Từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủ trương xây dựng và thực hiện các quy định về dân chủ ở cơ sở, dân chủ ở cấp xã, cho đến nay chúng ta đã triển khai thực hiện rộng khắp trong cả nư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MẬU TUÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thanh Thúy
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Đặc điểm 13
1.1.3 Nội dung 14
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở 14
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2 Đặc điểm 16
1.2.3 Nội dung 19
1.2.4 Hình thức 23
1.3 Vai trò của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở 26
1.3.1 Đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân theo phương châm dân biết, bàn, làm, kiểm tra 26
1.3.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở 28
1.3.3 Thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội 29
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới viê ̣c thự c hiê ̣n pháp luâ ̣t về dân chủ ở cơ sở 30
1.4.1 Thể chế 30
1.4.2 Sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở 31
Trang 51.4.3 Tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động của chính
quyền cấp xã 33
1.4.4 Sự phối hợp của Mặt trật Tổ quốc và các đoàn thể cấp xã 34
1.4.5 Trình độ, năng lực, uy tín của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 35
1.4.6 Đặc điểm địa bàn dân cư, trình độ dân trí 36
1.5 Các tiêu chí đánh giá chất lượng thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở 37
1.5.1 Sự hài lòng của người dân đối với hoạt động của chính quyền 37
1.5.2 Điểm nóng về khiếu nại, tố cáo 39
1.5.3 Kinh tế - xã hội phát triển, đời sống văn hóa nâng cao 41
1.5.4 Các vụ việc vi phạm pháp luật giảm 42
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ TẠI PHƯỜNG VĂN QUÁN, QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 44
2.1 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới viê ̣c thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về dân chủ ở cơ sở tại phường Văn Quán, quâ ̣n Hà Đông, TP Hà Nô ̣i 44
2.1.1 Hệ thống pháp luật về thực hiện dân chủ hiện nay 44
2.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội 45
2.1.3 Tình hình khiếu nại, tố cáo 49
2.1.4 Tình hình vi phạm pháp luật trên địa bàn phường 50
2.2 Về quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 52
2.2.1 Quá trình triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ s ở tại phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 52
2.2.2 Hoạt động của Ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở 56
2.2.3 Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 57
2.3 Kết quả thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở tại phường (theo Pháp lệnh số 34//2007/PL-UBTVQH 11) 58
2.4 Những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 61
2.4.1 Những hạn chế, tồn tại 61
2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 63
Trang 6Chương 3: QUAN ĐIỂM , GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TẠI PHƯỜNG VĂN QUÁN, QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 66 3.1 Quan điểm 66
3.1.1 Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn phải trên cơ sở
chủ trương, chính sách của Đảng về dân chủ nói chung và dân chủ ở
xã phường thị trấn nói riêng 66 3.1.2 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị và các tầng lớp
nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng việc thực hiện pháp luật dân chủ ở
cơ sở 67 3.1.3 Mở rộng dân chủ phải đảm bảo trật tự, kỷ cương, trong khuôn khổ
Hiến pháp và pháp luật 68 3.1.4 Thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã gắn với đẩy mạnh học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua yêu nước 68 3.1.5 Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phòng, chống quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở cơ sở 69
3.2 Một số giải pháp 70
3.2.1 Giải pháp chung 70 3.2.2 Giải pháp cụ thể đối với phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội 88
KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ: Ban chỉ đạo CBCC: Cán bộ công chức CNH: Công nghiệp hóa DCCS: Dân chủ cơ sở HĐH: Hiện đại hóa HĐND: Hội đồng nhân dân HTX: Hợp tác xã
MTTQ: Mặt trận Tổ quốc QCDC: Quy chế dân chủ TDP: Tổ dân phố UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Kết quả thu chi ngân sách của UBND phường Văn Quán 47
Bảng 2.2 Thống kê gia đình văn hóa, khu phố văn hóa phường Văn Quán 48
Bảng 2.3 Thống kê các loại quỹ do nhân dân đóng góp từ 2013-2015 59
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu kinh tế phường Văn Quán 45
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội, và cũng là bản chất của Nhà nước
Việt Nam; Khoản 2, Điều 2, Hiến pháp Việt Nam 2013 ghi nhận: “Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [46, Điều 2]
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ để lại nhưng kiến giải sâu sắc về dân chủ
và thực hành dân chủ mà Người còn trực tiếp nêu gương về lối ứng xử dân chủ đối với con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống Lúc sinh thời, Người đã
từng nhấn mạnh “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, là chìa khóa vạn
năng để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội” [28, tr.8, 279]
Xác định đúng đắn tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân chủ, trong bất kỳ giai đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta đều nhận thức việc thực hành dân chủ rộng rãi sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, đảm bảo sự thành công của cách mạng Việt Nam Nhằm phát huy đầy đủ, hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở Chỉ thị đã xác định:
để giữ vững và phát huy được bản chất tốt đẹp của Nhà nước,
tham gia kiểm kê, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực
hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất [7]
Sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW, để cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày
Trang 1011/5/1998 (sau được sửa đổi bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003) kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định các nội dung, phương thức và trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, và sự kiện quan trọng nhất, khẳng định vai trò và tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đối với hệ thống chính trị -
xã hội nước ta, đó là Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 (2007), đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Thực hiện dân chủ ở cơ sở luôn là vấn đề mang tính thời sự và đòi hỏi phát triển không ngừng Vì thế, chúng ta vừa phải đi sâu nghiên cứu và nhận thức đúng đắn về lý luận, vừa phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để tìm ra hình thức, biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp để đưa pháp luật về dân chủ vào cuộc sống Từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủ trương xây dựng và thực hiện các quy định về dân chủ ở cơ sở, dân chủ ở cấp xã, cho đến nay chúng ta đã triển khai thực hiện rộng khắp trong cả nước và đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: quyền làm chủ của nhân dân và không khí dân chủ trong
xã hội được mở rộng, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trong nhân dân, hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng được củng cố, hiệu lực quản lý của nhà nước ngày càng hiệu quả hơn Song song với những thành tựu đạt được, việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở còn hạn chế, yếu kém; gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và là rào cản đối với sự phát triển của đất nước, của địa phương
Nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện dân chủ cơ sở đối với sự phát triển của đất nước nói chung và phường Văn Quán nói riêng, tôi chọn đề
tài “Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở phường - Qua thực tiễn phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ Nghiên cứu
thành công luận văn này sẽ góp phần hoàn thiện lý luận và thực tiễn việc thực hiện
Trang 11pháp luật về dân chủ cơ sở, tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương
để góp phần phát huy dân chủ ở Văn Quán
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về dân chủ, dân chủ cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở là vấn đề xoay quanh quyền làm chủ của người dân nên việc nghiên cứu vấn đề này vừa có ý nghĩa thiết thực lại mang tính thời sự Bởi đối với Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, quyền con người, quyền công dân ngày càng được tôn trọng và bảo vệ Đây là những quyền cơ bản được thể hiện hầu hết trong các bản hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới Hơn nữa, xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nên có rất nhiều công trình khoa học, sách, báo, tạp chí đề cập đến vấn đề này, đặc biệt là dân chủ ở cấp xã Có thể kể đến một số công trình có giá trị như:
- Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 của PGS.TS Dương Xuân Ngọc Tác giả đã làm
rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng của quy chế thực hiện dân chủ cấp xã trên cả hai mặt lý luận và thực tiễn
- Quá trình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng sông
Hồng hiện nay, đề tài khoa học cấp bộ năm 2002 – 2003, của TS Nguyễn Thị Ngân
Tác giả tiến hành đi sâu nghiên cứu về thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) cơ sở ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và từ đó đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện QCDC ở khu vực đồng bằng sông Hồng
- Thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay: vấn đề đặt ra và giải pháp, Tạp chí
lý luận Chính trị, số 9/2004 của PGS.TS Trần Khắc Việt Tác giả chỉ ra những vấn
đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội ở nước ta, đồng thời đề ra giải pháp nhằm tiếp tục phát huy dân chủ
Ngoài ra còn có một số luận văn, luận án đề cập đến vấn đề này như:
- “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các
tỉnh Tây Nguyên” (2014) của Đỗ Văn Dương, Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh
Trang 12- “Hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay”
(2005) của Trần Quốc Huy, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- “Kết hợp giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp trong thực hiện quy
chế dân chủ ở xã trên địa bàn thủ đô Hà Nội” (2005) của Nguyễn Tiến Thành, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh…
Có nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ cơ sở nói chung và việc thực hiện dân chủ cơ sở nói riêng, nhưng mỗi công trình lại đề cập đến những khía cạnh khác nhau, trên mỗi địa phương khác nhau nên chúng mang những giá trị khác nhau Riêng Phường Văn Quán với đặc điểm là phường đô thị loại 1 của Quận Hà Đông,
theo tôi biết, hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài “Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở phường - Qua thực tiễn phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu luận giải về lý luận và đánh giá thực trạng để đưa ra được những phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở
phường Văn Quán nói riêng và cả nước nói chung
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và thực hiện pháp luật
về dân chủ ở cơ sở như khái niệm dân chủ cơ sở, pháp luật về dân chủ cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở; các hình thức thực hiện dân chủ cơ sở, các hình thức thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở; nội dung, vai trò của thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở, các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở, các tiêu chí đánh giá việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở từ thực tiễn phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội: các yếu tố ảnh hưởng, quá trình triển khai, kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân
- Đưa ra quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở để đẩy mạnh việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn phường Văn Quán
Trang 134 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Dân chủ ở cơ sở có phạm vi điều chỉnh rất rộng: xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã,… Pháp luật về dân chủ ở cơ sở cũng được quy định trong rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau, điển hình như Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh này thay thế Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã); Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ về Quy định chi tiết Khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc (Nghị định này thay thế Nghị định số 07/1999/NĐ-CP về ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước
và nghị định số 87/2007/NĐ-CP ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn); Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/1/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định này thay thế Nghị định số 71/1998/NĐ-CP về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan),… Đây là những văn bản đ ể thực hiện và thể chế hóa quan điểm của Chỉ thị 30/CT–TW ngày 18/12/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiê ̣n quy chế dân chủ ở cơ sở Sự
ra đời của quy chế dân chủ cơ sở là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho các quy định của Hiến pháp được thực hiện trên thực tế, giúp nhân dân nắm vững và thực hiện được các quyền dân chủ của mình Nhưng để đánh giá rõ nét nhất việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở thì xã, phường, thị trấn là loại hình cơ
sở tiêu biểu để lựa chọn Do đó trong phạm vi đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở phường trên địa bàn phường Văn Quán dựa theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh 34)
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; dựa trên đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ và dân chủ cơ sở; dựa trên những công trình, tài liệu của các nhà khoa học pháp lý, chính trị Đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu hệ thống, phân tích và tổng hợp, phương pháp khái quát hoá, phương pháp thống kê, so sánh, mô tả… Trong đó, sử dụng nhiều là phương pháp phân tích và tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về dân chủ
cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở nói chung và dân chủ cơ sở ở phường nói riêng, từ đó hoàn thiện hơn cách thức tiếp cận vấn đề này, đồng thời giúp mọi người thấy được vai trò quan trọng của việc thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở đối với sự phát triển của đất nước, cũng như giúp mọi người nhận thức được trách nhiệm của chính mình Luận văn cũng đánh giá một cách toàn diện thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở phường từ thực tiễn phường Văn Quán và đưa ra được quan điểm, đề xuất được những giải pháp thiết thực để bảo đảm việc thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở, từ đó góp phần nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên cả nước và trên địa bàn phường Văn Quán trong giai đoạn hiện nay
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được chia thành
3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại phường
Văn Quán, Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở tại phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm dân chủ, khái niệm về dân chủ cơ sở
a/ Khái niệm dân chủ:
Thuật ngữ “dân chủ” ra đời từ thời Hy Lạp cổ đại, khoảng thế kỷ thứ VII-VI trước công nguyên Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ là do hai từ hợp thành, “demos”
là nhân dân và “kuatos” là quyền lực hay chính quyền “Demoskratia” – dân chủ -
có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa:
“Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận
nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định” [37]
Như vậy, dân chủ được coi là tiêu chí đánh giá cách thức, trình độ tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Song vấn đề dân chủ luôn là vấn đề phức tạp, có nội dung rộng lớn, luôn luôn mới, gắn với những tiến bộ về lịch sử và văn hóa của loài người Để nghiên cứu, hiểu rõ bản chất, tính chất và nội dung của dân chủ phải xem xét nó dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau
Bản thân thuật ngữ dân chủ được tiếp cận dưới nhiều góc độ: Triết học, chính trị; dân chủ là một hình thái nhà nước; dân chủ là một hiện thực chính trị; dân chủ là một hiện thực kinh tế, một hiện thực xã hội và dân chủ là một trạng thái của
hệ thống quan hệ quốc tế Nếu xét theo trình độ phát triển của lịch sử nhân loại thì
có các nền dân chủ: dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) Về mặt phạm vi, dân chủ rất toàn diện, bao quát các lĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tư tưởng; từ các mỗi quan hệ giữa con
Trang 16người với con người đến quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với Nhà nước, giữa các tổ chức và thể chế hiện hành, giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế Hiện nay, với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, dân chủ còn được hiểu như là phương thức, cách thức tổ chức, là thước đo số cá thể (cá nhân, tổ chức) tham gia vào quá trình xã hội hóa công nghệ, tài chính, thông tin, văn hóa Song, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì thực chất nội dung, tính chất và khuynh hướng phát triển của dân chủ là hoàn toàn phụ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về ai, phục vụ ai trong mỗi quan hệ, trong cộng đồng và xã hội đó
Sự phát triển của dân chủ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, năng lực nhận thức của công dân và chính quyền, truyền thống lịch sử, văn hóa, pháp lý Dân chủ là mục tiêu, động lực phát triển của quốc gia, dân tộc
Dân chủ là khát vọng được làm chủ, là quyền tự nhiên của con người trong
đó có quyền sử dụng tất cả sức mạnh để thực hiện vai trò của người chủ và quyền làm chủ đó có lúc, có nơi đã được những người cầm quyền trong lịch sử nhận thức
và thể chế thành pháp luật thực định cùng các thiết chế chính trị - xã hội khác Song, chỉ đến khi nền dân chủ vô sản – dân chủ XHCN ra đời, thì đó mới là chế độ dân chủ thực sự, dân chủ của đa số nhân dân với sự đảm bảo thực hiện pháp luật, của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ XHCN:
Dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là một hiện tượng lịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới nhiều hình thức khác nhau trong điều kiện tương ứng của các hình thái kinh tế - xã hội Trong xã hội XHCN, “dân chủ” có một chất lượng mới do được phát triển đầy đủ trên cơ
sở một nền kinh tế phát triển cao, nhờ đó con người được giải phóng và phát
triển toàn diện Trong đó, “sự phát triển của mỗi người là điều kiện phát triển tự
do của tất cả mọi người” [8, tr.51]
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin dân chủ trước hết là một hình thức Nhà nước
V.I Lênin viết: “Chế độ dân chủ, đó là một Nhà nước thừa nhận việc thiểu số phục
tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức đảm bảo cho một giai cấp thi hành bạo lực một cách
Trang 17có hệ thống chống lại giai cấp khác” [40, tr.101] Vì vậy, dân chủ luôn mang tính
giai cấp, nó tồn tại và biến đổi cùng với sự biến đổi của cuộc đấu tranh giai cấp và
sự thay đổi của phương thức sản xuất chủ yếu của xã hội Dân chủ XHCN là một hiện tượng hợp quy luật, là bước phát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ khác và bản chất của dân chủ XHCN là giải phóng con người, để con người có thể thực hiện được những quyền tự nhiên của mình, tự làm chủ vận mệnh và quyết định những vấn đề xã hội Theo C.Mác, dân chủ XHCN thực chất là chế độ “do nhân dân
tự quy định Nhà nước”, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước Nhân dân tự tổ chức quyền lực nhà nước qua bầu cử, tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Lênin đã khái quát quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị của dân thành ba nội dung lớn: quyền bầu cử, quyền tham gia quản lý các công việc của Nhà nước và quyền bãi miễn
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, dân chủ XHCN có những đặc điểm cơ bản sau: + Dân chủ cho nhân dân lao động
+ Dân chủ thực sự
+Dân chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa thực chất của dân chủ XHCN là sự tham gia một cách thực sự bình đẳng và ngày càng rộng rãi của những người lao động vào quản lý công việc Nhà nước và
xã hội Thống nhất được quyền và nghĩa vụ của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Vì vậy, nó trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội
- Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ:
Tiếp thu và kế thừa các quan điểm về “dân chủ” của nhân loại, Hồ Chí Minh lý giải khái niệm “dân chủ” một cách đơn giản, hết sức cô đọng và dễ hiểu,
dễ thực hiện và kiểm soát Người nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân
làm chủ” [31, tr.251], “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [32, tr 525] Người viết:
Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Trang 18Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [33, tr 698]
Như vậy, “dân là chủ” và “dân làm chủ” là cốt lõi trong khái niệm “dân chủ” của Hồ Chí Minh Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản mà nhân loại thừa nhận: dân chủ nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân
Song nghiên cứu về dân chủ, chúng ta phải đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi dùng khái niệm “nhân dân” không bao giờ được đánh đồng các giai cấp, tầng lớp Vì dân chủ gắn liền với xã hội có giai cấp, khái niệm dân có thể thay đổi về số lượng, chất lượng và đối tượng tùy theo tính chất của một xã hội trong từng thế kỷ, từng nấc thang phát triển nhất định Có thể nói, khái niệm dân đồng nhất với khái niệm nhân dân, dân chúng, quần chúng nhân dân Và việc thực hiện cho được “dân là chủ, dân làm chủ” đấy chính là thực hiện sứ mệnh lịch sử, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, bởi vì quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng, là người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và sáng tạo
ra những giá trị tinh thần, nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của nhân loại
b/ Khái niệm dân chủ cơ sở:
Quần chúng nhân dân là những người trực tiếp sản xuất ra những giá trị vật chất và sáng tạo ra giá trị tinh thần Trong lao động và sinh sống, nhân dân luôn gắn
bó mật thiết với một đơn vị, một tổ chức, một địa bàn dân cư nhất định Bất cứ một
tổ chức nào, xét theo hệ thống cấu trúc, cũng bao gồm hệ thống cấu trúc từ nhỏ đến lớn Những cấu trúc nhỏ nhất trong một hệ thống có tư cách như một chỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập, là nền tảng cho toàn bộ hệ thống được gọi là cơ sở
Cơ sở là “tế bào” của hệ thống Bất cứ một công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong
hệ thống Đó chính là xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở nơi diễn ra các quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân Hệ thống chính trị
Trang 19của nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ XHCN, được tổ chức thành 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện và xã (cơ sở) là cấp cuối cùng Xã, phường, thị trấn là nơi trực tiếp thực hiện đường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong thực tiễn khách quan Dân chủ, với ý nghĩa tối cao nhất là quyền tự nhiên của con người được thực hiện trước hết là ở cơ sở Dân chủ cơ sở là nhân dân có quyền được biết, được bàn và được tham gia giải quyết và kiểm tra giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở
1.1.1.2 Khái niệm pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Theo học thuyết Mác-Lênin, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng lịch sử
cơ bản nhất của đời sống chính trị xã hội, là hai người bạn đồng hành có số phận lịch sử như nhau cùng xuất hiện, cùng tồn tại và phát triển và cùng tiêu vong khi nhân loại đã tiến tới chủ nghĩa cộng sản Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính là những nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật Nhà nước và pháp luật là 2 yếu tố của thư ợng tầng chính trị- pháp lý Nhà nước ban hà nh ra luâ ̣t
và pháp luật tác động trở lại nhà nước
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội
Bản chất của Nhà nước ta được xác định tại Điều 2 Hiến pháp 2013:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức [46, Điều 2]
Vì vậy, pháp luật của Nhà nước ta về bản chất là pháp luật XHCN, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, đồng thời phản ánh, thể hiện ý chí, lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động khác và của cả dân tộc Sự kết hợp chặt chẽ giữa tính giai cấp sâu sắc và tính nhân dân rộng rãi là một đặc điểm đáng chú ý của pháp luật nước ta hiện nay Bên cạnh đó khi pháp luật phản ánh, bảo vệ lợi ích
Trang 20của các giai cấp, của dân tộc phải dựa trên quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam Đó là một nguyên tắc hàng đầu của pháp luật nước ta trong giai đoạn hiện nay
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực
đó chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu quả trên cơ sở của pháp luật Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Vì vậy Pháp lu ật giữ vai trò hết sức quan tr ọng, vừa là phương ti ện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Vừa là nhân t ố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội trong đó
có các quan hệ giữa các cá nhân công dân với Nhà nước, giữa công dân với nhau trong đời sống xã hội
Dân chủ là mô ̣t hình th ức nhà nước, gắn liền với nhà nước và chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại ba yếu tố: nhân dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa chúng Do đó người ta có thể đề cập đến nhà nước mà không có dân chủ, nhưng không thể đề cập đến dân chủ mà không có nhà nước Dân chủ là thuộc tính của Nhà nước XHCN, việc tăng cường hiệu lực và phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời sống xã hội luôn gắn liều với quá trình thực hiện và
mở rộng dân chủ XHCN
Dân chủ phải gắn với pháp luật, phải được thể hóa thành pháp luật Chính pháp luật là điều kiện, là cơ sở để đảm bảo cho dân chủ được thực hiện Những quyền tự do dân chủ của công dân phải được quy định cụ thể trong pháp luật, Nhà nước phải đảm bảo cho công dân thực hiện các quyền đó trong khuôn khổ luật định, đồng thời pháp luật cũng quy định những nghĩa vụ tương ứng mà công dân phải thực hiện để đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội
Trên cơ sở phân tích nhà nước, pháp luật, dân chủ và mối quan hệ giữa chúng có thể hiểu pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Từ đó suy ra pháp luật về dân chủ ở xã , phường, thị trấn là nh ững quy tắc
Trang 21xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh những quan
hệ xã hội phát sinh trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn
1.1.2 Đặc điểm
Pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, khác với quy định thông thường, Quy định về thực hiện dân chủ
là một văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hóa và luật hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” bằng một số nghị định của Chính phủ và Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội
- Thứ hai, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa dân chủ XHCN ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”
- Thứ ba, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở phát huy chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương, cơ sở, quy định những nghĩa vụ cụ thể của chính quyền trong việc đảm bảo quyền làm chủ của người dân ở cơ sở, cơ quan, tổ chức, xí nghiệp
- Thứ tư, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để người dân, cán bộ, công nhân viên, người lao động bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn với quyền lợi và nghĩa
vụ của họ
- Thứ năm, có sự tham gia của Mặt trận các cấp và các đoàn thể nhân dân ở mọi khâu trong thực hiện quy chế ở cơ sở để thấm nhuần và phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của nhân dân trong việc thực thi nền dân chủ XHCN
- Thứ sáu, mục đích của việc ban hành pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên khơi dậy sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn
và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, đảng
Trang 22viên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hướng XHCN
- Thứ bảy, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủ phải trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; đi đôi với trật tự kỷ cương; quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm Hiến pháp, pháp luật, xâm phạm lợi ích của nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân
1.1.3 Nội dung
Pháp luật về thực hiện dân chủ cũng có nội dung điều chỉnh riêng Tại điều 1 Pháp lệnh số 34/2007/PL – UBTVQH ngày 20 tháng 4 năm 2007 về thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn có ghi:
Pháp lệnh này quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phun, sóc (sau đây gọi chung
là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là tổ dân phố), của các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ cấp xã
Như vậy, căn cứ vào quy định đó ta có thể thấy nội dung điều chỉnh của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở cấp xã rất rộng nhưng tất cả là để nhằm đảm bảo mục tiêu: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đảm bảo nguyên tắc “dân làm gốc”, đảm bảo dân chủ XHCN
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
1.2.1 Khái niệm
Thực hiê ̣n pháp luâ ̣t là giai đoa ̣n tiếp theo trong đời sống của mô ̣t văn bản pháp luật sau khi được ban hành Nếu như viê ̣c xây dựng và ban hành mô ̣t quy phạm pháp luật hay cả một đạo luật là quá trình mô hình hóa các quy t ắc xử sự có
Trang 23tính đại diện cho những hành vi phổ biến trong xã hội theo hướng phù hợp với ý chí của Nhà nước thì thực hiện pháp luật có chiều hướng ngược lại , tức là các mô hình xử sự đã được quy pha ̣m hóa bằng quyề n lực Nhà nước để áp trở la ̣i như khuôn mẫu, như thước đo các hành vi cu ̣ thể của các cá nhân , tổ chức khi ho ̣ tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh Vì vậy có thể coi xây dựng pháp luật
là quá trình đưa đời sống vào pháp luâ ̣t , còn thực hiện pháp luật là quá trình đưa pháp luật trở lại đời sống
Những quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành sẽ hoàn toàn mất hết ý nghĩa nếu nó không được thực hiện, nghĩa là không đi vào đời sống bằng hành vi của các chủ thể pháp luật Hành
vi thực hiện pháp luật là những xử sự (hành động hoặc không hành động) của các chủ thể pháp luật (các cá nhân, tổ chức) phù hợp với những yêu cầu của các quy phạm pháp luật, có ích cho xã hội, nhà nước và cá nhân
Về phương diện pháp lý, thực hiện pháp luật là khái niệm hiện nay có những cách hiểu ít nhiều khác nhau:
Theo giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học
Luật Hà Nội: “Thực hiện pháp luật được quan niệm là quá trình hoạt động có mục
đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [48, tr.463]
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước
và pháp luật - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: “Thực hiện
pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích là cho những quy phạm pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực hiện của các chủ thể pháp luật” [30, tr.270]
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật – Đại
học Quốc gia Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích
làm cho những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [39, tr 494]
Nhìn chung các định nghĩa nêu trên đều có nội dung tương đối giống nhau, theo đó, thực hiện pháp luật là hoạt động (việc, quá trình) nhằm thực hiện những
Trang 24yêu cầu của pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống Trong quan hệ với cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã đi vào cuộc sống nhằm mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thực sự là của dân, do dân và vì dân
Thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở được thực hiện theo nguyên tắc: đảm bảo trật tự kỷ cương, đảm bảo quyền của nhân dân được biết, được bàn, được tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở để bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước Hiện nay, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ
sở chủ yếu là tập trung thực hiện những nội dung, quy định của pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11)
1.2.2 Đặc điểm
Mỗi xã, phường, thị trấn gắn với một vị trí đi ̣a lý nhất đi ̣nh, có điều kiện kinh tế, trình độ dân trí , phong tu ̣c tâ ̣p quán khác nhau nhưng đều được xếp chung vào cấp xã Dù có sự khác nhau về nhiều mặt nhưng độ chênh lệch không quá lớn , xét cho cùng mo ̣i tiêu chí củ a các xã , phường, thị trấn đều có những nét tương đồng Đều là đơn vi ̣ hành chính nhỏ nhất của nước ta với nhân tố trung tâm là ủy ban nhân
dân (UBND) và hội đồng nhân dân(HĐND) đă ̣t dưới sự lãnh đa ̣o của đảng ủy Thực
hiện dân chủ ở cơ sở là xây dựng nền tảng của chế độ chính trị theo định hướng XHCN gắn liền với quá trình triển khai thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Vì những tính chất này nên việc thực hiện pháp luật về dân chủ
ở xã, phường, thị trấn có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Thực hi ện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn là ho ạt
động diễn ra thường xuyên, liên tục gắn liền với các hoạt động trên địa bàn thôn (thôn, làng, bản, phum, sóc), tổ dân phố (tổ dân phố, khu phố, khối phố)
Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính lãnh thổ còn thôn , tổ dân phố là
Trang 25đơn vi ̣ hành chính tự nhiên Mặc dù tên gọi là dân chủ ở xã, phường, thị trấn nhưng thực chất nơi biểu hiê ̣n của dân ch ủ không chỉ là xã, phường, thị trấn thuần túy, mà
nó phải đi xuống thôn , tổ dân phố - đơn vị hành chính tự nhiên gần dân nhất và cũng là nơi kh ởi nguồn của dân chủ Hơn nữa, dân chủ không chỉ thể hiê ̣n ở viê ̣c thực hiê ̣n tốt các quy đi ̣nh của phá p luâ ̣t về dân chủ mà còn thể hiê ̣n ở nhiều hoa ̣t
đô ̣ng sinh hoa ̣t hàng ngày của chính người dân ở thôn , tổ dân phố Chính vì vậy mà viê ̣c thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về dân chủ ở xã, phường, thị trấn là hoạt động mang tính thường xyên, liên tu ̣c Sự hiê ̣n hữu của xã , phường, thị trấn lúc này đóng vai trò là đại diện cho nhà nước để giám sát , kiểm tra việc thực hiện dân chủ (dân chủ bán trực tiếp) Để phát huy tốt vấn đề dân chủ ở xã cần phải nghiên cứu thiết chế thôn, làng và sự tác động của nó tới phát huy dân chủ ở xã, tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu
về tính đặc thù về văn hoá truyền thống, điều kiện kinh tế tự nhiên, tổng kết việc xây dựng hương ước, qui ước
Thứ hai, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn được triển
khai trên địa bàn rộng lớn nhất so với các loại hình cơ sở khác
Hiê ̣n nay pha ̣m vi điều chỉnh của pháp luâ ̣t về thực hiê ̣n dân chủ được thể hiê ̣n chủ yếu ở 3 văn bản: Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã , phường, thị trấn; Nghị định số
60/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy đi ̣nh chi tiết Khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiê ̣n quy chế dân chủ ở cơ sở ta ̣i nơi làm viê ̣c (gọi tắt là Nghị định số 60/2013) và Nghị định số 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiê ̣n dân chủ trong hoa ̣t đô ̣ng của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập Đây là 3 loại hình
cơ sở đang được pháp luâ ̣t điều chỉnh Trong đó xã , phường, thị trấn là loại hình tiêu biểu về mo ̣i mă ̣t , là loại hình có ph ạm vi rô ̣ng lớn nhất Ở nước ta từ trước đến nay xã, phường, thị trấn là nơi tập trung các hoạt động sống , lao đô ̣ng, sinh hoa ̣t của tuyê ̣t đa ̣i đa số các tầng lớp nhân dân Nếu xã, phường, thị trấn bao gồm nơi nhân dân sinh sống , học tập và làm việc thì các loại hình còn lại chỉ đáp ứng 1 trong số các yếu tố này Có thể so sánh đơn giản thế này, diện tích và số lượng dân cư tập trung ở một thôn trong xã đã rộng lớn hơn cả một doanh nghiệp hoặc cơ quan Nên
Trang 26đương nhiên xã , phường, thị trấn là địa bàn rộng lớn nhất , chứa đựng nhiều hoa ̣t
đô ̣ng nhất Vì vậy có th ể nhận định rằng thực hiện pháp luật về dân chủ ở ở xã, phường, thị trấn được triển khai trên địa bàn rộng lớn nhất so với các loại hình dân chủ khác ở cơ sở
Thứ ba, Thực hiện pháp luật dân chủ ở xã, phường, thị trấn được tiến hành
bởi nhiều chủ thể khác nhau, trong đó chủ thể đặc biệt là nhân dân
Pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn (cấp xã) được thực hiê ̣n bởi nhiều chủ thể đó là chính quy ền (HĐND, UBND), các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các cơ quan Nhà nước có liên quan đến việc thực hiện quyền dân chủ, các công dân sinh sống trên địa bàn đó Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở diễn ra giữa các chủ thể mà một bên bao giờ cũng là công dân sống trên địa bàn đó Chính họ sẽ quyết định hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã Xét cho cùng, sự nghiệp đổi mới của đất nước nói chung và công cuộc CNH, HĐH nói riêng tùy thuộc lớn vào cơ sở, vào chính quyền xã, mà sức mạnh của chính quyền là
ở nơi dân, là việc quy tụ được lòng dân, là phát huy tình đoàn kết, truyền thống, tinh thần làm chủ của nhân dân, là hướng tới dân, vì lợi ích của dân Vì vậy, nhân dân được coi là chủ thể đặc biệt
Thứ tư, Thực hiện pháp luật dân chủ ở xã, phường, thị trấn là hành vi th ực
tế hợp pháp nhằm hiện thực hóa các quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản pháp luật liên quan khác
Quyền làm chủ của nhân dân đã được quy định trong Hiến pháp, được chi tiết hóa trong các luật và đặc biệt được cụ thể hóa trong Pháp lệnh về dân chủ ở cơ
sở và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Pháp lệnh về dân chủ ở cơ sở và một số văn bản pháp luâ ̣t khác đã cu ̣ thể hóa phương châm “dân biết , dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Đây là sự cu ̣ thể hóa dân chủ xã hô ̣i chủ nghĩa ở cơ sở , phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn với cơ chế “Đảng lãnh đa ̣o , nhà nước quản lý , nhân dân làm chủ” nhằm phát huy chế đô ̣ dân chủ đa ̣i diê ̣n , nâng cao chất lượng và hiê ̣u lực hoa ̣t đô ̣ng của chính quyền đi ̣a phương , thực hiê ̣n chế đô ̣ dân chủ trực tiếp
ở cơ sở để người dân b àn bạc và trực tiếp quyết định những công việc gắn với
Trang 27quyền lơ ̣i và nghĩa vu ̣ của ho ̣ Các chủ thể thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở sẽ dựa trên nội dung và tinh thần của các quy phạm để thực hiện quyền và trách nhiệm của mình nhưng luôn đảm bảo dân chủ phải trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luâ ̣t, đảm bảo trâ ̣t tự kỉ cương tránh dân chủ quá trớn , lợi du ̣ng dân chủ xâm pha ̣m đến lợi ích nhà nước, lơ ̣i ích tâ ̣p thể, quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tập thể khác
1.2.3 Nội dung
Việc thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về dân chủ cơ sở có nô ̣i dung rất rô ̣ng lớn Quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hô ̣i như chí nh tri ̣, kinh tế, xã hội, tư tưởng Để thực hiện và thể chế hóa quan điểm của Chỉ thị 30/ CT – TW ngày 18/12/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng
và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã có rất nhiều văn bản pháp luật được ban hành Sau một thời gian triển khai và thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã Để nâng cao giá trị pháp lý của các quy định về dân chủ ở cơ sở, ngày 20-4-2007, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI đã thông qua Pháp lệnh số 34 về thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn gồm 6 chương, 28 điều quy đi ̣nh những nô ̣i dung cơ bản theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, cụ thể:
Thứ nhất, Những nội dung công khai để nhân dân biết
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là phương châm đã được cu ̣ thể hóa thành các nội dung của thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở Mỗi nô ̣i dung là
mô ̣t phần của “dân chủ” nhưng không phải dân chủ chỉ bao gồm những nô ̣i dung này Bởi đây chỉ đang xét dưới góc đô ̣ dân chủ tr ong chính tri ̣ “Dân biết” , “dân bàn”, “dân làm”, “dân kiểm tra” có quan hê ̣ chă ̣t chẽ , phụ thuộc, thúc đẩy lẫn nhau
và đươ ̣c hiểu như là bốn khâu của quá trình công khai hóa , dân chủ hóa ở cơ sở
“Dân biết” là nô ̣i dung đầu tiên được đề câ ̣p đến và cu ̣ thể hóa trong chương 2 của Pháp lệnh với ý nghĩa đảm bảo quyền tiếp câ ̣n thông tin của nhân dân Đây được coi như là oxy của nền dân chủ Phải công khai thì dân mới biết để mà bàn , mà làm và kiểm tra Đây là bước đă ̣t nền móng cho viê ̣c thực hiê ̣n dân chủ , tạo hành lang để nhân dân bám vào đó mà thực hiê ̣n quyền làm chủ của mình trong từng viê ̣c cu ̣ thể
Trang 28Trong nô ̣i dung công khai để nhân dân biết , Pháp lệnh liệt kê những nội dung cụ thể cần đươ ̣c công khai , các hình thức công khai và trách nhiệm của tổ chức thực hiện nội dung công khai nhằm tối đa hóa viê ̣c truyền tải thông tin đến với người dân Cụ thể những nô ̣i dung cần công khai để dân biết là:
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã
- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền
bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân
- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế
- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này
- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu
- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện
Trang 29- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
Thứ hai, Những nội dung nhân dân bàn và quyết định
“Dân biết” là bước đă ̣t nền móng cho khâu tiếp theo “dân bàn” “Dân biết” tức là dân mới chỉ nghe và thấy, còn “dân bàn” tức là dân phải “nói” và “viết” Biết
để làm gì nếu như không “bàn” “Dân biết” chỉ thể hiê ̣n được vai trò quan tro ̣ng của mình khi được tham gia bàn bạc Nếu biết mà để đấy thì không có nghĩa lý gì Biết
để mà bàn, để mà tìm ra hướng giải quyết Trong mô ̣t cô ̣ng đồng gồm nhiều người , mỗi ý kiến của mỗi người được đưa ra sẽ là mô ̣t “con đường” để giải quyết công viê ̣c, là một “viên gạch” để góp phần xây dựng vấn đề Hơn nữa, nếu không bàn ba ̣c
mà để một người, mô ̣t nhóm người đưa ra quyết định có th ể sẽ mang tính chủ quan , thiếu toàn diê ̣n và thiếu sâu sắc Pháp lệnh phân định rõ 2 nội dung, đó là những nội dung công việc mà nhân dân bàn và quyết định trực tiếp và những nội dung công việc nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết đi ̣nh
Nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp là chủ trương và mức đóng
góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp
xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật
Nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định là
hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố; Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng Trách nhiệm tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân bàn và quyết định thuộc về UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng thôn
và Tổ trưởng tổ dân phố
Để thực hiê ̣n tốt nô ̣i dung này pháp lê ̣nh còn quy đi ̣nh cu ̣ thể các hình thức
để nhân dân bàn và quyết định , hình thức để nhân dân bàn và biểu quyết , quy định trách nhiệm của tổ chức thực hiện những nội dung dân bàn và qu yết đi ̣nh thuô ̣c về UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng thôn và Tổ trưởng tổ dân phố
Trang 30Thứ ba, Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có
thẩm quyền quyết định
Chính sách, pháp luật bắt nguồn từ xã hội và lại quay trở lại để phục vụ xã
hô ̣i Ban hành và thực hiê ̣n chính sách , pháp luật như một vòng tuần hoàn, ban hành
- thực hiê ̣n - sửa đổi, bổ sung, thay thế - ban hành - thực hiê ̣n Nhưng chu trình này
lă ̣p la ̣i thường ở mức cao hơn , phù h ợp hơn với từng thời điểm của xã hội Với nguồn gốc xuất phát từ xã hô ̣i các chính sách , pháp luật cần phải dựa trên những ý kiến của người dân, bởi dân là người trực tiếp chi ̣u ảnh hưởng và cũng là người thực hiê ̣n trên thực tiễn nên viê ̣c để nhân dân tham gia ý kiến là c ần thiết Vâ ̣y để đáp ứng nhu cầu của người dân thì cần phải biết dân đang làm gì , cần những gì để mà ban hành cho phù hợp Tránh việc ban hành bừa bãi gây lãng phí mà l ại không đáp ứng được yêu cầu c ủa người dân và xã hô ̣i Để nhân dân tham gia ý ki ến là một trong những hình thức để kéo chính sách gần với cuộc sống hơn; là sự phản hồi và đối thoại hai chiều giữa những nhà hoạch định chính sách và thụ hưởng chính sách, góp phần làm công khai, minh bạch chính sách, pháp luật Nếu nô ̣i dung công khai
để dân biết là có vai trò phát thông tin thì nội dung nhân dân tham gia ý kiến như
mô ̣t kênh thu thâ ̣p thông tin
Pháp lệnh quy định 5 nội dung phải đưa ra lấy ý kiến nhân dân trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định gồm: Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã; Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã; Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư; Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã; Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết Ngoài ra pháp l ệnh còn quy định những hình
Trang 31thức cu ̣ thể để nhân dân tham gia ý kiến và trách nhiê ̣m của chính quyền cấp xã , của
cơ quan có thẩm quyền cấp trên về tổ chức thực hiện nội dung này
Thứ tư, Những nội dung nhân dân giám sát
Kiểm tra, giám sát là quá trình hoạt động có mục đích để tìm ra những sai sót trong quá trình thực hiê ̣n dân chủ ở cơ sở , đồng thời thể hiê ̣n quyền làm chủ của nhân dân, dân không chỉ được biết, được bàn mà còn được làm , được kiểm tra Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bàn về vấn đề dân kiểm tra Người cho rằng có hai cách
kiểm tra: "Một là từ trên xuống" và "Một là từ dưới lên" Từ trên xuống tức là người
lãnh đạo kiểm soát kết quả những việc của cán bộ mình Từ dưới lên là quần chúng
và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cách sửa chữa sự sai lầm đó Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các cán bộ nhà nước Kiểm tra có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát hiện những khuyết điểm của cán bộ, công chức trong bộ máy Đảng và Nhà nước để chấn chỉnh những sai phạm, đưa mọi hoạt động
vào đúng nền nếp Có hình thức khen thưởng, động viên, cổ vũ để thu hút nhân dân
vào quá trình kiểm tra các hoạt động của hệ thống chính trị Nhân dân cần được giám sát những gì có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước địa phương, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, Theo quy đi ̣nh của Pháp lê ̣nh thì nhân dân được quyền kiểm tra , giám sát tất cả các nội dung phải công khai để dân biết ; những nô ̣i dung nhân dân bàn và quyết đi ̣nh trực tiếp , những nô ̣i dung nhân dân bàn , biểu quyết; những nô ̣i dung cơ quan có thẩm quyền phải đưa ra lấy ý kiến nhân dân Pháp lệnh cũng quy đi ̣nh về hình thức và trách nhiệm của cơ quan , tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện giám sát của nhân dân Ngoài ra còn có nội dung quy đi ̣nh về viê ̣c lấy phiếu tín nhiê ̣m đối với lãnh đa ̣o HĐND, UBND
1.2.4 Hình thức
Căn cứ vào tính chất hoạt động thực hiện pháp luật, có thể xác định thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật Trong đó, thi hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình
Trang 32bằng hành động tích cực Sử dụng pháp luật là hình thức trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình là những hành vi mà pháp luật cho phép Ở hình thức này, các chủ thể pháp luật có thể thực hiện hay không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp
xã được sử dụng chủ yếu ở hình thức sử dụng pháp luật (đối với chủ thể là công dân) và chấp hành pháp luật (đối với chủ thể là chính quyền và các tổ chức chính trị, xã hội ở cơ sở) Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã được thực hiện thông qua các hình thức sau:
- Hình thức tuân thủ pháp luật dân chủ:
Đây là hình thức thực hiện pháp luật yêu cầu các chủ thể tự kiềm chế không thực hiện những điều mà pháp luật ngăn cấm
+ Đối với chính quyền cấp xã: trong quan hệ với nhân dân không được giải quyết các vụ việc vượt quá thẩm quyền; không được bao che, dung túng cho những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật như vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thủy lơi, đê điều, giao thông đường bộ ,thu các khoản thu trái pháp luật và đặc biệt không được cản trở hoặc vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân như cấm không cho nhân dân hội họp, phát ngôn, không được có những hành vi, thái độ gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân
+ Đối với nhân dân: khi thực hiện tuân thủ pháp luật về dân chủ ở cấp xã được biểu hiện qua việc không lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân
để gây rối trật tự công cộng, chống đối chính quyền làm ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước của chính quyền cấp xã, gây mất trật
tự địa phương; không tự ý dịch chuyển mốc địa giới thuộc quyền quản lý của chính quyền cấp xã
- Hình thức chấp hành pháp luật về dân chủ:
+ Đối với chính quyền cấp xã: công khai những việc nhân dân được biết bằng việc niêm yết công khai tại trụ sở UBND, thời gian niêm yết; công khai trên
hệ thống truyền thanh của xã; hoặc thông qua thôn, tổ dân phố, là những hình thức
cụ thể mà chính quyền cấp xã phải thực hiện để công khai hóa toàn bộ nội dung
Trang 33phải được công khai cho nhân dân biết tại mục 2 Pháp lệnh số 34 Công khai, minh bạch các nội dung đó là vừa yêu cầu khách quan, cấp bách vừa là hình thức thi hành quyền lực nhà nước, là điều kiện đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, là
cơ sở để nhân dân giám sát Nhà nước Thực hiện tốt việc công khai góp phần khắc phục tình trạng che dấu thông tin, hạn chế tham nhũng, tiêu cực, tránh được tình trạng cục bộ địa phương Để làm được điều đó đòi hỏi chính quyền địa phương phải thực hiện tốt các công việc lựa chọn, bố trí cán bộ công chức (CBCC) cấp xã đến việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, đảm bảo tính hợp pháp và tính hợp lý để thực hiện công khai cho mọi người dân biết, có như vậy mục đích của công khai mới đạt được
+ Đối với nhân dân: hình thức chấp hành pháp luật về dân chủ ở cấp xã thể hiện trong việc thực hiện tích cực các nghĩa vụ pháp lý của mình như đóng các khoản phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền xã trực tiếp thu; các khoản đóng góp tự nguyện đã được thống nhất trong nhân dân trong xây dựng các công trình phúc lợi, công trình công cộng; nghĩa vụ chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phê duyệt như giải phóng mặt bằng theo phương án đã được cấp có thẩm quyền quyết định; quyết định giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo
Trang 34- Hình thức áp dụng pháp luật về dân chủ:
Pháp luật về dân chủ ở cơ sở tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất khi chỉ khi tất cả những quy định của nó đều được thực hiện chính xác, triệt để trong thực tế Tuy nhiên, nếu chỉ thông qua các hình thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật trên thì sẽ có nhiều quy phạm pháp luật về dân chủ ở cơ sở không đủ khả năng tụ thực hiện nêu thiếu sự tham gia của các chủ thể có thẩm quyền Vì vậy, phải có hình thức áp dụng pháp luật về dân chủ ở cơ sở, đây là hình thức mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua chính quyền cấp xã hoặc CBCC cấp xã nhằm cá biệt hóa, hiện thực hóa các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, như theo thẩm quyền chính quyền cấp xã và quyết định phê chuẩn công nhận kết quả bầu, bãi nhiệm trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố; quyết định kỷ luật CBCC cấp xã vi phạm, cản trở việc thực hiện các quyền dân chủ công dân; quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật khiếu nại, Luật tố cáo
1.3 Vai trò của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
1.3.1 Đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân theo phương châm dân biết, bàn, làm, kiểm tra
Việc chăm lo con người, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân,
mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lí xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương, khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức là những nội dung hết sức quan trọng của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Vai trò của thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đối với việc mở rộng dân chủ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân thể hiện trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở giúp người dân nhận thức
đúng đắn , đầy đủ hơn quyền làm chủ của mình từ đó hiểu rõ bản chất , tầm quan trọng của việc thực hành và phát huy dân chủ ở cơ sở Muốn thực hiện quyền làm chủ thì trước tiên nhân dân phải nhận thức đúng đắn, hiểu biết đầy đủ về dân chủ và thực hành dân chủ Các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã chính
Trang 35là sự cụ thể hoá các quyền làm chủ của người dân trên địa bàn xã, phường, thị trấn theo phương châm dân biết , dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Thông qua việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, người dân có điều kiện biết được quyền và trách nhiệm của mình; hiểu được nguyên tắc, nội dung, hình thức thực hiện cũng như các hành vi bị nghiêm cấm Nếu không triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ
sở thì có thể nhiều người dân sẽ không biết đến các quyền mà pháp luật trao cho họ Qua đó nhân dân có thể hiểu được bản chất của viê ̣c thực hiện pháp luật về dân chủ
ở cơ sở là sự hiện thực hoá quyền làm chủ của chính mình ; biết được trách nhiê ̣m của chính quyền , đô ̣i ngũ cán bô ̣ công chức cấp cơ sở trong viê ̣c giúp người dân thực sự phát huy quyền làm chủ của mình, tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội trên địa bàn cơ sở để ngày càng mở rô ̣ng dân chủ và đảm bảo được các quyền lợi
hơ ̣p pháp của nhân dân
Thứ hai, từ sự nhận thức, hiểu biết đó nhân dân sẽ chủ động, tích cực hơn
trong việc sử dụng các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở để bảo
vệ các lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và các quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi người dân
Người dân có tích cực sử dụng quyền được biết thì chính quyền cơ sở mới không thể “bưng bít” mà phải công khai thông tin theo quy định của pháp luật, có chủ động sử dụng quyền được bàn và quyết định trực tiếp thì công viê ̣c mới nhanh chóng được triển khai , có tự giác sử dụng quyền được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định thì mới tránh được tình trạng thắc mắc, khiếu nại Chỉ khi nào người dân biết sử dụng và phát huy các quyền dân chủ theo quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở thì các lợi ích của Nhà nước, cộng đồng, các quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người dân ở cơ sở mới có thể được đảm bảo
Thứ ba, khi dân chủ ở cơ sở được mở rộng, các quyền và lợi ích hợp pháp
của nhân dân được đảm bảo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở sẽ góp phần quan trọng tạo sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương Đây được coi
là kết quả của hoạt động thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Sự đồng thuận xã
Trang 36hội ở cơ sở chỉ có thể được tạo ra khi nhân dân cùng được biết, cùng tham gia bàn bạc, biểu quyết, quyết định hoặc cùng tham gia ý kiến về những vấn đề quan trọng của địa phương, liên quan đến lợi ích của mỗi người
1.3.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở
Một là, Thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở đòi hỏi phải đổi mới hoạt động
của bộ máy chính quyền cấp cơ sở theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, chú trọng đến chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc Chính quyền cấp cơ sở là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật dân chủ ở cơ sở đi vào hiện thực đời sống ở xã, phường, thị trấn Trước đây, khi chưa có Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã, hầu hết các hoạt động của chính quyền cấp xã đều nằm ngoài tầm kiểm soát của nhân dân địa phương thì ngày nay , với việc pháp luật về dân chủ ở cơ sở ngày càng được hoàn thiện hơn và được triển khai mạnh mẽ trên thực tế , bộ máy chính quyền cơ sở cũng phải đổi mới hoạt động để thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của đời sống dân chủ ở cơ sở Và đương nhiên viê ̣c đổi mới hoa ̣t đô ̣ng của bô ̣ máy chính quyền bao gồm cả nô ̣i dung cải cách hành chính, trong đó quan tro ̣ng nhất là thủ tu ̣c hành chính Thủ tục hành chính quá rườm
rà, phức ta ̣p như hiê ̣n nay chính là rào cản để nhân dân thực hiê ̣n quyền làm chủ của mình Vì vậy đổi mới hoạt động của bộ máy chính quyền ở xã, phường, thị trấn phải gắn liền với viê ̣c cải cách hành chính để người dân dễ dàng thực hiê ̣n quyền làm chủ của mình
Hai là, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần nâng cao năng lực
chuyên môn và trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, là nền tảng để sửa đổi lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ
sở là chủ thể trực tiếp triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Chất lượng, hiệu quả của công tác này phụ thuộc rất lớn vào ý thức, thái độ phục vụ nhân dân và năng lực chuyên môn, hiểu biết pháp luật của đội ngũ cán bộ này Tuy nhiên, thực
tế cho thấy nhiều lúc, nhiều nơi, cán bộ, công chức nhà nước nói chung, cấp cơ sở nói riêng, còn có biểu hiện quan cách, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân; giải quyết
Trang 37công việc của dân còn quan liêu, tuỳ tiện, khiến cho người dân nản lòng mỗi khi có công việc cần đến cơ quan công quyền Đó cũng là một trong những lí do quan trọng đưa đến đòi hỏi phải triển khai mạnh mẽ việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở
cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Ba là, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần xây dựng bộ máy
chính quyền cấp cơ sở trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Việc đổi mới hoạt động của bộ máy chính quyền cấp cơ sở theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, chú trọng đến chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc, sửa đổi lề lối làm việc của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp cơ sở theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại là kết quả của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở; hướng tới mục tiêu xây dựng bộ máy chính quyền cấp cơ sở trong sạch, vững mạnh Xây dựng chính quyền cấp cơ sở trong sạch, vững mạnh là một trong những mắt khâu quan trọng và là yêu cầu cấp thiết của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Việc thực hiện có hiệu quả pháp luật
về dân chủ ở cơ sở sẽ đáp ứng yêu cầu cấp thiết này
1.3.3 Thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Phát huy dân chủ, phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội là những mục tiêu quốc gia, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, thúc đấy và hỗ trợ lẫn nhau Tất cả vì một mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ
sở có thể coi là nền tảng để phát triển kinh tế-xã hội Bản chất nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân Điểm xuất phát là ở dân, mục tiêu hướng tới cuối cùng cũng là vì nhân dân Muốn phát triển kinh tế-xã hội thì trước hết phải đảm bảo được các quyền của người dân đó là quyền được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra Muốn vậy phải thực hiện tốt pháp luật về dân chủ cơ sở mà cụ thể là Pháp lệnh 34 vì các nội dung trong pháp lệnh đã qui định rõ ràng về những nội dung cần công khai để nhân dân biết, những nội dung nhân dân được bàn và quyết định, những nội dung nhân dân tham gia ý kiến, những nội dung nhân dân giám sát Việc
Trang 38công khai kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và dự toán, quyết toán ngân sách hàng năm; công khai việc quản lý và sử dụng các loại quỹ; công khai chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo;… đều là những vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội của cả địa phương Thực tiễn quá trình thực hiện pháp lệnh về dân chủ cơ sở cho thấy, khi tài chính được công khai, nhân dân được bàn bạc, quyết định và đóng góp ý kiến thì sẽ sẵn sàng đóng góp xây dựng cơ
sở vật chất hơn từ đó các công trình phúc lợi công cộng được xây dựng nhiều hơn, đất đai được quản lý tốt hơn; giáo dục, y tế được quan tâm, đẩy mạnh, Do đó quyền của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, y tế được bảo đảm hơn từ đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội hơn Đã nói đến pháp luật là nói đến việc duy trì trật tự xã hội vì thế pháp luật về dân chủ cơ sở cũng không ngoại lệ Quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở sẽ phát hiện ra những vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật dân chủ nói riêng, từ đó sẽ có chế tài áp dụng cho các hành vi vi phạm pháp luật này Vì vậy việc thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở còn góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
1.4.1 Thể chế
Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật về dân chủ
có vai trò quan trọng trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã
Để xây dựng được hệ thống pháp luật về dân chủ có chất lượng phải đảm bảo các yếu tố như tính toàn diện, đồng bộ, tính thống nhất, tính phù hợp, ngôn ngữ và
kỹ thuật xây dựng pháp luật, tính khả thi, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi mà cuộc sống đang đặt ra
Tính toàn diện, đồng bộ thể hiện ở chỗ mỗi văn bản quy phạm pháp luật phải
có đủ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật; từng quy phạm pháp luật về dân chủ phải có cấu trúc logic chặt chẽ; tránh hiện tượng trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn ngay trong các quy định của văn bản hay các quy định pháp luật về dân chủ trong những trường hợp cần có sự quy định chi tiết, để khi văn bản pháp luật về
Trang 39dân chủ có hiệu lực thì nó cũng đã có đủ các điều kiện để có thể được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế
Tính phù hợp thể hiện ở nội dung của pháp luật về dân chủ luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Pháp luật về dân chủ nói riêng cũng như pháp luật nói chung phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh
tế - xã hội, nó không thể cao hơn, hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó Pháp luật về dân chủ ở cơ sở ra đời, tồn tại và phát triển ở cơ sở nên nó phải có nội dung phù hợp với điều kiện ở cơ sở
Chất lượng của pháp luật về dân chủ còn thể hiện ở ngôn ngữ và kỹ thuật xây dựng pháp luật, đó phải là cách thức phương tiện, kỹ thuật pháp lý, các quy tắc pháp
lý tiên tiến, khoa học nhất đảm bảo các quy phạm pháp luật về dân chủ được logic, chặt chẽ, với các thuật ngữ chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quần chúng nhân dân Hơn nữa, tính khả thi của pháp luật về dân chủ cũng là một trong những yếu tố rất quan trọng đảm bảo triển khai thực hiện trong thực tế Nghĩa là các quy định của pháp luật về dân chủ phải có khả năng thực hiện được trong những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội hiện tại
Như vậy, thể chế về dân chủ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đạt được kết quả cao trong thực tiễn, đồng thời cho phép dự báo được khả năng hiện thực hóa các quy định pháp luật trong đời sống xã hội Pháp luật được ban hành kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với các quy luật khách quan và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và ở trình độ pháp lý cao, rõ ràng, chính xác và một nghĩa thì tạo cơ sở cho điều chỉnh và tác động pháp luật đạt được kết quả cao và ngược lại
1.4.2 Sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở
Đảng bộ ở cấp xã là hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Với vị trí, chức năng của mình, Đảng bộ cấp xã có nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng và thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm,
Trang 40dân kiểm tra”; giám sát mọi hoạt động của cấp xã theo đúng đường lỗi, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Chi bộ khu phố, thôn xóm là chi bộ trực thuộc Đảng bộ xã, phường, thị trấn, là “tế bào” của Đảng, là gốc rễ và là nơi mà mọi đường lối, chủ trương của Đảng đến được với nhân dân Cán bộ, đảng viên của Đảng bộ cấp xã gương mẫu thực hiện nhiệm vụ do Chi bộ thôn, khu phố giao và giám sát kiểm tra việc thực hiện đó Với vai trò lãnh đạo toàn diện, Đảng bộ cấp xã phải lãnh đạo các chi bộ trực thuộc, đảng viên, chính quyền, đoàn thể đưa pháp luật dân chủ về cơ sở để thực hiện trong cuộc sống
Để nhân dân trên địa bàn thực hiện pháp luật về dân chủ Trước tiên, cán bộ đảng viên phải là người nhận thức sâu sắc về dân chủ, thực hiện và triển khai thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và tập trung chỉ đạo thể chế hóa các nghị quyết của Đảng về dân chủ thành các chương trình kinh tế - xã hội phục vụ cho lợi ích của nhân dân Thực tiễn cho thấy, ở nơi nào tổ chức Đảng cơ sở quán triệt đầy đủ, sâu sắc, xác định đúng đắn vị trí, vai trò lãnh đạo toàn diện và thực hiện nghiêm túc pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở thì ở đó quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng và phát huy hiệu quả Ngược lại, ở địa phương nào chi bộ, Đảng bộ yếu kém thì dân chủ bị vi phạm, kỷ cương phép nước không nghiêm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Hơn mười năm thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, các tổ chức Đảng ở cơ sở đã thể hiện được vai trò, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình trong việc triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở Thông qua tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức pháp luật nói chung, ý thức về dân chủ nói riêng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Đảng bộ cấp xã đã đưa các văn bản pháp luật
về dân chủ đi vào cuộc sống Vì thế, việc thực hiện dân chủ ở cấp xã có đạt chất lượng hiệu quả cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, điều hành của chính quyền cơ sở theo phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”