Các nội dung thực hiện Để đạt được mục tiêu đã đề ra, đề tài thực hiện các nội dung sau: - Thu thập số liệu khí tượng, thủy văn cho khu vực nghiên cứu; - Thu thập các bản đồ địa hình, b
Trang 1
BÁO CÁO HIỆN TRẠNG DỮ LIỆU
VỀ KHÍ HẬU VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN CÓ TỈNH QUẢNG
NGÃI
(Sản phẩm thuộc hợp đồng số: 171212/FIRM-CBCC ký ngày 17/12/2012)
hậu ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ TĐ và KS phát thải khí nhà kính” (thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường) - 00060851
Tên gói thầu: Tư vấn chuyển tải những thông tin và dữ liệu về cực trị khí hậu và BĐKH phục vụ hoạch định kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN VĂN ĐẠI
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ NGẬP LỤT CHO QUẬN NINH KIỀU,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội, 2015
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN VĂN ĐẠI
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ NGẬP LỤT CHO QUẬN NINH KIỀU,
Trang 3i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH BẢNG iii
DANH SÁCH HÌNH VẼ iv
DANH SÁCH HÌNH VẼ iv
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Các nội dung thực hiện 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
Phương pháp nghiên cứu: 2
Công cụ mô hình được sử dụng: 2
5 Phạm vi nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGẬP LỤT ĐÔ THỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ NGẬP LỤT 4
1.1 Tổng quan về ngập lụt đô thị 4
1.1.1 Các nguyên nhân khách quan 5
1.1.2 Các nguyên nhân chủ quan 7
1.2 Phương pháp xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt 8
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 10
2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu 10
2.1.1 Vị trí địa lí 10
2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo, địa chất 11
2.1.3 Đặc điểm khí hậu 12
2.1.4 Đặc điểm thủy văn 13
2.2 Kịch bản biến đổi khí hậu khu vực nghiên cứu 13
2.2.1 Các kịch bản biến đổi khí hậu đối với lượng mưa 13
Trang 42.2.2 Kịch bản nước biển dâng 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGẬP LỤT ĐÔ THỊ CHO QUẬN NINH KIỀU - THÀNH PHỐ CẦN THƠ 24
3.1 Giới thiệu các mô hình 24
3.1.1 Lựa chọn mô hình tính toán 24
3.1.2 Giới thiệu chung về các mô hình 25
3.2 Số liệu đầu vào 32
3.2.1 Số liệu địa hình 32
3.2.2 Số liệu khí tượng 32
3.2.3 Số liệu thủy văn 33
3.3 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình 34
3.3.1 Mô hình thủy lực 1 chiều trong sông (MIKE 11) 34
3.3.2 Mô hình thủy lực 2 chiều (MIKE 21) 42
3.3.3 Mô hình thủy văn đô thị (MIKE URBAN) 45
3.3.4 Mô hình MIKE FLOOD 47
3.4 Xây dựng bản đồ ngập lụt đô thị 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 61
Trang 5iii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Lượng mưa trung bình tháng, năm tại trạm Cần Thơ 12
Bảng 2.2 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 của Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải thấp (B1) [10] 14
Bảng 2.3 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 của Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10] 14
Bảng 2.4 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 của Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải cao (A2) [10] 15
Bảng 2.5 Kịch bản nước biển dâng do biến đổi khí hậu cho khu vực [2] 21
Bảng 3.1 Diện tích của các lưu vực bộ phận khu giữa [4] 35
Bảng 3.2 Thông số của mô hình MIKE-NAM cho các lưu vực bộ phận [4] 36
Bảng 3.3 Bộ thông số của mô hình MIKE11 tại một số vị trí chính 38
Bảng 3.4 Đánh giá kết quả hiệu chỉnh mô hình 40
Bảng 3.5 Đánh giá kết quả kiểm định mô hình 42
Bảng 3.6 Tọa độ và đặc trưng đầu vào của miền tính trong mô hình MIKE21 44
Bảng 3.7 Thông số mô hình MIKE21 của miền tính 45
Bảng 3.8 So sánh kết quả tính toán diện tích ngập của miền tính từ mô hình với diện tích ngập tính toán từ ảnh Landsat7 49 Bảng 3.9 Diện tích nguy cơ ngập lớn nhất theo các kịch bản BĐKH quận Ninh Kiều 52
Trang 6DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ tiếp cận hệ thống xây dựng bản đồ ngập lụt đô thị quận Ninh Kiều 9
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Cần Thơ [7] 10
Hình 2.2 Bản đồ hành chính quận Ninh Kiều [7] 11
Hình 2.3 Mức thay đổi lượng mưa mùa khô (XI-IV) vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải TB (B2) [10] 15
Hình 2.4 Mức thay đổi lượng mưa mùa khô vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10] 16
Hình 2.5 Mức thay đổi lượng mưa mùa mưa (V-X) vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10] 16
Hình 2.6 Mức thay đổi lượng mưa mùa mưa vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10] 17
Hình 2.7 Mức thay đổi lượng mưa năm vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10] 17
Hình 2.8 Mức thay đổi lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10] 18
Hình 2.9 Mức thay đổi lượng mưa ngày lớn nhất (%) vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10] 19
Hình 2.10 Mức thay đổi lượng mưa ngày lớn nhất (%) vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10] 19
Hình 2.11 Mức thay đổi lượng mưa 5 ngày lớn nhất (%) vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản (B2) [10] 20
Hình 2.12 Mức thay đổi lượng mưa 5 ngày lớn nhất (%) vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản (B2) [10] 20
Hình 2.13 Kịch bản nước biển dâng do biến đổi khí hậu cho khu vực [2] 22
Hình 2.14 Quá trình mực nước cửa biển ứng với các kịch bản [11] 23
Hình 3.1 Cấu trúc của mô hình NAM [14, 15] 25
Hình 3.2 Sơ đồ sai phân 6 điểm Abbott [14, 15] 28
Hình 3.3 Vị trí các trạm khí tượng thủy văn khu vực ĐBSCL [4] 33
Trang 7v
Hình 3.4 Mạng sông tính toán thủy lực trong mô hình MIKE11 [4] 34
Hình 3.5 Sơ đồ đa giác Thiessen cho các lưu vực khu giữa vùng ĐBSCL [4] 35
Hình 3.6 Đường quá trình mực nước tính toán và thực đo năm 2000 tại một số vị trí 39 Hình 3.7 Đường quá trình mực nước tính toán và thực đo năm 2011 tại một số vị trí 41 Hình 3.8 Độ cao địa hình của miền tính toán trong mô hình MIKE 21 43
Hình 3.9 Các vị trí biên đầu vào của miền tính trong mô hình MIKE21 44
Hình 3.10 Mạng lưới cống, hố ga trong mô hình MIKE URBAN 45
Hình 3.11 Diện tích thu nước của các hố ga 46
Hình 3.12 Số liệu mưa giờ tại trạm Cần Thơ dùng để tính toán 47
Hình 3.13 Sơ đồ kết nối các mô hình MIKE 21 và MIKE UBARN trong mô hình MIKE-FLOOD 47
Hình 3.14 Diện tích ngập của miền tính từ mô hình lúc 13 giờ ngày 28/10/2011 48
Hình 3.15 Diện tích ngập của miền tính ngày 28/10/2011 - ảnh Landsat 7 49
Hình 3.16 Bản đồ nguy cơ ngập lụt lớn nhất năm 2020 ứng với kịch bản phát thải thấp (B1) 50
Hình 3.17 Bản đồ nguy cơ ngập lụt lớn nhất năm 2020 ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) 51
Hình 3.18 Bản đồ nguy cơ ngập lụt lớn nhất năm 2020 ứng với kịch bản phát thải cao (A2) 51
Hình 3.19 Bản đồ ngập lụt lớn nhất quận Ninh Kiều năm 2011 53
Hình 3.20 Bản đồ nguy cơ ngập lụt lớn nhất quận Ninh Kiều năm 2020 ứng với kịch bản phát thải thấp (B1) 54
Hình 3.21 Bản đồ nguy cơ ngập lụt lớn nhất quận Ninh Kiều năm 2020 ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) 55
Hình 3.22 Bản đồ nguy cơ ngập lụt lớn nhất quận Ninh Kiều năm 2020 ứng với kịch bản phát thải cao (A2) 56
Trang 8BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
DEM Mô hình số độ cao (Digital Elevation Model)
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GIS Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)
IPCC Ban liên chính phủ về BĐKH (International Panel on Climate Change) UHI Đảo nhiệt đô thị (Urban Heat Island)
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều thành phố ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác đang mở rộng nhanh chóng do sự tăng trưởng dân số và di cư từ nông thôn ra các thành phố và
sự chuyển đổi của các khu định cư nông thôn vào thành phố Kết quả là, việc mở rộng
đô thị nếu không được kiểm soát sẽ ảnh hưởng tới việc định cư của con người, sự phát triển công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng
Đô thị hóa có thể làm tăng nguy cơ lũ lụt và những tổn thương nặng nề hơn đối với hoạt động kinh tế-xã hội và cơ sở hạ tầng tại những khu vực cụ thể Nguy cơ lũ lụt chủ yếu gây ra bởi những thay đổi về khí tượng, thủy văn, sử dụng đất và đô thị hóa Một lượng lớn các nghiên cứu trong hai mươi năm qua đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa các khu vực đô thị và vi khí hậu địa phương Các hiệu ứng "Đảo nhiệt đô thị" (UHI) hiện nay cũng đã xuất hiện, trong đó khu vực đô thị có nhiệt độ cao hơn các khu vực xung quanh Trong nhiều trường hợp, UHI có thể làm tăng lượng mưa trong vùng lân cận của đối tượng nghiên cứu Một số nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng lượng mưa cục bộ theo hướng gió của khu vực đô thị, khoảng 25% [3]
Thành phố Cần Thơ là thành phố lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam) và được coi là thủ đô của khu vực Năm 2009, thành phố được công nhận là thành phố cấp 1 và do đó, trong tương lai, Cần Thơ dự kiến phát triển đáng kể [5] Trong 20 năm tới, Cần Thơ được dự báo là một thành phố năng động không chỉ ở đồng bằng sông Cửu Long mà là toàn bộ khu vực phía Nam của Việt Nam và khu vực quốc tế lân cận
Diện tích của thành phố Cần Thơ là 1.390 km2 với dân số 1,2 triệu người (tính đến tháng 4 năm 2009) Dân số của thành phố dự kiến sẽ tăng với tốc độ vừa phải, tuy nhiên, việc di cư đến các khu vực đô thị và khu công nghiệp có thể tăng dân số lên 1,8 triệu vào năm 2020 [7]
Cũng giống như các thành phố khác ở Việt Nam, Cần Thơ đang phải đối mặt với nhiều vấn đề điển hình của việc đô thị hóa (ví dụ như ô nhiễm, các vấn đề xã hội), nhưng một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất là lũ lụt Vào ngày 05 tháng 10 năm
2009, mưa lớn kéo dài hơn một giờ và gây ngập lụt nghiêm trọng cho thành phố Một
số đường như Mậu Thân, Trần Hưng Đạo, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Hòa Bình, và Lý Tự Trọng bị ngập tới cả mét nước Người dân địa phương cho rằng, đây là trận lũ lụt lớn nhất trong các thập kỷ gần đây Nhiều nhà cửa trong thành phố bị ngập
Trong tương lai, thành phố Cần Thơ sẽ phải đối mặt với một số thách thức, cụ thể là: (1) tác động của biến đổi khí hậu làm tăng mực nước biển và triều, (2) dòng
Trang 10chảy sông mùa lũ lớn hơn do biến đổi khí hậu, (3) tăng dòng chảy đô thị do bê tông hóa làm giảm khả năng thấm và (4) tăng lượng mưa lớn do phát triển đô thị theo sự thay đổi vi khí hậu (đảo nhiệt đô thị)
Kết quả của nghiên cứu “Xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt cho quận Ninh
Kiều, thành phố Cần Thơ” sẽ là cơ sở cho việc quy hoạch phòng chống lũ và cũng là
tài liệu tham khảo tốt cho các nhà hoạch định chính sách và ra quyết định ở địa phương
2 Mục tiêu của đề tài
Xây dựng được bản đồ ngập lụt đô thị cho khu vực quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
3 Các nội dung thực hiện
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, đề tài thực hiện các nội dung sau:
- Thu thập số liệu khí tượng, thủy văn cho khu vực nghiên cứu;
- Thu thập các bản đồ địa hình, bản đồ vị trí và thông số các công trình tiêu thoát nước mưa;
- Cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu cho khu vực nghiên cứu;
- Thiết lập mô hình thủy lực và mô hình tiêu thoát nước mưa;
- Tính toán cho các kịch bản biến đổi khí hậu;
- Xây dựng các bản đồ ngập lụt
4 Phương pháp nghiên cứu
Để có thể thực hiện được các nội dung đã nêu ra ở trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu và các công cụ mô hình như sau:
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích thống kê;
- Phương pháp kế thừa;
- Phương pháp mô hình toán;
- Kỹ thuật Hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Công cụ mô hình được sử dụng:
- Công cụ tính toán thủy lực 1 chiều trong sông bằng mô hình MIKE11;
- Công cụ tính toán tiêu thoát nước đô thị bằng mô hình MIKE-URBAN;
Trang 11- Công cụ tính toán thủy lực 2 chiều bằng mô hình MIKE21;
- Công cụ kết nối các mô hình để tính toán ngập lụt bằng mô hình FLOOD
MIKE-5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Khu vực trung tâm của quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bao gồm các phường: An Lạc, An Cư, An Nghiệp, An Phú, An Hội, Tân An, Cái Khế, Xuân Khánh và Thới Bình
Phạm vi thời gian: Các trận lũ lớn và ngập lụt trong quá khứ và tính đến năm
2020 theo các kịch bản biến đổi khí hậu
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGẬP LỤT ĐÔ THỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ NGẬP LỤT
1.1 Tổng quan về ngập lụt đô thị
Thành phố Hà Nội, thành phố HCM và một số đô thị lớn khác ở nước ta trong những năm qua đã trải qua nhiều trận ngập lụt gây thiệt hại nặng nề Điển hình tại Hà Nội, sáng ngày 22/8/2005 khi xảy ra trận mưa kéo dài từ 1h -5h sáng với lượng mưa
đo được tại trạm Láng là 114,7 mm đã gây ách tắc giao thông nhiều giờ do đường phố ngập úng Cuối tháng 10, đầu tháng 11 năm 2008, trận mưa lịch sử đo được tại Láng đạt 340 mm làm ngập úng kéo dài gây thiệt hại nhiều về kinh tế
Hiện đã có khá nhiều các nghiên cứu về ngập lụt cho các đô thị ở Việt Nam Điển hình như nghiên cứu của Hồ Long Phi về “Vấn đề ngập úng và thoát nước ở thành phố Hồ Chí Minh” Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng mô hình quản lý nước mưa SWMM để mô phỏng lại khả năng tiêu thoát nước mưa của hệ thống cống thoát nước ở thành phố Hồ Chí Minh và đánh giá khả năng ngập lụt cho các khu vực trũng do sự quá tải của hệ thống tiêu thoát nước Tuy nhiên, tác giả mới chỉ xem xét ngập lụt do mưa lớn trên khu vực nội đô mà chưa đánh giá ngập lụt do triều cường cũng như do lũ lớn ở trong sông
Năm 2014, Nguyễn Phú Thắng có nghiên cứu về “Đánh giá hiện trạng, nguyên nhân ngập lụt cục bộ địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và đề xuất các giải pháp khắc phục Trong nghiên cứu của mình, để đánh giá hiện trạng, xác định các nguyên nhân ngập lụt cục bộ tại địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, tác giả
đã sử dụng các phương pháp như phương pháp điều tra thực địa, phương pháp bản đồ
và phương pháp tổng hợp, so sánh Do không sử dụng phương pháp mô hình toán nên nghiên cứu này chưa thể đánh giá được nguy cơ ngập cho thành phố Long Xuyên trong tương lai theo các kịch bản khác nhau
Ngoài ra, một số sách về ngập lụt và tiêu thoát nước đô thị đã được xuất bản như “Thoát nước đô thị - một số vấn đề về lí thuyết và thực tiễn ở Việt Nam” của Trần Văn Mô do nhà xuất bản Xây dựng phát hành năm 2002 và “Giáo trình thủy văn đô thị” của Lã Thanh Hà và Nguyễn Văn Lai xuất bản năm 2012
Hiện tượng ngập lụt đô thị ở nước ta do nhiều nguyên nhân tác động đồng thời hoặc có thể chỉ do một nhân tố chủ đạo Có thể chia thành 2 nhóm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khách quan gây ra tình trạng ngập úng bao gồm tác động bởi các nhân tố tự nhiên như địa lý, địa hình và điều kiện khí tượng thủy văn Các nhân tố chủ quan chủ yếu do con người tạo ra như tác động trở lại của
đô thị hóa, năng lực hiện trạng và công tác quản lý hệ thống tiêu thoát nước đô thị
Trang 131.1.1 Các nguyên nhân khách quan
a) Tác động của nhân tố địa lý, địa hình [8]
Các đô thị nằm ở khu vực có địa hình cao như núi, cao nguyên và vùng trung
du như Thái Nguyên, Việt Trì, Lạng Sơn, Đà Năng, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Plâycu thường không bị ngập úng đe dọa do dòng chảy mưa được dẫn thoát tự chảy
dễ dàng Tuy nhiên ở các đô thị này cũng có thể có ngập úng cục bộ do quy hoạch san nền chưa hợp lý cộng với sự yếu kém của hệ thống thoát nước bao gồm cả thiết kế kỹ thuật lẫn công tác quản lý, duy tu
Ngược lại ở các đô thị thuộc khu vực đồng bằng, do địa hình thấp nên khả năng thoát nước tự chảy cho các đô thị này rất khó thực hiện Đối với các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng - Thái Bình, trong các tháng mùa mưa, mực nước sông thường cao hơn nền đường đô thị nên không thể thoát nước tự chảy ra sông
Lấy thành phố Hà Nội làm ví dụ Địa hình khu vực nội thành (cao độ trung bình khoảng 6 - 6,5m) nhìn chung không cao hơn so với vùng ngoại thành Đặc biệt vào các tháng mùa lũ, khi mực nước sông Hồng vượt báo động 1 (H = 7,5 m tại cầu Long Biên), mực nước sông bắt đầu cao hơn nền đường, thành phố đứng trước nguy cơ bị ngập úng nếu xảy ra các trận mưa cỡ 50 mm trở lên Vì lý do như vậy, trong mùa mưa, đập Liên Mạc (cửa nhận nước tưới đầu nguồn của sông Nhuệ từ sông Hồng vào mùa kiệt) luôn luôn được đóng lại để sông Nhuệ trở thành con sông tiêu nước chính cho thành phố Do vậy khả năng tiêu nước cho Hà Nội hoàn toàn phụ thuộc vào mực nước sông Nhuệ nói riêng và khả năng tiêu của hệ thống công trình thủy lợi Nam Hà Nội,
Hà Nam với trục tiêu thoát chính sông Đáy nói chung Nếu mực nước sông Nhuệ tại
hạ lưu đập Thanh Liệt lên đến 3,5 m, sông Tô Lịch - trục thoát nước chính của thành phố không còn khả năng tự chảy nữa Lúc này đập Thanh Liệt phải đóng lại, nước mưa chỉ còn khả năng tự điều tiết và là nguyên nhân gây ra ngập úng cho thành phố Mức
và diện ngập phụ thuộc vào lượng mưa và thời gian kéo dài, ví dụ trận ngập úng kéo dài nhiều ngày từ 17 đến 24/7/1997 như đã nêu ở trên
Đối với các đô thị vùng đồng bằng cửa sông chịu ảnh hưởng thủy triều, tình hình ngập úng còn phức tạp hơn Trong các tháng mùa lũ, mực nước ở cửa sông thường duy trì ở mức cao hơn mực nước trung bình năm Nếu đỉnh lũ xuất hiện vào thời gian triều lên sẽ tạo nên tổ hợp giữa lũ và triều gây ra hiện tượng nước vật Xét trong các chu kỳ dài, ví dụ cho toàn trận lũ thì thòi kỳ duy trì nước vật kéo dài hơn sẽ gây ra những diễn biến phức tạp về chế độ thủy văn cửa sông như hướng chảy, tốc độ, mực nước và cả diễn biến lòng sông Đặc biệt, nếu xuất hiện trường hợp: Mưa lớn do bão xảy ra trong thời kỳ triều cường kết hợp với lũ lớn trên sông sẽ là tổ hợp bất lợi nhất cho thoát nước tự chảy ở các khu vực đô thị, khu công nghiệp vùng cửa sông
Trang 14Trận lũ, ngập lịch sử tháng IX/1993 xảy ra ở khu vực tỉnh Phú Yên là một ví dụ cho tổ hợp bất lợi và nguy hiểm này
Tình hình ngập úng ở thành phố Hải Phòng, như đã mô tả, là một ví dụ điển hình về nguyên nhân địa hình và vị trí địa lý cho khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình Đối với thành phố có địa hình thấp như thành phố này, ngay
cả trong trường hợp không mưa nhưng vào các thời kỳ triều cường cũng gây ra tình trạng ngập úng cục bộ cho nhiều khu vực có cao độ thấp của thành phố Nước mặn có thể dễ dàng qua các cửa cống và tràn từ ga thu, ga thăm lên mặt đường phố, ngõ và các khu dân cư nội thành
Thành phố Hồ Chí Minh tuy cách cửa biển đến 45- 50 km nhưng do nằm ở khu vực có địa hình thấp nên còn chịu tác động của chế độ thủy triều Biển Đông khá rõ nét Địa hình thành phố phần phía bắc và đông bắc nói chung cao hơn các vùng khác (cao độ 5- 10 m) và thấp dần theo hướng tây nam (cao độ 2- 5 m ở quận Tân Bình và Quận 11) Ở phía nam và đông nam thành phố là vùng thấp, trũng (cao độ phổ biến từ
1 - 2 m) và thường bị ngập úng do mưa và thủy triều Sông Sài Gòn, sông Đồng Nai là hai con sông lớn ở phía đông nội thành và chảy ra Biển Đông qua hai vịnh Gành Rái
và Đồng Tranh Ngoài hệ thống sông chính, trên địa bàn thành phố còn có nhiều kênh, rạch chằng chịt tạo thành hệ thống tiêu thoát nước rất phức tạp khó nhận dạng lưu vực như hệ thống sông Vàm Thuật - Rạch Cát - Tham Lương ở phía bắc và tây bắc, hệ thống kênh Tẻ, kênh Đôi, Bén Nghé - Tàu Hủ ở phía nam và đông nam v.v
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng trực tiểp của chế độ bán nhật triều của Biển Đông với chế độ tương đối thuần nhất: một ngày có hai lần triều lên và hai lần triều xuống Theo số liệu thống kê, thời gian duy trì mực nước trên mực nước 0 tại trạm Phú An (tại vị trí cảng Sài Gòn) trong tháng 10 hàng năm chiếm đến 75% thời gian trong ngày Trong những ngày triều cường, con số đó chiếm đến 85 - 95% Với các cao độ đáy cống tại các cửa xả của thành phố ra sông Sài Gòn thường từ -1 đến - 1,8 m thì các tuyến cống hạ lưu của hệ thống thoát nước liên tục bị ngập Nếu gặp mưa lớn trong thời kỳ này sẽ gây ra nhiều khu vực bị ngập đồng thời hạn chế khả năng thoát nước cho các khu vực có địa hình cao hơn như khu vực phía bắc và đông bắc Thêm vào đó, nếu vào thời kỳ xả nước lớn nhất cùa hai hồ Dầu Tiếng và Trị An trùng với tồ hợp triều cường và mưa tại chỗ sẽ gây ra ngập úng trên diện rộng hơn, độ sâu ngập lớn hơn và thời gian duy trì ngập cũng kéo dài hơn Ví dụ như trường hợp các đợt úng ngập xảy ra liên tiếp trong các năm 1988, 1989, 1990, và hiện nay
b) Tác động của nhân tố mưa [8]
Ở nước ta, mưa là nguyên nhân gây ra lũ, lụt cho toàn lưu vực sông nói chung
và khu vực đô thị nói riêng
Trang 15Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa năm khá dồi dào Lượng mưa trung bình năm ở các đô thị nước ta, phổ biến từ 1500 mm đến 2000
mm - thuộc loại trung bình so vói các nước trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, lượng mưa năm phân bố rất không đều theo các mùa trong năm Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9/10 đối với các tỉnh phía Bắc và có xu hướng chuyển dịch muộn hơn khoảng 1 - 2 tháng đối từ các tỉnh miền Trung vào miền Nam Lượng mưa trong các tháng mùa lũ chiếm từ 75 - 80% tổng lượng mưa năm và là nhân tố chủ yếu gây ra tình trạng lũ và ngập úng cho lưu vực Nếu không chịu các tác động khác, ví dụ như tác động của lũ do mưa ở các vùng ngoài đô thị chuyển đến như vỡ đê, nước tràn bờ thì nguồn gây ngập úng đô thị do chính nước mưa tại chỗ gây ra, ví dụ trận ngập úng lịch sử tháng 11/1984 và đặc biệt lớn tháng 11/2008 ở Hà Nội
Trong các nhân tố gây mưa lớn cho các đô thị, mưa do bão chiếm tỷ lệ lớn nên cần phân biệt để có các giải pháp quy hoạch, thiết kế hệ thống thoát nước tương ứng Trong năm, nước ta có hai loại gió mùa chính, về mùa đông, gió mùa đông bắc chiếm
ưu thế thường kéo dài từ tháng X đến tháng IV năm sau, về mùa hè có gió mùa đông nam kéo dài từ tháng V đến tháng IX Trong mùa hè, với bờ biển dài trên 3000 km nước ta chịu ảnh hưởng trực tiếp của áp thấp nhiệt đới và bão, được hình thành ở khu vực tây Thái Bình Dương và Biển Đông Theo thống kê, trung bình hàng năm từ 4- 6, nhiều nhất là 11 - 12 cơn bão đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam Áp thấp nhiệt đới và bão tạo ra các hình thế thời tiết gây mưa lớn, kéo dài và là nguyên nhân trực tiếp tạo ra lũ trên các hệ thống sông ngòi Mưa do bão chiếm xấp xỉ 12% tổng lượng mưa ở đồng bằng Bắc Bộ và đông Trường Sơn, 6-12 % ở khu Tây Bắc, 5-10 %
ở Tây Nguyên nhưng không quá 5% ở Nam Bộ
1.1.2 Các nguyên nhân chủ quan
Do đô thị hóa, con người đã làm thay đổi chế độ dòng chảy tự nhiên, gây bất lợi cho tiêu thoát nước mưa tại chỗ Để trả lại cơ cấu chảy tự nhiên, con người phải xây dựng hệ thống thoát nước mới Khả năng thay thế của hệ thống này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế- kỹ thuật và năng lực quản lý, vận hành Hệ thống thoát nước là một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng trong kiến trúc đô thị Hệ thống này được xây dựng dựa trên những cơ sở điều kiện khí tượng thủy văn với mức chịu tải (tần suất mưa) theo những tiêu chuẩn quy định của từng loại công trình cần thoát nước, quy hoạch sử dụng đất và phụ thuộc vào vị trí địa hình của đô thị Như vậy, mỗi đô thị đều có một hệ thống thoát nước tương ứng để đảm bảo khả năng tiêu thoát cho một trận mưa thiết kế với chu kỳ lặp lại nào đó Tuy nhiên trong quá trình sử dụng do nhiều nguyên nhân hệ thống thoát nước này không còn đủ khả năng thoát nước theo thiết kế ban đầu Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân khác gây ra tình trạng ngập úng cho nhiều khu vực đô thị như đã đề cập ở phần trên [8]
Trang 161.2 Phương pháp xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt
Trong những năm qua, quận Ninh Kiều đã nhiều lần xảy ra ngập úng, trong đó, nguyên nhân ngập úng do cả mưa lớn trong nội đô không được tiêu thoát kịp, do lũ lớn trong sông và do triều cường Ngập lụt có thể do một nguyên nhân nhưng cũng có thể
do nhiều nguyên nhân kết hợp
Đề tài này sẽ tính toán ngập lụt cho quận Ninh Kiều do cả mưa nội đô, lũ trong sông và triều cường và tính toán dưới tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Để mô phỏng lũ trong sông, đề tài đã sử dụng mô hình thủy lực 1 chiều MIKE11 kết hợp với mô hình thủy văn để mô phỏng dòng chảy sinh ra do mưa trong nội đồng Đối với vấn đề tiêu thoát nước mưa trong nội đô, đề tài đã sử dụng mô hình thủy văn đô thị MIKE-URBAN Đối với việc mô phỏng dòng chảy 2 chiều trong các ô lưới, đề tài đã sử dụng mô hình thủy lực 2 chiều MIKE21 Tất cả các mô hình thủy văn, thủy lực 1 chiều và 2 chiều sẽ được liên kết với nhau thông qua mô hình MIKE-FLOOD để tính toán ngập lụt cho quận Ninh Kiều Sự liên kết giữa các mô hình này được thể hiện trên Hình 1.1 Tuy nhiên, mô hình MIKE11 được kết thừa từ các đề tài trước đó và tính cho cả hệ thống đồng bằng sông Cửu Long với sơ đồ tính toán từ Kratie của Cam Pu Chia ra tới biển, khối lượng tính toán của mô hình MIKE11 là rất lớn nếu liên kết trực tiếp mô hình MIKE11 và mô hình MIKE-URBAN và MIKE21 trong MIKE-FLOOD thì tài nguyên tính toán không đảm bảo cho khối lượng tính toán lớn như vậy Do đó, mô hình MIKE11 sẽ được tính toán riêng và các kết quả sẽ được trích xuất tại các vị trí biên tính toán của mô hình MIKE21 để tạo đầu vào cho mô hình này Cuối cùng, mô hình MIKE-URBAN được kết nối với mô hình MIKE21 trong mô hình MIKE-FLOOD để tính toán ngập lụt
Trang 17Hình 1.1 Sơ đồ tiếp cận hệ thống xây dựng bản đồ ngập lụt đô thị quận Ninh Kiều
Mô hình thủy động lực học 1 chiều cho mạng lưới sông, kênh
và hệ thống cống MIKE11
MIKE 21
MIKE FLOOD
Bản đồ ngập lụt đô thị quận Ninh Kiều
Mô hình kết nối với
các phần mềm Viễn
thám và GIS MIKE URBAN
- Ảnh viễn thám
- Bản đồ DEM
- Số liệu địa hình …
- Số liệu khí tượng, thủy văn
- Số liệu công trình thủy lợi
…
Trang 18CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Cần Thơ [7]
Thành phố Cần Thơ có tọa độ địa lý 105o13’38” - 105o50’35” kinh độ Đông và
9o55’08” - 10o19’38” vĩ độ Bắc Đơn vị hành chính của thành phố Cần Thơ gồm 5 quận (Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền,
Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn (5 thị trấn, 36 xã, 44 phường) Ngày 19 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 492/QĐ-TTg Thành lập Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ, tỉnh
An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và
Trang 19các lợi thế so sánh của vùng và từng bước phát triển vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long thành một trong những vùng phát triển lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, có đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước Trong đó, thành phố Cần Thơ là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long [6]
Hình 2.2 Bản đồ hành chính quận Ninh Kiều [7]
Ninh Kiều là quận trung tâm của thành phố Cần Thơ, nằm ở ngã ba sông Cần Thơ và sông Hậu, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Long, phía tây giáp huyện Phong Điền, phía nam giáp huyện Phong Điền và quận Cái Răng, phía bắc giáp quận Bình Thủy Toàn quận có 13 phường: An Bình, An Cư, An Hòa, An Hội, An Khánh, An Lạc, An Nghiệp, An Phú, Cái Khế, Hưng Lợi, Tân An, Thới Bình, Xuân Khánh
2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo, địa chất
Thành phố Cần Thơ nằm toàn bộ trên đất có nguồn gốc phù sa sông Cửu Long bồi lắng hàng thiên niên kỷ nay và hiện vẫn còn tiếp tục được bồi lắng thường xuyên qua nguồn nước có phù sa của dòng sông Hậu [6]
Địa hình nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông, ngư nghiệp Cao độ trung bình khoảng 1,00 – 2,00m dốc từ đất giồng ven sông Hậu, sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng (từ Đông Bắc sang Tây Nam) Do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá dày Bên cạnh đó, thành phố còn
Trang 20có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lập [6]
Địa mạo bao gồm 3 dạng chính [6]:
- Ven sông Hậu hình thành dải đất cao (đê tự nhiên) và các cù lao ven sông Hậu
- Vùng tứ giác Long Xuyên, thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp hàng năm
- Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng triều cùng lũ cuối vụ
Địa chất ở khu vực thành phố Cần Thơ được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50m có hai loại trầm tích: Holocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ) [6]
2.1.3 Đặc điểm khí hậu
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long với các đặc điểm chung: nền nhiệt dồi dào, biên độ nhiệt ngày - đêm nhỏ; các chỉ tiêu khí hậu (ánh sáng, lượng mưa, gió, bốc hơi, ẩm độ không khí ) phân hóa thành hai mùa tương phản là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng V đến tháng XI, mùa khô từ tháng XII đến tháng IV năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm là 27 oC, lượng mưa trung bình là 1.500 – 1.800 mm/năm, tổng số giờ nắng trong năm là 2.300 – 2.500 giờ,
độ ẩm trung bình đạt 83% (dao động trong khoảng 82% - 87% theo các năm) Gió có 2 hướng chính: Hướng Đông Bắc: từ tháng XI đến tháng IV (mùa khô); hướng Tây Nam: từ tháng V đến tháng X (mùa mưa), tốc độ gió bình quân 1,8 m/s, ít bão nhưng thường có giông, lốc vào mùa mưa [6]
Chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng Cần Thơ có lợi thế về nền nhiệt độ, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm Các lợi thế này rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của sinh vật, có thể tạo ra 1 hệ thống nông nghiệp nhiệt đới có năng suất cao, với nhiều chủng loại cây con, tạo nên sự
đa dạng trong sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất Tuy nhiên, mùa mưa thường đi kèm với ngập lũ ảnh hưởng tới khoảng 50% diện tích toàn thành phố; mùa khô thường đi kèm với việc thiếu nước tưới, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là khu vực bị ảnh hưởng của mặn, phèn làm tăng thêm tính thời vụ cũng như nhu cầu dùng nước không đều giữa các mùa của sản xuất nông nghiệp [6]
Bảng 2.1 Lượng mưa trung bình tháng, năm tại trạm Cần Thơ
Tên trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Cần Thơ 6,1 1,9 13,3 36,5 167,7 222,6 23,2 231 252,1 257,3 150,1 39,7 1635,6
Trang 212.1.4 Đặc điểm thủy văn
Cần Thơ nằm ở khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm của sông Cửu Long, có địa hình đặc trưng cho dạng địa hình đồng bằng Nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Trong đó, sông Hậu là con sông lớn nhất với tổng chiều dài chảy qua thành phố là 65 km, đoạn qua Cần Thơ, sông có chiều rộng khoảng 1,6km Tổng lượng nước sông Hậu đổ ra biển khoảng 200 tỉ m3/năm (chiếm 41% tổng lượng nước của sông Cửu Long), lưu lượng nước bình quân tại Cần Thơ là 14.800 m3/giây Tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m3/năm (chiếm gần 1/2 tổng lượng phù sa sông Cửu Long) [6]
Sông Cần Thơ bắt nguồn từ khu vực nội đồng tây sông Hậu, có chiều dài khoảng 16 km, chiều rộng từ 280-350m, đi qua các quận Ô môn, huyện Phong Điền, quận Cái Răng, quận Ninh Kiều và đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều Sông Cần Thơ
có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông [6]
Sông Cái Lớn dài 20 km, chiều rộng cửa sông 600 - 700 m, độ sâu 10 - 12 m nên có khả năng tiêu, thoát nước rất tốt [6]
Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc, với hơn
158 sông, rạch lớn nhỏ là phụ lưu của 2 sông lớn là Sông Hậu và sông Cần Thơ đi qua thành phố nối thành mạng đường thủy Các sông rạch lớn khác là rạch Bình Thủy, Trà Nóc, Ô Môn, Thốt Nốt, kênh Tham Rôn và nhiều kênh lớn khác tại các huyện ngoại thành là Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Phong Điền, cho nước ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất [6]
2.2 Kịch bản biến đổi khí hậu khu vực nghiên cứu
Kịch bản biến đổi khí hậu là đầu vào quan trọng trong quá trình đánh giá, tính toán ngập lụt Ninh Kiều là quận trung tâm của thành phố Cần Thơ nên sử dụng chung kịch bản BĐKH của thành phố Cần Thơ
2.2.1 Các kịch bản biến đổi khí hậu đối với lượng mưa
Kết quả tính toán mức độ thay đổi lượng mưa mùa khô, mùa mưa và năm được trình bày trên các hình từ Hình 2.3 đến Hình 2.8 và các bảng từ Bảng 2.2 đến Bảng 2.4 Nhìn chung, lượng mưa qua các thập kỷ trong mùa khô có xu hướng giảm, mùa mưa có xu hướng tăng, trong đó, tốc độ tăng ở mùa mưa nhanh hơn so với mức giảm vào mùa khô Theo kịch bản phát thải trung bình, vào giữa thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng khoảng 3,2% và đến cuối thế kỷ, mức tăng có thể là 6,1% Ở Cần Thơ, mức tăng của lượng mưa năm có xu hướng giảm dần từ Đông sang Tây, ở một phần diện tích huyện Thốt Nốt, quận Ô Môn và đa phần diện tích quận Bình Thủy, lượng mưa năm
Trang 22vào giữa thế kỷ tăng trên 3,2% Phía Tây huyện Vĩnh Thạnh và một phần nhỏ diện tích huyện Cờ Đỏ có mức tăng của lượng mưa là dưới 3% (Hình 2.7) Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm ở phía Đông thành phố tăng trên 6%, các quận, huyện phía Tây, có mức tăng của lượng mưa dưới 6% (Hình 2.8) [10]
Bảng 2.2 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ
1980 - 1999 của Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải thấp (B1) [10]
Mùa khô (XI – IV) Mùa mưa (V – X) Năm
Bảng 2.3 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ
1980 - 1999 của Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10]
Mùa khô (XI – IV) Mùa mưa (V – X) Năm
Trang 23Bảng 2.4 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ
1980 - 1999 của Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải cao (A2) [10]
Hình 2.3 Mức thay đổi lượng mưa mùa khô (XI-IV) vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ
1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải TB (B2) [10]
Trang 24Hình 2.4 Mức thay đổi lượng mưa mùa khô vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 -
1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10]
Hình 2.5 Mức thay đổi lượng mưa mùa mưa (V-X) vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ
1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10]
Trang 25Hình 2.6 Mức thay đổi lượng mưa mùa mưa vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 -
1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10]
Hình 2.7 Mức thay đổi lượng mưa năm vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999
ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10]
Trang 26Hình 2.8 Mức thay đổi lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999
ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10]
Trên các hình từ Hình 2.9 đến Hình 2.12 là mức thay đổi lượng mưa ngày lớn nhất và 5 ngày lớn nhất ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình B2
Vào giữa thế kỷ 21, lượng mưa ngày lớn nhất năm ở phần lớn diện tích Cần Thơ tăng từ 75 đến 120%; riêng ở Cái Răng, TP Cần Thơ, đa phần diện tích Bình Thủy và Phong Điền có mức tăng từ 125 đến 150% Đến cuối thế kỷ 21, trên đại bộ phận diện tích thành phố có lượng mưa ngày lớn nhất năm tăng từ 100 đến 150%, trên
đa phần diện tích huyện Thốt Nốt và một phần diện tích huyện Vĩnh Thạnh có mức tăng từ 150 – 175%
Vào giữa thế kỷ 21, lượng mưa 5 ngày lớn nhất năm ở phần lớn diện tích Cần Thơ có mức tăng từ 75 đến 125%; một phần diện tích huyện Thốt Nốt và Bình Thạnh
có mức tăng trên 125% Đến cuối thế kỷ 21, mức tăng của lượng mưa từ 125 đến 175%
Trang 27Hình 2.9 Mức thay đổi lượng mưa ngày lớn nhất (%) vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ
1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10]
Hình 2.10 Mức thay đổi lượng mưa ngày lớn nhất (%) vào cuối thế kỷ 21 so với thời
kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) [10]
Trang 28Hình 2.11 Mức thay đổi lượng mưa 5 ngày lớn nhất (%) vào giữa thế kỷ 21 so với thời
kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản (B2) [10]
Hình 2.12 Mức thay đổi lượng mưa 5 ngày lớn nhất (%) vào cuối thế kỷ 21 so với thời
kỳ 1980 - 1999 ở Cần Thơ ứng với kịch bản (B2) [10]
Trang 292.2.2 Kịch bản nước biển dâng
Kịch bản nước biển dâng được xây dựng cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong đó có Cần Thơ ứng với ba kịch bản A1FI (kịch bản cao), B2 (kịch bản trung bình), B1 (kịch bản thấp)
Mực nước biển dâng tương đối cho khu vực được xây dựng theo mực nước dâng trung bình toàn cầu trong tương lai và mực nước dâng trong quá khứ bao gồm cả
số liệu quan trắc từ trạm hải văn và từ vệ tinh theo phương trình tuyến tính Các đánh giá cho thấy hệ số tương quan giữa mực nước biển dâng trung bình toàn cầu với mực nước biển dâng trong quá khứ phân tích từ số liệu vệ tinh và số liệu thực đo tương ứng
là 0,65 và 0,64 [10] Trên cơ sở đó, kịch bản mực nước biển dâng tương đối cho khu vực Cần Thơ với các kịch bản được trình bày tương ứng trong Bảng 2.5 và Hình 2.13
Trong 50 năm đầu của thế kỉ, mực nước biển dâng với tốc độ chậm hơn so với
50 năm sau của thế kỷ (chỉ khoảng 20-25 cm/50 năm) Theo kịch bản cao, mực nước biển có xu hướng tăng nhanh hơn kịch bản thấp và kịch bản trung bình Tới giữa thế
kỷ 21, mực nước biển dâng vào khoảng 22-30 cm Vào cuối thế kỷ, mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu cao nhất cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long khoảng 79-
99 cm đối với kịch bản cao và 51-66 cm đối với kịch bản thấp, kịch bản trung bình có mực nước dâng 59-75 cm Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản cao, phần lớn diện tích Thành phố Cần Thơ có nguy cơ ngập nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời
Bảng 2.5 Kịch bản nước biển dâng do biến đổi khí hậu cho khu vực [2]
Trang 30Hình 2.13 Kịch bản nước biển dâng do biến đổi khí hậu cho khu vực [2]
Trong nghiên cứu [11], mô hình ROMS (Regional Ocean Model System) đã được dùng để tái tạo lại dao động mực nước và các trường thủy động lực Dao động mực nước theo tính toán tại các trạm Hòn Dáu và Vũng Tàu đã được so sánh với thực
đo Các hằng số điều hòa có được sau khi phân tích số liệu tính toán và thực đo đã được so sánh và cho thấy, để mô phỏng tốt các dao động thủy triều vùng Biển Đông và ngoài khơi Philipines miền tính cần có độ phân dải cao hơn nữa Dao động thủy triều với các kịch bản nước biển dâng do biến đổi khí hậu cũng đã được dự tính Tác động chính của nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến chế độ thủy động lực Biển Đông là: hoàn lưu, biên độ thủy triều, ngập lụt vùng ven biển do thủy triều, v.v Ngoài ra các yếu tố tác động đến chế độ thủy động lực biển Đông cũng thay đổi do biến đổi khí hậu như gió, bão, nhiệt độ không khí
Trang 31Hình 2.14 Quá trình mực nước cửa biển ứng với các kịch bản [11]
Trong tương lai, dưới tác động của biển đổi khí hậu, mực nước trung bình toàn cầu dâng lên thì mực nước trung bình của các khu vực khác nhau trên đại dương thế giới cũng khác nhau do thay đổi của các hoàn lưu, nhiệt độ và độ muối (IPCC4) Đồng thời, quá trình cộng hưởng sóng dài cũng cũng thay đổi khác nhau với mỗi khu vực do
độ sâu tăng thêm và nhất là theo phương ngang, kích thước các vùng biển có xu hướng tăng lên Mô hình ROMS mô phỏng lại quá trình thủy triều trong tương lai thông qua
mô hình hóa các quá trình thủy động lực dưới một số giả thiết về ảnh hưởng của mực nước biển dâng trung bình toàn [11]
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGẬP LỤT ĐÔ THỊ CHO
QUẬN NINH KIỀU - THÀNH PHỐ CẦN THƠ 3.1 Giới thiệu các mô hình
3.1.1 Lựa chọn mô hình tính toán
Hiện nay có rất nhiều mô hình toán thủy văn, thủy lực được sử dụng rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam; các mô hình thủy văn thường dùng có thể kể đến như:
- Các mô hình lũ đơn vị (HEC-HMS) [12]; mô hình nhận thức (TANK, SSARR, NAM…);
- Các mô hình thủy lực một chiều như VRSAP, HEC-RAS [13], MIKE11 [14,15]…;
- Các mô hình 2 chiều như MIKE 21 [16], SMS, HydroGIS…
- Mô hình thủy văn đô thị như SWMM, MIKE URBAN [17]
Mỗi một mô hình đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng tùy thuộc vào khu vực nghiên cứu, điều kiện và mục tiêu áp dụng vì vậy việc lựa chọn mô hình phù hợp là rất quan trọng
Với mục tiêu của đề tài là xây dựng được bản đồ ngập lụt đô thị cho khu vực quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, đề tài đã lựa chọn các mô hình tính toán như sau:
- Mô hình MIKE NAM: Mô hình mưa rào - dòng chảy để tính toán dòng chảy lũ cho các lưu vực bộ phận trong hệ thống sông vùng đồng bằng sông Cửa Long, lượng nhập lưu khu giữa làm biên đầu vào cho mô hình thủy lực MIKE11;
- Mô hình MIKE 11: Mô hình thủy lực một chiều cho hệ thống sông, kênh rạch
để nghiên cứu đặc điểm, chế độ dòng chảy trong sông, kênh rạch khu vực địa bàn tỉnh Cần Thơ, làm điều kiện đầu vào cho mô hình MIKE21;
- Mô hình MIKE 21: Mô hình thủy lực hai chiều dùng để nghiên cứu dòng chảy trong hệ thống ô đồng trên địa bàn tỉnh Cần Thơ, làm điều kiện nền để tính toán ngập lụt;
- Mô hình MIKE URBAN: Mô hình thủy văn đô thị sử dụng để nghiên cứu đặc điểm, chế độ dòng chảy thủy lực trong hệ thống công trình cống, hố ga, kênh rạch của hệ thống tiêu thoát nước trong khu vực nội đô;
- Mô hình MIKE FLOOD: mô hình liên kết mô hình thủy lực 1 chiều, mô hình thủy văn đô thị với mô hình thủy lực 2 chiều để mô phỏng ngập lụt
Trang 333.1.2 Giới thiệu chung về các mô hình
3.1.2.1 Mô hình MIKE NAM
Mô hình NAM là mô hình và cải tiến của mô hình Nielsen-Hansen, được công bố trong tạp chí “Nordic Hydrology” năm 1973 và sau này được Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển và đổi thành NAM (là 3 từ viết tắt tiếng Đan Mạch của mô hình mưa - dòng chảy) Mô hình gồm 4 bể chứa, nguyên lý tính toán trong mỗi bể chứa là giải phương trình cân bằng theo quy luật phi tuyến (dạng đường cong nước rút) [14, 15]
Hình 3.1 Cấu trúc của mô hình NAM [14, 15]
Mô hình NAM là mô hình thủy văn mô phỏng quá trình mưa - dòng chảy diễn ra trên lưu vực Là một mô hình toán thủy văn, mô hình Nam gồm một tập hợp các biểu thức toán học đơn giản để mô phỏng các quá trình trong chu trình thủy văn Mô hình NAM là
mô hình nhận thức, tất định, thông số tập trung Đây là một mô đun tính mưa từ dòng chảy trong bộ phần mềm thương mại MIKE 11 do Viện Thủy lực Đan Mạch xây dựng và phát triển
Trang 34Mô hình NAM mô phỏng quá trình mưa – dòng chảy một cách liên tục thông qua việc tính toán cân bằng nước ở bốn bể chứa thẳng đứng, có tác dụng qua lại lẫn nhau để diễn tả các tính chất vật lý của lưu vực Các bể chứa đó gồm: Bể tuyết (chỉ áp dụng cho vùng có tuyết); bể mặt; bể sát mặt hay bể tầng rễ cây; bể ngầm
Dữ liệu đầu vào của mô hình là mưa, bốc hơi tiềm năng, và nhiệt độ Kết quả đầu ra của mô hình là dòng chảy trên lưu vực, mực nước ngầm, và các thông tin khác trong chu trình thủy văn, như sự thay đổi tạm thời độ ẩm của đất và khả năng bổ sung nước ngầm Dòng chảy lưu vực được phân một cách gần đúng thành dòng chảy mặt, dòng chảy sát mặt, dòng chảy ngầm
Mô hình NAM thuộc loại mô hình tất định, thông số tập trung, và là mô hình
mô phỏng liên tục Những ứng dụng chủ yếu của mô hình NAM gồm:
- Phân tích thủy văn: Phân phối dòng chảy, ước tính thấm và bốc hơi
- Dự báo lũ: Dòng chảy lưu vực nhỏ đổ vào mô hình sông, liên kết với các mô hình khí tượng
- Kéo dài số liệu dòng chảy: Phục hồi những số liệu bị thiếu, cơ sở xác định các giá trị cực đoan
- Dự báo dòng chảy kiệt: Phục vụ tưới
3.1.2.2 Mô hình MIKE 11 [14, 15]
MIKE 11 do DHI Water & Environment (Đan Mạch) phát triển, là một gói phần mềm kỹ thuật chuyên môn để mô phỏng lưu lượng, chất lượng nước và vận chuyển bùn cát ở cửa sông, sông, hệ thống tưới, kênh dẫn và các vật thể nước khác
MIKE 11 là công cụ lập mô hình động lực, một chiều được sử dụng nhằm phân tích chi tiết, thiết kế, quản lý và vận hành cho sông và hệ thống kênh dẫn đơn giản và phức tạp Với môi trường đặc biệt thân thiện với người sử dụng, linh hoạt và tốc độ tính toán khá cao, MIKE 11 cung cấp một môi trường thiết kế hữu hiệu về kỹ thuật công trình, tài nguyên nước, quản lý chất lượng nước và các ứng dụng phục vụ cho quy hoạch
Mô đun mô hình thủy động lực (HD) là một phần trọng tâm của hệ thống mô hình MIKE 11 và hình thành cơ sở cho hầu hết các mô đun bao gồm: Dự báo lũ, tải khuyếch tán, chất lượng nước và các mô đun vận chuyển bùn lắng không kết dính Mô đun HD giải các phương trình tổng hợp theo phương đứng để đảm bảo tính liên tục và bảo toàn động lượng, nghĩa là giải hệ phương trình Saint-Venant Các ứng dụng liên quan đến mô đun HD bao gồm:
- Dự báo lũ và vận hành hồ chứa;
Trang 35- Các phương pháp mô phỏng kiểm soát lũ;
- Vận hành hệ thống tưới và tiêu thoát bề mặt;
- Thiết kế các hệ thống kênh dẫn;
- Nghiên cứu sóng triều và dâng nước do mưa ở sông và cửa sông
Đặc trưng cơ bản của hệ thống mô hình MIKE 11 là cấu trúc mô đun tổng hợp với nhiều loại mô đun được thêm vào mỗi mô phỏng các hiện tượng liên quan đến hệ thống sông
Ngoài các mô đun HD đã mô tả ở trên, MIKE bao gồm các mô đun bổ sung đối với: Thủy văn; tải khuyếch tán; các mô hình cho nhiều vấn đề về chất lượng nước; vận chuyển bùn cát có cố kết (có tính dính); vận chuyển bùn cát không có cố kết (không có tính dính)
Phương trình liên tục:
q t
A x
Phương pháp giải hệ phương trình Saint-Venant
Hệ phương trình Saint-Venant là một hệ gồm hai phương trình vi phân đạo hàm riêng phi tuyến bậc nhất Trong trường hợp tổng quát, hệ phương trình có dạng này không giải được bằng phương pháp giải tích, do đó, phương trình này được giải bằng phương pháp gần đúng (phương pháp số) và MIKE11 cũng dùng phương pháp này để
Trang 36giải hệ phương trình Saint-Venant với lược đồ sai phân hữu hạn 6 điểm sơ đồ ẩn Abbott-Ionescu
Hình 3.2 Sơ đồ sai phân 6 điểm Abbott [14, 15]
3.1.2.3 Mô hình MIKE 21 [16]
Mô đun dòng chảy trong mô hình MIKE 21 FM được phát triển bởi phương pháp lưới phần tử hữu hạn Mô đun này được dựa trên nghiệm số của hệ các phương trình Navier-Stokes cho chất lỏng không nén được 2 hoặc 3 chiều kết hợp với giả thiết Boussinesq và giả thiết về áp suất thủy tĩnh Do đó, mô đun bao gồm các phương trình: phương trình liên tục, động lượng, nhiệt độ, độ muối và mật độ và chúng khép kín bởi sơ đồ khép kín rối Với trường hợp ba chiều sử dụng hệ tọa độ sigma
Việc rời rạc hóa không gian của các phương trình cơ bản được thực hiện bằng việc sử dụng phương pháp thể tích hữu hạn trung tâm Miền không gian được rời rạc hóa bằng việc chia nhỏ miền liên tục thành các ô lưới/phần tử không trùng nhau Theo phương ngang thì lưới phi cấu trúc được sử dụng còn theo phương thẳng đứng trong trường hợp 3 chiều thì sử dụng lưới có cấu trúc Trong trường hợp hai chiều các phần
tử có thể là phần tử tam giác hoặc tứ giác Trong trường hợp ba chiều các phần tử có thể là hình lăng trụ tam giác hoặc lăng trụ tứ giác với các phần tử trên mặt có dạng tam giác hoặc tứ giác
Phương trình liên tục
(3)
Trang 37Phương trình động lượng theo phương x và y tương ứng
(4)
(5)
Trong đó: t là thời gian; x, y và z là tọa độ Đề các; là dao động mực nước; d
là độ sâu; h=+d là độ sâu tổng cộng; u, v và w là thành phần vận tốc theo phương x, y
và z; f=2sin là tham số Coriolis; g là gia tốc trọng trường; là mật độ nước; t là nhớt rối thẳng đứng; pa là áp suất khí quyển; o là mật độ chuẩn; S là độ lớn của lưu lượng do các điểm nguồn và (us,vs) là vận tốc của dòng lưu lượng đi vào miền tính Fu,
Fv là các số hạng ứng suất theo phương ngang
3.1.2.4 Mô hình MIKE URBAN [17]
MIKE URBAN là phần mềm lập mô hình nước đô thị, khả dụng, độ linh hoạt cao, tính mở, được tích hợp với hệ thống GIS, sử dụng mô hình tính toán hiệu quả ổn định và tin cậy về khoa học
MIKE URBAN có thể tính toán và mô phỏng toàn bộ mạng lưới nước trong thành phố bao gồm hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước mưa và nước thải trong một hệ thống thoát thải gộp hoặc riêng biệt
Dưới đây là danh sách một số ứng dụng điển hình của phần mềm MIKE URBAN:
Lập mô hình Hệ thống thoát nước:
- Lập mô hình hệ thống thoát nước thải và nước mưa;
- Quản lý hệ thống nước thải;
- Lập kế hoạch tổng thể thoát nước;
- Dự báo ngập lụt cục bộ (vị trí ngập và mức độ ngập);
- Phân tích hệ thống thoát thải gộp (SCOs) và hệ thống riêng biệt (SSOs);
- Đánh giá được khả năng tải chịu của hệ thống cống và những điểm bị tắc nghẽn;
Trang 38- Ước tính lượng vận chuyển bùn cát và bồi lắng trong hệ thống cống;
- Phân tích chất lượng nước và các vấn đề bùn cát;
- Tối ưu hóa và thiết kế các giải pháp vận hành theo thời gian thực (Real-Time Control Solution);
- Lập mô hình theo thời gian thực (RTC Model) nhúng trong các giải pháp vận hành theo thời gian thực (RTC Solution)
Lập mô hình Hệ thống cấp nước:
- Quản lý áp lực nước và áp lực khu vực;
- Ước tính nhu cầu nước tại nút cấp;
- Phân tích lưu lượng dòng chảy và áp lực trong đường ống dành cho cứu hỏa;
- Dự báo tuổi của nước và hàm lượng clo trong ống;
- Dự báo sự lan truyền và xác định vị trí của các chất ô nhiễm có trong nước;
- Lập kế hoạch dự phòng và đánh giá rủi ro;
- Lập quy mô và tính toán kích thước hồ chứa, bể chứa
MIKE URBAN được xây dựng trên nền tảng phát triển của ESRI ArcObjects
có nghĩa là cùng cách lưu trữ dữ liệu, xử lý, các quá trình và phương pháp trực quan giống như các công cụ của ArcGIS Dữ liệu MIKE URBAN được lưu trong định dạng Geodatabase chuẩn dễ dàng truy xuất đầy đủ với bộ công cụ ArcGIS của ESRI MIKE URBAN cho phép phát triển cả mô hình hệ thống cấp nước và mô hình hệ thống thoát nước trong cùng một dữ liệu tích hợp GIS Sản phẩm có thể cài đặt trên một giao diện
đồ họa duy nhất cho tất cả các mô hình nước mưa, nước thải, các mô hình nước và tất
cả các mô hình có thể chuyển đổi tương tác với nhau MIKE URBAN bao gồm các thành phần sau:
Hệ thống thoát nước (Collection System):
Hệ thống thoát nước dựa trên 2 lõi tính toán lập mô hình là MOUSE-HD và SWMM5 Gồm có các Module con:
- CS – PipeFlow: Mô phỏng dòng chảy không ổn định trong ống và kênh dẫn;
- CS – Control: được xem là có khả năng vận hành giám sát theo thời gian thực các đập tràn, cửa xả, máy bơm… Nó cho phép mô tả hoạt động của các thiết bị điều khiển và đưa ra lô gic rõ ràng về cách thức vận hành của thiết bị điều khiển;
Trang 39- CS – Rainfall-Runoff: Mô phỏng lượng mưa – dòng chảy theo thời gian trong khu vực, theo sóng động lực, hồ chứa tuyến tính;
- CS – Pollution Transport: Mô phỏng sự lan truyền và khuếch tán các chất ô nhiễm trong đó có cả bùn cát Bao gồm cả lập mô hình chất lượng nước khi lập
mô hình lan truyền các chất ô nhiễm từ nước mặt xuống hệ thống thải;
- CS – Biological Processes: Mô phỏng chất hóa học và tiến trình sinh học của hệ thống bị ô nhiễm hoặc hệ thống gộp
Hệ thống cấp nước (Water Distribution):
Các thành phần của hệ thống WD được dựa trên sự mở rộng cao cấp của DHI đối với lõi tính toán chuẩn EPANET và lõi mô phỏng dòng chảy chậm WH của DHI Các thành phần cơ bản của hệ thống WD:
- Mô phỏng dòng chảy đều;
- Mô phỏng theo các giai đoạn mở rộng;
- Mô phỏng chất lượng nước theo thời gian;
- Mô phỏng dòng chảy chậm
Phân tích dòng chảy cho cứu hoả:
- Cho phép phân tích nhanh chóng các đề xuất cải tiến hệ thống cấp nước đáp ứng nhu cầu dòng chảy trong ụ cứu hoả;
- Tính toán áp lực còn dư đã thiết kế và lưu lượng dòng chảy có sẵn
Phân bố và cấp nước theo nhu cầu:
- Xây dựng và tính toán nhu cầu tại nút, dựa trên hệ thống GIS;
- Mã hóa địa chỉ kết hợp với dữ liệu tiêu dùng nước;
- Tính toán nhu cầu nước tại mỗi điểm nút trong hệ thống dựa trên phương pháp phân bổ nước
Phân tích chất lượng nước:
- Lẫn tạp chất từ các nguồn nước khác nhau;
- Tuổi của nước trên toàn hệ thống;
- Hàm lượng Clo dư;
- Gia tăng hàm lượng các chất tẩy trùng;
- Sự di chuyển các chất ô nhiễm
Trang 403.1.2.5 Mô hình MIKE FLOOD
MIKE FLOOD là một công cụ mạnh liên kết mô hình MIKE 11 một chiều và
mô hình MIKE 21 hai chiều để mô phỏng lũ trên một lưu vực và vùng cửa sông; liên kết mô hình MIKE URBAN và mô hình MIKE21 để mô phỏng ngập lụt đô thị, thuộc
bộ phần mềm MIKE
Bộ phần mềm MIKE bao gồm: MIKE 11, MIKE 21, MIKE MOUSE, MIKE FLOOD, MIKE VIEW, MIKE SHE, MIKE BASIN được Viện thủy lực Đan Mạch xây dựng để dự báo và điều khiển lũ Phần mềm này đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước bởi nhiều đặc điểm tiện ích: Sử dụng giao diện Window, tương thích với nhiều phần mềm GIS, nhập được số liệu đầu vào từ nhiều nguồn Hiện tại, phần mềm này vẫn không ngừng được cải tiến để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng
3.2 Số liệu đầu vào
3.2.1 Số liệu địa hình
Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở hạ lưu lưu vực sông Mê Công, do đó, địa hình ở đây thường xuyên có sự thay đổi, đặc biệt là sau những trận lũ lớn như trận lũ năm 2000 Tuy nhiên, số liệu địa hình không được đo đạc thường xuyên hàng năm mà chỉ có của một số năm Do đó, số liệu địa hình được sử dụng trong luận văn sẽ cập nhật số liệu mới nhất để tính toán
Số liệu địa hình mặt cắt sông, kênh phục vụ cho việc tính toán thủy lực 1 chiều trong sông được kế thừa từ dự án Quy hoạch ĐBSCL trong điều kiện BĐKH - NBD và được đo đạc năm 2012
Mô hình số độ cao (DEM) phục vụ cho việc tính toán thủy lực 2 chiều của vùng nghiên cứu cũng được kế thừa từ dự án Quy hoạch ĐBSCL trong điều kiện BĐKH- NBD với độ phân giải 15m x 15m
Số liệu các cống, hố ga của hệ thống tiêu thoát nước đô thị trên địa bàn quận Ninh Kiều được kế thừa từ dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Cần Thơ thuộc dự án thoát nước tại các tỉnh thành - Chương trình miền Nam: Sóc Trăng, Cần Thơ và Trà Vinh
3.2.2 Số liệu khí tượng
- Số liệu mưa: Số liệu mưa của các trạm đo mưa phân bố trên khu vực ĐBSCL như Tân Châu, Châu Đốc, Vàm Nao, Long Xuyên, Cao Lãnh, Cần Thơ, Mỹ Thuận, được sử dụng để tính toán dòng chảy từ mưa cho các lưu vực bộ phận tạo đầu vào gia nhập khu giữa cho mô hình thủy lực 1 chiều Vị trí các trạm đo mưa trên khu vực ĐBSCL được thể hiện trên Hình 3.3 Số liệu mưa tại trạm