu sắc hoa Nhị hoa có 6 cái riêng biệt được xếp thành vòng tròn xung quanh bầu nhụy Đầu chỉ nhị mang bao bao
Trang 37phấn, chỉ nhị thường rất ngắn hoặc một vài giống chỉ có chỉ nhị tiêu biến Bao phấn được đính gốc hoặc đính chung trụ với chỉ nhị, có dạng hình thoi đến gần elip Một nửa các giống tulip có chỉ nhị không có lông Còn một nửa chỉ
có chỉ nhị được bao phủ bằng một lớp lông tơ Về bầu nhụy thường có màu xanh, vàng hay trắng; đầu vòi được chia làm 3 thùy, trên đầu vòi nhụy có chất nhày để giữ hạt phấn khi thụ phấn
2 4 3.6 Quả
Quả tulip thuộc loại quả nang với một lớp vỏ bằng da bao bọc và có
hình elip đến hình cầu Trong mỗi quả nang đó có chứa nhiều ngăn, hình đĩa
và hạt giống xếp thành 2 hàng trong mỗi phòng
Theo Hoàng Ngọc Thuận ( 2005 ), nhiệt độ có ảnh hưởng đến cường
độ thoát hơi nước, hàm lượng nước trong lá, sức hấp thu các chất dinh dưỡng
và cường độ quang hợp của cây hoa, thời gian sinh trưởng, quá trình phân hóa mầm hoa, thời gian nở hoa và độ bền hoa cắt, cũng như độ bền hoa tự nhiên ở hầu hết các loài hoa Một khoảng nhiệt độ thấp là yêu cầu thiết yếu của nhiều loại củ thực vật
Trong hoa tulip, hoa được hình thành qua cảm ứng ở nhiệt độ 20 – 25 o
C, sự kéo dài của cuống hoa và nở hoa đúng đúng phụ thuộc vào sự kéo dài của khoảng thời gian nhiệt độ thấp ( < 10 oC ) Nhiệt độ cao thường gây ra đột biến tạm thời, như số nhân của những cánh hoa Ở nhiệt độ dưới 8 oC hoa phát triển nhưng không mở Hoa tulip cần khoảng 3 tuần có nhiệt độ ban ngày trên 10
oC để đảm bảo cho rễ phát triển thích hợp Nhiệt độ ban đêm từ 4 – 10 o
C
Trang 38Khi bảo quản củ giống ở 5 oC trong một thời gian dài hơn 20 tuần, mầm hoa tulip trong củ giống bị hoại tử ( De Hertogh và Le Nard, 1993 ) Hoa phát triển bình thường sau 12 tuần lưu trữ khô ở nhiệt độ làm lạnh là 5 oC,
từ 18 – 24 tuần hoa bị hoại tử rõ ràng và tỉ lệ tăng từ 36 % lên 95 % khi lưu trữ đến 6 tuần và khi lưu trữ đến 28 tuần thì hoại tử mầm trực tiếp sau khi trồng ( M.G Van Kilsdonk, K Nicoky, J.M Franssen, Kolloffel, 2001 )
2 4.4.2 Ánh sáng
Ánh sáng đóng vai trò quyết định đối với sự sống của cây hoa và cây cảnh, trong tạo năng suất và đặc biệt là chất lượng của hoa nói chung và hoa cắt nói riêng Theo Haw ( 1986 ), xác định thời gian chiếu sáng thích hợp cho các thời kì mọc 10h /ngày; trong điệu kiện nhiệt độ 18 oC thì chất lượng hoa tăng khi thời gian chiếu sáng là 11h Cường độ chiếu sáng còn ảnh hưởng đến
sự phát triển của nấm bệnh và côn trùng dịch hại cũng như tính chống chịu của cây hoa, độ bền hoa cắt
Cây hoa tulip cần ánh sáng mặt trời đầy đủ nên trồng theo hướng nam Ở nơi có vĩ độ từ 7 – 100 tức là những nơi có nhiệt độ cao và ánh nắng mặt trời lớn nên trồng vào nơi có sự che bóng râm ít nhất là bóng râm vào lúc giữa trưa
2 4.4 3 Nước
Hoa tulip tuy thích hợp đất khô những vẫn cần được cung cấp đủ độ
ẩm trong suốt mùa xuân Tránh tưới vào thân cây và hoa sẽ gây ra bệnh thối
do nấm Củ hoa cần phải được giữ khô trong suốt mùa hè và mùa đông Giống ra hoa vào mùa Thu: Tránh nước đọng trên bề mặt đất trong thời gian giâm Giống tulip Xuân và Hè: Bắt đầu tưới khi nụ hoa đầu tiên xuất hiện trên cây nếu đất bị khô, tưới ngấm để nước ngấm sâu xuống 15 – 20 cm Khi cây ra nụ giữu mực nước khoảng 2,5 cm trong một tuần
2 4.4.4 Đất
Trang 39Độ chua pH thuận lợi cho sự phát triển của hoa tulip là 6 – 7 Đất phải
thoát nước tốt, kết cấu hạt đất khoảng 30 cm ( 45 cm thì càng tốt ) Nên trồng
ở nơi không có cạnh tranh của những cây khác Không nên trồng tulip ở đất
đã trồng tulip 2 – 3 năm
2 4.4.5 Dinh dưỡng
Kali và photpho có vai trò lớn trong việc nâng cao giá trị hoa tulip còn nitơ thì sử dụng ít hơn Nếu thừa dinh dưỡng sẽ gây hiện tượng sinh trưởng quá mức dẫn đến cây dễ phát sinh nấm bệnh
N, P, K đều có xu hướng làm tăng chiều cao cây N làm cho lá xanh đậm, tăng K làm trì hoãn quá trình ra hoa Trọng lượng và số lượng của củ giống là do N quyết định Sự khác biệt giữa các chồi được nâng cao bởi N và
Trang 40Đất trồng hoa tulip phải được thoát nước tốt và đất kiềm là tốt nhất Nếu đất có tính axit thì phải bón vôi trước khi trồng Đào xới đất kĩ lưỡng, nhỏ mịn, thêm những loại phân hữu cơ mục nát hoặc là trộn than bùn cho những nơi đất còn nghèo dinh dưỡng Đất phải có đủ độ sâu Đất thoát nước tốt nhưng vẫn có khả năng giữ ẩm tốt Trước khi trồng 10 ngày hoặc 1 tuần nên xử lí đất bằng hóa chất để loại trừ cỏ dại và mầm mống gây bệnh
2 4.5.4 Mật độ, khoảng cách
Tùy thuộc vào kích thước củ giống hoa mà trồng với khoảng cách từ
12 – 30 cm giữa các củ Trồng trên luống rộng 1 m Nếu chu vi củ từ 8 – 9 cm thì mật độ là 2 triệu củ /ha, nếu chu vi củ từ 10 – 11 cm thì mật độ là 500.000 củ/ha
Đào hố sâu khoảng 10 cm, lót phân xuống dưới, trộn nhẹ phân với đất Đặt củ hoa xuống đất, giữu phần mềm ở trên, phần rẽ ở dưới Lấp đầy đất lại Chú ý nên bỏ lớp áo củ trươc khi trồng Che chắn để tránh bị phá hoại bởi động vật, đặc biệt là chuột
2 4.5.6 Chăm sóc
Tưới nước: Sau trồng tưới nước đẫm vào đất, nếu thời tiết mưa đủ
ẩm thì không cần tưới Nếu thời tiết khô hanh thì tưới 1 lần/ngày trong tuần đầu Chú ý tưới đủ ẩm, không tưới quá nhiều sẽ gây thối củ Khi hoa nở phải cung cấp thường xuyên