Ngoài việc giảng dạy cho sinh viên hệ cấp chứng chỉ, Trung tâm được nhà trường giao nhiệm vụ chủ trì trong công tác giảng dạy và quản lý rèn luyện đối với sinh viên hệ chính quy đào tạo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
HÀ NỘI, 2016
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
cá EQ so
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DUC
QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
HÀ NỘI, 2016
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
cá EQ so
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DUC
QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Người hướng dẫn khoa học: ThS vũ MẠNH HÀ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm trân trọng và chân thành tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Trung tâm GDQP Hà Nội 2, các phòng, các khoa và các cơ quan liên quan đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn, biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, các nhà khoa học
đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong nghiên cứu khoa học Đặc biệt xin được trân trọng cảm ơn Thạc sĩ Vũ Mạnh Hà đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Giáo dục quốc phòng và an ninh
Xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc, các cán bộ, giảng viên, nhân viên, sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2; bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân
đã tận tình giúp đỡ, động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Mặc dù trong quá trình học tập, tìm tòi, nghiên cứu bản thân rất nỗ lực và cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà giáo và đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Anh
Tôi xin cam đoan rằng đề tài : “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp
sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2” đến
thời điểm hiện tại cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này, nên không
có sự trùng lặp với các đề tài khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc Việc hoàn thảnh khóa luận là sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của bản thân
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG Chương 1: cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SÓNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2 6 1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.3 Đặc điểm tâm lý của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 13
1.4 Nội dung giáo dục nép sống cho sinh viên 15
Chương 2: THựC TRẠNG GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2 HIỆN NAY 21 2.1 Khái quát quá trình xây dựng, phát triển và đặc điểm hoạt động của Trung tâm GDQP Hà Nội 2 21
2.2 Thực trạng về nếp sống của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 22
2.3 Nguyên nhân thực trạng về nép sống của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 29
Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2 32 3.1 Các nguyên tắc trong đề xuất biện pháp 32
3.2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay 33
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC CÁC sơ ĐỒ, BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Bảng 3.1
Đánh giá của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm về sự cần thiết của các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp sổng cho sinh viên
44
Bảng 3.2
Đánh giá của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 về tỉnh khả thi của các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp sổng cho sinh viên
46
Trang 928/4/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 107-CT/TW về “Tăng cường
công tác giáo dục quốc phòng nhân dân, chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc ” [ 1 ] Nghị quyết 02-NQ/TW ngày 30-7-1987 của Bộ Chính trị đã quy định đưa nội dung đường lối quân sự của Đảng và nhiệm vụ quốc phòng vào chương trình học tập chính thức của các trường đào tạo, bổ túc cán bộ của Đảng và Nhà nước; đưa nội dung giáo dục quốc phòng vào chương trình chính khoá trong các Trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học
Hiện nay ở các nhà trường và cơ sở đào tạo, đội ngũ giáo viên GDQP và AN vẫn đang còn thiếu về số lượng, chất lượng còn chưa đáp ứng được so với yêu cầu của nhiệm vụ GD & ĐT trong tình hình mới Chính vì vậy trong những năm gần đây được
sự quan tâm của Đảng, nhà nước, chính phủ và trực tiếp là Bộ GD & ĐT đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực trong việc đào tạo và từng bước chuẩn hóa đội ngũ
giáo viên GDQP và AN Thực hiện đề án: “Đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng - an
ninh cho các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề giai
đoạn 2010 - 2016” theo quyết định số 472/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12 tháng 04 năm 2010 Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 là một trong những cơ sở được giao nhiệm vụ đào tạo giáo viên GDQP và AN Đen nay nhà trường đã tuyển sinh được 4 khóa đào tạo chính quy giáo viên ngành GDQP và AN với hơn 300 sinh viên, bên cạnh đó hàng năm còn tuyển sinh đào tạo hệ giáo viên, giảng viên văn bằng
2 ngành GDQP và AN
Hiện nay Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đang đảm nhiệm giảng dạy môn học GDQP và AN cho sinh viên gàn 20 trường đại học và cao đẳng (có năm tham gia giảng dạy cho cả học sinh trung học phổ thông) trên địa bàn thành phố Hà Nội, tỉnh
Trang 102
Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ Ngoài việc giảng dạy cho sinh viên hệ cấp chứng chỉ, Trung tâm được nhà trường giao nhiệm vụ chủ trì trong công tác giảng dạy và quản lý rèn luyện đối với sinh viên hệ chính quy đào tạo giáo viên ngành GDQP và AN, do vậy ngay từ khóa đàu tiên Ban giám đốc Trung tâm đã rất quan tâm đến chất lượng đào tạo cũng như công tác quản lý đối với sinh viên ngành GDQP và AN, ngoài việc học kiến thức còn phải giáo dục cho sinh viên về ý thức tổ chức kỷ luật, giáo dục về pháp luật, nép sống
Nhận thức đúng tầm quan trọng của việc tổ chức quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung, chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và
AN nói riêng, những năm qua Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã có nhiều biện pháp phù hợp nhằm quản lý chặt chẽ việc dạy học cũng như duy trì kỷ luật, rèn luyện nền nếp, tác phong, đạo đức lối sống đối với sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 Nhờ đó mà chất lượng dạy học ở Trung tâm đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, phong trào học tập sôi nổi, từng bước được nâng lên, việc duy trì các chế độ trong ngày, trong tuần một cách có nền nếp, giáo dục nếp sống cho sinh viên đã có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên chất lượng giáo dục nép sống cho sinh viên ngành GDQP và AN có những nội dung còn hạn ché, bất cập Đáng quan tâm là hiệu quả công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên còn chưa thực sự được chú trọng, chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự hội nhập kinh tế quốc tế Ý thức tổ chức kỷ luật, kỹ năng vốn sống, văn hóa ứng xử và nếp sống của nhiều sinh viên còn hạn chế, và ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi mặt trái của xã hội, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Thực té trong những năm qua việc giáo dục nép sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã đem lại những hiệu quả nhất định Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, tổ chức và thực hiện còn bộc lộ một số hạn chế bất cập như: Nhận thức của đa số các sinh viên trong Trung tâm về giáo dục nếp sống chưa sâu sắc, đội ngũ cán bộ lớp không chuyên trách, thường phải kiêm nhiệm làm nhiều công việc khác nhau, sự phối hợp giữa các bộ phận có lúc còn chưa chủ động, chưa nhịp nhàng Các hoạt động tổ chức đoàn thể, hội sinh viên, các câu lạc bộ có lúc còn đơn điệu, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động phong trào còn thiếu thốn, chưa
Trang 113
thu hút được đông đảo sinh viên tham gia, ý thức và lối sống của một bộ phận sinh viên còn chưa chuẩn mực, chưa thể hiện được nếp sống văn minh trong môi trường quân sự Trước những yêu cầu của thực trạng đó, đòi hỏi công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên cần được quan tâm đúng mức Nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên nhằm giáo dục cho sinh viên tính tự giác, tích cực trong học tập, rèn luyện, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỹ năng trong giao tiếp; có tác phong nghề nghiệp để phục
vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đây là những vấn đề cần thiết mà các Khoa trong nhà trường đang tìm kiếm biện pháp, giải pháp thực hiện
Do vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp
sổng cho sinh viên ngành Giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2 hiện nay ” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nép sống cho sinh viên nhằm góp phàn nâng cao chất lượng trong công tác quản lý và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Trung tâm GDQP Hà Nội
2 trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục nếp sống cho sinh viên
- Đánh giá đúng thực trạng, tìm nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm giáo dục nép sống cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
- Đe xuất một số biện pháp giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và
AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay, nhằm góp phần nâng cao chất lượng GD
& ĐT nói chung, nâng cao chất lượng giáo dục nép sống nói riêng
- Khảo nghiệm tính càn thiết và khả thi của các biện pháp
4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
Công tác giáo dục nếp sống cho cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2;
từ đó đề xuất 1 số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nép sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Trang 124
Nghiên cứu công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN (Khóa 38, 39, 40, 41) ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
5 Phương pháp nghiên cứu
Phuơng pháp phân tích và tổng hợp tài liệu; để nghiên cứu tác giả đã thu thập, tổng hợp phân tích các tài liệu liên quan
Phuơng pháp khái quát hóa nhận định khách quan: dựa trên những nhận định, đánh giá, góp ý kiến của các chuyên gia, các nhà giáo
Phuơng pháp điều tra: điều tra bằng phiếu câu hỏi với sinh viên ngành GDQP
và AN
Phuơng pháp quan sát: tiến hành quan sát các nền nếp sinh hoạt tập trung, hoạt động của sinh viên ở TTGDQP Hà Nội 2 cũng nhu nội dung giáo dục nếp sống của các cán bộ quản lý sinh viên nhằm thu thập các tu liệu bổ sung
Phuơng pháp phỏng vấn: Tiến hành trao đổi trực tiếp với các sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2, các cán bộ quản lý đại đội sinh viên và các phòng, khoa, các tổ chức liên quan
Xử lý số liệu, kết quả nghiên cứu
Nhận định đánh giá chính xác, khách quan két quả nghiên cứu
6 Giả thuyết khoa học
Giáo dục nép sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay còn nhiều hạn ché, bất cập; nếu phân tích đánh giá đúng thực trạng công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên hiện nay, tìm ra đuợc nguyên nhân tồn tại;
đề xuất một số biện pháp nâng cao chất luợng dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 phù hợp thì sẽ nâng cao chất luợng giáo dục đào tạo, góp phần giáo dục con nguời phát triển toàn diện
7 Cấu trúc khóa luận
- Phần mở đầu
Trang 135
- Nội dung: gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và
AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Chương 2: Thực trạng giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay
Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên
ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
- Ket luận, kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 146
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUÓC PHÒNG VÀ AN NINH Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2 1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiền cứu
Vấn đề nghiên cứu lối sống, nép sống đã được đề cập đến từ lâu qua nhiều công ữình nghiên cứu công phu nhu công trình “Việt Nam Phong tục” của tác giả Phan Kế Bính (1875-1921).[2] Ông đã nghiên cứu công phu về các phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam qua bề dầy lịch sử 4000 năm Tất cả những thói quen, nép sống của con người Việt Nam từ xưa đến đầu thế kỉ XX được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất, cái đẹp của con người Việt Nam đồng thời cũng mạnh dạn đánh giá, phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ trong lối sống, nếp sống đi ngược lại thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc
Trong tài liệu “Sửa đổi lề lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh việc xây dựng lối sống, nếp sống mới, cách làm việc mới
Tại Đại hội IV và V của Đảng đã đề ra đường lối xây dựng nếp sống mới Trong văn kiện đại hội IV có ghi khái niệm: “nếp sống mới có văn hóa”, “vận động một cách kiên trì và sâu rộng để tạo ra nếp sống mới có văn hóa trong xã hội, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất” Trong Đại hội V, văn kiện dùng khái niệm lối sống: “Cuộc đấu tranh giữa hai con đường, giữa cái mới và cái cũ, tiên tiến và lạc hậu, tiến bộ với phản động, trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng và lối sống đang diễn ra hàng ngày rất phức tạp” Trong Nghị quyết V của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, bàn về lĩnh vực văn hóa Nội dung nghị quyết gồm 6 vấn đề quan trọng thì vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống, nép sống được đặt lên đầu tiên Trong toàn văn Nghị quyết V thuật ngữ lối sống, nép sống được nhắc đén như “tư tưởng đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hóa” hay như “lối sống lành mạnh, nép sống văn minh” Như vậy, vấn đề nép sống đã được quan tâm sâu sắc không chỉ các nhà khoa học mà các nhà quản lý xã hội cũng rất chú trọng tới việc quản lý giáo dục nếp sống
Trang 157
Trong thời gian gần đây hàng loạt những công trình nghiên cứu về lối sống, nếp sống đã được thực hiện theo tinh thần đổi mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do những thay đổi về kinh té, xã hội đang phát triển đưa đến những biến đổi trong lối sống, nếp sống, định hướng giá trị con người Việt Nam nói chung, giới học sinh, sinh viên nói riêng Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu lối sống, nép sống ở đối tượng sinh viên đã được công bố như sau:
Tác giả Nguyễn Thị Kỷ: Tổ chức tốt cuộc sống sinh viên ở kỷ túc xá nhằm giáo
dục đạo đức, loi sổng cho họ, Kỷ yéu hội thảo định hướng giá trị giáo dục đạo đức trong các trường đại học, Hà Nội, năm 1996
Tác giả Mạc Văn Trang: Đặc điểm loi sống sinh viên hiện nay và những phương
hướng, biện pháp giáo dục loi sống cho sinh viên, Đe tài khoa học cấp bộ, Mã số
B94-38-32, Năm 1998
Tác giả Đặng Văn Thuân: Các biện pháp quản lý giáo dục nếp sổng cho sinh
viên trường Cao đẳng Sư phạm Mau giáo Trung ương 3, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo
dục, Năm 1999
Tác giả Tạ Duy Chung: Quản lỷ giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường
Cao đẳng nghề Việt Xô sổ 1, Bộ Xây dựng, Luận văn thạc sỹ khoa học quản lý giáo dục,
Năm 2015
Ngoài ra một số chuyên đề, bài báo viết về lối sống, nếp sống sinh viên như:
Tác giả Vũ Dũng: Nếp sổng xã hội của sinh viên, Tạp chí Đại học và Giáo dục
chuyên nghiệp, tháng 01/1997
Tác giả Hồ Thu: Sinh hoạt trong kỷ túc xá sinh viên, sân chơi chưa lành mạnh,
Báo Sài Gòn giải phóng, ngày 24/11/2003
Qua những công trình, tài liệu nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy các tác giả
đã tiếp cận với những góc độ, bình diện khác nhau trên các đối tượng sinh viên thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau Riêng mảng đề tài về sinh viên ngành GDQP và
AN trường ĐHSP Hà Nội 2 thì chưa có tác giả nào đề cập Từ những sự cần thiết về công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên ở trường ĐHSP Hà Nội 2 nói chung và ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 nói riêng, tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất
Trang 168
lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2” Hy vọng và mong muốn của tôi là đóng góp một phàn nhỏ vào việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Max Weber, nhả xã hội học người Đức, là người đầu tiên khi nghiên cứu về lối sống đã cho rằng lối sống thể hiện vị trí của các nhóm xã hội Khái niệm lối sống được
mô tả như kiểu sống của một nhóm xã hội, giai cấp, là một cộng đồng người cùng chung một vị trí kinh tế
Thuật ngữ lối sống có sự biện chứng giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần gắn liền với phương thức sản xuất xã hội, với chế độ chính trị xã hội, với hình thái kinh tế xã hội
Ở Liên Xô cũ, một số công trình nghiên cứu lối sống đã đặt vấn đề nghiên cứu nội hàm khái niệm lối sống với 3 cách tiếp cận được tóm lược nhu sau:
- Cách tiếp cận thứ 1 : Xem xét lối sống như một phạm trù có liên quan bên trong của chủ thể như nếp nghĩ, nép hành động, thói quen mà ít quan tâm đến hoạt động sống và các điều kiện sống Mặt hạn chế của cách tiếp cận này ở chỗ, theo A I Buchenco, nó đã loại ra một yếu tố quan trọng của lối sống là hoạt động của chủ thể
và lao động
- Cách tiếp cận thứ 2: Định nghĩa lối sống bằng cách liệt kê ra các hoàn cảnh sống của con người, xã hội do đó lối sống được kiến giải như một phạm trù xã hội học bao gồm các điều kiện sống, các hình thức hoạt động sống của con người, các quan hệ
xã hội, các sinh hoạt, các hình thức thỏa mãn nhu cầu thế giới quan
- Cách tiếp cận thứ 3: Xem lối sống như là một sự thống nhất các hình thức hoạt động sống và các điều kiện sống của con người, xã hội Như vậy, lối sống là một phạm trù của xã hội học, chỉ sự thống nhất hữu cơ của các hình thức hoạt động sống
và các điều kiện sống nhất định
Từ 3 cách tiếp cận ữên, M N Rukevich, tiến sĩ triết học Viện hàn lâm khoa
Trang 179
học Liên Xô cũ đã khái quát như sau: Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu, nói lên hoạt động của các nhóm dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiệu của một hình thái kinh tế xã hội nhất định
Có nhiều cách phân loại lối sống:
- Từ bình diện sử dụng năng lực, T Makiguchi nêu lên 3 lối sống của con nguời như sau:
+ Lối sống đóng góp: trong mối quan hệ với thời gian, con người có các thái
độ mang tính lạc quan hay bi quan khi hoạt động phản ứng với các kích thích của hiện tại, hoạt động hướng về quá khứ và hoạt động hướng về tương lai
+ Lối sống trao đổi: lối sống văn hóa, lối sống chính trị, lối sống kinh tế + Lối sống phụ thuộc: sống bằng hưởng thụ hay chiếm đoạt
- Từ bình diện xã hội học, lối sống được chia theo các tiêu chí sau:
+ Theo lãnh thổ vùng miền: có lối sống thảnh thị, lối sống nông thôn
+ Theo phân tầng giai cấp: có lối sống tư sản, lối sống tiểu tư sản, lối sống công nhân, lối sống sinh viên, lối sống tri thức, lối sống thương gia, lối sống nông dân
+ Theo hình thái kinh tế xã hội: có lối sống phong kiến, lối sống tư bản chủ nghĩa, lối sống XHCN
Tác giả Đỗ Trung Lai cho rằng: “Lối sống suy cho cùng là cách dùng đạo đức
mà hành đạo ở đời Lối sống thể hiện bên ngoài của đạo và đức Nó đã là và luôn là văn hóa”
Tác giả Phạm Ngọc Định cho rằng lối sống còn là một phạm trù của duy vật lịch sử Tác giả dựa vào luận điểm của Marx và Ănghen khi cho rằng “Phương thức sản xuất phải xét không đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của cá nhân và hơn thế nữa nó là một hình thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ: Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào thì họ là người như thế ấy Nó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ đã sản xuất ra cũng như cách họ sản xuất ra”
Phạm Ngọc Định đã đưa ra định nghĩa lối sống dưới dạng luận đề “Lối sống là
Trang 1810
tổ hợp các phương thức hoạt động sống điển hình của con ngời đối với xã hội nhất định mà nó được xét thống nhất với các điều kiện nó hoạt động Lối sống bao gồm nhiều hệ thống hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống”
Tác giả Thanh Lê cho rằng “Lối sống là quan niệm sống của con người, tức là nói đén nhân sinh quan Nói đến lối sống là nói đến tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội và cá nhân - hoạt động lao động; hoạt động sinh hoạt, gia đình; hoạt động xã hội, chế độ; hoạt động văn hóa tinh thần Trong đó, hoạt động lao động là cơ bản nhất”
Các định nghĩa, các cách phân loại lối sống trình bày ở trên giúp cho nhả quản
lý, nhà nghiên cứu có cơ sở đi sâu phân tích đặc điểm của từng khách thể, từng nhóm
xã hội để từ đó xác định phương hướng cụ thể xây dựng lối sống phù hợp
Thuật ngữ nép sống được dùng rất phổ biến Theo thói quen trong ngôn ngữ tiếng Việt, ữên sách báo hiện nay sử dụng hầu như cả hai thuật ngữ lối sống và nếp sống với một nội hàm giống nhau Hai thuật ngữ này không hoàn toàn như một nhưng cũng không nói lên hai phạm trù khác nhau
A.P.Buchenco cho rằng: “Nếp sống không phải là một phần mà là một trong những hình thức biểu hiện của sự sống”
L.V.Cokan cho rằng: “Nếp sống của con người được xem như là sự phản ánh của cá nhân vào xã hội, lối sống của con người được xem như là sự phản ánh của xã hội vào cá nhân”
Nếp sống là cách xử sự của mồi người, những giá trị được rút ra từ đời sống hiện thực Những giá trị ấy là sự điều tiết các xu hướng, quan niệm và hành vi của con người làm cơ sở cho việc đánh giá các giá trị xã hội, các nguyên tắc của trật tự xã hội
Trang 1911
chưa trở thành bản tính tự nhiên của con người trong các hoạt động, trong các ứng xử thì không nằm trong phạm trù nép sống Nép sống là mặt ổn định của lối sống, là bản năng của lối sống nên khi nói đến nếp sống nghĩa là nói đến một lối sống ổn định
Thật là khó khăn khi tách rời nếp sống ra khỏi lối sống, lối sống có tính định tính, định hướng Còn nếp sống có tính định hình, định lượng trong cuộc sống của con người Nếp sống với tư cách là biểu hiện của lối sống, thể hiện ở tính cụ thể, ở những chuẩn mực, khuôn mẫu ứng xử của xã hội mà mỗi cá nhân đó tự ý thức, tự biến đổi bản tính của mình thành những hành động ổn định mang tính chung của xã hội So với lối sống, nép sống có tính ổn định, bền vững hơn nhưng không có nghĩa không có sự biến đổi Cùng với sự biến đổi của lối sống, nép sống cũng biến đổi nhưng chậm và khó khăn hơn
Xung quanh khái niệm lối sống, nép sống chúng ta còn gặp một số khái niệm liên quan như nếp sống văn minh, nếp sống văn hóa, mức sống, lẽ sống, phong cách sống, nếp sống mới Nội hàm các khái niệm trên đều nằm trong phạm vi nếp sống
- Nếp sống văn minh có sự phân biệt với nếp sống văn hóa: Nếp sống văn minh là nếp sống được thừa hưởng các thảnh tựu của nền khoa học kĩ thuật cơ khí, điện tử, mang sắc thái nếp sống công nghiệp Nếp sống văn hóa là nếp sống thể hiện trình độ văn hóa cao, bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc hòa quyện với nhau
- Cách sống: Là kiểu sống có nghĩa hẹp cụ thể, đó là lối sống theo cá tính, thị hiếu của cá nhân trong một điều kiện môi trường sống nhất định Ví dụ: Cách sống của một gia đình, một tầng lớp, của giới văn nghệ sĩ, của người độc thân Tuy nhiên cách sống, kiểu sống mang tính độc đáo, đa dạng nhưng vẫn phải tuân thủ lối sống nhất định trong một cộng đồng, trong một xã hội
- Mức sống: Là mức thu nhập, mức hưởng thụ phúc lợi xã hội của cá nhân là thước đo chất lượng cuộc sống Trong sự hưởng thụ có sự hưởng thụ vật chất, hưởng thụ tinh thần Mức sống cao, con người có điều kiện thỏa mãn các yêu cầu về vật chất
và tinh thần Mức sống thấp, con người chưa có cơ hội để thỏa mãn nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần
- Lẽ sống: Là một trong những phạm trù cơ bản của đạo đức học Lẽ sống là
Trang 2012
một phần nhận thức của lối sống, nép sống Lẽ sống là sự thống nhất biện chứng giữa nghĩa vụ và hạnh phúc Lẽ sống cao nhất thể hiện ở lối sống, nép sống mình với mọi người, mọi người với mình Chúng ta có thể tìm thấy lẽ sống cao quý ở các anh hùng, các bậc vĩ nhân, các nhà khoa học và ngay cả ở những con người bình thường biết hy sinh với cộng đồng hoặc giữ gìn phẩm chất trong sáng trong mọi hoàn cảnh thực sự khó khăn
Khái quát toàn bộ các vấn đề lý luận đã trình bày ở trên có thể nêu lên định
nghĩa tổng quát: “Nep sổng là những cách thức hành động và suy nghĩ, những quy
ước được lặp đi lặp lại hàng ngày và trở thành thói quen trong sản xuất, sinh hoạt, phong tục, lễ nghỉ, hành vỉ đạo đức, trong pháp luật”
Từ định nghĩa cho ta thấy nép sống chính là cách thức ứng xử, việc làm, việc thực hiện các quy ước của cộng đồng đã trở thành thói quen Nép sống được thể hiện trong tất cả các hoạt động của con người từ sinh hoạt, giải trí, vui chơi, học tập đến lao động, ứng xử, giao tiếp Có thể chia nếp sống theo nhiều cách, dựa vào các đặc điểm
và các tiêu chí xã hội học, người ta phân loại như sau:
- Theo đặc điểm nghề nghiệp: có nếp sống nông dân, nếp sống nghệ sĩ
Ví dụ: Người nông dân có nếp sống chất phác, thật thà, giản dị
- Theo đặc điểm vùng miền có nếp sống đô thị, nếp sống nông thôn
- Theo đặc điểm độ tuổi nép sống thanh niên, nếp sống người cao tuổi
Vi dụ: Thanh niên họ có nép sống nhanh thích nghi và tiếp thu những cái mới,
sống phóng khoáng và thích thay đổi Còn người cao tuổi họ luôn có nếp sống là: Có tính ổn định cao và họ khó thích nghi với những cái mới
- Theo tiêu chí phân tầng xã hội có nếp sống công nhân, nếp sống trí thức
- Theo hình thái kinh tế xã hội có nếp sống tư bản chủ nghĩa, nếp sống XHCN
Trang 2113
ứng xử; hoạt động cá nhân; hoạt động đoàn thể xã hội
Đối với sinh viên nép sống biểu hiện trong các hoạt động học tập, sinh hoạt, lao động, giao tiếp, ứng xử Đây là những hoạt động trong nhà trường, đặc biệt ở nội trú toong KTX, là những hoạt động cơ bản của sinh viên
Nhìn chung, nếp sống là phương thức xử sự trong một hoàn cảnh nhất định của
cá nhân trong cuộc sống, nó còn là một phương thức xử sự được quy định bởi các giá trị đạo đức chuẩn mực Vì vậy, nếp sống là những quy ước tạo thành thói quen cho mỗi con người và xã hội Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn phải chứng kiến cuộc xung đột gay gắt giữa lối sống mới và đủ loại nép sống trong các mối quan hệ xã hội, buộc mỗi cá nhân phải nhìn nhận lựa chọn cho mình một cách sống lành mạnh, có văn hóa
1.3 Đặc điểm tâm lý của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội
2
Trước hết chúng ta nhận thấy rằng, sinh viên là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị Họ là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội Là nguồn cung cấp chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo các nghề nghiệp khác nhau trong cấu trúc tầng lớp tri thức xã hội Các tổ chức chính trị, xã hội, gia đình đều đặt nhiều kỳ vọng vào sinh viên Điều này làm cho sinh viên có vai trò rõ rệt Sinh viên là công dân thực thụ của một đất nước với đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật Họ có quyền bàu cử, ứng cử, phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi và việc làm trước Bộ luật Hình sự, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Hôn nhân và gia đình
Với ý nghĩa trên thì xã hội coi sinh viên là một thảnh viên chính thức, một người trưởng thành Tuy nhiên, do đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa tham gia trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nên các em chưa hoàn toàn là người tự lập về mọi mặt
so với những thanh niên cùng độ tuổi không học đại học, phải tham gia lao động sớm
Vì vậy, tính chất trưởng thành của thanh niên sinh viên có những nét đặc trưng riêng Nhà tâm lý học người Pháp Bianka Zazzo đã nghiên cứu tuổi trưởng thành của thanh
Trang 2214
niên sinh viên và đi đến két luận: Trình độ học vấn và vị trí xã hội của con người có ảnh hưởng đến sự trưởng thành của họ Những nghiên cứu của ông cho thấy, thanh niên nông thôn trưởng thành về mặt xã hội sớm hơn thanh niên công nhân; thanh niên sinh viên trưởng thành về mặt xã hội muộn nhất Điều này là do càng tham gia lao động sản xuất sớm thì tình cảm trách nhiệm, tình cảm nghĩa vụ càng hình thành sớm,
họ nhanh chóng sống độc lập và tách khỏi sự phụ thuộc vào cha mẹ
Mặt khác theo các nhà tâm lý học tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong hoạt động và trong đời sống sinh viên Đặc điểm của nó là tính hệ thống và bền vững so với thời kỳ trước đó
Đối với sinh viên học ngành GDQP và AN tại Trung tâm GDQP Hà Nội 2 rất
đa dạng, phong phú, đến từ nhiều vùng, miền khác nhau, họ mang theo những nét đặc trưng riêng, văn hoá vùng miền, truyền thống gia đình, phong tục tập quán khác nhau
Sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 có sự khác biệt
so với sinh viên ở các khoa trong nhà trường đó là sinh viên khi đến học được biên chế thành các tiểu đội (tổ học tập), trung đội (lớp học tập) do ban chỉ huy đại đội quản lý trực tiếp, sinh viên phải ăn, ở, sinh hoạt tập trung, sống xa nhà Sinh viên trong cùng một trường nhưng ở các khoa khác ở môi trường bên ngoài rất thoải mái trong sinh hoạt, học tập, tự do đi lại ngoài giờ học Còn sinh viên ngành GDQP và AN khi nhập học, theo môi trường quân đội được rèn luyện theo các chế độ trong ngày, trong tuần hết sức gò bó, với tính kỷ luật cao Ban đầu nhiều sinh viên đã nản chí, tự ý bỏ ra ngoài đi chơi, chấp hành thời gian ra vào cổng còn sai quy định, mang mặc sai tác phong, tuy nhiên sau đó được sự động viên kịp thời của các cán bộ quản lý sinh viên cũng như các em đã nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của bản thân với đặc thù ngành học của mình nên 100% sinh viên ở Trung tâm đều xác định quyết tâm khắc phục khó khăn, vất vả để học tập và rèn luyện
Đa số sinh viên có trách nhiệm, ham hiểu biết, có chí tiến thủ, năng động, và
có một quyết tâm cao để khắc phục mọi khó khăn, vất vả vươn lên trong học tập Đối
Trang 2315
với ngành GDQP và AN bên cạnh nhiều sinh viên có nhận thức đúng, có nhiều cố gắng và đạt kết quả cao ữong học tập thì cũng có một bộ phận sinh viên coi ngành học này là ngành học 3K (khó, khô, khổ) Chính vì vậy trong quá trình học tập có sinh viên còn chưa tích cực, tự giác, thời gian dành cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên còn hạn ché Đây là những yếu tố tác động, ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học các môn chuyên ngành GDQP và AN cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 nói chung và chất lượng giáo dục nép sống nói riêng
Dạy học các môn chuyên ngành GDQP và AN cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 mang tính đặc thù về cả nội dung chương trình, hình thức tổ chức, phương pháp giảng dạy lẫn đội ngũ cán bộ, giảng viên và cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Đe nâng cao chất lượng dạy học môn học này đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ, khoa học, có tính kỷ luật, có nếp sống văn minh, lối sống lành mạnh Tuy nhiên, công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên có lúc còn bị chi phối bởi cơ chế, chính sách,
tổ chức biên chế, các mặt bảo đảm và đặc biệt là ý thức của mồi sinh viên
Kết quả nghiên cứu những vấn đề cơ bản trên là những cơ sở sát thực để đánh giá đúng thực trạng, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nép sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
1.4 Nội dung giáo dục nếp sống cho sinh viên
Theo quy định của Trung tâm khi sinh viên đến nhập học được tổ chức biên chế thành các tiểu đội, trung đội, đại đội, mỗi trung đội là một lớp học số lượng sinh viên trong mồi lớp học dao động từ trên 40 đến trên 60 sinh viên, tuỳ theo số lượng chỉ tiêu từng năm
Hàng ngày sinh viên phải tham gia học tập theo ké hoạch chung Vị trí học tập các nội dung lý thuyết được tổ chức ở giảng đường, các nội dung thực hành được tổ chức học tập ở ngoài sân bãi, thao trường Trong quá trình học tập được giảng viên tổ chức duy trì kỷ luật trong lớp học hét sức nghiêm túc và chặt chẽ, cụ thể:
Khi học tập trong hội trường (phòng học), người phụ trách hoặc trực ban lớp học phải kiểm tra quân số, trang phục, chỉ huy sinh viên vào vị trí, hô “Nghiêm” và
Trang 2416
báo cáo giảng viên Neu có mang theo vũ khí giảng viên phải tổ chức cho khám súng trước và quy định nơi giá (đặt) súng Sinh viên ngồi trong lớp học phải đúng vị trí quy định, tập trung tư tưởng theo dõi nội dung học tập Khi ra hoặc vào lớp phải đứng nghiêm báo cáo xin phép giảng viên Được phép mới ra hoặc vào lớp
Sau mỗi tiết hoặc giờ học tập được nghỉ 5 đến 10 phút Het giờ nhanh chóng vào lớp, tiếp tục nghe giảng Giảng viên phải chấp hành đúng thời gian Neu giảng quá giờ quy định phải báo cho người phụ trách lớp học và người học biết Hét giờ học, người phụ trách hoặc trực ban lớp hô “Đứng dậy” và hô “Nghiêm”, báo cáo giảng viên cho xuống lớp, sau đó chỉ huy sinh viên ra về
Khi học tập ngoài thao trường, người phụ trách hoặc trực ban lớp phải tổ chức cho sinh viên đi và về thành hàng lối, thời gian đi và về không tính vào thời gian học tập Nếu một lần đi (về) trên một giờ được tính một nửa vào thời gian học tập Trước khi học tập, người phụ trách hoặc trực ban lớp học phải tập hợp sinh viên, kiểm tra sĩ
số, trang phục, vũ khí, học cụ, khám súng, sau đó báo cáo với giảng viên Sinh viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật thao trường Súng, đạn (néu có), trang bị chưa dùng trong luyện tập phải có người canh gác Hốt giờ luyện tập người phụ trách hoặc trực ban lớp học phải tập hợp sinh viên, khám súng, kiểm tra sĩ số, vũ khí, học cụ và các trang bị khác, chỉnh đốn hàng ngũ, báo cáo giảng viên cho sinh viên nghỉ, sau đó chỉ huy sinh viên về đơn vị, hoặc nghỉ tại thao trường Trường hợp có cấp trên của giảng viên ở đó thì giảng viên phải báo cáo cấp trên trước khi lên, xuống lớp
Thời gian ngoài giờ lên lớp là khoảng thời gian khá dài trong quỹ thời gian của sinh viên Đe sử dụng thời gian cho việc học tập, trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức tự giác của sinh viên Tuy nhiên vai trò kiểm tra giám sát của cán bộ quản lý sinh viên, của cán bộ trung đội kiêm chức, tiểu đội kiêm chức, ban cán sự lớp, cán bộ Đoàn, Hội, các câu lạc bộ cũng không thể bỏ qua Đặc biệt là quá trình tự học của sinh viên, các em phải tự nhận thức được việc học tập của mình, việc học tập đòi hỏi sinh viên không chỉ tiếp thu tri thức ở trên lớp qua bài giảng của thầy mà còn phải tự tìm kiếm tri thức thông qua các tài liệu tham khảo trên cơ sở những kiến thức đã lĩnh hội trước đó Để chiếm lĩnh vốn tri thức sâu và rộng, hoàn
Trang 2517
thành tốt mục đích và nhiệm vụ học tập, sinh viên phải biết coi trọng việc tự học
Ngoài giờ lên lớp, thời gian tự học sinh viên sử dụng thời gian vào các hoạt động lao động, sinh hoạt giải trí văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao Đây là những hoạt động không thể thiếu và có tác dụng tích cực trong việc giúp sinh viên bổ sung, ứng dụng kiến thức học được qua sách vở vào thực tiễn cuộc sống nếu như những hoạt động đó nằm trong kế hoạch và có tổ chức, có định hướng giáo dục rõ ràng của các cơ quan, đơn vị Đối với những hoạt động này cần tạo điều kiện tốt để sinh viên thể hiện năng lực của mình trong hoạt động thực tiễn, đồng thời phát hiện những thiếu sót, yếu điểm để kịp thời bổ xung, sửa chữa nhằm hoàn thiện các nội dung đào tạo Kịp thời ngăn chặn và nghiêm khắc xử lí đối với các hoạt động dưới hình thức tổ chức nhóm, cục bộ, vùng miền, địa phương, mang tính tự phát mà nội dung không lành mạnh ảnh hưởng tới môi trường đào tạo của Trung tâm Đó là những hoạt động vừa mất thời gian và ảnh hưởng xấu đến két quả học tập, rèn luyện của các em, vừa ảnh hưởng đến nếp sống
động
Thời gian ngoài giờ vào các giờ nghỉ, ngày nghỉ sinh viên tham gia vào các hoạt động ngoại khoá như: giao lưu văn hóa văn nghệ, thi đấu thể dục thể thao, tổ chức các chương trình, sự kiện và tham gia lao động củng cố đơn vị, làm sạch đẹp môi trường Đây là những hoạt động không thể thiếu trong khóa học, nó có tác dụng rất tích cực trong việc giúp sinh viên bổ sung, ứng dụng kiến thức học được qua sách vở vào thực tiễn cuộc sống, các em được hoạt động, trải nghiệm cuộc sống Đặc biệt những hoạt động đó nằm trong ké hoạch và có tổ chức, có định hướng giáo dục rõ ràng, tổ chức phân công cụ thể, có người phụ trách Những thời gian ngoài giờ là thời điểm rất dễ để sinh viên vi phạm các quy định, vi phạm kỷ luật, do vậy việc giáo dục nép sống trong các hoạt động này là hét sức quan trọng
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội Lao động là vinh quang, mọi người cần phải có thái độ tôn trọng, yêu quí lao động; lao động phải có tính mục đích, tính kỷ luật, có kiến thức,
Trang 2618
kỹ năng, chất lượng và hiệu quả
Lao động sáng tạo ra con người Bằng lao động con người ngày càng tiến hóa
và phát triển, hoàn thiện (cả về vóc dáng và nhân cách) Lao động là thuộc tính của con người, đã là con người thì phải lao động Lao động sáng tạo ra của cải vật chất; nhờ có lao động làm cho đời sống vật chất và đời sống tinh thần ngày càng phong phú
Mọi biểu hiện lười lao động, dựa dẫm, ỷ lại đều phải được phê phán bởi từ những biểu hiện như vậy dễ dẫn đến thụ động, thiếu ý trí trong lập thân, lập nghiệp, trở thành gánh nặng của gia đình và xã hội
Do vậy trong khóa học vào những ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật) thì sinh viên cũng được phân công tổ chức lao động tổng dọn vệ sinh môi trường xung quanh đơn
vị, tổ chức trồng và chăm sóc cây xanh
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, mở cửa, đã đem lại những thành tựu không nhỏ về kinh tế giúp cho đời sống của nhân dân được nâng cao, cơ hội đi học đại học, cao đẳng cho thanh niên được nhiều hơn và thuận lợi hơn Nhưng bên cạnh những thuận lợi đó thì cũng kéo theo những mặt hạn chế không nhỏ đặc biệt cho thanh niên ở
độ tuổi học cao đẳng, đại học trong đó có quan hệ ứng xử Đặc biệt là quan hệ giữa sinh viên với sinh viên, giữa sinh viên với cán bộ, giảng viên không chuẩn mực, quan
hệ nam nữ không phù hợp, không trong sáng, lối sống thực dụng
Đổ làm tốt vấn đề này đòi hỏi phải có sự đầu tư công sức, sự quan tâm thường xuyên của các cấp lãnh đạo, chỉ huy, sự phối hợp nhịp nhàng giữa Trung tâm với chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể và đặc biệt là ý thức tự giác trong học tập và rèn luyện của bản thân mỗi sinh viên; xây dựng một môi trường giáo dục thống nhất, cán bộ giảng viên và sinh viên, phải phối hợp với các tổ chức đoàn thể chính trị,
xã hội và gia đình theo mục tiêu giáo dục đào tạo
Sinh viên vào Trung tâm được phân công nơi ở theo KTX, mồi phòng ở bố trí
8 sinh viên (mồi phòng tương đương một tiểu đội), các khu vực học tập, sinh hoạt theo
vị trí phân công, được cán bộ quản lý sinh viên quán triệt rất rõ ràng về các quy định,
cụ thể hóa đến từng nội dung công việc, từ lời ăn, tiếng nói, cách xưng hô giữa sinh
Trang 2719
viên với giảng viên, sinh viên với sinh viên, với mọi người xung quanh dựa trên tính
kỷ luật và nép sống văn minh trong giao tiếp, ứng xử
Trang 2820
Kết luận chương 1
Giáo dục nếp sống cho sinh viên có vai trò quan ữọng trong việc hình thành phẩm chất nhân cách của con người, đã từ lâu chúng ta đã xác định môi trường quân đội được coi như một trường đại học tổng hợp để rèn luyện con người Trải qua 4 năm học tập trung trong môi trường học tập, rèn luyện gần như môi trường quân đội phàn nào giúp cho sinh viên có đủ năng lực thực hiện các quan hệ phù hợp với các quy tắc ứng xử chuẩn mực Công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN tại Trung tâm GDQP Hà Nội 2 là một nhiệm vụ lâu dài; các quy định, nội quy, quy chế quản lý, rèn luyện sinh viên phải được cụ thể hóa hệ thống Điều lệnh quản lý bộ đội, điều lệ, mười lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật của QĐNDVN, các quy định càn phải được xây dựng, sửa đổi, bổ sung thường xuyên cho phù hợp với mục tiêu đào tạo Các
cơ sở đào tạo phải có kế hoạch, nội dung quản lý và phương pháp tổ chức thực hiện hiệu quả Công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 có nhiệm vụ tìm ra những biện pháp phù hợp, hiệu quả, dựa trên cơ
sở vận dụng cơ sở lí luận khoa học, kiểm tra đánh giá két quả thực hiện; phát huy vai trò của các tổ chức trong và ngoài Trung tâm cùng tham gia giáo dục nép sống cho sinh viên, để công tác quản lý sinh viên thực sự chất lượng và hiệu quả
Chương 2 THựC TRẠNG GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC QUÓC PHÒNG VÀ AN NINH Ở TRUNG TÂM
GIÁO DỤC QUÓC PHÒNG HÀ NỘI 2 HIỆN NAY
2.1 Khái quát quá trình xây dựng, phát triển và đặc điểm hoạt động của Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được thành lập theo quyết định số 2630/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 27 tháng 7 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trung tâm là cơ sở GDQP và AN cho sinh viên, có nhiệm vụ thực hiện quản lý tổ chức học tập, rèn luyện toàn diện đối với sinh viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 2921
Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2 có đội ngũ sĩ quan biệt phái thuộc
Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, được đào tạo cơ bản, chính quy tại các học viện, nhà trường quân đội và các nhà trường trong và ngoài nước
Trải qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, mặc dù gặp không ít khó khăn, đến nay Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã có những bước phát triển mạnh mẽ Hiện nay Trung tâm đã có một lực lượng cán bộ, giảng viên, nhân viên mạnh về chất lượng, hợp
lý về cơ cấu Tổng số sỹ quan, viên chức có 37 người, trong đó sĩ quan biệt phái là 22 người: Đại tá 03, Thượng tá 08, Trung tá 07, Thiếu tá 01, Đại uý 03; cán bộ có trình
độ thạc sỹ 08, đang NCS 02
về công tác đào tạo, Trung tâm luôn tích cực chủ động, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của nhà trường, sử dụng tối đa quỹ thời gian, cơ sở vật chất, giảng đường, ký túc xá, đồng thời chủ động liên kết chặt chẽ với các nhả trường, cơ quan, đơn vị quân đội trên địa bàn để tổ chức đào tạo, GDQP và AN cho học sinh, sinh viên Trong hơn 15 năm qua Trung tâm đã hoàn thành 174 khóa học GDQP và
AN, cấp chứng chỉ cho trên 200.000 sinh viên của trên 20 trường đại học, cao đẳng được Bộ GD & ĐT phân luồng Cùng với việc đào tạo cấp chứng chỉ môn học GDQP
và AN, Trung tâm đã phối hợp với Trường Quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Trường Quân sự tỉnh Hải Dương, Trường Quân sự tỉnh Ninh Bình đào tạo ngắn hạn
10 khóa giáo viên GDQP và AN (470 giáo viên GDQP và AN) cho các địa phương, đào tạo 7 khoá hệ chính quy ghép môn với GDQP và AN (531 giáo viên) Thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo giáo viên GDQP và AN, hiện nay Trung tâm đang đào tạo 4 khóa (hơn 300 sinh viên) hệ chính quy 4 năm ngành sư phạm GDQP và AN
Hơn 15 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã từng bước khẳng định vị thế vững chắc trong hệ thống các Trung tâm GDQP và AN trên toàn quốc, được Hội đồng GDQP và AN Trung ương, các cơ quan của Bộ Quốc Phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội ghi nhận và đánh giá cao, đồng thời Trung tâm cũng tạo được sự tín nhiệm cao là địa chỉ đáng tin cậy để các trường đại
Trang 3022
học, cao đẳng đưa sinh viên đến học tập môn học GDQP và AN
Trong thời gian tới nhiệm vụ của Trung tâm GDQP Hà Nội 2 ngày càng nặng
nề, khó khăn hơn đòi hỏi chất lượng đào tạo giáo viên ngành GDQP và AN ngày càng cao hơn; công tác nghiên cứu khoa học càn đẩy mạnh hơn nữa để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo góp phàn thực hiện tốt nghị quyết số 29/NQ-TW của Hội nghị Trung ương khóa XI ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
2.2 Thực trạng về nếp sống của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP
Hà Nội 2
Theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo, thời gian học tập 4 năm sinh viên GDQP và AN có tổng số tín chỉ phải tích lũy là 130, trong đó:
- Khối kiến thức đại cương: 26 tín chỉ
- Khối kiến thức cơ sở ngành: 14 tín chỉ
- Khối kiến thức nghiệp vụ: 33 tín chỉ
- Khóa luận tốt nghiệp hoặc các môn chuyên ngành thay thế: 08 tín chỉ
Sinh viên các khóa sau khi nhập trường đến Trung tâm học tập, rèn luyện được biên chế ăn, ở và sinh hoạt tập trung gần như mô hình ở các đơn vị quân đội, phải thực hiện các hoạt động cơ bản theo các ché độ trong ngày, trong tuần theo Điều lệnh quản
lý bộ đội QĐNDVN gồm 11 ché độ trong ngày:
1- Treo quốc kỳ 2- Thức dậy 3- Thể dục sáng 4- Kiểm tra sáng 5- Học tập 6- Ăn uổng 7- Bảo quản vũ khỉ, khỉ tài trang bị 8- Thể thao, tăng gia sản xuất
Trang 3123
9- Đọc báo, nghe tin 10- Điểm danh, điểm quân sổ 11- Ngủ, nghỉ
Và 3 ché độ trong tuần đó là:
1 - Chào cờ, duyệt đội ngũ 2- Thông báo chỉnh trị 3- Tổng vệ sinh doanh trại
Tuy nhiên để mềm hóa các chế độ trong ngày, trong tuần và đồng thời cũng để phù hợp với đối tượng là sinh viên học ngành GDQP và AN chứ không phải là chiến
sỹ ở các đơn vị bộ đội chủ lực, nên về cơ bản vẫn tổ chức duy trì theo thời gian biểu quy định song không tổ chức treo quốc kỳ hàng ngày; trong tuần chỉ tổ chức chào cờ, duyệt đội ngũ vào sáng thứ hai
Trong khoảng thời gian ngoài giờ quy định, sinh viên thường tham gia vào các hoạt động như văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí Các hoạt động của sinh viên rất đa dạng và phong phú Trong phạm vi đề tài, tôi chỉ tiến hành nghiên cứu về giáo dục nếp sống cho sinh viên biểu hiện qua những hoạt động học tập, rèn luyện; hoạt động sinh hoạt tập thể, cá nhân và lao động; hoạt động giao tiếp và ứng
xử
Tự học là quá trình nồ lực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực và các phẩm chất nhân cách của bản thân người học bằng hành động của chính mình, ở bậc cao đẳng, đại học, việc học tập đòi hỏi sinh viên không chỉ tiếp thu tri thức ở trên lớp qua bài giảng của thày mà còn phải tự tìm kiếm tri thức thông qua các tài liệu tham khảo trên cơ sở những kiến thức đã lĩnh hội trước đó Đe chiếm lĩnh vốn tri thức sâu và rộng, hoàn thành tốt mục đích và nhiệm vụ học tập, sinh viên phải coi trọng việc tự học Bản thân tôi cũng là một sinh viên được sinh hoạt tập trung ở Trung tâm, tôi tự nhận thấy việc duy trì thành nền nép tự học, tự nghiên cứu là chưa phổ biến, thời gian sinh viên dành cho việc tự học là chưa nhiều
Với việc dành thời gian vào việc ôn tập thi cử cho thấy tính tự giác tích cực học tập của sinh viên chưa cao, việc học mang tính chất đối phó với việc thi cử vẫn là