Từ thực tế đó, nghiên cứu này được triển khai nhằm tiến hành những đánh giá cơ bản về mối liên hệ giữa việc sử dụng rượu bia ở sinh viên và các vấn đề về sức khỏe tâm thần trong nhóm này
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Đặng Hoàng Minh và BS Lâm Tứ Trung là người đã hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này Cách riêng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Đặng Hoàng Minh, người đã luôn dành thời gian quan tâm hướng dẫn, đưa ra những định hướng và những lời góp ý sâu sắc cho luận văn của tôi Phong cách làm việc nghiêm túc, cởi mở và gần gũi của cô đã giúp tôi giải quyết được nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong Khoa các Khoa học Giáo dục, quý thầy cô ở Phòng Đào tạo trường Đại học Giáo dục đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Cảm ơn ngôi trường đã gắn bó cùng tôi suốt 3 năm học vừa qua
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình học tập 3 năm qua và đặc biệt trong thời gian tôi hoàn thành luận văn nghiên cứu này
Một cách nào đó, tôi cũng đã cố gắng hết sức để hoàn thành luận văn này một cách nghiêm túc trong khả năng của mình Tuy nhiên tôi cũng hiểu rằng đây chỉ là những bước đi chập chững đầu tiên của tôi trên con đường học vấn mà mình đang theo đuổi Vì thế, luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi chân thành mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của quý thầy cô và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
DHKHXH&NV Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà nội
DHBKHN Đại học Bách Khoa Hà Nội
DHSKDA Đại học Sân khấu Điện ảnh
SAVY Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên
Việt Nam
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Chữ viết tắt Xuất phát từ cụm từ tiếng
Anh
Cụm từ tiếng Việt đầy
đủ
Bản tự báo cáo sức khỏe tâm thần dành cho người trưởng thành từ 18-59 tuổi
AUDIT Alcohol Use Disorder
Identification Test
Công cụ sàng lọc sử dụng chất có cồn
DSM-IV Diagnostic and Statistical
Manual of Disorders, 4th
Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (Hội tâm thần học Hoa Kỳ, lần thứ 4)
ICD-10 Internatinal Classification
NCS The National Comorbidity
Survey
Khảo sát quốc gia về rối loạn đồng diễn
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục tiêu nghiên cứu 11
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 12
5 Câu hỏi nghiên cứu 13
6 Giả thuyết khoa học 13
7 Giới hạn nghiên cứu 13
8 Phương pháp nghiên cứu 14
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 15
10 Cấu trúc luận văn 15
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 16
1.1 Khái niệm sức khỏe tâm thần 16
1.2 Khái niệm rối loạn tâm thần và phân loại 18
1.2.1 Khái niệm 18
1.2.2 Phân loại 19
1.3 Khái niệm và phân loại chất gây nghiện 21
1.3.1 Khái niệm 21
1.3.2 Phân loại 24
1.3.3 Các hình thái sử dụng chất gây nghiện 27
1.3.4.Những yếu tố tác động tới trải nghiệm sử dụng chất gây nghiện 28
1.3.5 Tác động và hậu quả từ việc sử dụng chất gây nghiện 30
1.3.6 Cơ chế và nguyên nhân gây nghiện 31
1.4 Đồ uống có cồn và rượu bia 44
1.4.1 Định nghĩa và phân loại 44
1.4 2 Một số khái niệm khác liên quan 45
1.4 3 Tác động của rượu bia và đồ uống có cồn lên cơ thể 47
Trang 71.5 Những nghiên cứu về mối tương quan giữa việc sử dụng rượu bia và
các vấn đề sức khỏe tâm thần 49
1.5.1 Nghiên cứu ở phương Tây 49
1.5.2.Nghiên cứu ở Việt nam 53
CHƯƠNG II TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57
2.1 Đặc điểm của khách thể nghiên cứu 57
2.2 Công cụ nghiên cứu 61
2.3 Chiến lược xử lý số liệu 64
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 64
3.1 Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần trong nhóm sinh viên 64
3.2 Thực trạng sử dụng rượu bia hiện nay trong nhóm sinh viên 69
3.3 Tương quan giữa việc sử dụng rượu bia vơi các vấn đề SKTT 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 85
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại CGN theo tác động chủ yếu lên hệ thần kinh TW 24
Bảng 1.2 Chất gây nghiện và vị trí tác động 33
Bảng 1.3 Bảng phân loại rượu bia 44
Bảng 1.4 Bảng nguy cơ sử dụng quá liều 45
Bảng 1.5 Các rối loạn đồng diễn phổ biến khi sử dụng rượu bia 48
Bảng 2.1 Số lượng và tỉ lệ phần trăm sinh viên tham gia nghiên cứu 56
Bảng 2.2 Phân bố tỉ lệ sinh viên các trường theo giới tính và năm học 57
Bảng 2.3 Một số công cụ sàng lọc và đánh giá việc sử dụng CGN 59
Bảng 3.1 Tỉ lệ phần trăm sinh viên có nguy cơ về SKTT 67
Bảng 3.2.Tỉ lệ phần trăm sinh viên có nguy cơ về sức khỏe tâm thần 68
Bảng 3.3.Tỉ lệ phần trăm sinh viên sử dụng rượu bia phân theo mức độ 69
Bảng 3.4 So sánh các nhóm nguy cơ sử dụng rượu bia theo giới tính 70
Bảng 3.5.Mức độ sử dụng rượu bia 70
Bảng 3.6 Tỉ lệ phần trăm sinh viên phân theo mức độ thường xuyên sử dụng rượu bia 72
Bảng 3.7 Tỉ lệ phần trăm sinh viên phân theo mức độ uống 72
Bảng 3.8 Tỉ lệ phần trăm sinh viên bị thương vì sử dụng rượu bia 74
Bảng 3.9.Tỉ lệ phần trăm sinh viên gây lo lằng vì sử dụng rượu bia 74
Bảng 3.10 Tương quan giữa việc sử dụng rượu bia và các vấn đề SKTT 76
Bảng 3.11 Tương quan giữa việc sử dụng rượu bia và nhóm các vấn đế SKTT 78
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH MINH HỌA
Hình 1.1 Hình thái sử dụng chất gây nghiện 26
Hình 1.2: Mô hình tương tác trải nghiệm sử dụng CGN của Zinberg 28
Hình 1.3 Mô hình tác hại của Thorley 29
Hình 1.4: Mô hình một tế bào thần kinh 31
Hình 1.5: Mô hình hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh 32
Hình 1.6: Não bộ một người trước và sau khi sử dụng chất gây nghiện 34
Hình 1.7 Hình minh họa cho một đơn vị cốc/ ly tiêu chuẩn 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những lo ngại về mức độ tiêu thụ rượu bia và các vấn đề sức khỏe liên quan đến việc sử dụng rượu bia trên thế giới ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm Điều này được được phản ánh trong các chính sách phát triển gần đây tại nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, các chính sách này hiện mới chỉ tập trung chủ yếu vào việc giảm những tác hại gây nên về mặt sức khỏe thể chất, các hành vi bạo lực và chống đối xã hội Trong khi đó, các vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến việc sử dụng ruợu bia vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng: những người sử dụng rượu bia ở quá mức giới hạn cho phép dễ gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần cao hơn so với những người khác Theo báo cáo được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (2012): khoảng 50% các cá nhân bị rối loạn tâm thần nặng có liên quan tới việc lạm dụng thuốc, 7% có liên quan tới việc lạm dụng rượu và 53% có liên quan tới việc sử dụng ma túy Trong số tất cả những cá nhân được chẩn đoán bị bệnh tâm thần, có tới 29 % là lạm dụng rượu hoặc lạm dụng ma túy [15] Tại Anh, nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trầm cảm và lo âu tăng gấp hai lần ở những người nghiện rượu nặng hoặc có vấn đề về rượu Tại Scotland, hơn một nửa số người nhập viện vì cố tình làm tổn thương bản thân cho biết họ đã uống rượu say ngay trước hoặc trong khi làm việc đó Khoảng 15% trong số những trường hợp tự tử là những người nghiện rượu [18] Việc uống rượu ở mức độ cao hơn 30 ly tiêu chuẩn mỗi ngày trong tuần đôi khi có thể gây ra những rối loạn tâm thần nghiêm trọng cùng với sự phát triển các trạng thái hoang tưởng và ảo giác Một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng việc lạm dụng bia rượu làm gia tăng 8 lần nguy cơ gặp phải các rối loạn tâm thần ở nam giới và 3 lần ở nữ giới mà không phụ thuộc vào việc trước đó cá nhân có bị rối loạn tâm thần hay không [22] Điều đặc
Trang 11biệt là các con số thống kê ở trên lại thường được đề cập nhiều hơn ở nhóm đối tượng thanh niên, đặc biệt là đối tượng sinh viên đại học (Goddar, 2006, Pincock, 2003, Phillips, Thompson, và Nicholls, 2003; Gill, 2002)
Tại Việt Nam, nghiên cứu tại Tp Hồ Chí Minh cho thấy có tới 25,5% những người trong độ tuổi từ 18 đến dưới 28 uống rượu bia “trên ba lần/tuần”, 13% uống “ba lần/tuần” và 11,9% “hai lần/tuần” Trong đó 55,7% đối tượng khảo sát uống từ 3 lít trở lên và 11,9% uống từ 2-3 lít trong ngày [4] Vũ Thị Minh Hạnh nhận định: “Nhiều loại bệnh hiện nay liên quan đến việc sử dụng rượu bia như loạn thần do sảng rượu… đã gia tăng ở mức độ đáng lo ngại” [36] Trong khi đó, các nghiên cứu đánh giá về mối tương quan giữa hai vấn đề này ở Việt Nam vẫn còn hết sức mờ nhạt Điều này có thể dẫn đến những thiếu sót trong việc xác định và xây dựng mô hình điều trị cho những bệnh nhân có rối loạn liên quan tới việc sử dụng rượu và các chất ma túy khác
Từ thực tế đó, nghiên cứu này được triển khai nhằm tiến hành những đánh giá cơ bản về mối liên hệ giữa việc sử dụng rượu bia ở sinh viên và các vấn
đề về sức khỏe tâm thần trong nhóm này nhằm gia tăng những kiến thức và hiểu biết cơ bản về thực trạng của vấn đề, đồng thời đánh giá những tác hại có thể có về mặt sức khỏe tâm thần từ việc sử dụng rượu bia của sinh viên hiện nay Trên cơ sở đó, nhằm giúp những nhà hoạt động trong công tác lâm sàng, những nhà hoạch định chính sách và các tổ chức xã hội có định hướng trong công tác phòng ngừa, can thiệp và điều trị nhằm làm giảm tác hại liên quan đến việc sử dụng rượu bia, nâng cao vấn đề sức khỏe tâm thần trong cộng đồng nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá về mối tương quan giữa việc sử dụng bia rượu và các vấn đề sức khỏe tâm thần trong nhóm sinh viên trên địa bàn Hà Nội, qua đó đề xuất một
số giải pháp nhằm hạn chế những nguy cơ và tác hại từ việc sử dụng rượu bia
Trang 123.Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về sức khỏe tâm thần và chất gây nghiện hiện nay và mối quan hệ giữa việc sử dụng rượu bia và các vấn đề sức khỏe tâm thần
3.3 Khảo sát và đánh giá mức độ nguy cơ từ việc sử dụng rượu bia trong nhóm sinh viên trên địa bàn Hà Nội
3.4 Khảo sát và đánh giá các vấn đề sức khỏe tâm thần trong nhóm sinh viên trên địa bàn Hà Nội
3.5 Phân tích và đánh giá về mối tương quan giữa việc sử dụng rượu bia
và các vấn đề sức khỏe tâm thần trong nhóm sinh viên này
3.7 Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế những nguy cơ và tác hại từ việc
sử dụng rượu bia của sinh viên
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học thuộc các nhóm ngành Khoa học
Xã hội, Văn hóa – Nghệ thuật, Kinh tế và Kỹ thuật trên địa bàn Hà Nội
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Mối tương quan giữa việc sử dụng rượu bia và các vấn đề sức khỏe tâm thần trong các nhóm sinh viên này
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Việc sử dụng ruợu bia của sinh viên hiện nay ở mức độ như thế nào?
- Các sinh viên này hiện có đang gặp phải vấn đề gì về sức khỏe tâm thần hay không?
- Có mối liên hệ nào giữa việc sử dụng rượu bia và các vấn đề sức khỏe tâm thần ở trong nhóm này không?
6 Giả thuyết khoa học
Có một mối tương quan chặt chẽ giữa việc sử dụng rượu bia và các vấn để sức khỏe tâm thần ở trong nhóm sinh viên hiện nay Theo đó, những sinh viên
Trang 13sử dụng rượu bia ở mức độ lạm dụng và phụ thuộc thường gặp nhiều vấn đề
về sức khỏe tâm thần hơn so với nhóm sinh viên còn lại
7 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào nhóm đối tượng sinh viên thuộc các khối ngành
Xã hội, Nghệ thuật, Kinh tế, Kỹ thuật và Sư phạm trên địa bàn Hà Nội Trong
đó, chúng tôi lựa chọn ra một số trường tiêu biểu đại diện cho mỗi nhóm ngành, gồm: Đại học Y Hà Nội (Khối ngành Y-Dược), Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (Khối ngành Khoa học Xã hội), Đại học Sân Khấu Điện Ảnh (Đại diện cho khối ngành Văn hóa-Nghệ thuật), Đại học Bách Khoa (Đại diện cho khối ngành Kỹ thuật), Đại học Ngoại Thương (Đại diện cho khối ngành Kinh tế), Đại học Sư phạm Hà nội (Đại diên cho khối ngành Sư phạm)
Trong mỗi nhóm ngành đào tạo, lựa chọn ngẫu nhiên từ 30-50 sinh viên bao gồm cả nam và nữ trong độ tuổi từ 18-24 và không giới hạn phạm vi năm học
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu về mối tương quan giữa việc sử dụng rượu bia và các vấn đề sức khỏe tâm thần thông qua các công trình nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí khoa học, các tài liệu, ấn phẩm đã xuất bản, hệ thống website và tài liệu thư viện trực tuyến
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Các số liệu thống kê được sử dụng trong luận văn chủ yếu được tổng hợp
và phân tích từ bảng hỏi chuẩn hóa
Hai công cụ đo lường chính là bảng sàng lọc nguy cơ từ việc sử dụng rượu
bia“The Alcohol Disorders Identification Test” (AUDIT) của tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) và bản tự sàng lọc các vấn đề sức khỏe tâm thần “Adult Self
Report” (ASR) dành cho người trưởng thành từ 18 – 65 tuổi của
T.Achenbach
Trang 14Sử dụng các phương pháp xử lý số liệu thống kê để bổ trợ, bổ sung việc xử
lý kết quả thông qua phần mềm xử lý số liệu SPSS
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm sức khỏe tâm thần
Từ lâu, khái niệm sức khỏe tâm thần vẫn được sử dụng phổ biến trong cộng đồng nhằm để chỉ tình trạng một cá nhân đang mắc phải các bệnh về tâm thần cần đến sự can thiệp đặc biệt của thuốc hoặc trong môi trường bệnh viện Tuy nhiên, những hiểu biết về mặt khoa học trong lĩnh vực này, cho đến nay,
đã giúp mở rộng khái niệm này một cách toàn diện và đầy đủ hơn Theo đó, trong báo cáo năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa sức khỏe tâm thần như là một “trạng thái lành mạnh mà trong đó, cá nhân nhận ra những năng lực của chính mình, có thể đương đầu với các stress thông thường của cuộc sống, có thể làm việc năng suất và hiệu quả, và có thể tạo ra những đóng góp cho chính cộng đồng của mình” [31] Định nghĩa này của WHO cho thấy 3 yếu tố chính tham gia trong việc đánh giá sức khỏe tâm thần, bao gồm: trạng thái hạnh phúc, thực hiện chức năng cá nhân hiệu quả và thực hiện chức năng cộng đồng hiệu quả
Cùng với WHO, trong các nghiên cứu của mình, Ryff và Keyes cũng thống nhất đưa ra các tiêu chí để đánh giá “trạng thái lành mạnh” của một cá nhân dựa trên 3 lĩnh vực chính [15,22,19]:
Hạnh phúc cảm xúc: như là sự hài lòng với cuộc sống, cảm thấy hạnh phúc, vui tươi và thanh thản trong cuộc sống
Hạnh phúc tâm lý: bao gồm sự tự chấp nhận, phát triển bản thân, sự cởi mở với những trải nghiệm mới, sự lạc quan, niềm hy vọng, mục đích sống, sự kiểm soát đối với môi trường cá nhân, các vấn đề tâm linh, sự tự định hướng và các mối quan hệ tích cực
Hạnh phúc xã hội: sự chấp nhận xã hội, niềm tin vào con người và
xã hội theo một cách đầy đủ, trọn vẹn, giá trị bản thân và sự hữu
Trang 16Cùng với đó, Keyes cũng phân chia trục sức khỏe tâm thần ra thành 3 phân đoạn, gồm: (1) suy yếu tâm thần, (2) khỏe mạnh tâm thần và (3) mức độ
ở giữa suy yếu và khỏe mạnh (được hiểu như một tình trạng mà cá nhân có những dấu hiệu/ biểu hiện nhẹ về bệnh lý tâm thần) (Keyes, 2005)
Bên cạnh Ryff và Keyes, còn có Jenkins; Culloch & Parker [14], trong các báo cáo của mình trước Tổ chức y tế thế giới tại Geneva các nhà nghiên cứu này cũng nhấn mạnh đến 5 yếu tố cần có để đánh giá sức khỏe tâm thần cộng đồng:
Một cuộc sống thật sự thoải mái
Đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người khác
Có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống
Có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối quan
sự cân bằng và hoà hợp giữa các mối quan hệ, môi trường xung quanh và môi trường xã hội” (Nguyễn Việt, 2000)
Như vậy, sức khỏe tâm thần được định nghĩa không chỉ đơn thuần là tình trạng mắc bệnh hay không mắc bệnh, mà còn bao gồm một trạng thái tâm lý lành mạnh cơ bản mà ở đó cá nhân có cảm thấy được hạnh phúc, vui tươi và
Trang 17thanh thản hay không Trạng thái này được đánh giá cụ thể thông qua các yếu
tố tâm lý cơ bản như hành vi, cảm xúc, niềm tin, lòng tự trọng, sự tự chấp nhận, sự kiểm soát đối với môi trường sống hay các mối quan hệ tích cực…
Sự mở rộng khái niệm này đã cung cấp một cái nhìn toàn diện và bao quát hơn về vấn đề sức khỏe tâm thần trong công tác nghiên cứu và đánh giá lâm sàng Đồng thời, khái niệm này cũng gợi ý đến việc xây dựng và hoàn thiện các công cụ trong công tác chẩn đoán và đánh giá tổng quát các vấn đề sức khỏe tâm thần hiện nay
1.2 Khái niệm rối loạn tâm thần và phân loại
1.2.1 Khái niệm
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) định nghĩa “Bệnh tâm thần hay rối loạn tâm thần bao gồm các rối loạn đặc trưng bởi những bất thường về tâm trạng, suy nghĩ và hành vi được thừa nhận bởi Sách Chẩn đoán và Thống kê Các rối loạn tâm thần của Hiệp hội Tâm thần
Mỹ (DSM-IV)” [32]
Tổ chức Y tế thế giới thì đưa ra định nghĩa “Rối loạn tâm thần là một thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm các bệnh bao gồm một loạt các vấn đề với các triệu chứng khác nhau Tuy nhiên, chúng thường được đặc trưng bởi một vài sự kết hợp của những hành vi, cảm xúc và suy nghĩ bất thường và các mối quan hệ với những người khác Ví dụ như tâm thần phân liệt, trầm cảm, rối loạn sử dụng chất gây nghiện” Các rối loạn này được chẩn đoán dựa trên
Bảng phân loại bệnh Quốc tế (ICD-10) [30]
Đặng Hoàng Minh định nghĩa “Rối loạn tâm thần (bệnh tâm thần) là các trạng thái được biểu hiện thông qua hành vi, cảm xúc, gây cho cá nhân những đau khổ, tự hủy hoại bản thân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các mặt đời sống của cá nhân như công việc, gia đình, xã hội, hoặc gây nguy hiểm cho người khác hoặc cộng đồng” [2]
Như vậy, rối loạn tâm thần được định nghĩa bao gồm một nhóm các rối
Trang 18nhân những đau khổ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng sống của cá nhân cũng như gây nguy hiểm cho cộng đồng xã hội
1.2.2 Phân loại
Có hai hệ thống phân loại bệnh tâm thần được sử dụng phổ biến rộng rãi hiện nay là Sách “Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ” và “Bảng phân loại bệnh Quốc tế (ICD-10) của Tổ chức Y tế Thế giới
ICD-10 đã được xác nhận tại Hội nghị Y tế thế giới lần thứ 43 vào tháng 5 năm 1990 và được các nước thành viên WHO đưa vào sử dụng từ năm 1994 Ấn bản đầu tiên, được gọi là “Danh sách các nguyên nhân tử vong Quốc tế”, đã được Viện thống kê quốc tế thông qua năm 1893 ICD là hệ thống phân loại bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế cho tất cả các dịch tễ học nói chung, mục đích là quản lý sức khỏe và sử dụng trong lâm sàng Phân loại bệnh về các rối loạn tâm thần và hành vi thuộc chương 5 của ICD-10 Nó gồm các mảng sau đây [8]
F00-F09: Các rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm rối loạn tâm thần
Trang 19F90-F98: Các rối loạn hành vi và cảm xúc khởi phát ở tuổi trẻ em và
thanh thiếu niên
F99: Rối loạn tâm thần không xác định
Cùng với ICD-10 là Sách Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần (DSM) do Hội Tâm thần học Hoa kỳ (APA) đưa ra nhằm mục đích cung cấp những thuật ngữ và tiêu chí thống nhất trong việc phân loại các bệnh tâm thần Giống như ICD, DSM cũng được thay đổi theo thời gian Phiên bản đầu tiên được công bố vào năm 1952, hiện nay là phiên bản thứ 5
DSM là một hệ thống đa trục, và trạng thái tâm thần của mỗi cá nhân
có thể được đánh giá theo 5 trục khác nhau [3]:
Trục I: có hoặc không có hầu hết các hội chứng lâm sàng, bao gồm chủ
yếu các rối loạn tâm thần và rối loạn học tập Các rối loạn thường gặp bao gồm rối loạn cảm xúc, trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn lưỡng cực, ADHD, chứng tự kỷ, chứng ám sợ, tâm thần phân liệt, rối loạn tình dục, rối loạn ăn…
Trục II: có hoặc không có trạng thái bệnh lí kéo dài, bao gồm các rối
loạn nhân cách và rối loạn phát triển tâm trí (mặc dù các rối loạn phát triển, như Tự kỷ, đã được mã hoá trên trục II trong phiên bản trước đó, các rối loạn này đang có trên Axis I ) Các rối loạn thường gặp bao gồm các rối loạn nhân cách như paranoid , Schizoid, schizotypal, Rối loạn nhân cách chống đối xã hội, Rối loạn nhân cách narcissistic, Rối loạn nhân cách không thành thâ ̣t, Rối loạn nhân cách lảng tránh, Rối loạn nhân cách phụ thuộc, ám ảnh-cưỡng bức, chậm phát triển tâm trí
Trục III: thông tin về trạng thái sức khoẻ cơ thể của cá nhân Các rối
loạn thường gặp bao gồm các tổn thương não và các rối loạn sức khỏe thể chất …
Trục IV: Các vấn đề tâm lý và các yếu tố môi trường
Trục V: đánh giá tổng quát về hoạt động chức năng (từ 1 điểm cho kích
động liên tục, hành vi tự sát hoặc bất lực cho đến 100 điểm đối với duy trì
Trang 20nhân cách hài hoà, không có các triệu chứng) hoặc Mô hình “Đánh giá tổng quát của trẻ em” cho trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi
Như thế, trong cả hai hệ thống phân loại bệnh tâm thần phổ biến hiện nay là DSM-IV và ICD-10 đều có đề cập tới những rối loạn tâm thần liên quan tới việc sử dụng các chất gây nghiện (các chất này bao gồm cả các chất
có cồn) Đây được xem là một trong những mối quan tâm lớn hiện nay trong ngành điều trị tâm thần trên thế giới
1.3 Khái niệm và phân loại chất gây nghiện
1.3.1 Khái niệm
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào về chất gây nghiện, vì có nhiều giải thích khác nhau tùy theo trong luật quy định về chất gây nghiện, trong các quy định của chính phủ, trong y học hay trong ngôn ngữ sử dụng thông thường của người dân Những cách tiếp cận khác nhau đưa đến những khái niệm khác nhau về chất gây nghiện [9]
Trong y học, chất gây nghiện là một hóa chất có tác dụng ngăn ngừa hay chữa khỏi bệnh tật, hay là thuốc tăng cường sức khỏe tâm thần và thể lực Chất gây nghiện có thể được kê trong đơn thuốc dành cho người bệnh như các loại thuốc an thần dùng trong điều trị rối loạn trầm cảm, lo âu, mất ngủ, hoặc morphin dùng để giảm đau, gây tê trước khi phẫu thuật…
Trong dược lý, đây là một khái niệm dùng để chỉ các tác nhân hóa học làm thay đổi quá trình sinh hóa hay sinh lý trong các mô tế bào hay bộ phận
cơ thể
Trong sinh học cũng thường thấy những hóa chất nội sinh có cùng công thức hóa học như chất gây nghiện Nhưng nếu được tổng hợp từ bên trong cơ thể thì được gọi là hóa chất nội sinh, nhưng nếu được đưa vào từ bên ngoài cơ thể thì được gọi là chất gây nghiện
Trong từ điển thuật ngữ về ma túy của UNODC “chất gây nghiện” là một thuật ngữ dùng để chỉ các chất bị quốc tế kiểm soát Các chất này bao gồm các loại ma túy, rượu và thuốc lá [9]
Trang 21Theo định nghĩa của WHO “chất gây nghiện” là bất cứ chất hóa học nào khi đưa vào cơ thể con người sẽ làm thay đổi chức năng thực thể và tâm
lý của người sử dụng Chất gây nghiện có thể ở thể rắn (“khat”), thể lỏng (rượu, bia) và thể hơi (chất hít hơi) (WHO, 1989)
Ở Việt Nam,theo khoản 1, điều 2 Luật Phòng, Chống ma túy thì “chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây nghiện đối với người sử dụng”
Như vậy, chất gây nghiện hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả các chất gây nghiện hợp pháp như các thuốc sử dụng trong y học, rượu bia và chất có cồn nói chung, thuốc lá, cà phê…và cả các chất gây nghiện bất hợp pháp gọi chung là ma túy, như thuốc phiện, hàng đá, thuốc lắc… Những chất này khi được hấp thu vào cơ thể với liều lượng đủ lớn sẽ làm thay đổi chức năng của
cơ thể, thay đổi hành vi, nhận thức và cảm xúc của người sử dụng Cụ thể:
Chất gây nghiện làm thay đổi tâm trạng, cảm xúc của người sử dụng: chất gây nghiện trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi hoạt động của chất dẫn truyền thần kinh Do đó, làm thay đổi trạng thái tâm lý của người sử dụng, khiến họ có được cảm giác thoải mái, dễ chịu và mãn nguyện về bản thân hoặc rơi vào trạng thái bị kích động, hưng phấn Chẳng hạn như người lệ thuộc chất dạng thuốc phiện có xu hướng thể hiện tính bốc đồng mạnh mẽ hơn, đưa ra những quyết định dựa trên lợi ích trước mắt mà không quan tâm tới hậu quả lâu dài…
Chất gây nghiện làm thay đổi nhận thức, suy nghĩ của người sử dụng: Tùy vào từng chất và liều lượng sử dụng, người dùng có thể có được cảm giác
dễ chịu, mất cảm giác đau đớn, buồn rầu, đói khát, sợ hãi, nhìn màu sắc, nghe
âm thanh thấy rõ hơn, đẹp hơn…, hoặc tăng trí tưởng tượng và ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ, tư duy trừu tượng, kỹ năng tổ chức, lập kế hoạch và khả năng ra quyết định… Những thay đổi này dẫn đến những thay đổi về nhận thức và suy nghĩ nói chung của người sử dụng về thế giới khách quan Ví dụ
Trang 22ý thức được việc dùng chung bơm kim tiêm là một hành vi nguy hiểm liên quan đến sức khỏe của họ do dễ lây nhiễm bệnh, trong khi ở trạng thái thông thường họ đã nhận biết, ý thức rõ về điều đó
Chất gây nghiện làm thay đổi hành vi của người sử dụng: chất gây nghiện không những tác động trực tiếp đến những hành vi như đi đứng, nói năng (mất thăng bằng, nói líu lưỡi ở người uống nhiều rượu bia, mê sảng, mơ màng ở người sử dụng thuốc phiện) mà còn gián tiếp tác động đến những hành vi thuộc về thói quen của họ như giờ giấc sinh hoạt, ăn uống, ngủ nghỉ
và kỹ năng giao tiếp với mọi người Chẳng hạn như ở người nghiện, khả năng kiểm soát cảm giác bắt buộc phải sử dụng thường không tốt do việc suy giảm hoạt động của vùng vỏ não trước trán…
1.3.2 Phân loại
Có nhiều cách khác nhau để phân loại chất gây nghiện và việc này có thể bị ảnh hưởng do sự khác biệt về văn hóa và hệ thống pháp luật ở mỗi quốc gia, cách thức tác động và ảnh hưởng của mỗi loại chất gây nghiện hay do nguồn gốc và mục đích sử dụng…Do đó, việc phân loại chất gây nghiện cần luôn được đặt trong mối tương tác phức tạp với xã hội, trong bối cảnh lịch sử
và văn hóa khác nhau Tuy vậy, cho đến nay, vẫn có một số cách phân loại được xem là phổ biến hơn cả, bao gồm cách phân loại theo tác dụng của chất, theo nguồn gốc và tính chất sử dụng
1.3.2.1 Phân loại theo nguồn gốc
Chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên: là những chất gây nghiện có sẵn trong tự nhiên Chúng là ancaloit của một số loài thực vật như cây thuốc phiện (cây anh túc, anh tử túc…), cây cần sa (bồ đà, gai dầu,…), cây coca,…
Chất gây nghiện có nguồn gốc bán tổng hợp: là những chất gây nghiện được điều chế từ các chất tự nhiên và một số chất phụ gia khác, có tác dụng mạnh hơn chất ban đầu Ví dụ Heroin, Buprenorphine, Codein, LSD…
Trang 23Chất có nguồn gốc tổng hợp: là các chất được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hóa học toàn phần như Methamphetamine, Ketamin, Amphetamine, Methadone…
Theo cách phân loại này, rượu bia được xem là những chất gây nghiện
có nguồn gốc từ nhiên do rượu bia là những chất có được chỉ đơn thuần bằng quá trình lên men và chưng cất các loại hạt ngũ cốc như ngô, sắn, gạo, bột mì…
1.3.2.2 Phân loại theo tính chất sử dụng
Theo cách này, chất gây nghiện được phân chia thành 2 loại chính là: chất gây nghiện hợp pháp và chất gây nghiện bất hợp pháp
Chất gây nghiện bất hợp pháp là những chất gây nghiện đã bị cấm, có danh sách nằm trong danh mục các chất cấm được quy định theo luật pháp của từng quốc gia thông qua những công ước quốc tế Theo luật pháp Việt Nam, những chất ma túy bất hợp pháp có thể kể đến là: thuốc phiện, cần sa, heroin, cocain, thuốc lắc, các chất kích thích dạng Amphetamins…
Theo cách phân loại này, rượu bia được xem là chất gây nghiện hợp pháp và được chấp nhận một cách rộng rãi trong hầu hết nền văn hóa tại các quốc gia trên thế giới Chính vì sự phổ biến và tính hợp pháp này mà những
hệ lụy và tác hại từ việc sử dụng rượu bia đang là một vấn đề đáng quan tâm trên thế giới
1.3.2.3 Phân loại theo tác dụng chủ yếu của chất lên hệ thần kinh trung ương
Sự phân loại này chủ yếu dựa vào tác dụng chính của mỗi chất lên hệ thống thần kinh trung ương gây ra các biến đổi chức năng tâm thần đặc trưng
Các chất thuộc nhóm an thần, ức chế hệ thần kinh trung ương: tác dụng chủ yếu khi sử dụng là an thần, yên dịu, giảm nhịp tim và hô hấp…Với liều lượng nhẹ, nhóm chất này có thể làm cho người ta cảm thấy thư giãn và thoải mái hơn Nhưng với liều lượng mạnh, chúng có thể làm cho người sử dụng
Trang 24Các chất thuộc nhóm kích thích, kích thích hệ thần kinh trung ương: có tác dụng làm tăng hoạt động của não bộ, tăng sinh lực, phấn khích, nói nhiều hơn, tăng hoạt động của cơ thể, tăng nhịp tim, phấn khích…Với liều lượng nhẹ, người sử dụng có thể cảm thấy tỉnh táo, lanh lợi hoặc tự tin hơn Nhưng với liều lượng mạnh, chất gây nghiện kích thích có thể làm cho người ta cảm thấy hồi hộp, lo sợ, lên cơn động kinh, nhức đầu, bắp thịt co rút, trở nên hung hăng và đa nghi
Các chất thuộc nhóm gây ảo giác: làm thay đổi nhận thức đến mức có thể nghe thấy, nhìn thấy, cảm thấy những thứ không có thật (ảo giác), làm thay đổi cảm nhận của người sử dụng về hiện tại và môi trường xung quanh Với liều lượng nhẹ, người sử dụng trở nên năng động, hay nói hay cười, có cảm giác sung sướng về tâm lý nhưng với liều lượng mạnh thì trở nên đa nghi, hoang tưởng, xa rời thực tế và có những hành vi cư xử kỳ lạ
Bảng 1.1 Phân loại chất gây nghiện theo tác động chủ yếu lên hệ thần kinh trung ương [7]
LSD, nấm thần, hạt một loại rau thuộc họ rau muống
Các chất dạng thuốc
DOB, DOM/ STP
Thuốc ngủ nhóm
Barbituric
Các chất nhóm Amphetamine
N2O, Amyl, hoặc Butyl Nitrite
Các thuốc nhóm
Benzodiazepine
Trang 25Như vậy, trái với các quan niệm phổ biến trong dân gian, rượu không phải là chất kích thích mà là chất an thần do tác động của rượu làm suy giảm hoạt động của hệ thần kinh trung ương Rượu làm mất kiểm soát vỏ não nên người uống cảm thấy khoan khoái, vui vẻ nói nhiều, quên các khó khăn trong cuộc sống Chính điều này đã dẫn đến những hiểu lầm, xếp rượu vào nhóm các chất gây kích thích Nhưng đồng thời suy giảm khả năng phê phán đưa đến lời nói thiếu tế nhị suồng sả
Tuy nhiên, ngay cả những cách phân loại phổ biến như trên cũng chỉ mang tính chất tương đối vì nhiều lý do khác nhau Chẳng hạn như việc sử dụng cần sa là bất hợp pháp ở Việt Nam nhưng lại là hợp pháp ở Hà Lan hay một số bang ở Mỹ Hoặc một số chất gây nghiện có nhiều kiểu tác động lên
hệ thần kinh trung ương tùy theo mức độ sử dụng nên rất khó để xếp chúng vào một nhóm cụ thể, như cần sa dùng ở liều thấp có tác dụng an thần, yên dịu nhưng dùng ở liều cao lại gây ra ảo giác, hoặc như thuốc lắc vừa có tác dụng kích thích, lại vừa có tác dụng gây ảo giác Trong nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu nhìn nhận rượu bia theo cách phân loại rượu như là một chất gây nghiện an thần Chính những tác dụng theo cách thức của các chất gây nghiện an thần mà việc sử dụng rượu tạo nên những biến đổi tâm thần đặc trưng theo cách thức của riêng nó với người sử dụng
1.3.3 Các hình thái sử dụng chất gây nghiện
Việc sử dụng chất gây nghiện có thể được phân thành 4 hình thái chính bao gồm[34]:
Dùng thử: cá nhân dùng thử chất gây nghiện vài lần thông thường vì tính tò mò Đa số người sử dụng chất gây nghiện thuộc nhóm này không có những hiểu biết cần thiết về những nguy cơ từ việc sử dụng một loại chất gây nghiện cụ thể Họ dễ bị nguy hại từ việc sử dụng vì cơ thể họ không quen với chất đó hoặc họ không biết mình sẽ phản ứng như thế nào với chất đó
Trang 26Hình 1.1 Hình thái sử dụng chất gây nghiện
Dùng có mục đích: cá nhân có thể chọn sử dụng chất gây nghiện để hưởng thụ, tiêu khiển, đặc biệt là trong những dịp vui nhằm giúp cho tâm trạng hưng phấn hơn Một số khác sử dụng nhằm giải tỏa những căng thẳng, buồn phiền hoặc sức ép từ công việc, cuộc sống Ví dụ như tài xế xe tải
sử dụng “amphetamines” để khỏi buồn ngủ và các vận động viên sử dụng loại này để tăng năng lượng Những người khác đang trong cảnh tang thương có thể xin bác sĩ kê toa
“Benzodiazepine” để giúp họ chịu đựng được những đau khổ, mất mát
Dùng nhiều/ Lạm dụng: Sử dụng chất gây nghiện không nhằm mục
đích chữa bệnh hay nghiên cứu khoa học, sử dụng không theo đơn của bác sĩ, dùng quá liều, hay kéo dài thời gian sử dụng mà không có lý do chính đáng
Mặc dù vậy, theo nghĩa thông thường, thuật ngữ này vẫn thường được dùng để chỉ việc sử dụng chất gây nghiện nhiều trong thời gian ngắn, hoặc sử dụng chất gây nghiện liên tiếp trong nhiều ngày hay tuần lễ mà không có lý
do
Lệ thuộc/ nghiện: Đây là thuật ngữ được giới chuyên môn ưa dùng để thay thế từ “nghiện” từ thập niên 1960 Lệ thuộc chất gây nghiện có thể định nghĩa là nhu cầu lặp đi lặp lại các liều chất gây nghiện nhằm tạo ra cảm giác khoan khoái hay xua đi tâm trạng chán chường Các nhà chuyên môn ngày càng hay sử dụng từ này để thay thế từ “nghiện”
Trang 271.3.4 Những yếu tố tác động tới trải nghiệm sử dụng chất gây nghiện
Tác động của bất cứ loại chất gây nghiện cụ thể nào cũng tùy thuộc vào nhiều yếu tố
Loại chất gây nghiện sử dụng: Mỗi loại chất gây nghiện sẽ có tác dụng khác nhau lên mỗi người
Tần suất và liều lượng sử dụng: Nhìn chung, sử dụng chất gây nghiện với liều lượng càng lớn thì tác dụng càng mạnh Người sử dụng có thể rơi vào tình trạng quá liều nếu sử dụng lượng chất gây nghiện nhiều hơn khả năng đáp ứng của cơ thể
Cách thức sử dụng chất gây nghiện: Thông thường, sử dụng chất gây nghiện bằng cách chích hoặc hít hơi thì gây tác dụng nhanh và mạnh hơn Trong khi đó, cách hít qua đường mũi, ăn hoặc nuốt thì tác dụng chậm hơn
Những đặc tính thể chất của cá nhân: Chiều cao, cân nặng và giới tính cũng có thể ảnh hưởng đến tác dụng của chất gây nghiện Tỉ lệ mỡ của cơ thể, tốc độ chuyển hóa hay các giai đoạn trong chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ, tất
cả đều có thể có ảnh hưởng đến cường độ và thời gian tác dụng của chất gây nghiện lên cơ thể
Tâm trạng của người sử dụng và bối cảnh: Tâm trạng của người sử dụng và nơi họ sử dụng chất gây nghiện có thể có tác động đáng kể với tác dụng của chất gây nghiện Người ta có thể dễ hưởng thụ trong khung cảnh thoải mái, có bạn bè xung quanh hơn là trong khung cảnh lo lắng sợ hãi
Những chất gây nghiện khác cùng được sử dụng: Việc sử dụng kết hợp với các chất gây nghiện khác có thể làm tăng hoặc thay đổi những tác dụng thông thường của chất gây nghiện lên cơ thể
Dựa trên đặc điểm chung của các yếu tố này, Zinberg (1984) đã đưa ra
mô hình tương tác về trải nghiệm sử dụng chất gây nghiện của cá nhân gồm 3 yếu tố dưới đây [19]:
Trang 28Hình 1.2 Mô hình tương tác trải nghiệm sử dụng chất gây nghiện của
Zinberg
Mô hình này của Zinberg cho thấy trải nghiệm sử dụng chất của một cá nhân không chỉ chịu sự tác động đơn thuần của từng yếu tố, mà chính sự tác động qua lại giữa các yếu tố này mới là điều quan trọng Chẳng hạn như giới tính, độ tuổi, cảm xúc được sử dụng trong những môi trường khác nhau, theo những hình thức khác nhau sẽ đưa đến những trải nghiệm sử dụng khác nhau
Do đó, đánh giá tác động của việc sử dụng chất gây nghiện lên một cá nhân không thể chỉ xem xét đơn lẻ từng yếu tố mà cần nhìn nhận chúng trong một mối quan hệ tương tác tổng thể Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm kiếm và xây dựng giải pháp điều trị cho các vấn đề có liên quan tới việc
sử dụng chất gây nghiện
1.3.5 Tác động và hậu quả từ việc sử dụng chất gây nghiện
Một quan niệm sai lầm phổ biến cho rằng chỉ những người ở trạng thái
lệ thuộc/ nghiện chất mới phát sinh các vấn đề do việc sử dụng chất gây nghiện gây ra Mô hình tác hại của Thorley cho thấy các vấn đề có thể phát sinh từ trạng thái nhiễm độc (say/ phê), sử dụng thường xuyên đến trạng thái
Trang 29lệ thuộc Ở mỗi trạng thái sẽ có những tác hại khác nhau và một cá nhân có thể gặp phải vấn đề trong một hoặc nhiều lĩnh vực
Hình 1.3.Mô hình tác hại của Thorley
Mô hình tác hại của Thorley liệt kê các vấn đề phát sinh ở 3 trạng thái
chính gồm [26]
Các vấn đề từ việc say/ phê: đây là những vấn đề có thể dễ dàng nhìn thấy và thường đến từ những tác động ngắn hạn của thuốc, chẳng hạn như: cảm thấy bị ốm, nôn mửa, đau dạ dày, tai nạn và thương tích xảy ra khi say/ phê (say rượu), lạm dụng tình dục, bạo lực/ bỏ rơi trẻ em, tai nạn giao thông…
Các vấn đề đến từ việc sử dụng thường xuyên hoặc quá mức: việc sử dụng thường xuyên hoặc quá mức trong một khoảng thời gian nhất định có thể không cho phép cơ thể của người sử dụng có thời gian phục hồi hoàn toàn
từ lần cuối cùng họ sử dụng Do đó, sức khỏe của họ ngày một trở nên tệ hơn sau mỗi lần sử dụng Các vấn đề tiền bạc cũng có thể phát sinh do phải thường xuyên chi mua thuốc Các vấn đề khác có thể phát sinh từ tình trạng này bao gồm: các vấn đề về y tế, gia đình, bạn bè và các mối quan hệ xã hội, tổn thương não, các vấn đề sức khỏe tâm thần, các vấn đề về tim, bệnh truyền
Trang 30Hình 1.4.Mô hình một tế bào thần kinh
nhiễm, rối loạn giấc ngủ, các vấn đề về hôn nhân và gia đình, việc làm, lương thực, trẻ em và các hành vi phạm pháp khác
Các vấn đề từ việc sử dụng ở mức lệ thuộc: khái niệm phụ thuộc được chấp nhận rộng rãi bao gồm các dấu hiệu đặc trưng về nhận thức, hành vi và tâm lý của cá nhân Trong đó, các yếu tố chính của sự lệ thuộc là cá nhân mất kiểm soát việc sử dụng chất gây nghiện và tiếp tục sử dụng mặc dù nhận thức
rõ hậu quả và tác hại gây ra từ hành vi sử dụng Đây là những khía cạnh mà tình trạng phụ thuộc gây nên những tổn hại theo cách đặc biệt nghiêm trọng đối với cá nhân và cộng đồng và được xem là mục tiêu tối ưu trong các dịch
vụ điều trị Tình trạng này cũng được xem như một rối loạn kinh niên thường xuyên tái phát đòi hỏi phải được điều trị lâu dài
1.3.6 Cơ chế và nguyên nhân gây nghiện
1.3.6.1 Cơ chế gây nghiện – Cơ sở sinh học của nghiện
Những nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học phân tử và các lĩnh vực có liên quan về nghiện chất ngày càng cho thấy rõ những mối liên hệ về bản chất và cơ sở sinh lý học của tình trạng nghiện Những nghiên cứu này chỉ
ra rằng, cơ chế và nguyên nhân gây nên tình trạng nghiện chủ yếu nằm ở não
bộ [33]
Theo đó, chúng ta biết rằng, bộ não người là một hệ thống phức tạp bao gồm hàng tỷ tế bào thần kinh (neuron) Các tế bào thần kinh này tiếp nhận và
Trang 31truyền đạt thông tin cho nhau nhằm tiến hành các hoạt động cần thiết cho sự sống
Mô hình trên mô tả chi tiết cấu tạo cắt lớp một tế bào thần kinh trong não Tế bào này gồm có các bộ phận: thân nơ-ron, sợi nhánh, sợi trục, khe si-nap hay còn gọi là khớp thần kinh Các nơ-ron này được não bộ sử dụng để kết nối và truyền đạt thông tin tới các bộ phận trong cơ thể Chúng tiếp nhận
và truyền đạt thông tin cho nhau qua hai cơ chế dẫn truyền: cơ chế điện học
và cơ chế hóa học (bằng cách giải phóng chất dẫn truyền thần kinh trung gian qua khe si-nap, từ đó dẫn truyền xung thần kinh/ thông tin tới các tế bào khác) Chiếm đa số trong hệ thần kinh là si-nap hóa học, chúng đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong việc dẫn truyền thông tin.Đây cũng chính là cơ chế được áp dụng để giải thích quá trình dẫn đến tình trạng lệ thuộc chất gây nghiện
Hình 1.5 Mô hình hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh
Theo đó, để tồn tại, não bộ của con người hình thành các đường liên hệ thần kinh giữa các hoạt động thiết yếu nhằm duy trì sự sống với các khoái cảm tự nhiên vốn có của mình như thức ăn, nước uống, tình dục, được yêu
Trang 32cho sự sinh tồn (Ví dụ như ăn, uống để cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng hoạt động cho cơ thể, ngủ để thư giãn và tái tạo năng lượng, hoạt động tình dục để tạo ra thế hệ sau nhằm duy trì nòi giống… ) Khi thực hiện các hành vi này, não bộ sản xuất ra chất dẫn truyền thần kinh Dopamin, giúp điều hòa vận động, cảm xúc, nhận thức và mang lại cảm giác khoan khoái, thích thú Cụ thể, chất dẫn truyền thần kinh Dopamin sau khi được giải phóng qua khe si-nap sẽ tiến tới gắn với các thụ cảm thể (receptor) ở đầu tiếp nhận tế bào bên kia Qúa trình này đem lại cho chúng ta cảm giác thích thú và sung sướng
Khi cá nhân sử dụng chất gây nghiện, sự kích thích quá mạnh từ các chất này lên các đường dẫn truyền khoái cảm (đường tạo ra khoái cảm từ các hành vi có tính chất sinh tồn) đã tạo ra cảm giác phê sướng giống với cách mà não bộ đã hình thành trước đó gắn liền với các hành vi sinh tồn Cụ thể, khi cá nhân sử dụng chất gây nghiện, các chất này trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên các tế bào thần kinh, gây tăng giải phóng Dopamin lên nhiều lần, tạo cảm giác hưng phấn, thoải mái và dễ chịu như khi người đó tiến hành các hoạt động sinh tồn… Nếu việc sử dụng chất gây nghiện kéo dài sẽ khiến não bộ phải tự điều hòa với tình trạng có quá nhiều Dopamin (và các chất dẫn truyền thần kinh khác) bằng cách tạo ra ít hơn Dopamin hoặc bằng cách giảm số lượng các thụ cảm thể Đến một lúc nào đó, người ta cần phải sử dụng chất gây nghiện chỉ để đưa chức năng Dopamin của họ quay trở lại bình thường Điều này có nghĩa là não bộ của người nghiện đã bị đánh lừa theo cách làm cho người ta tin rằng các chất gây nghiện là cần thiết cho sự sống còn của họ
Từ đó khiến họ cảm thấy cần phải tiếp tục lặp lại việc sử dụng các chất này
Trang 33Bảng 1.2 Chất gây nghiện và vị trí tác động [7]
Chất gây nghiện Vị trí/ tác động
Chất dạng thuốc phiện Đồng vận tại thụ cảm thể của chất dạng thuốc
phiện: mu, delta và kappa
Amphetamines
Kích thích giải phóng Dopamine, có thể cũng kích thích giải phóng noradrenaline và serotonin tùy thuộc vào loại Amphetamin được sử dụng
thể glutamat NMDA Nicotine Đồng vận tại thụ cảm thể nicotinic acetylcholine Cannabinoids (cần sa) Đồng vận tại thụ cảm thể cannabinoid CB1 và CB2
Benzodiazepines Tác động chức năng GABA-A
Ngoài ra, khi sử dụng chất gây nghiện, ngoài việc cơ thể ngừng/ giảm đáng kể việc sản xuất Dopamin, não bộ của người nghiện cũng bị tổn thương, đặc biệt là vùng vỏ não trước trán, nơi chịu trách nhiệm đưa ra quyết định hoặc nhận thức đúng đắn, bị suy yếu, điều này dẫn tới việc người sử dụng dễ mất kiểm soát suy nghĩ và hành vi bản thân Cùng với đó, vùng khoái cảm gắn liền với việc củng cố hành vi, và vùng trí nhớ giúp ghi nhớ cảm giác phê sướng trước đó thôi thúc người nghiện tìm và sử dụng chất gây nghiện Đây là
lý do giải thích tại sao người sử dụng, khi đã rơi vào trạng thái lệ thuộc, thường rất khó từ bỏ và việc tái nghiện thường xảy ra trong quá trình điều trị
Trang 34Hình 1.6.Não bộ một người trước và sau khi sử dụng ma túy
Những lý giải trên cho chúng ta thấy, chất gây nghiện tác động đến cả não bộ và hành vi của người sử dụng, và đây được coi là cơ sở quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp, cách thức điều trị cho phù hợp
1.3.6.2 Các lý thuyết sinh học - tâm lý - xã hội về nghiện
Thuyết sinh học
Các nhà di truyền học cho rằng con người khi sinh ra đều đã mang trong mình những gien di truyền ảnh hưởng đến hành vi cá nhân Đối với người sử dụng chất gây nghiện, họ cho rằng những người này đã có sẵn gien
di truyền liên quan tới việc sử dụng chất, khiến họ có nguy cơ sử dụng cao hơn hoặc dễ bị lệ thuộc/ nghiện hơn người khác.Nhiều công trình nghiên cứu
về gien di truyền cả trên người và động vật cũng đã cho thấy những số liệu ủng hộ lý thuyết này Năm 1975, Zuker và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu về sự khác biệt giữa trẻ em trong gia đình nghiện rượu và không nghiện rượu và thấy rằng: những đứa trẻ được sinh ra trong gia đình có bố mẹ nghiện rượu có nguy cơ lệ thuộc cao hơn gấp 4 lần so với những đứa trẻ được sinh ra trong các gia đình khác Một số nghiên cứu khác được tiến hành trên các trẻ sinh đôi có bố hoặc mẹ là người nghiện rượu Người ta nuôi dưỡng hai đứa trẻ
ở hai môi trường hoàn toàn khác nhau Trong đó một đứa trẻ được nuôi trong
Trang 35gia đình có bố mẹ nuôi không nghiện rượu và một đứa trẻ được nuôi trong gia đình có bố mẹ ruột nghiện rượu Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mối liên
hệ tương tự, trong đó, đứa trẻ là con nuôi cũng có nguy cơ nghiện rượu cao
hơn rất nhiều so với các trẻ khác
Lý thuyết này cũng đưa ra quan điểm cho rằng sự mất cân bằng sinh hóa cũng là một yếu tố nguy cơ dẫn đến sự lệ thuộc chất gây nghiện ở cá nhân Do một số người khi sinh ra đã bị mất cân bằng sinh hóa dẫn đến sự trao đổi chất không đầy đủ, và để tạo ra sự cân bằng cho cơ thể, họ có xu hướng sử dụng các chất để tạo ra sự thay đổi trong não bộ, giúp tạo nên sự cân bằng sinh hóa trong cơ thể Chẳng hạn như trong một số nghiên cứu, người ta thấy rằng, một số người khi sinh ra bị thiếu chất dioxin và những người này thường có tâm trạng không vui Do đó, họ có xu hướng sử dụng các chất tương tự như á phiện để giúp tạo ra sự cân bằng cho cơ thể, từ đó giúp đem lại cảm giác vui thích như người khác
Những kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực di truyền đã cho thấy gien đóng một vai trò quan trọng trong việc sử dụng chất của cá nhân.Tuy nhiên, gien không phải là yếu tố quyết định đối với việc sử dụng hay lệ thuộc vào chất gây nghiện của một người Nhiều nghiên cứu khác trong lĩnh vực tâm lý
và xã hội đã chỉ ra nhiều yếu tố khác thuộc về tâm lý, hành vi và các yếu tố xã hội cũng có ảnh hưởng tới việc sử dụng chất gây nghiện
Thuyết phân tâm học
Lý thuyết này cho rằng, việc lạm dụng chất gây nghiện của cá nhân là một hình thức hóa giải những xung đột tâm lý mà cá nhân đó gặp phải trong giai đoạn đầu đời Theo lý thuyết này, người ta trở nên nghiện là do sự mất cân bằng tâm lý, đặc biệt là do sự xung đột giữa cái Bản Năng (Id) và cái Siêu Tôi (Super Ego) Khi gặp phải một vấn đề khó khăn trong mối quan hệ gia đình, bạn bè, đứa trẻ bị ức chế và căng thẳng thần kinh và có thể rơi vào trạng thái lo âu, ám ảnh Khi đó, các cơ chế tự vệ sẽ xuất hiện để bảo vệ cái Tôi
Trang 36cái Siêu Tôi Trong giai đoạn đầu sử dụng chất gây nghiện, cá nhân có thể chưa bị lệ thuộc, nhưng sau một thời gian, với tần suất và liều dùng tăng lên,
cá nhân trở nên mất kiểm soát đối với hành vi của mình và trở nên bị lệ thuộc Lúc này, việc sử dụng chất gây nghiện chỉ còn là sự đáp ứng lại những nhu cầu của Bản Năng một cách vô thức nhằm tìm kiếm những cảm giác thoải mái, dễ chịu cho cái Tôi
Cũng theo lý thuyết này, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái cũng là một nguyên nhân thúc đẩy dẫn đến tình trạng lệ thuộc chất Theo đó, cùng với thời gian và sự trưởng thành, đứa trẻ có xu hướng tách mình ra khỏi
bố mẹ, chống lại sự lệ thuộc của bố mẹ để tìm kiếm sự độc lập và khẳng định cái Tôi trong xã hội, cộng đồng Tuy nhiên, khi sự tách rời này không thể thực hiện được, đứa trẻ bị rơi vào trạng thái lo lắng và sợ hãi bị bỏ rơi Từ đó, chúng nảy sinh thái độ thù địch với cha mẹ dù vẫn biết rằng cha mẹ là người tốt nhất với chúng Do đó, chúng tìm kiếm và sử dụng chất gây nghiện như một giải pháp thay thế cho cha mẹ của chúng khi còn nhỏ tuổi (Jammer, 1989) Đây cũng lý do giải thích cho những triệu chứng bất thường ở người lạm dụng chất gây nghiện, họ nhận thức được tác hại của việc sử dụng chất của mình nhưng lại không thể từ bỏ Bên cạnh đó, những mâu thuẫn này thường bắt đầu xảy ra ở lứa tuổi thanh thiếu niên cũng thường là lứa tuổi một
cá nhân bắt đầu gặp phải các vấn đề về sử dụng chất gây nghiện
Callahan (1977) cho rằng sự sợ hãi có liên quan tới việc lạm dụng ma túy của cá nhân Theo đó, cá nhân sử dụng chất gây nghiện nhằm làm giảm đi những vấn đề họ đang phải chịu đựng, dù nó chỉ là sự che đậy tạm thời, vùi lấp nỗi sợ hãi đang bị đè nén bởi vô thức mà chính bản thân họ cũng không nhận biết được Cùng với đó, Myers & Richardson (1977) cũng đưa ra dự báo cho khả năng nghiện ma túy cao hơn ở những người có rối loạn tâm trạng và cảm giác lo âu
Như thế, thuyết phân tâm học nhìn nhận vấn đề lạm dụng chất gây nghiện của cá nhân chủ yếu bắt nguồn từ những rối nhiễu gặp phải trong giai
Trang 37đoạn đầu đời, hay những xung đột bắt nguồn từ trong vô thức Với cách tiếp cận này, người ta cho rằng, để tác động tới vấn đề lạm dụng chất của một cá nhân cần hóa giải những xung đột từ trong vô thức mới có thể giúp họ từ bỏ
và thoát khỏi trạng thái lệ thuộc
Thuyết nhận thức xã hội
Theo thuyết nhận thức xã hội: việc đánh giá của xã hội về cái tôi hiệu quả cùng với việc tự đánh giá của mỗi cá nhân là yếu tố thúc đẩy cá nhân đi tới đích Việc cá nhân nhìn nhận và đánh giá về cái tôi không hiệu quả, cảm thấy mình bị yếu đuối cùng với sự đánh giá tiêu cực từ phía xã hội sẽ làm cá nhân giảm đi niềm tin vào giá trị bản thân Điều này được xem như một trong những lý do dẫn đến việc cá nhân có khả năng sử dụng chất gây nghiện nhằm ứng phó với các vấn đề họ gặp phải và để khẳng định giá trị bản thân, từ đó giúp họ thích nghi và hòa nhập với xã hội Điều này lý giải thêm rằng, những người thường tái nghiện là những người có cái tôi không hiệu quả, có cái nhìn tiêu cực về bản thân Do đó, việc tạo nên cái tôi hiệu quả ở người nghiện sẽ giúp tác động tích cực tới việc điều chỉnh hành vi của họ, tạo nên ý nghĩa quan trọng đối với họ trong việc nhận thức khả năng của chính mình để ứng phó với các vấn đề
Cùng đưa ra giả thuyết liên quan tới cái tôi xã hội nhằm giải thích tình trạng lệ thuộc chất gây nghiện của một cá nhân, Hull, Young (1986) cũng cho rằng những người có khả năng nhạy cảm cao có xu hướng sử dụng chất gây nghiện nhiều hơn nhằm làm giảm các trải nghiệm tiêu cực trong cuộc sống của họ Nghiên cứu so sánh giữa những người dễ nhạy cảm, quan tâm tới thành công nhiều hơn, với những người có mức nhạy cảm thấp hơn và ít quan tâm tới thành công trong cuộc sống cho thấy, những người có khả năng nhạy cảm và mức độ quan tâm tới thành công cao hơn thường có xu hướng dùng nhiều rượu hơn sau khi gặp thất bại so với nhóm người còn lại Cùng quan điểm này, các nhà tâm lý học cũng có xu hướng giải thích việc cá nhân
Trang 38sử dụng chất gây nghiện nhằm làm giảm những cảm giác tiêu cực mà họ đang phải đối mặt
Như vậy, học thuyết nhận thức xã hội nhìn nhận và đánh giá sự phát triển mạnh hay yếu của cái tôi cá nhân dựa trên sự đánh giá từ phía xã hội và
sự tự đánh giá về bản thân, là một yếu tố quan trọng dẫn đến hành vi sử dụng chất gây nghiện của một người
Thuyết hành vi
Thuyết hành vi bao gồm những khái niệm cơ bản: “kích thích” – “phản ứng” Theo đó, một “kích thích” nhất định sẽ kéo theo những “phản ứng” nhất định Phản ứng, theo J.Watson, một nhà hành vi học, có thể bao gồm phản ứng ngầm ẩn hoặc công khai Phản ứng công khai là những phản ứng bên ngoài và có thể quan sát được, phản ứng ngầm ẩn là những phản ứng diễn ra bên trong cơ thể như sự co bóp của các cơ quan bên trong, sự tiết dịch, các xung động thần kinh…đó là những thành tố của hành vi và có thể quan sát được qua việc sử dụng thiết bị Điều này có nghĩa là người sử dụng ma túy không chỉ diễn ra các hành vi hút, chích, say, phê…mà còn có cả những hành
vi co bóp cơ, sự truyền dẫn các xung động thần kinh…bên trong Khi chất gây nghiện là một kích thích được đưa vào từ bên ngoài cơ thể, sẽ dẫn đến những hành vi đáp ứng của cơ thể cả từ bên trong lẫn bên ngoài Điều này lý giải tại sao người sử dụng ma túy không chỉ thay đổi những biểu hiện, hành vi bên ngoài mà còn thay đổi cả những biểu hiện bên trong như cấu trúc não bộ, hệ thần kinh…là những yếu tố dẫn đến những thay đổi về hành vi suy nghĩ nhận thức, mà ở thời đó, J.Watson vẫn còn chưa thừa nhận
Những nhà tâm lý theo thuyết hành vi mới, trong đó có Tolman đã khắc phục hạn chế này ở J.Watson khi đưa thêm yếu tố tâm lý – ý thức vào như một trong những yếu tố quan trọng hình thành hành vi Tolman cho rằng, hành vi hình thành từ 5 yếu tố: kích thích của môi trường, động cơ tâm lý, di truyền, sự dạy học từ trước và tuổi tác Điều này lý giải tại sao hành vi sử dụng chất gây nghiện không bao giờ chỉ xuất phát từ một yếu tố nhất định mà
Trang 39luôn chịu tác động, ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau như sự sẵn có của chất gây nghiện, yếu tố tâm lý, sinh học, giáo dục và tuổi tác
Skinner, một nhà tâm lý học nổi tiếng với những nghiên cứu về hành vi tạo tác và kích thích củng cố, cho rằng: nếu như hành vi có điều kiện xuất hiện nhằm đáp ứng với một kích thích củng cố thì hành vi tạo tác xuất hiện nhằm tạo ra kích thích củng cố Điều này lý giải cho việc khi người sử dụng chất gây nghiện có được cảm giác phê, sướng, thích thú thì người đó luôn muốn tìm cách thực hiện lại hành vi sử dụng chất đó nhằm lặp lại những cảm xúc tích cực đã có được Điều này đồng nghĩa rằng, hành vi sử dụng chất gây nghiện, trong một số trường hợp, có thể trở thành tác nhân củng cố cho những hành vi không thích nghi khác Khía cạnh này cho thấy rằng, có thể những người có vấn đề về hành vi thì có nguy cơ sử dụng ma túy hay chất gây nghiện nói chung cao hơn những người bình thường khác
Thuyết hậu hành vi mới bao gồm thuyết Hành vi xã hội của J.Mid và thuyết Học tập xã hội của D.Rotter Trong đó, thuyết Học tập xã hội giải thích rằng hành vi nghiện có thể được học từ những người xung quanh thông qua quan sát và học tập mô hình Sau khi hành vi sử dụng chất gây nghiện đã được học thì nó được duy trì và củng cố bởi các yếu tố nhận thức, kỳ vọng của cá nhân Mặc dù các kích thích và củng cố bên ngoài có ảnh hưởng đến hành vi nhưng bản chất và mức độ ảnh hưởng đó phải do nhân tố nhận thức của chủ thể quyết định Cũng từ đó, theo thuyết Hành vi học tập thì con người
có thể tự điều chỉnh được hành vi của mình thông qua những tiêu chuẩn bên trong như ý chí, quyết tâm…đánh giá và tự đánh giá bản thân cũng như hành
vi của mình, tự đánh giá sự tương tác giữa môi trường và hành vi của bản thân Do đó, theo quan điểm của thuyết này, những người có ý chí, quyết tâm,
có sự tự nhận thức và đánh giá bản thân tốt hơn cũng sẽ có sự điều chỉnh về mặt hành vi tốt hơn
Trang 40Nhìn nhận hành vi sử dụng chất gây nghiện từ học thuyết này đòi hỏi phải xem xét đến các tác nhân kích thích và các hành vi có liên quan của một
cá nhân khi đánh giá việc sử dụng chất gây nghiện của họ
Thuyết hệ thống
Theo lý thuyết này, cá nhân tồn tại trong một hệ thống bao gồm: gia đình, trường học, cộng đồng, hàng xóm…Do đó, những vấn đề của họ, bao gồm cả việc sử dụng chất gây nghiện, cần được xem xét trong một chuỗi các yếu tố xung quanh họ chứ không phải chỉ xem xét bản thân người nghiện
Nghiên cứu của Madanes (1984) cho thấy rằng, xung đột giữa cha mẹ
có thể khiến trẻ có các hành vi rối nhiễu Hành vi này được xem như một cách phản ứng của trẻ nhằm níu kéo và giải quyết những xung đột trong mối quan
hệ của cha mẹ Đối với trường hợp gia đình có con nghiện ma túy ông cho rằng lúc đầu trẻ có thể chỉ phát triển các hành vi chống đối bố mẹ, sau đó có thể là vi phạm pháp luật, từ không công khai đến công khai Điều này dẫn đến trật tự trong hệ thống gia đình, truyền thống, văn hóa gia đình bị thay đổi Lúc này, trung tâm của hệ thống gia đình không còn là bố mẹ nữa, mà đã được chuyển sang người bị nghiện
Trong thực tế cuộc sống của người nghiện, họ cũng gặp phải những căng thẳng và áp lực từ phía gia đình, môi trường xã hội, bạn bè, công việc…Vì vậy, việc nhìn nhận và đánh giá vấn đề của họ trong một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố đem lại nhiều cơ hội tốt hơn trong việc giúp họ tự giải quyết vấn đề của mình
Thuyết các yếu tố xã hội
Các nhà khoa học theo lý thuyết này cho rằng có nhiều yếu tố tác động tới việc sử dụng chất gây nghiện của cá nhân như cảm giác bị cô lập, loại trừ khỏi xã hội, sự thất bại trong công việc, học tập, đặc biệt là đối với thanh thiếu niên Các nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan tỉ lệ thuận giữa tình trạng thất nghiệp và việc sử dụng ma túy ở thanh niên Sự gia tăng những vấn nạn xã hội (sự suy giảm về mặt đạo đức, sự mờ nhạt của các giá trị văn hóa,