1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường tỉnh lai châu

68 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Nông học - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đánh giá một

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẨN MÍ SINH

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI VỤ XUÂN HÈ

2014 TẠI HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt

Khóa học : 2011 - 2015

Thái Nguyên, 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẨN MÍ SINH

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI VỤ XUÂN HÈ

2014 TẠI HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt

Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Luân Thị Đẹp

Thái Nguyên, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là là quá trình rất quan trọng giúp cho mỗi sinh viên hoàn thiện kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, phương pháp làm việc, trau dồi kiến thức và kỹ năng thực tế vào trong công việc nhằm đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, nhu cầu nhân lực ngày càng cao của xã hội

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Nông học - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu”, sau một thời gian làm việc

nghiêm túc và hiệu quả cho đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành

Để đạt được kết quả như ngày hôm nay tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dậy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, đặc biệt là sự chỉ bảo nhiệt tình của cô giáo PGS.TS Luân Thị Đẹp, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người luôn hỗ trợ, giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ chuyên mô còn nhiều hạn chế nên đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài của tôi có thể hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, 08 tháng 06 năm 2015

Sinh viên

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009 - 2013 6

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam giai đoạn 2009 - 2013 7

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô tại Lai Châu giai đoạn 2009 - 2013 8

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu

giai đoạn 2009 - 2013 8

Bảng 3.1 Nguồn gốc và đặc điểm của các tổ hợp ngô lai 15

Bảng 4.1 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô lai

tham gia thí nghiệm 23

Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu hình thái sinh lý của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm trong vụ Xuân - Hè năm 2014 26

Bảng 4.3 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các tổ hợp ngô lai

vụ xuân - hè 2014 29

Bảng 4.4 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm Xuân - Hè 2014 31

Bảng 4.5 Khả năng chống đổ của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 34

Vụ Xuân - Hè 2014 34

Bảng 4.6 Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ Xuân - Hè 2014 35

Bảng 4.7 Năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ Xuân - Hè

năm 2014 38

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Biểu đồ về năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống

ngô trong thí nghiệm vụ xuân hè 2014 39

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AMNET : Phát triển giống ngô chịu hạn nhằm cải thiện thu nhập

cho nông dân vùng Đông Nam Châu Á BNNPTNT : Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn

CCC : Chiều cao cây

NSLT : Năng suất lý thuyết

NSTT : Năng suất thực thu

OPV : Tạo giống ngô thụ phấn tự do

FAO : Tổ chức lương thực và liên hiệp quốc

P : Xác suất

QPM : Ngô chất lượng Protein

RCBD : Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

SL : Sinh Lý

TGST : Thời gian sinh trưởng

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN! i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3

1.2.1 Mục đích 3

1.2.2 Yêu cầu 3

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và trong nước 5

2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5

2.2.2 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam 6

2.2.3 Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Lai Châu 7

2.3 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và trong nước 9

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới 9

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam 11

Phần 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 3.1 Vật liệu nghiên cứu 15

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15

Trang 8

3.3 Nội dung nghiên cứu 15

3.4 Phương pháp nghiên cứu 16

3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 17

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 21

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

4.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm 22

4.1.1 Giai đoạn từ gieo đến mọc 22

4.1.2 Giai đoạn từ gieo đến trỗ cờ 23

4.1.3 Giai đoạn tung phấn phun râu 24

4.1.4 Thời gian sinh trưởng 25

4.2 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm hình thái sinh lý 26

4.2.1 Chiều cao cây 26

4.2.2 Chiều cao đóng bắp 27

4.2.3 Số lá trên cây 27

4.2.4 Chỉ số diện tích lá 28

4.3 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp 28

4.3.1 Trạng thái cây 29

4.3.2 Trạng thái bắp 30

4.3.3 Độ bao bắp 30

4.4 Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của các tổ hợp ngô lai

thí nghiệm 30

4.4.1 Tình hình sâu bệnh hại ngô vụ xuân hè 2014 tại Tam Đường Lai Châu 31

4.4.1.1 Sâu đục thân 31

4.4.1.2 Sâu đục bắp 32

4.4.1.3 Sâu cắn râu 33

4.4.1.4 Bệnh khô vằn 33

Trang 9

4.4.2 Khả năng chống đổ của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm 33

4.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm vụ Xuân - Hè 2014 34

4.5.1 Số bắp trên cây 35

4.5.2 Chiều dài bắp 36

4.5.3 Đường kính bắp 36

4.5.4 Số hàng trên bắp 36

4.5.5 Số hạt trên hàng 37

4.5.6 Khối lượng 1000 hạt 37

4.5.7 Năng suất lý thuyết(NSLT) 38

4.5.8 Năng suất thực thu (NSTT) 39

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Đề nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tiếng Việt

II Tiếng Anh

PHỤ LỤC

Trang 10

Phần1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngô là một loại ngũ cốc quan trọng, đứng thứ ba sau lúa mì và lúa gạo

Là cây lương thực, góp phần nuôi sống gần 1/3 dân số trên toàn thế giới Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực đứng hàng thứ 2 sau lúa gạo Diện tích gieo trồng và năng suất, sản lượng ngô cũng tăng mạnh, từ hơn 200 ngàn ha với năng suất 10 tạ/ha (năm 1960), tăng lên 1,170 triệu ha với năng suất 44 tạ/ha (năm 2013) So với các nước thì năng suất ngô ở nước ta vẫn thuộc loại khá thấp Đặc biệt tại một số địa phương miền núi vùng sâu, vùng xa như: tỉnh Lai Châu, Sơn La, Điện Biên… Một số đồng bào dân tộc ít người sử dụng ngô là nguồn lương thực, thực phẩm chính, sử dụng các giống ngô địa phương và tập quán canh tác lạc hậu nên năng suất ngô ở đây chỉ đạt trên dưới 1 tấn/ha

Hiện nay và trong những năm tới, ngô vẫn là cây ngũ cốc có vai trò quan trọng ở nước ta Ngô có nhiều công dụng, tất cả các bộ phận của cây ngô từ hạt, đến thân, lá đều có thể sử dụng để làm lương thực, thực phẩm cho người, thức

ăn cho gia súc, làm nguyên liệu cho công nghiệp (rượu ngô, sản xuất ethanol để chế biến xăng sinh học, thậm chí còn chế biến tạo ra một số vật dụng đồ dùng như điện thoại, đồ trang sức của phụ nữ…), một số bộ phận của ngô có chứa một số chất có vai trò như một loại thuốc chữa bệnh, làm chất đốt,…

Để sản xuất ngô của Việt Nam theo kịp các nước trong khu vực và đáp ứng đủ nhu cầu ngô tiêu dùng trong nước cần phát triển sản xuất ngô theo 2 hướng: mở rộng diện tích và năng suất Tuy nhiên mở rộng diện tích trồng ngô

là bài toán rất khó khăn do diện tích nông nghiệp hạn chế và phải cạnh tranh với nhiều loại cây trồng khác, cho nên tăng năng suất là phương án tối ưu để tăng sản lượng Trong những giải pháp tăng năng suất thì giống được coi là

Trang 11

hướng đột phá có ý nghĩa quyết định để nâng cao sản lượng và chất lượng nông sản Giống tốt sẽ cho sản lượng cao hơn giống bình thường từ 20 – 25% (Ngô Hữu Tình, 2003) [7]

Mặc dù Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển sản xuất ngô nhưng những năm qua sản lượng ngô trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu mà còn phải nhập khẩu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, giống, kỹ thuật canh tác của người dân và vấn đề nguồn vốn, thị trường tiêu thụ Trong đó chưa có bộ giống tốt, đặc trưng cho vùng và các biện pháp kỹ thuật áp dụng trên đồng ruộng chưa khoa học, hợp

lý là một trong những nguyên nhân chủ yếu

Lai Châu là một tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển sản xuất ngô Năm 2013 diện tích trồng ngô của tỉnh Lai Châu là 21.416 ha, năng suất bình quân đạt 27,1 tạ/ha, thấp hơn nhiều so với năng suất trung bình của cả nước (2013: 44,35tạ/ha) Thời gian qua tỉnh luôn chú trọng tập trung đầu tư, phát triển nông lâm nghiệp, tuy nhiên tình hình sản xuất ngô tại Lai Châu hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục

Tam Đường là huyện miền núi của tỉnh Lai Châu , cây ngô là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau cây lúa Khí hậu huyện Tam Đường chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm 75-80% tổng lượng mưa trong năm Tổng lượng mưa bình quân từ 1.800-2.000mm/năm, cao nhất 2.500mm/năm; mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Trong mùa này thường xuất hiện sương mù (bình quân 13 ngày/năm), sương muối (bình quân từ 2-3 ngày/năm) Nhiệt độ trung bình từ 22-26oC, biên độ dao động khá lớn: nhiệt độ cao nhất 35oC Số giờ nắng 2.100-2.300 giờ/năm Độ ẩm không khí trung bình 83%

Trang 12

Điều kiện trên đã ảnh hưởng đến cơ cấu thời vụ trồng ngô, tại đây bà con nông dân thường chủ yếu trồng ngô vào vụ Xuân - Hè và vụ Thu - Đông Ngô được trồng chủ yếu trên đất không chủ động nước (đất một vụ lúa, đất soi bãi và đất trồng màu) Bên cạnh đó các biện pháp kĩ thuật trong sản xuất ngô chưa phù hợp, các giống ngô hiện có chưa thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất của bà con nông dân Từ những nguyên nhân, hạn chế trên ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng và năng suất của ngô, dẫn đến sản xuất ngô chưa đáp ứng được nhu cầu và khai thác tối đa tiềm năng của huyện Vì vậy, việc nghiên cứu lựa chọn giống ngô lai có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, thích ứng với điều kiện địa phương là rất cần thiết và cấp bách Xuất phát

từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đánh giá một số

tổ hợp ngô lai vụ xuân hè 2014 tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

- Theo dõi tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ

- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Giúp sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất

Trang 13

- Giúp sinh viên biết bố trí một thí nghiệm so sánh giống, phương pháp

đo đếm, thu thập, phân tích số liệu và viết báo cáo khoa học

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho các nghiên cứu thực tế chọn tạo giống ngô cho Lai Châu

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Giúp sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thức tế sản xuất

- Giúp sinh viên biết bố trí một thí nghiệm so sánh giống, phương pháp

đo đếm, thu thập, phân tích số liệu và viết báo cáo khoa học

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở trong chọn tạo giống ngô tỉnh Lai Châu

Trang 14

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong những năm gần đây sản xuất ngô ở Việt Nam tăng nhanh nhờ sự thúc đẩy của ngành chăn nuôi và công nghiệp chế biến Bên cạnh đó là sự phát triển ứng dụng khoa học trong việc lai tạo các giống ngô lai mới có năng suất cao, chất lượng tốt và đưa ngô lai vào trồng trên diện rộng

Lai Châu là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất ngô, tuy nhiên năng suất bình quân lại đạt thấp hơn so với năng suất trung bình của cả nước Hiện nay trong tỉnh một số nơi còn sử dụng giống địa phương và giống thụ phấn tự do Các giống ngô lai được trồng chủ yếu trong tỉnh có nguồn gốc

từ các công ty nước ngoài như Mosanto, Syngenta, Bioseed,… nên khả năng thích ứng của các giống ở mỗi vùng sinh thái còn nhiều hạn chế Vì vậy để phát huy được các đặc tính tốt của giống mới và tránh những rủi ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh thái tại cơ sở sản xuất, trước khi đưa các giống ngô lai mới vào sản xuất đại trà tại một vùng nào đó, nhất thiết phải tiến hành đánh giá quá trình sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và tính thích ứng với điều kiện sinh thái của vùng đó Vì vậy, khảo nghiệm là một

trong những khâu rất quan trọng trong công tác giống

2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

Hiện nay ngô là cây lương thực đứng thứ 3 trên thế giới sau lúa mì và lúa nước với diện tích khoảng 184,19 triệu ha, sản lượng khoảng 1016,74 triệu tấn (năm 2013) Trong những năm gần đây nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật việc áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất đã làm

Trang 15

tăng năng suất và sản lượng ngô Hiện nay trên thế giới có khoảng 140 nước trồng ngô trong đó có 38 nước là các nước phát triển còn lại là các nước phát đang triển (Báo cáo tổng kết 29 của ISAAA) [1] Tình hình sản xuất ngô trên thế giới được trình bày ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009 - 2013

Năm Diện tích

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lƣợng (triệu tấn)

thuật canh tác

2.2.2 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam

Ở Việt Nam, cây ngô được trồng cách đây khoảng 300 năm và trồng trên những điều kiện sinh thái khác nhau của cả nước Là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa, là cây trồng chính để phát triển ngành chăn nuôi Năng suất ngô ở nước ta trước đây rất thấp so với năng suất ngô thế giới, do

Trang 16

sử dụng giống ngô địa phương và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế Sản xuất ngô ở Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm và đến nay đã đạt được những thành tựu đáng kể Tình hình sản xuất ngô Việt Nam trong 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam giai đoạn 2009 - 2013

2013, song năng suất ngô tăng qua các năm: năm 2009 là 40,14 tạ/ha, đạt cao nhất năm 2013 (44,35 tạ/ha), năm 2012 năng suất có xu hướng giảm (42,95 tạ/ha) Như vậy năng suất, sản lượng ngô nước ta trong 5 năm gần đây tăng lên đáng kể, do nước ta đã chuyển đổi từ sản xuất quảng canh sang thâm canh, ứng dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và đưa giống mới vào sản xuất

2.2.3 Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Lai Châu

Lai Châu là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Việt Nam với diện tích đất tự nhiên là 9068,8 km2 Trong đó khoảng 91,8% là diện tích đất Nông Lâm nghiệp, có nhiều lợi thế phát triển sản xuất ngô [3] Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Lai Châu trong 5 năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.3

Trang 17

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô tại Lai Châu giai đoạn 2009 - 2013

Năm Diện tích

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Lai Châu, tháng5/2014)[2]

Số liệu bảng 2.3 cho thấy trong 5 năm gần đây diện tích trồng ngô của Lai Châu tăng dần qua các năm từ 18,74 nghìn ha (năm 2009) lên 21,15 nghìn ha (năm 2013), năng suất tăng nhưng không đáng kể (23,05 - 27,11 tạ/ha) Đó là do

vụ thu - đông năm 2013 có 1.195 ha bị chết do thời tiết khô hạn kéo dài

Tam Đường là huyện miền núi của tỉnh Lai Châu, ngô là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau lúa, ngô được trồng chủ yếu trên đất không chủ động nước (đất 1 vụ lúa, đất soi bãi và đất trồng màu) Tình hình sản xuất ngô của huyện Tam Đường được trình bày ở bảng 2.4

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu

giai đoạn 2009 - 2013

Năm Diện tích

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 18

Số liệu bảng 2.4 cho thấy Tam Đường là một trong những huyện trồng nhiều ngô của tỉnh Lai Châu, năm 2013 là 3.706 ha và năng suất đạt 32,67 tạ/ha cao hơn năng suất trung bình của tỉnh, song thấp hơn so với năm 2012 là do vụ ngô thu đông năm 2013 diễn ra trong điều kiện thời tiết, khí hậu có nhiều diễn biến bất thường, nhiệt độ trung bình tháng 9 cao hơn trung bình năm 2012 từ 0,3 - 0,8oC Đặc biệt đầu tháng 10, nhiệt độ cao nhất từ 29 - 35oC Một số diện tích ngô gieo trồng trước ngày 20/8 lại trỗ hạt vào thời kỳ nắng nóng nên khả năng thụ phấn, thụ tinh kém, dẫn đến ít hạt Diện tích gieo trồng sau ngày 20/8 khi ngô đang trong giai đoạn chín sữa lại gặp thời tiết khô hạn, thiếu nước do

vậy có hơn 500 ha cây ngô bị héo và chết

2.3 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và trong nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới

Những nghiên cứu về nguồn gốc cây ngô của Vavilop (1926) đã cho thấy Mêxicô và Pêru là trung tâm phát sinh và đa dạng di truyền của cây ngô Mêxicô là trung tâm thứ nhất còn Andet (Pêru) là trung tâm thứ hai, nơi cây ngô đã trải qua quá trình tiến hoá nhanh chóng Ở châu Mỹ cây ngô đã được các bộ tộc da đỏ trồng rộng rãi ở khắp châu lục và để nuôi sống họ (Nguyễn Đức Lươngvà cs, 2005) [5]

Quá trình nghiên cứu tượng ưu thế lai ở cây ngô đượccác nhà khoa học quan tâm từ rất sớm John Lorain thực hành tạp giao đầu tiên ở ngô với với mục đích nâng cao năng suất hạt Năm 1812 ông đã nhận thấy việc trộn lẫn các loài ngô khác nhau như người da đỏ đã làm sẽ cho năng suất cao Tuy nhiên người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hiện tượng ưu thế lai là Charles Darwin vào năm 1871 Bằng cách nghiên cứu hàng loạt các cá thể giao phối

và tự phối ở nhiều loài khác nhau như đậu đỗ, ngô, ông nhận thấy sự hơn hẳn của các cây giao phấn với các cây tự thụ về chiều cao, tốc độ nảy mầm của hạt, số quả trên cây, sức chống chịu với điều kiện bất thuận và năng suất hạt

Trang 19

Sử dụng ưu thế lai trong tạo giống ngô lai được Wiliam, Janes Beal bắt đầu nghiên cứu từ năm 1876, ông thu được những cặp lai hơn hẳn các giống bố

mẹ về năng suất từ 10 – 15% Shull là nhà khoa học dẫn chứng và nêu khái niệm về ưu thế lai khá hoàn chỉnh trên cây ngô Năm 1904, ông đã tự thụ cưỡng bức ở ngô để thu được các dòng thuần và tạo ra các giống lai từ các dòng thuần này Năm 1913, nhà khoa học này đã chính thức đưa ra thuật ngữ

“Heterosis” để chỉ ưu thế lai, những công trình nghiên cứu về ngô lai của Shull đã đánh dấu bắt đầu thực sự của chương trình chọn tao giống ngô (Hallauer, 1988) [14]

Có thể nói, ngô lai đã thành công rực rỡ ở Mỹ Các nhà di truyền, cải lương giống ngô Mỹ đã sớm thành công trong việc chọn lọc và lai tạo giống cây trồng này Vào cuối thế kỉ 19, Mỹ đã xó 770 giống ngô chọn lọc cải lương Theo E.Rinke (1976) [16] việc sử dụng giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930, giống ngô lai ba và lai kép được sử dụng cho đến năm 1957, sau

đó giống ngô lai đơn cải tiến và lai đơn đã được tạo ra và sử dụng, chiếm 80 – 85% tổng số giống lai (Trần Hồng Uy, 1997) [11] Hiện nay Mỹ là nước có diện tích lớn nhất thế giới và 100% diện tích trồng bằng ngô lai, trong đó hơn 90% là giống đơn

Các nhà khoa học Mỹ như East, Heyes cũng đã nghiên cứu ưu thế lai ở ngô Từ năm 1918, khi Jones đề xuất sử dụng lai kép trong sản xuất trong sản xuất để giảm giá thành hạt giống thì việc áp dụng ưu thế lai vào trồng trọt, chăn nuôi được phát triển nhanh chóng Nhờ việc sản xuất lượng lớn hạt giống với giá thành hạ đã tạo điều kiện cho cây ngô lai phát triển mạnh mẽ ở

Mỹ và các nước có kỹ thuật trồng ngô tiên tiến trên thế giới Năm 1966, trung tâm cải tiên ngô và lúa mì Quốc tế (CIMMYT) được thành lập tại Mêxicô Nhiệm vụ của trung tâm là nghiên cứu và đào tạo về ngô, lúa mì tại các nước đang phát triển Trung tâm đã đưa ra giải pháp là tạo giống ngô thụ phấn tự do

Trang 20

(OPV), làm bước chuyển tiếp ngô địa phương và ngô lai Hơn 30 năm hoạt động trung tâm đã góp phần đáng kể vào việc xây dựng, phát triển và cải tiến hàng loạt vốn gen, quần thể và giống ngô trên 80 quốc gia trên thế giới Dòng thuần là nguyên liệu được sử dụng trong chọn tạo giống ngô lai cũng được chú trọng, theo điều tra của Bauman Năm 1981, ở Mỹ các nhà tạo giống đã sử dụng 15% quần thể có nguồn di truyền rộng, 16% từ quần thể có nền di truyền hẹp, 14% từ quần thể của các dòng ưu tú, 39% từ tổ hợp lai của các dòng ưu tú và 17% từ quần thể hồi giao để tạo dòng (Bauman, 1981) [13]

Việc nghiên cứu tạo giống ngô lai ở Châu Âu bắt đầu muộn hơn ở Mỹ

20 năm nhưng cũng đặt được thành công rực rỡ công tác tạo dòng thuần và giống lai ở Bungari được bắt đầu từ năm 1951 Năm 1956 – 1958 những giống lai kép đầu tiên là VIR-42, Wiscosin-641 và Ohio-92 đã được thử nghiệm và khu vực hóa Giống lai đơn đầu tiên được đưa vào sản xuất năm

1956 là SK-4, và sau đó là một số lượng lớn giống lai giữa các dòng thuần được tạo ra và đưa thử nghiệm

Việc nghiên cứu tạo giống ngô lai ở một số nước đang phát triển bắt đầu từ những năm 60 như Achentina, Braxin, Colombia, Chile, Mehico, Ấn

Độ, Pakistan, Hylap, Zimbabwe, Kenya, Tanzania và một số nước ở trung

Mỹ Trong thời kỳ 1966 – 1990 có 852 giống ngô được tạo ra, trong đó 59%

là giống ngô thụ phấn tự do, 27% là giống lai quy ước, 10% là giống ngô lai không quy ước và 4% là các giống khác (S.K.Vasal, cs, 1999) [17] Từ con số trên cho thấy giai đoạn này số giống ngô lai được tạo ra ít hơn giống thụ phấn

tự do

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam

Ở Việt Nam ngay từ những năm 60 Đã có những nghiên cứu về chọn tạo và sử dụng ngô lai vào sản xuất Song do vật liệu khở đầu của chúng ta còn nghèo nàn và không phù hợp, vì vậy ngô lai đã không phát huy được vai

Trang 21

trò của nó Những năm đầu của thập kỷ 90 công tác chọn tạo giống ngô lai được các nhà khoa học coi là nhiệm vụ chiến lược chủ yếu Trong những năm

1992 – 1994, Viện nghiên cứu ngô đã lai tạo ra các giống ngô lai không quy ước là: LS-5, LS-6, LS-7, LS-8 Bộ giống ngô lai này bao gồm những giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn, có năng suất từ 3 – tấn/ ha và đã được mở rộng trên phạm vi toàn quốc, mỗi năm diện tích gieo trồng trên 80.000 ha tăng năng suất 1 tấn/ha so với giống thụ phấn tự do (Trần Hồng Uy, 1997) [11]

Trong giai đoạn từ 1996 đến 2002 các nhà chọn tạo giống ngô Việt Nam đã chú trọng đến việc tạo dòng thuần để tạo giống ngô lai Kết quả đã tạo được nhiều giống ngô lai năng suất cao đưa ra khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau như LVN4, LVN10, LVN17, LVN20, LVN25… Viện khoa học kỹ thuật Miền Nam trong giai đoạn này cũng nghiên cứu và lai tạo giống ngô lai đơn V98-1 Đây là giống ngô lai đơn ngắn ngày có tiềm năng năng suất cao chống đổ tốt, trồng được nhiều vụ trong năm, thích hợp với điều kiện sinh thái ở Miền Nam Việt Nam (Phạm Thị Rịnh và cs, 2002) [6]

Bên cạnh việc tạo ra các giống ngô lai có năng suất chất lượng cao thì công tác lai tạo ra các giống ngô thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau với nhiều đặc tính nông học quý được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Trong giai đoạn 1995 – 2002 nhóm nghiên cứu ngô thuộc trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương đã lai tạo giống ngô lai đơn T9 và giống ngô lai

ba T7 triển vọng cho sản xuất tại các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ, trong đó giống T9 đã được bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận là giống khu vục hóa tại Miền Trung tháng 9 – 2002 Năm 2000, Viện nghiên cứu ngô tiếp tục đưa ra thử nghiệm giống giống ngô lai HQ2000 có chất lượng cao , hàm lượng Protein cao hơn hẳn ngô thường, đặc biệt là hai loại axit amin thường thiếu ở ngô là Lyzin và Triptophan, nhờ vậy mà nâng cao được giá trị

Trang 22

dinh dưỡng của ngô Năm 2005, Lưu Văn Quỳnh vá cs [4] nghiên cứu và tạo giống ngô lai cho vùng sinh thái đồng bằng sông Cửu Long, bước đầu tạo ra 9

tổ hợp lai có triển vọng trong sản xuất

Những năm gần đây, Viện nghiên cứu ngô đã tiến hành lai tạo và tiến hành khảo nghiệm sơ bộ trong nước tập đoàn giống ngô lai mới từ Viện nhằm tạo ra các giống ngô lai tốt, tham gia vào mạng lưới khảo nghiệm ngô quốc gia, qua đó tìm ra những giống ngô có đặc tính nông sinh học tốt như chín sớm, chịu hạn, chống chịu sâu bệnh, thích hợp việc trồng dày và các đặc tính thích ứng như thích ứng rộng, năng suất cao và ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hạn chế thiệt hại do thiên tai gây

ra Trong đó hướng nghiên cứu và sản xuất các giống ngô ngắn ngày là rất cần thiết, giúp cho việc luân canh cây trồng được thuận lợi Là cơ sở quan trọng trong định hướng tăng năng suất, diện tích, sản lượng của Việt Nam để theo kịp trong khu vực và đạt năng suất bình quân Thế giới Một số giống ngô lai do Viện nghiên cứu ngô lai tạo gồm VS36, LVN66, LVN61, LVN 885, LVN092, VS71, …

Thông qua dự án “Phát triển giống ngô chịu hạn nhằm cải thiện thu nhập cho nông dân vùng Đông Nam châu Á” (AMNET), chúng ta đã thu thập được một số nguồn nguyên liệu mới từ CIMMYT và các nước trong khu vực phục vụ cho công tác chọn tạo giống ngô lai và một loạt giống lai có thời gian sinh trưởng khác nhau được chọn tạo bằng phương pháp truyền thống và công nghệ sinh học đã được áp dụng vào sản xuất ở tất cả các vùng sinh thái trong

cả nước Nhờ nguồn nguyên liệu tạo dòng khá phong phú và được thử nghiệm trong nhiều điều kiện sinh thái mùa vụ khác nhau nên các giống ngô lai mới tạo ra đã tỏ ra có nhiều ưu thế hơn như chịu hạn, chống đổ, ít nhiễm sâu bệnh, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp Điển hành là các giống LVN98, LVN145 có tỷ lệ

2 bắp/cây cao, màu hạt đẹp, TGST ngắn, một số giống có năng suất cao, chịu

Trang 23

hạn tốt, chống chịu sâu bệnh khá, thích nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau như VN8960, LCH9, LVN14, LVN99, LVN61, LVN66, LVN146 (công nhận tạm thời), LVN154,…

Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học tuy chỉ mới bắt đầu khoảng 10 năm trở lại đây nhưng đã thu được kết quả bước đầu đáng khích lệ Viện nghiên cứu Ngô đang hoàn thiện kĩ thuật nuôi cấy bao phấn và đã tạo được một số dòng có triển vọng như C156N, C7N, V27, V152, V164, C152N,

… Việc dùng chỉ thị phân tử trong phân tích đa dạng di truyền trong tập đoàn dòng và một số quần thể đã được Viện triển khai trong thời gian qua Phần lớn các dòng thuần ở Viện đã được phân nhóm ưu thế lai, giúp định hướng chọn tạo giống lai có hiệu quả nhanh

Như vậy, việc kết hợp giữa phương pháp chọn tạo giống truyền thống

và công nghệ sinh học bước đầu đã thu được một số kết quả có ý nghĩa và đây

là một trong những điều kiện góp phần đưa năng suất ngô nước ta lên trung bình 5,5 đến 6,0 tấn/ha năm 2020

Tóm lại: Cây ngô có vai trò quan trọng góp phần ổn định an ninh

lương thực quốc gia, đặc biệt thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi, tăng nguồn thu nhập cho người dân Là cây trồng ngắn ngày được sử dụng nhiều trên đất luân canh, có khả năng thích ứng rộng, có tiềm năng cho năng suất cao, nhất

là các giống ngô lai Qua việc đánh giá tình hình sản xuất và tìm hiểu về giống ngô để lựa chọn giống cho phù hợp, nhất là Bắc Kạn thuộc vùng núi Đông Bắc, sản xuất ngô chủ yếu là vụ xuân, vì vậy việc đánh giá thực trạng sản xuất ngô, gắn với điều kiện ngoại cảnh của địa phương để chọn giống ngô lai thích hợp đưa vào cơ cấu giống, cơ cấu luân canh là rất cần thiết

Trang 24

Phần 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

Gồm 10 tổ hợp ngô lai có triển vọng của Viện nghiên cứu ngô gồm:TB433, LVN255, VS1003, TB432, TB149, TB391, TB426, ĐH14-1, LVN883 và giống NK4300 (Đối chứng)

Bảng 3.1 Nguồn gốc và đặc điểm của các tổ hợp ngô lai

1 TB433 Viện Nghiên cứu Ngô Trung ngày

2 LVN255 Viện Nghiên cứu Ngô Trung ngày

3 VS1003 Viện Nghiên cứu Ngô Trung ngày

4 TB432 Viện Nghiên cứu Ngô Trung ngày

5 TB149 Viện Nghiên cứu Ngô Trung ngày

6 TB391 Viện Nghiên cứu Ngô Trung ngày

7 TB426 Viện Nghiên cứu Ngô Trung ngày

8 ĐH14-1 Viện Nghiên cứu Ngô Trung ngày

9 LVN883 Viện Nghiên cứu Ngô Trung ngày

10 NK4300 (đ/c) Công ty Syngenta Trung ngày Giống ngô NK4300 của Công ty Syngenta đang được trồng phổ biến ở huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Xã Nùng Nàng - huyện Tam Đường - tỉnh Lai Châu

- Thời gian: Vụ Xuân - Hè năm 2014 Gieo ngày 1 tháng 4 năm 2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu một số giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô thí nghiệm

Trang 25

- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh lý

- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của các tổ hợp ngô thí nghiệm

- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

3.4 Phương pháp nghiên cứu

- Thí nghiệm được tiến hành trên đất bãi chuyên trồng màu

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), với

10 công thức, 3 lần nhắc lại

- Diện tích 1ô thí nghiệm: 14 m2 (5m x 2,8m),

Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:

* Làm đất:

Đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại, đảm bảo độ ẩm đất lúc gieo

khoảng 75 - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng

* Kỹ thuật gieo:

- Mật độ: 5,7 vạn cây/ha (70 x 25cm), mỗi ô gieo 4 hàng

- Gieo sâu 3 - 4 cm, mỗi hốc gieo 2 hạt, khi ngô có 3 - 4 lá thì tỉa lần 1 đến 5 - 6 lá thì tỉa lần 2 và để mỗi hốc 1 cây

Trang 26

* Phân bón:

- Lượng phân bón cho 1 ha: 10 tấn phân chuồng + 150kg N + 80kg P205

+ 90kg K20

- Cách bón:

+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và phân lân + 1/4 lượng đạm

+ Bón thúc lần 1 khi ngô 4 - 5 lá: 1/4 lượng đạm + 1/2 lượng Kali

+ Bón thúc lần 2 khi ngô 8 - 9 lá: 1/2 lượng đạm + 1/2 lượng Kali

* Chăm sóc:

- Khi ngô 4 - 5 lá: xới vun nhẹ quanh gốc kết hợp với bón thúc lần 1

- Khi ngô 8- 9 lá: xới xáo diệt cỏ dại kết hợp bón thúc lần 2 và vun cao chống đổ

- Tưới nước: Tưới nước, đảm bảo cho đất đủ ẩm (khoảng 70 - 80% độ

ẩm tối đa đồng ruộng) ở 3 thời kỳ: Khi ngô 6 - 7 lá; khi ngô xoáy nõn (trước trỗ cờ 10 - 12 ngày); khi ngô thụ phấn xong - chín sữa (sau ngô trỗ cờ từ 10 -

15 ngày)

3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

* Chỉ tiêu về giai đoạn sinh trưởng

- Ngày mọc: Được tính khi có trên 50% số cây có bao lá mầm lên khỏi

mặt đất (mũi chông) Theo dõi toàn bộ số cây/ô

- Ngày trỗ cờ: Được tính khi có > 50% số cây có hoa nở ở 1/3 trục chính Theo dõi số cây ở 2 hàng giữa

- Ngày tung phấn: là ngày tính từ gieo đến khi có > 50% số cây trên ô tung phấn (khi bao phấn ở 1/3 phía trên bông cờ tung phấn)

- Ngày phun râu: Được tính khi có > 50% số cây bắp có râu nhú dài từ 2cm đến 3cm Theo dõi số cây ở 2 hàng giữa

- Ngày chín sinh lý: Được tính khi trên 75% cây bắp có lá bi khô hoặc chân hạt có điểm đen Theo dõi số cây ở 2 hàng giữa

Trang 27

* Chỉ tiêu về hình thái

- Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến đốt phân nhánh bông cờ đầu tiên Đo 10 cây ở 2 hàng giữa thời kỳ chín sữa

- Chiều cao đóng bắp (cm): Đo từ mặt đất đến đốt mang bắp trên cùng

Đo 10 cây ở 2 hàng giữa thời kỳ chín sữa

- Số lá: tổng số lá cây, đếm số lá 10 cây ở 2 hàng giữa

- Hệ số diện tích lá: đếm số lá xanh trên cây ở thời kỳ trỗ cờ

Phương pháp: tiến hành đo chiều rộng dài các lá ở 5 cây/ô vào giai đoạn trỗ cờ sau đó áp dụng công thức: Diện tích lá = dài x rộng x 0,75

Chỉ số diện tích lá = diện tích lá 1 cây x số cây/m2

- Trạng thái cây: Căn cứ khả năng sinh trưởng phát triển, độ đồng đều

về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, kích thước bắp, sâu bệnh, chống đổ của

10 cây ở 2 hàng giữa vào thời kỳ chín sáp Đánh giá theo thang điểm từ 1 - 5 (1 tốt; 5 rất kém)

- Trạng thái bắp: Căn cứ vào hình dạng bắp, kích thước, độ đồng đều của bắp và tình trạng sâu bệnh bắp của 10 cây ở 2 hàng giữa vào thời kỳ chín sáp Đánh giá theo thang điểm từ 1 - 5 (1 tốt; 5 rất kém)

- Đánh giá độ kín của lá bi: Quan sát và đánh giá 10 bắp ở 2 hàng giữa của mỗi ô Đánh giá ở thời kỳ chín sáp và cho theo thang điểm từ 1 - 5

Điểm 1- Rất kín: Bẹ lá che kín đầu bắp và kéo dài khỏi bắp

Điểm 2 - Kín: Bẹ lá che kín đầu bắp

Điểm 3- Hơi hở: Lá bi bao không chặt đầu bắp

Điểm 4 - Hở: Lá bi không che kín bắp, để hở đầu bắp

Điểm 5 - Rất hở: Bao bắp rất kém, đầu bắp hở nhiều

(Quan sát các cây trong ô ở giai đoạn chín sáp)

Trang 28

* Chỉ tiêu về tính chống chịu

- Sâu đục thân (Chilo partellus): Theo dõi toàn bộ số cây bị sâu đục trên

tổng số cây ở 2 hàng giữa, đánh giá thời kỳ chín sáp

Điểm 1: < 5% số cây bị sâu

Điểm 2: 5 - < 15% số cây bị sâu

Điểm 3: 15 - < 25% số cây bị sâu

Điểm 4: 25 - < 35% số cây bị sâu

Điểm 5: 35 - < 50% số cây bị sâu

- Sâu đục bắp (Heliothis zea và H Amigera): Theo dõi toàn bộ số cây bị

sâu đục trên tổng số cây ở 2 hàng giữa, đánh giá thời kỳ chín sáp

Tỷ lệ bắp bị hại (%) = (số bắp bị hại/số bắp điều tra) x 100

- Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani f Sp Sasakii): Theo dõi số cây bị

bệnh khô vằn trên tổng số cây ở 2 hàng giữa, đánh giá ở thời kỳ chín sáp

Tỷ lệ cây bị bệnh (%) = (số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra) x 100

- Đốm lá: Theo dõi toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa, đánh giá ở thời kỳ chín sữa và chín sáp Cho điểm từ 1 - 5

Điểm 0: không bị bệnh

Điểm 1: rất nhẹ: 1-10% diện tích lá bị bệnh

Điểm 2: nhiễm nhẹ: 11-25% diện tích lá bị bệnh

Điểm 3: nhiễm vừa: 26-50% diện tích lá bị bệnh

Trang 29

Điểm 4: nhiễm nặng: 51-75% diện tích lá bị bệnh

Điểm 5: nhiễm rất nặng > 75% diện tích lá bị bệnh

- Gẫy thân: Ghi tất cả những cây bị gẫy dưới đốt mang bắp khi thu hoạch Cho điểm từ 1 - 5

Điểm 1: Tốt: < 5 % cây gẫy

Điểm 2: Khá: 5 -15 % cây gẫy

Điểm 3: Trung bình: 15 - 30 % cây gẫy

Điểm 4: Kém: 30 - 50 % cây gẫy

Điểm 5: Rất kém: > 50 % cây gẫy

- Đổ rễ: Ghi tất cả các cây bị nghiêng góc ≥ 300 so với mặt đất

Tỷ lệ đổ rễ (%) = Số cây bị đổ x 100

Tổng số cây điều tra

Chỉ tiêu về năng suất:

- Số bắp/cây: Đếm tổng số bắp hữu hiệu/ tổng số cây hữu hiệu/ô Theo dõi ở thời kỳ thu hoạch

- Chiều dài bắp: Đo từ đáy bắp đến mút bắp của 30 cây mẫu lúc thu hoạch Chỉ đo bắp thứ nhất của 30 cây mẫu (cm)

- Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa bắp của 30 cây mẫu Chỉ đo bắp thứ nhất của cây mẫu Đo phần giữa bắp

- Khối lượng bắp tươi trên ô (kg): Cân tổng số bắp trên ô thí nghiệm

- Số hạt/hàng: Đếm số hạt của hàng có chiều dài trung bình của bắp của

30 cây mẫu Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu

- Số hàng/bắp: Đếm số hàng hạt ở giữa bắp Chỉ đếm bắp thứ nhất của

30 cây mẫu Hàng hạt được tính khi có >5 hạt

- Khối lượng 1000 hạt (gam): ở độ ẩm 14%, cân 2 mẫu hạt (mỗi mẫu

500 hạt tương đương P1 và P2 nếu chênh lệch mẫu nhỏ hơn 5% so với mẫu

Trang 30

trung bình là chấp nhận được Khi đó P1000 = P1 + P2 (P1 : Mẫu hạt 1, P2 : Mẫu hạt 2)

- Độ ẩm hạt khi thu hoạch (%): tẽ hạt của 10 bắp/ô, lấy 140 gam để đo

10000

P bắp tươi/ ô x tỉ lệ hạt / bắp x (100 - Ao ) x100

NSTT (tạ/ha) =

(100 -14) x S ô

NSTT : Năng suất thực thu ở ẩm độ 14%

14 : Độ ẩm tiêu chuẩn hạt

S ô : Diện tích ô thí nghiệm (m2)

P bắp tươi/ô :khối lượng bắp tươi trên ô (kg)

3.6 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu thu được từ thí nghiệm được xử lý bằng chương trình Excel 2010

- Các kết quả nghiên cứu được xử lý thống kê bằng phần mền IRRISTAT

Trang 31

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm

Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngô được chia thành 2 giai đoạn: thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và thời kỳ sinh trưởng sinh thực Ở mỗi giai đoạn sinh trưởng phát triển có những yêu cầu khác nhau Hiểu rõ được quá trình sinh trưởng phát triển của cây ngô để ta có thể tác động được các biện pháp kỹ thuật, xác định thời vụ, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý giúp cây phát triển thuận lợi nhất cho năng suất, phẩm chất cao tăng hiệu quả kinh tế

Thời gian sinh trưởng của cây ngô được tính bằng tổng số ngày từ khi gieo hạt đến khi chín sinh lý, thời gian dài ngắn khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của từng giống, điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật canh tác

Trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển thì giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng là giai đoạn tạo nên các bộ phận của cây, nó ảnh hưởng đến giai đoạn sinh trưởng sinh thực và quyết định đến năng suất ngô Vì vậy, các biện pháp kỹ thuật tác động vào giai đoạn này phải hợp lý Qua theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 4.1

4.1.1 Giai đoạn từ gieo đến mọc

Đây là khoảng thời gian cây ngô được gieo xuống đất, cây ngô cần đủ một lượng ẩm nhất định để cây có thể nảy mầm được, lượng ẩm thích hợp từ

75 - 80 % thì sau gieo 5 -7 ngày thì hầu hết cây ngô đã mọc mầm

Qua theo dõi chúng tôi thấy từ gieo đến mọc của các tổ hợp lai biến động từ 5 -7 ngày Trong đó tổ hợp lai LVN255, VS1003 mọc muộn nhất (7 ngày sau gieo), tiếp đến là TB433 và TB426 (6 ngày sau gieo) Các tổ hợp còn lại mọc sớm hơn (5 ngày sau gieo) Nhìn chung các tổ hợp lai và giống

Trang 32

đối chứng mọc nhanh, chênh lệch nhau không đáng kể (2 ngày), đảm bảo cho

sự chính xác của thí nghiệm sau này

Bảng 4.1: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô lai

tham gia thí nghiệm

ĐVT: ngày

STT

Chỉ tiêu THL/giống

Thời gian từ gieo đến…

Mọc Trỗ cờ Tung

phấn

Phun râu

Chín SL (TGST)

4.1.2 Giai đoạn từ gieo đến trỗ cờ

Đây là khoảng thời gian sinh trưởng đầu tiên và khá dài của cây ngô Khởi đầu là thời kỳ nảy mầm, mọc (Ve) và kết thúc là thời kỳ trỗ cờ (Vt) Sau khi mọc dinh dưỡng chủ yếu cung cấp cho cây con là nội nhũ của hạt, cây chưa hút được dinh dưỡng từ đất, lúc này bộ rễ chỉ làm nhiệm vụ hút nước Cây ngô sinh trưởng phát triển chậm và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh Khi cây con đạt từ 3 - 4 lá thật, cây chuyển từ dinh dưỡng hạt sang dinh dưỡng đất Đến khi cây có 6 lá thật, điểm sinh trưởng ở trên mặt

Trang 33

đất, lúc này hệ rễ đốt phát triển rất nhanh và yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định Khi được 7 - 8 lá là giai đoạn hình thành và phát triển bộ rễ, sau thời kỳ này các bộ phận trên mặt đất (thân, lá) và dưới mặt đất đều tăng trưởng rất nhanh Từ 9 lá đến sau trỗ 15 ngày là giai đoạn hấp thụ dinh dưỡng tối đa, lượng dinh dưỡng cây hấp thụ trong thời kỳ này bằng 70 - 95 % tổng lượng dinh dưỡng so với cả vòng đời cây hút Khi cây ngô có biểu hiện xoáy nõn tức là cây đã chuẩn bị bước vào giai đoạn trỗ cờ Giai đoạn trỗ cờ được xác định khi nhánh cuối cùng của bông cờ đã thấy rõ hoàn toàn

Theo dõi thí nghiệm chúng tôi thấy các tổ hợp ngô lai có thời gian từ gieo đến trỗ biến động từ 65 - 70 ngày Trong thí nghiệm tổ hợp lai TB149 trỗ sớm nhất (65 ngày), tổ hợp lai TB433, NK4300, VS1003 trỗ muộn nhất (70 ngày) các tổ hợp còn lại có thời gian gieo đến trỗ biến động từ 67 - 69 ngày

4.1.3 Giai đoạn tung phấn phun râu

Thời gian từ khi trỗ cờ đến tung phấn có thể dao động đáng kể phụ thuộc vào giống và điều kiện môi trường Cây ngô thường tung phấn vào buổi sáng muộn và đầu buổi chiều Khi hạt phấn tung ra khỏi bao phấn hạt phấn rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh, dễ bị chết nếu gặp điều kiện không thuận lợi Nhiệt độ thích hợp cho ngô thụ phấn, thụ tinh từ 20 - 220C, nhiệt độ nhỏ hơn 130C và lớn hơn 350C sẽ làm hạt phấn mất sức sống và chết, độ ẩm thích hợp là 80%, độ ẩm không khí quá thấp hoặc quá cao gây mất sức sống hạt phấn, làm hạt phấn chết Nên bố trí thời vụ cho ngô trỗ trong khoảng thời gian

có nắng và gió nhẹ, không có mưa to, gió lớn

Quá trình theo dõi thí nghiệm chúng tôi thấy, thời gian từ gieo đến tung phấn của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm biến động từ 66 - 71 ngày

Tổ hợp TB433 và VS1003 có thời gian từ gieo đến tung phấn (71 ngày), các

tổ hợp còn lại có thời gian tung phấn biến động từ 66 - 70 ngày Trong đó tổ hợp lai TB149 tung phấn sớm nhất (66 ngày sau gieo)

Trang 34

Cây ngô bắt đầu phun râu khi thấy một vài râu ngô xuất hiện ở ngoài lá

bi Thụ phấn có thể xảy ra khi hạt phấn rơi được giữ lại trên râu mới phun Hạt phấn được giữ lại cần 24 giờ để phát triển thành ống phấn đưa hạt phấn từ râu đến noãn nơi xảy ra thụ tinh Thông thường cần 2 - 3 ngày để tất cả râu trên một bắp phun hết Đây là thời gian quyết định số hạt trên bắp, những hoa cái không được thụ tinh sẽ không cho hạt và bị thoái hóa

Qua bảng 4.1 cho thấy thời gian từ gieo đến phun râu của các tổ hợp thăm gia thí nghiệm biến động từ 67 - 72 ngày

Khoảng thời gian giữa tung phấn và phun râu cũng là yếu tố quyết định tỷ lệ thụ phấn, thụ tinh của ngô Thời gian phun râu thường sau tung phấn 1 - 5 ngày tùy thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh Khoảng cách giữa tung phấn và phun râu của các tổ hợp ngô tham gia thí nghiệm biến động từ 0 - 1 ngày Trong thí nghiệm tổ hợp lai TB433, LVN255 và TB426

có thời gian tung phấn và phun râu trùng nhau, các tổ hợp còn lại có thời gian này chênh lệnh 1 ngày Nhìn chung khoảng cách tung phấn, phun râu của các tổ hợp lai trong thí nghiệm ngắn nên thuận lợi cho quá trình thụ phấn, thụ tinh

4.1.4 Thời gian sinh trưởng

Sau quá trình thụ phấn, thụ tinh, hạt ngô được hình thành và phát triển, đây là giai đoạn vận chuyển, tích lũy chất dinh dưỡng vào hạt Khi các chất dưỡng đạt tối đa, hạt chín Biểu hiện của cây ngô thời kỳ chín là thân lá, lá bi đều chuyển sang màu vàng, chân hạt ngô xuất hiện vết sẹo đen Thời gian từ gieo đến chín được gọi là thời gian sinh trưởng của cây ngô Thời gian này dài hay ngắn tùy thuộc vào giống và điều kiện sống Qua theo dõi chúng tôi thấy các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm có thời gian sinh trưởng biến động từ

118 - 120 ngày, thuộc nhóm chín trung bình

Ngày đăng: 21/11/2016, 10:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009 - 2013 - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009 - 2013 (Trang 15)
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất ngô tại Lai Châu giai đoạn 2009 - 2013 - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất ngô tại Lai Châu giai đoạn 2009 - 2013 (Trang 17)
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất ngô tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất ngô tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu (Trang 17)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau: - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm như sau: (Trang 25)
Bảng 4.1: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô lai - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 4.1 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô lai (Trang 32)
Bảng 4.2. Một số chỉ tiêu hình thái sinh lý của các tổ hợp ngô lai thí - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 4.2. Một số chỉ tiêu hình thái sinh lý của các tổ hợp ngô lai thí (Trang 35)
Bảng 4.3. Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các tổ hợp ngô - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 4.3. Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các tổ hợp ngô (Trang 38)
Bảng 4.4. Khả năng chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp ngô lai thí - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 4.4. Khả năng chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp ngô lai thí (Trang 40)
Bảng 4.5: Khả năng chống đổ của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 4.5 Khả năng chống đổ của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm (Trang 43)
Bảng 4.6. Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai thí - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 4.6. Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai thí (Trang 44)
Bảng 4.7. Năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Bảng 4.7. Năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm (Trang 47)
Hình 4.1. Biểu đồ về năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các - Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai tại vụ xuân hè 2014 huyện tam đường   tỉnh lai châu
Hình 4.1. Biểu đồ về năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các (Trang 48)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm