1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

344 281 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 344
Dung lượng 5,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời kỳ tới, ngành NN Việt Nam đặt mục tiêu “phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh; áp dụng KH - CN để

Trang 1

NĂM 2030

THÁNG 8 NĂM 2014

Trang 2

2

Trang 3

3

Mục lục

Các từ viết tắt 8

Mở đầu 9

Phần 1: 16

Đánh giá các điều kiện và yếu tố phát triển 16

1.1 Điều kiện tự nhiên 16

1.1.1 Vị trí địa lý kinh tế 16

1.1.2 Địa hình, địa mạo 16

1.1.3 Khí hậu 17

1.1.4 Thuỷ văn 18

1.2 Các nguồn tài nguyên 18

1.2.1 Tài nguyên đất 18

1.2.2 Tài nguyên nước 21

1.2.2.1 Tài nguyên nước mặt 21

1.2.2.2 Tài nguyên nước dưới đất 21

1.2.3 Tài nguyên rừng 21

1.2.4 Tài nguyên khoáng sản 22

1.2.5 Tài nguyên nhân văn 22

1.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp tỉnh An Giang 22

Phần 2: 25

Thực trạng phát triển nông nghiệp và nông thôn 25

2.1 Thực trạng phát triển nông nghiệp giai đoạn 2000 – 2012 25

2.1.1 Sử dụng đất nông nghiệp 25

2.1.1.1 Biến động đất đai nông nghiệp 25

2.1.1.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2012 28

2.1.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp ở cấp độ hộ gia đình 29

2.1.2 Thực trạng phát triển ngành nông lâm thủy sản 31

2.1.2.1 Tổng quan kinh tế nông lâm thủy sản 31

2.1.2.2 Lao động trong ngành NLTS 35

2.1.2.3 Về số đơn vị kinh tế thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 35

Trang 4

4

2.1.3 Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp 38

2.1.3.1 Ngành trồng trọt 40

2.1.3.2 Ngành chăn nuôi 67

2.1.4 Thực trạng phát triển ngành lâm nghiệp 72

2.1.4.1 Kinh tế lâm nghiêp 72

2.1.4.2 Diện tích rừng 74

2.1.4.3 Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp 76

2.1.4.4 Tài nguyên rừng 78

2.1.4.5 Đánh giá chung 79

2.1.5 Thực trạng phát triển ngành thủy sản 83

2.1.5.1 Nuôi trồng thủy sản 85

2.1.5.2 Khai thác thủy sản 107

2.2 Thực trạng phát triển nông thôn 109

2.2.1 Tổng quan nông thôn 109

2.2.2 Kinh tế nông thôn 112

2.2.3 Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 113

2.2.4 Bộ máy chính quyền cấp xã 123

2.2.5 Tình hình xây dựng nông thôn mới 125

2.3 Đánh giá chung về phát triển nông nghiệp – nông thôn tỉnh An Giang giai đoạn 2000 – 2012 127

2.3.1 Thành tựu 128

2.3.2 Các vấn đề tồn tại 129

2.3.3 Nguyên nhân của các tồn tại 132

2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan 133

2.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 133

2.3.4 Một số bài học kinh nghiệm 135

Phần 3: 138

Các tác động đến phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh An Giang 138

3.1 Bối cảnh quốc tế, khu vực 138

3.2 Bối cảnh trong nước, trong vùng, trong tỉnh 146

3.3 Dự báo các nhân tố tác động đến phát triển nông nghiệp – nông thôn tỉnh An Giang 148

Trang 5

5

3.3.1 Đất đai 148

3.3.2 Thị trường 149

3.3.3 Nhu cầu tiêu thụ trên địa bàn tỉnh 154

3.4 Dự báo về các tiến bộ khoa học và công nghệ có thể áp dụng 155

3.5 Biến đổi khí hậu và công trình thượng nguồn sông Mê Kông tác động đến sản xuất nông nghiệp 156

3.5.1 Biến đổi khí hậu 156

3.5.2 Tác động từ các công trình thượng nguồn sông Mê Kông 158

Phần 4: 159

Quy hoạch phát triển nông nghiệp – nông thôn tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 159

4.1 Quan điểm phát triển 159

4.2 Mục tiêu phát triển 161

4.2.1 Mục tiêu tổng quát 161

4.2.2 Các phương án mục tiêu 162

4.2.3 Lựa chọn phương án mục tiêu 167

4.2.4 Mục tiêu cụ thể 167

4.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp 169

4.4 Quy hoạch phát triển ngành nông lâm thủy sản 171

4.4.1 Phát triển ngành nông nghiệp 171

4.4.1.1 Ngành trồng trọt 171

4.4.1.2 Ngành chăn nuôi 203

4.4.2 Phát triển ngành lâm nghiệp 213

4.4.2.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển 213

4.4.2.2 Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp đến năm 2020 216

4.4.2.3 Bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng 217

4.4.3 Phát triển ngành thủy sản 226

4.4.3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển 226

4.4.3.2 Quy hoạch sử dụng đất NTTS 228

4.4.3.3 Quy hoạch phát triển thủy sản 229

4.4.3.4 Giải pháp phát triển ngành thủy sản 234

Trang 6

6

4.5 Định hướng phát triển nông thôn 241

4.5.1 Quan điểm xây dựng nông thôn mới 241

4.5.2 Định hướng phát triển nông thôn mới 241

4.5.3 Mục tiêu phát triển 242

4.5.4 Giải pháp xây dựng nông thôn mới 244

4.5.5 Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 244

4.5.5.1 Hạ tầng giao thông 244

4.5.5.2 Hạ tầng cấp điện 245

4.5.5.3 Hạ tầng cấp nước sạch 246

4.5.5.4 Hạ tầng xã hội 247

4.5.5.5 Hệ thống thủy lợi 249

4.5.5.6 Hệ thống chế biến NLTS ở nông thôn 250

4.5.5.7 Làng nghề nông thôn 251

4.6 Danh mục các chương trình trọng điểm, dự án đầu tư ưu tiên đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 253

Phần 5: 261

Giải pháp thực hiện quy hoạch 261

5.1 Xây dựng chuỗi giá trị cho từng ngành hàng nông sản 261

5.2 Nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật – công nghệ và cơ giới hóa trong nông nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến nông sản 263

5.3 Tăng cường đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp 268

5.4 Hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, khuyến khích tích tụ ruộng đất hợp lý 271

5.5 Hỗ trợ nông dân nâng cao sức cạnh tranh 272

5.6 Phát triển thị trường tiêu thụ nông sản và công tác xúc tiến thương mại 272

5.7 Bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn và ứng phó với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp 274

5.8 Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn 280

5.9 Giải pháp về sử dụng đất nông nghiệp 281

5.10 Giải pháp về huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư 282

5.11 Giải pháp về triển khai, vận dụng tốt các cơ chế, chính sách về hỗ trợ và tạo động lực cho sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn 290

Trang 7

7

5.12 Giải pháp hợp tác với các địa phương trong và ngoài tỉnh 294

5.13 Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch 295

Kết luận và kiến nghị 298

Tài liệu tham khảo 300

Phụ lục 303

Trang 8

HĐH Hiện đại hóa

KH - CN Khoa học - công nghệ

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

BĐKH Biến đổi khí hậu

Trang 9

Dù vậy, những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và NN

- NT tỉnh An Giang đang tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, gặp nhiều thách thức mới trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cũng như chịu tác động của biến đổi khí hậu NN phát triển thiếu ổn định và bền vững, NSLĐ NN thấp5; sức cạnh tranh nông sản hàng hóa chưa cao; nghiên cứu, chuyển giao KH - CN và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động khu vực NT diễn ra chậm; thiếu liên kết, hỗ trợ giữa NN và các ngành công nghiệp chế biến, thương mại - dịch vụ; kết cấu hạ tầng KT-

XH thiếu đồng bộ; môi trường tiếp tục ô nhiễm; chưa chuẩn bị năng lực để thích ứng với tác động biến đổi khí hậu trong tương lai Các quy hoạch phát triển NN - NT trên địa bàn tỉnh được xây dựng riêng rẻ, thiếu liên kết, thường bị điều chỉnh (rà soát), thiếu tầm nhìn dài hạn và đặc biệt là yếu kém trong khâu dự báo, tổ chức thị trường

Trong thời kỳ tới, ngành NN Việt Nam đặt mục tiêu “phát triển toàn diện theo

hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh;

áp dụng KH - CN để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, nguồn nước,

1 Quyết định số 492/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án thành lập vùng KTTĐ vùng ĐBSCL Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc TW là: thành phố Cần Thơ, tỉnh An

Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau

2 Năm 2011, dân số toàn tỉnh là 2,151 triệu người

3 Theo NGTK cả nước năm 2011 (GSO, 2012)

4 An Giang chỉ chiếm 0,18% diện tích nhưng chiếm hơn 10% sản lượng NTTS của cả nước

5 NSLĐ nông nghiệp tỉnh An Giang năm 2011 bình quân đạt 29,2 triệu đồng/lao động/năm

Trang 10

10

lao động và nguồn vốn; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân” 6; vùng ĐBSCL là

“trọng điểm sản xuất lương thực, thủy sản, hoa quả của cả nước, góp phần quan trọng

vào an ninh lương thực quốc gia, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông, thủy sản của cả nước” 7; của tỉnh An Giang8 là “phát triển NN gắn với các giải pháp ứng phó với suy

giảm tài nguyên nước do biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của các hoạt động sử dụng nước trên thượng lưu sông Mekong” và “xác định sản phẩm gạo và cá tra, cá ba sa là sản phẩm chiến lược của tỉnh; duy trì quan điểm phát triển ngành thủy sản thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, hướng trọng tâm là nâng cao chất lượng sản phẩm thuỷ sản” Cả hai sản phẩm gạo và cá tra đều nằm trong danh mục thuộc Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 20209

Với vị trí quan trọng trong SXNN của vùng ĐBSCL cũng như của cả nước và trong bối cảnh có nhiều thay đổi, thách thức, tỉnh An Giang cần thiết tiến hành xây dựng mới

Quy hoạch phát triển NN - NT đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 nhằm xác

định rõ quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển NN - NT trên địa bàn tỉnh trong 10 (20) năm tới, đồng thời tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong Quy hoạch tổng thể phát triển ngành NN cả nước cũng như của vùng ĐBSCL trên địa bàn tỉnh; góp phần triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh An Giang đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 6 năm 2012

2 Các căn cứ pháp lý để xây dựng quy hoạch phát triển NN - NT tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng dến năm 2030

1) Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chính phủ về việc Lập, thẩm

định và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH Nghị định số

04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP Thông tư số 01/2012/TT-BKHĐT ngày 09/02/2012 về việc

Hướng dẫn xác định mức chi phí cho lập, thẩm định và công bố quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu

2) Chiến lược phát triển KT - XH Việt Nam thời kỳ 2011-2020

3) Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011–2020

Trang 11

11

4) Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu

5) Quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020

6) Quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày 09/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt định hướng Chiến lược Phát triển thủy lợi Việt Nam

7) Quyết định số 2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020

8) Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành NN đến năm 2020 và tầm

nhìn đến 2030

9) Quyết định số 439/QĐ-TTg ngày 16/04/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt Danh mục sản phẩm quốc gia thực hiện từ năm 2012 thuộc Chương trình

phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020

10) Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020

11) Nghị quyết số 26 - NQ/T.Ư của Ban chấp hành TW Khóa X về NN, nông dân,

NT

12) Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 19/07/ 2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH vùng ĐBSCL đến năm 2020

13) Quyết định số 1397/QĐ-TTg ngày 25/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê

duyệt Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm

2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng

14) Quyết định số 11/2012/QĐ-TTg ngày 10/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về

Phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải vùng KTTĐ vùng ĐBSCL đến

năm 2020 và định hướng đến năm 2030

15) Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 27 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ

về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH tỉnh An Giang đến năm 2020

16) Quyết định số 859/QĐ-UBND ngày 27/04/2006 của UBND tỉnh An Giang về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 3354/QĐ-UBND ngày 12/12/2007 của của UBND tỉnh An Giang về việc phê duyệt điều chỉnh bổ sung Quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2010

Trang 12

12

17) Công văn số 3472/UBND-KT ngày 28/10/2012 của UBND tỉnh An Giang về việc

cho phép Sở NN&PTNT tỉnh An Giang tiến hành Quy hoạch tổng thể phát triển

ngàng NN - NT tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

18) Quyết định số 313/QĐ-UBND ngày 19/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về phê duyệt Đề cương và dự toán kinh phí xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển ngành NN và Phát triển NT tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

19) Quyết định số 245/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH vùng KTTĐ vùng ĐBSCL đến năm

2020, định hướng đến năm 2030

20) Quyết định số 1445/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

21) Quyết định số 1648/QĐ-BNN-TT ngày 07/7/2013 về phê duyệt quy hoạch vùng cây ăn quả chủ lực trồng tập trung và định hướng rải vụ một số cây ăn quả ở Nam

bộ (ĐBSCL và Đông Nam bộ) đến năm 2020

3 Mục tiêu, yêu cầu, khung thời gian xây dựng Quy hoạch phát triển NN - NT tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

3.1 Mục tiêu

Xây dựng Quy hoạch phát triển NN - NT có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm góp phần quản lý, khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên NN, nguồn lực từ khu vực

NT, tạo lập và củng cố năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế, phục vụ phát triển KT

- XH, an ninh quốc phòng cũng như tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế

Xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển NN - NT đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ, mục tiêu của ngành NLTS, của lĩnh vực phát triển NT đặt ra trong Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh An Giang đến năm 202010, đồng thời phù hợp với Chiến lược phát triển NN NT Việt Nam, Quy hoạch tổng thể phát triển ngành NN cả nước đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 cũng như phù hợp với các quy hoạch, định hướng phát triển NN - NT của vùng ĐBSCL

Xây dựng nền NN phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn,

có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đóng góp vững chắc vào đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài

10 Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 27 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH tỉnh An Giang đến năm 2020

Trang 13

13

Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn NN với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội NT ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở NT dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường

Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư NT, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất tiến tới ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đóng vai trò làm chủ NTM

3.2 Yêu cầu

Quy hoạch phát triển NN - NT tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm

2030 bao gồm: quy hoạch phát triển ngành NN11 và quy hoạch phát triển NT, thuộc nhóm

dự án quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực (theo khoản 1 điều 25 Nghị định CP) Do đó, Quy hoạch tập trung vào các nhiệm vụ, yêu cầu chủ yếu sau (theo khoản 1 điều 26 Nghị định 92/2006/NĐ-CP):

92/2006/NĐ-a) Phân tích, dự báo các yếu tố tác động đến kinh tế NN, phát triển NT tỉnh An Giang, trong đó có phân tích, dự báo đầy đủ các yếu tố từ phía cung (yếu tố nguồn lực hay đầu vào cho SXNN như vốn, lao động, đất đai…), yếu tố từ phía cầu (cầu thị trường đối với nông sản chủ yếu, sản phẩm phi NN ở khu vực NT….) và yêu cầu về năng lực cạnh tranh của nông sản hàng hóa, các loại hình dịch vụ NN

b) Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và phân bố SXNN, không gian NT trên địa bàn tỉnh; cơ cấu nội bộ khu vực kinh tế NN (bao gồm các ngành NLTS); sản phẩm chủ yếu, đầu tư, công nghệ, lao động, mô hình tổ chức sản xuất

c) Xác định vị trí, vai trò của khu vực kinh tế NN, khu vực NT đối với phát triển KT

- XH tỉnh An Giang, với vùng KTTĐ vùng ĐBSCL và với cả nước; các mục tiêu phát triển chủ yếu của ngành NN, khu vực NT Phân tích, dự báo cung cầu, năng lực cạnh tranh trên thế giới, khu vực và trong nước về các sản phẩm NN, tập trung vào các nông sản thế mạnh và tiềm năng của tỉnh

d) Luận chứng các phương án phát triển cơ cấu khu vực NLTS, sản phẩm chủ yếu

và các điều kiện chủ yếu đảm bảo mục tiêu quy hoạch được thực hiện (đầu tư, công nghệ, lao động)

11 Ngành nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trang 14

h) Thể hiện các phương án quy hoạch phát triển NN - NT trên bản đồ quy hoạch

3.3 Khung thời gian về nghiên cứu thực trạng và quy hoạch

+ Giai đoạn phân tích, đánh giá thực trạng: từ năm 2000 đến năm 2013

+ Thời kỳ nghiên cứu quy hoạch: từ năm 2014 đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; trong thời kỳ đến năm 2020 có phân theo thời kỳ 2011 – 2015, 2016 – 2020 và

2021 – 2030

Trang 15

15

Trang 16

16

Phần 1:

Đánh giá các điều kiện và yếu tố phát triển

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý kinh tế

An Giang là tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, nằm về phía Tây Nam Tổ Quốc; có tọa độ địa

lý từ 10o20’07” đến 10o34’23” vĩ độ Bắc và 1040 47’20” đến 1050 35’10” kinh độ Đông Phía Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia;

Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp;

Phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ;

Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 353.666,85 ha, với 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện là An Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn Đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn có 156 đơn vị gồm 119 xã, 21 phường và 16 thị trấn (thống

kê đến tháng 6 năm 2014)

Tỉnh An Giang có vị trí địa lý kinh tế cực kỳ quan trọng đối với phát triển KT - XH nói chung và phát triển SXNN nói riêng, thành phố Long Xuyên là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá của tỉnh, thành phố Châu Đốc và thị xã Tân Châu là 2 cực phát triển của tỉnh về phía Bắc Bên cạnh đó, tỉnh còn có lợi thế về ngoại thương với hệ thống cửa khẩu cấp quốc gia và cấp quốc tế như Vĩnh Xương (Tân Châu), Tịnh Biên, Khánh Bình (An Phú) và Vĩnh Hội Đông (An Phú), đây là một trong những điều kiện thuận lợi để hàng hóa nông sản của tỉnh (lúa, cá, rau màu) xuất khẩu sang Campuchia và các quốc gia Đông Nam Á khác như Lào, Thái Lan, Myanmar,

Ngoài ra, tỉnh còn có hệ thống giao thông thủy bộ (QL 91, QL N1, QL N2, tuyến sông Tiền, tuyến sông Hậu) đóng vai trò quan trọng trong việc thông thương hàng hóa lúa, cá và rau màu với các trung tâm đô thị lớn như Tp Phnôm Pênh, Tp Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng ĐBSCL

1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình tỉnh An Giang có nét đặc trưng so với các tỉnh, thành khác trong vùng ĐBSCL với 1/3 diện tích là vùng đồi núi ở phía Tây, 2/3 diện tích còn lại là vùng đồng bằng châu thổ, với độ cao dưới 5 m so với mặt nước biển, nghiêng đều từ Đông sang Tây

và từ Bắc xuống Nam với độ chênh lệch cao từ 0,5 - 1 cm/km theo mỗi chiều

Trang 17

+ Vùng hữu ngạn sông Hậu thuộc tứ giác Long Xuyên gồm thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, các huyện Châu Phú, Châu Thành và Thoại Sơn có cao trình biến thiên từ 0,8 - 3 m và thấp dần về phía Tây

- Địa hình đồi núi:

Tập trung và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên với nhiều núi có độ cao từ 300 - 700 m, cao nhất là núi Cấm 710 m Có ba khu vực núi tập trung là núi Cấm, núi Dài và núi Tô Bao bọc chung quanh núi là đồng bằng chân núi, dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng, có cao trình từ 4 - 40 m và độ dốc từ 30

- 80

Các dạng địa hình của tỉnh có ảnh hưởng đáng kể đến SXNN của tỉnh và đặc biệt là đối với ngành trồng trọt, địa hình đồng bằng khá bằng phẳng (đầu tư hệ thống thủy lợi ít tốn kém) thích hợp đối với canh tác lúa, nuôi cá và trồng cây màu, địa hình đồi núi khí hậu thay đổi khi càng lên cao, thích hợp với trồng cây dược liệu, trồng rừng, trồng hoa Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài, vùng đồng bằng của tỉnh chịu tác động của biến đổi khí hậu nước biển dân, do cao trình quá thấp, thấp hơn 5 m so với mặt nước biển, ảnh hưởng tiêu cực đối với phát triển và SXNN của tỉnh

1.1.3 Khí hậu

An Giang có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11), lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa, lượng mưa hàng năm bình quân từ 1.500 mm - 1.600 mm/năm, cao nhất đạt 2.100 mm/năm và thấp nhất là 900 mm/năm và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau), có nền nhiệt cao và ổn định với nhiệt độ trung bình năm là 270C, khu vực đồi núi thường có nhiệt độ bình quân thấp hơn

so với khu vực đồng bằng 20C, tổng tích ôn trên 10.0000C

Địa bàn An Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, các hiện tượng lốc xoáy

có xảy ra trong mùa mưa nhưng tần suất thấp nên mức độ ảnh hưởng không lớn Tóm lại với nền nhiệt cao đều trong năm, giàu nắng, mưa theo mùa và không có bão, điều kiện

Trang 18

Bên cạnh việc mang lại nguồn nước dồi dào cho SXNN, chế độ thủy văn cũng tạo điều kiện phân mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa lũ (từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm) và mùa cạn (từ tháng 2 đến tháng 5 hàng năm) Lưu lượng đỉnh lũ trước khi tràn vào ĐBSCL thường từ 50.000 đến 60.000 m3/ngày, có năm đến 70.000 m3/ngày Lợi ích của lũ đối với SXNN trong những năm qua đã thể hiện rất rõ qua các mặt: mang lại nguồn phù sa màu mỡ; vệ sinh đồng ruộng; cải thiện chất lượng đất, chất lượng nước, bổ sung nguồn nước ngầm, mang lại nguồn lợi TS và tạo công ăn việc làm cho một bộ phận nông dân trong mùa nước nổi; tuy nhiên lũ về cũng ảnh hưởng đến các hoạt động KT - XH như tốn kém chi phí đầu tư và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng, gây ảnh hưởng đến thời vụ gieo trồng, thu hoạch và sản lượng nông - TS và gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân, Đối với mùa cạn, cũng có tác động 2 mặt rất rõ đối với SXNN, tạo điều kiện thuận lợi cho cây màu và cây trồng cạn (cây không chuộng nước) phát triển Tuy nhiên, đối với cây lúa thì cho năng suất không cao, chi phí chăm sóc tăng cao do phải bơm nước từ hệ thống kênh rạch và chịu ảnh hưởng bởi sự xâm nhập mặn

1.2 Các nguồn tài nguyên

Trang 19

19

- Nhóm đất cát núi: phân bố tập trung ở các triền núi thuộc thành phố Châu Đốc và các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, diện tích 22.675,02 ha, chiếm 6,41% diện tích tự nhiên Loại đất này rất dễ rửa trôi và nghèo dinh dưỡng không thích hợp canh tác lúa, rau màu

Ở khu vực đỉnh núi của các khối núi lớn như núi Cấm, núi Cô Tô, núi Dài có thể trồng cây dược liệu, cây ăn trái ưa lạnh, su su, nơi các sườn

- Nhóm đất phù sa cổ: phân bố chủ yếu ở huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (vùng tiếp giáp với biên giới Vương quốc Campuchia và tỉnh Kiên Giang), diện tích 14.617,72 ha, chiếm 4,13% diện tích tự nhiên, thành phần cơ giới xốp, mềm Đây là nhóm đất có khả năng thâm canh, tăng vụ của tỉnh, thích hợp cho việc luân canh 2-3 vụ lúa – màu hoặc lúa cá

- Nhóm đất phù sa: diện tích 226.866,0 ha, chiếm 64,15% diện tích tự nhiên, và được phân thành các loại như sau:

* Đất phù sa đang phát triển, glây, dinh dưỡng khá: chiếm diện tích 16.742,75 ha (chiếm 4,92% diện tích tự nhiên), phân bố chủ yếu ở huyện Chợ Mới, thành phố Long Xuyên, Châu Thành, Châu Phú, và một ít ở các huyện Phú Tân và Tân Châu Loại đất này thích hợp với SXNN, người dân thường sử dụng lớp mặt để canh tác lúa Tuy nhiên, cây trồng trồng trên loại đất này sinh trưởng kém, cho năng suất thấp nguyên nhân la do mất đi tầng canh tác trong phẫu diện

* Đất phù sa đang phát triển, glây, dinh dưỡng kém: có diện tích 15.977,51 ha (chiếm 4,69% diện tích tự nhiên), phân bố chủ yếu ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn và một

ít ở huyện Châu Phú, cũng do phân bố ở địa hình khá cao (dọc theo các chân núi của vùng Bảy Núi) nên sa cấu chủ yếu là thịt đến cát pha Loại đất này thích hợp với canh tác lúa và trồng các loại rau màu

* Đất glây, tầng mặt dày, dinh dưỡng khá, có dấu tích phù sa bồi: có diện tích 70.729,21 ha (chiếm 20,76% diện tích tự nhiên), phân bố tập trung ở các huyện cù lao An Phú, TX Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới, các vùng đất ven sông của các huyện/thị Châu Đốc, Châu Phú, Châu Thành, Long Xuyên và một diện tích nhỏ của huyện Thoại Sơn Loại đất này nghèo chất dinh dưỡng, cộng với sự thấp trũng của phẫu diện là yếu tố cơ bản không có lợi cho việc trồng các loại cây trồng cạn Do đó cần bố trí mùa vụ hay có biện pháp canh tác thích hợp để mang lại hiệu quả cao

* Đất glây, tầng mặt dày, dinh dưỡng kém: có diện tích 15.231,53 ha (chiếm 4,47% diện tích tự nhiên), phân bố tập trung ở thành phố Châu Đốc, và số ít ở các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn và Chợ Mới Loại đất này không thích hợp cho việc trồng các loại cây trồng cạn

Trang 20

20

* Đất glây, đọng mùn, dinh dưỡng kém: có diện tích 87.887,26 ha (chiếm 25,80% diện tích tự nhiên), tập trung thành vùng lớn ở các huyện Châu Phú, Châu Thành và Thoại Sơn, rải rác với diện tích nhỏ ở huyện Tri Tôn và thành phố Châu Đốc

* Đất glây, tầng mặt mỏng, dinh dưỡng kém: có diện tích 20.297,74 ha (chiếm 5,96% diện tích tự nhiên), đây là loại đất mới của An Giang và chỉ có ở huyện Chợ Mới

Do khu vực đất chủ yếu nằm trong đê bao nên đất có lượng phù sa thấp

- Nhóm đất phèn: diện tích 44.687,06 ha, chiếm 12,64% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới và được phân thành 2 loại như sau:

* Đất phèn hoạt động nông: xuất hiện chủ yếu ở Tịnh Biên và Tri Tôn và một ít ở Châu Phú Loại đất này có độ phì tự nhiên tư trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, tỷ lệ sét cao (41-55%), hàm lượng cát mịn (21,2-38%), đất dễ bị dính dẻo khi ướt, cứng và nứt nẻ thành rảnh khi khô Loại đất này không thích hợp SXNN, có thể trồng một số giống lúa chịu phèn trong vụ mùa, mùa khô có thể lên líp trồng khoai Hướng sử dụng thích hợp đối với loại đất này là trồng lúa 1 vụ hoặc 2 vụ với các giống lúa chịu phèn và các loại rau màu thích hợp khác và có thể kết hợp nuôi cá

* Đất phèn hoạt động sâu: xuất hiện ở hầu hết các huyện trong tỉnh, trừ huyện An Phú, trong đó tập trung chủ yếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn, Châu Phú, Châu Thành

và Chợ Mới Loại đất này nghèo chất dinh dưỡng, tỷ lệ các chất dinh dưỡng không cân đối và nhiều biến động Đây là loại đất hạn chế đối với SXNN, có thể trồng lúa 1 – 2 vụ nhưng năng suất không cao, có thể trồng hoa màu vào mùa khô Tuy nhiên, trong điều kiện cần thiết thì có thể thâm canh tăng vụ do có thuận lợi gần nguồn nước ngọt

- Nhóm đất phù sa bồi: tập trung chủ yếu ven theo sông Tiền và sông Hậu, có diện tích 30.793,17 ha (chiếm 8,71% tổng diện tích đất toàn tỉnh), phân bố ở các huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, thành phố Châu Đốc, Châu Phú, và xã Mỹ Hòa Hưng của TP Long Xuyên Đất có thành phần sét khá cao so với các biểu loại đất ven sông khác, dưới tầng canh tác thường xuất hiện một tầng tích tụ sét, có khả năng trao đổi cation bằng hoặc hơn 24 cmol(+) kg - 1 sét trong suốt và độ bão hòa base (bởi NH4OAc) bằng hoặc lớn hơn 50% trong suốt tầng B đến độ sâu 125 cm Hàm lượng dinh dưỡng không cao lắm, nhưng tiềm năng đất còn rất tốt cho cây trồng sinh trưởng và phát triển

Tóm lại, tài nguyên đất tỉnh An Giang có chất lượng khá cao, độ phì trung bình đến khá, nguồn nước ngọt quanh năm, hệ thống sông, kênh rạch dày đặc, tạo cơ chế ém phèn

tự nhiên, thoát rửa phèn tốt Tuy nhiên, đất đai đã được khai thác, thâm canh từ lâu, hệ số vòng quay của đất lúa đạt 2,78-2,80 lần/năm đã dẫn một số nơi có hiện tượng thoái hóa đất Do đó, việc bố trí cơ cấu cây trồng phải theo hướng đa dạng hoá cây trồng, trong đó

Trang 21

21

chú trọng đến cơ cấu lúa màu, chuyên màu, lúa - TS và cây ăn quả theo tiềm năng đất đai

và có biện pháp sử dụng đất thích hợp đối với từng loại đất và bảo vệ môi trường đất theo hướng bền vững

1.2.2 Tài nguyên nước

1.2.2.1 Tài nguyên nước mặt

Nguồn cung cấp chủ yếu từ Sông Tiền và sông Hậu và hơn 280 tuyến sông rạch lớn khác, lưu lượng của các sông khá lớn nên đủ cung cấp nước cho các hoạt động sản xuất

và sinh hoạt kể cả trong mùa khô Đây là nguồn cung cấp nước tưới cho hầu hết diện tích gieo trồng canh tác trong tỉnh

Nguồn nước mặt của tỉnh khá dồi dào, có khả năng khai thác đa mục tiêu trong đó quan trọng nhất là mục tiêu SXNN với năng suất cao và chất lượng tốt Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dưới tác động của nhiều yếu tố như: xâm nhập mặn, xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong, ô nhiễm môi trường nước cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm NN của tỉnh

1.2.2.2 Tài nguyên nước dưới đất

Nước dưới đất ở An Giang có trữ lượng khá dồi dào, có thể khai thác và phục vụ SXNN, công nghiệp và sinh hoạt (trừ vùng núi Tri Tôn và Tịnh Biên) Theo thống kê chưa đầy đủ, toàn tỉnh có 7.133 giếng khoan, phục vụ sinh hoạt 92,14%, phục vụ sản xuất 7,86% và khảo sát sơ bộ có khoảng 240 giếng bị ô nhiễm hoặc có nguy cơ nhiễm bẩn các loại cần phải xử lý trám lấp để bảo vệ nguồn nước

Hiện nay An Giang vẫn tiếp tục chương trình cải tạo, nâng cấp và xây mới các nhà máy nước ở khu dân cư tập trung và các cụm công nghiệp Tiếp tục xây thêm một số hồ chứa trên núi để dự trữ cho mùa khô và phục vụ SXNN và sinh hoạt cho các huyện vùng núi

1.2.3 Tài nguyên rừng

An Giang hiện có 13.912 ha rừng với 4.112 ha rừng sản xuất, 8.725 ha rừng phòng

hộ và 1.075 ha rừng đặc dụng Trong đó, có trên 583 ha rừng tự nhiên thuộc loại rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng, với 154 loài cây quý hiếm thuộc 54 họ, ngoài ra còn có 3.800 ha rừng tràm Sau một thời gian diện tích rừng bị thu hẹp, những năm gần đây tỉnh

đã chú ý nhiều tới việc gây lại vốn rừng

Rừng trồng chủ yếu là các loại cây mọc nhanh bạch đàn, keo lá tràm, tai tượng kết hợp với cây gỗ quý như sao, dầu, giáng hương, cây dó bầu (để tạo trầm hương) và các loại cây ăn quả lâu năm Rừng tự nhiên hiện còn giữ được các cây gỗ quý như giáng

Trang 22

1.2.4 Tài nguyên khoáng sản

An Giang có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú so với các tỉnh khác thuộc vùng ĐBSCL với các loại đá xây dựng, đá ốp lát, đá áplit, cát núi, cát sông, sét gạch ngói, than bùn, kaolin, vỏ sò, nước khoáng, quặng kim loại (molipden, vàng gốc, vàng thiếc) Hoạt động khoáng sản ở An Giang trong thời gian qua đã có những đóng góp tích cực cho phát triển KT - XH của tỉnh như đóng góp cho ngân sách, tạo việc làm cho lao động tại chỗ, cung cấp nguồn nguyên liệu xây dựng cho các công trình xây dựng trong tỉnh, ngoài ra đá xây dựng còn cung ứng cho khoảng 30% thị phần vùng ĐBSCL Đặc biệt nguồn vỏ sò có thể làm thức ăn gia súc, bổ sung lượng lớn canxi cho cây trồng

1.2.5 Tài nguyên nhân văn

An Giang là địa bàn sinh sống chủ yếu của người Kinh, Khơmer, Chăm và Hoa với thành phần tôn giáo đa dạng: Phật giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Hồi giáo, Tứ Ân, Hiếu Nghĩa,… Mặc dù, mỗi dân tộc có phong tục, tôn giáo, tập quán riêng nhưng bao đời nay vẫn sống hoà thuận, đoàn kết, hội nhập vào cộng đồng chung và đã cùng nhau tạo nên một bản sắc văn hoá độc đáo Đặc biệt, nhân dân An Giang có truyền thống và kinh nghiệm SXNN lâu đời có thể canh tác trồng trọt thích nghi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sống hòa quyện với thiên nhiên (sống chung với lũ), tiếp thu và ứng dụng rất nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật CNC vào sản xuất canh tác và NTTS Đây là một lợi thế rất lớn đối với tỉnh An Giang nhằm hướng đến một nền SXNN sạch với hàm lượng CNC và năng suất cao đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường nông sản trong

và ngoài nước

1.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp tỉnh An Giang

An Giang là một trong bốn tỉnh (An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ và Cà Mau) thuộc vùng KTTĐ vùng ĐBSCL, đang chịu nhiều ảnh hưởng do BĐKH toàn cầu Đất đai bị bạc màu, đa dạng sinh học bị giảm mạnh, diện tích đất bị xâm nhập mặn, khô hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng, nhiệt độ tăng cao và hạn hán bất thường, lũ lụt không theo quy luật, nhiều dịch bệnh mới hình thành đã tác động không nhỏ tới SXNN, NTTS, đe doạ đến đời sống và hoạt động của người dân trong tỉnh

Tác động của BĐKH đối với ngành trồng trọt của tỉnh:

Trang 23

23

Tuy chưa có nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đối với từng ngành sản xuất, lĩnh vực cho riêng tỉnh An Giang nhưng có thể thấy ảnh hưởng to lớn của BĐKH lên hoạt động SXNN, môi trường sinh thái, tài nguyên nước, tài nguyên đất thông qua nghiên cứu cho vùng ĐBSCL (Bộ NN&PTNT, 2013) Theo đó, SXNN của vùng ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH BĐKH làm giảm diện tích đất canh tác, gây ra tình trạng hạn hán và sâu bệnh, gây áp lực lớn cho sự phát triển của ngành trồng trọt Cụ thể, tổng sản lượng sản xuất từ trồng trọt có thể giảm 1-5%, năng suất cây trồng chính có thể giảm đến 10%, trường hợp thời tiết cực đoan có thể mất mùa hoàn toàn BĐKH còn làm thay đổi điều kiện sống của các loài sinh vật, làm gia tăng một số loài dịch hại mới và các đợt dịch bùng phát trên diện rộng Đơn cử, trong khoảng 3 năm trở lại đây (2010-2013), dịch rầy nâu và vàng lùn, lùn xoắn lá trên cây lúa đã làm giảm đáng kể sản lượng lúa ở khu vực ĐBSCL, gây thiệt hại khoảng 400.000 ha lúa, khiến năng suất lúa giảm từ 30-70% Tác động của BĐKH đối với ngành NTTS của tỉnh:

BĐKH có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến NTTS thông qua nguồn nước, diện tích nuôi, môi trường nuôi, con giống, dịch bệnh12… và qua đó gây ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và cơ sở hạ tầng của các vùng NTTS Các hiện tượng thời tiết bất thường như thời tiết nắng nóng kéo dài làm gia tăng nhiệt độ13 và biến đổi lượng mưa đã tác động tiêu cực đến nguồn nước và sức đề kháng của các đối tượng nuôi, gây bùng phát dịch bệnh, gây thiệt hại rất lớn đến ngành nuôi trồng của tỉnh trong thời gian qua Trước diễn biến của BĐKH trong thời gian tới, đặc biệt là sự gia tăng nhiệt độ, biến đổi lượng mưa, dịch bệnh sẽ tác động rất lớn đến hoạt động NTTS trên địa bàn tỉnh

Thời gian qua, công tác ứng phó với BĐKH, phòng tránh thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được tỉnh An Giang quan tâm14, có bước chuyển biến và đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng Tuy nhiên, việc ứng phó với BĐKH còn bị động, lúng túng; tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt; ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng; đa dạng sinh học suy giảm, nguy

cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân

Trang 24

lý nhà nước và việc phân công, phân cấp, phối hợp giữa các sở, ban, ngành, địa phương còn thiếu chặt chẽ; tổ chức thực hiện chưa thực sự chủ động, cương quyết; hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa cao Chủ trương XHH chưa huy động được sự tham gia của các đoàn thể, hiệp hội, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân

Vấn đề BĐKH vừa có tính trước mắt, vừa có tính lâu dài, phức tạp Cho nên, để thực hiện được mục tiêu ứng phó và giảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH đối với tỉnh thì các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư phải có trách nhiệm thực hiện bảo vệ tài nguyên nước, đất, hệ sinh thái và môi trường tốt hơn

Để đối phó với BĐKH, hiện ngành NN đã và đang tích cực áp dụng KH - CN vào SXNN, tiến hành CNH, HĐH NN, NT kết hợp với quy hoạch tổng thể vùng sản xuất cũng những giải pháp nhằm phát triển bền vững cho nền NN Những biện pháp đã được triển khai như: trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2011-2015 có

36 danh mục dự án ưu tiên ứng phó với BĐKH, giai đoạn 2016-2020 là 20 dự án và sau

2020 là 9 dự án; giảm phát khí thải nhà kính qua kỹ thuật 3 giảm, 3 tăng, 1 phải 5 giảm

sử dụng tiết kiệm chi phí đầu vào; thúc đẩy quy trình VietGAP trong chăn nuôi; cải tiến

kỹ thuật và công nghệ trong hoạt động NTTS; đẩy mạnh trồng rừng, phục hồi rừng, và xúc tiến tái sinh rừng…

Trang 25

25

Phần 2:

Thực trạng phát triển nông nghiệp và nông thôn

2.1 Thực trạng phát triển nông nghiệp giai đoạn 2000 – 2012

2.1.1 Sử dụng đất nông nghiệp

2.1.1.1 Biến động đất đai nông nghiệp

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2012, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 353.666,85 ha, trong đó đất NN là 297.348,95 ha (chiếm 84,1%), đất phi NN là 54.564,37

ha (chiếm 15,4%) và đất chưa sử dụng là 1.753,53 ha (chiếm 0,5%) (hình 2.1) Như vậy, chỉ tính riêng đất NN, bình quân mỗi người dân có 0,138 ha (1.380 m2), bình quân mỗi lao động NN có 0,4470 ha (4.470 m2) [Năm 2012, dân số trung bình tỉnh là 2.153 ngàn người, lao động NLTS có 669 ngàn người]

Trong giai đoạn 2000 – 2012, tỉnh đã cải tạo và đưa vào khai thác (chủ yếu cho các mục đích SXNN) khoảng 11,6 ngàn ha đất chưa sử dụng Diện tích đất chưa sử dụng giảm gần 87% trong hơn 10 năm qua, cho thấy tỉnh An Giang tận dụng khá tốt tiềm năng đất đai thông qua quá trình khai hoang, cải tạo nguồn lực tự nhiên này Cũng theo số liệu kiểm kê, quỹ đất NN toàn tỉnh tăng gần 29,5 ngàn ha, trong khi đất phi NN lại giảm gần 4,8 ngàn ha (giai đoạn 2000 – 2012)

Bảng 2.1 : Sử dụng đất đai giai đoạn 2000 – 2010, 2012

ĐVT: ha

Diện tích năm 2012

Diện tích năm 2010

Năm 2010 so với năm

2005

Năm 2005 so với năm

2000 Diện tích

năm 2005

Tăng (+) Giảm (-)

Diện tích năm 2000

Tăng (+) Giảm (-)

TỔNG DIỆN TÍCH 353.666,85 353.666,85 353.675,89 -9,04 340.623,00 13.052,89

2 Đất phi NN 54.564,37 54.413,28 53.200,29 1.212,99 59.309,80 -6.109,51

3 Đất chưa sử dụng 1.753,53 1.763,86 2.329,60 -565,74 13.355,00 -11.025,40

Nguồn: NGTK năm 2012 tỉnh An Giang

Riêng giai đoạn 2005 – 2012, đất phi NN tăng hơn 1.364 ha, đất NN và đất chưa sử dụng giảm tương ứng là 797 ha và 576 ha Có thể nói, việc chuyển mục đích sử dụng từ đất NN (đặc biệt là đất trồng lúa) và đất chưa sử dụng sang đáp ứng cho các mục đích phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, nhà ở cũng như xây dựng các công trình

Trang 26

26

kinh tế là phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh Trong quá trình chuyển đổi,

tỉnh chú trọng đến tính hiệu quả, tiết kiệm và tránh những vùng đất SXNN có giá trị kinh

tế cao hay những khu vực có rừng phòng hộ xung yếu, rừng đặc dụng

Hình 2.1

Nguồn: NGTK năm 2012 tỉnh An Giang

Bảng 2.2: Sử dụng đất đai nông nghiệp giai đoạn 2000 – 2010, 2011, 2012

ĐVT: ha

Diện tích năm 2012

Diện tích năm 2010

Năm 2010 so với năm 2005 Năm 2005 so với năm 2000 Diện tích

năm 2005 Tăng (+) Giảm (-) năm 2000 Diện tích Tăng (+) Giảm (-)

Trang 28

28

Chia theo đối tượng sử dụng: hộ gia đình và cá nhân sử dụng 96,5% diện tích đất

NN trên địa bàn, các cơ quan đơn vị của Nhà nước sử dụng 3% và UBND cấp xã và các

tổ chức kinh tế khác sử dụng 0,5% còn lại (hình 2.2b)

Giai đoạn 2000 – 2005: sử dụng đất NN của tỉnh chuyển đổi khá mạnh theo hướng: (1) mở rộng diện tích canh tác: do khai thác đất đồng bằng chưa sử dụng thông qua các chương trình đầu tư khai thác đất hoang hóa, nhất là đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi ở vùng Tứ Giác Long Xuyên; (2) tăng vụ và chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất: tăng đất 3 vụ (2 lúa – 1 màu, 1 lúa – 2 màu và chuyên 3 vụ lúa) nhờ chuyển đổi từ đất 2 vụ; đất 1 vụ chuyển qua đất 2 vụ và một phần chuyển qua đất chuyên rau, màu, cây công nghiệp hàng năm

Giai đoạn 2005 – 2010: đất trồng lúa giảm hơn 6,5 ngàn ha để chuyển đổi sang: (1) đất trồng rau, màu (tăng hơn 1,6 ngàn ha), (2) đất trồng cây lâu năm (tăng gần 2,4 ngàn, chủ yếu là cây ăn trái), (3) đất NTTS và (4) đất NN khác

2.1.1.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2012

+ Đất trồng lúa

(Xem Phụ lục Bảng PL 1)

Năm 2012, toàn tỉnh có 257.591,99 ha đất trồng lúa (trong đó có khoảng 248.778

ha đất chuyên trồng lúa nước), phân bố ở tất cả các huyện, thị, thành phố, tập trung nhiều

ở các huyện Tri Tôn 43.964,85 ha, Thoại Sơn 39.299,24 ha, Châu Phú 37.986,58 ha, Châu Thành 29.222,34 ha, Phú Tân 24.455,72 ha, Tịnh Biên 21.822,84 ha Chợ Mới 19.068,66 ha

Vì liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực, đất trồng lúa được xem là loại đất quan trọng nhất và chiếm tỷ lệ lớn nhất (96,5%) trong đất trồng cây hàng năm Trong nhiều năm qua, tỉnh luôn chú trọng bảo vệ quỹ đất trồng lúa, đồng thời đẩy mạnh thâm canh sản xuất nên sản lượng lúa của tỉnh năm sau luôn cao hơn năm trước và là một trong những tỉnh có năng suất và sản lượng lúa cao nhất cả nước

Trong nhóm đất trồng lúa, tỉnh có khoảng 2.098 ha đất trồng lúa nước khác15 (ngoài nhóm đất chuyên trồng lúa nước) và 6.763 ha đất trồng lúa nương – chủ yếu tập trung tại

2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn

+ Đất trồng cây lâu năm

Cây lâu năm (gồm có cây ăn quả), năm 2012 tổng diện tích đất trồng cây lâu năm của toàn tỉnh là 12.199,42 ha, chiếm 4,37% diện tích đất NN, trong đó tập trung chủ yếu

15 Theo phân loại của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đất trồng lúa phân thành (1) đất chuyên trồng lúa nước, (2) đất trồng lúa nước còn lại và (3) đất trồng lúa nương

Trang 29

+ Đất có rừng đặc dụng

Diện tích đất có rừng đặc dụng là 1.075,12 ha, chiếm 0,39% diện tích đất NN, phân

bố ở các huyện Tịnh Biên 701,31 ha, Tri Tôn 200 ha, Thoại Sơn 131,67 và Tp Châu Đốc 42,14 ha Diện tích đất có rừng đặc dụng có vai trò đặc biệt quan trong trong bảo tồn nguồn gen, sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái đặc trưng vùng ĐBSCL

+ Đất có rừng sản xuất

Toàn tỉnh có 4.112,15 ha, chiếm 1,47% diện tích đất NN của toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở các huyện Tri Tôn 3.926,25 ha, Tịnh Biên 168,18 ha, thị xã Châu Đốc 17,72 ha + Đất NTTS tập trung

An Giang có 4.146,83 ha, chiếm 1,49% diện tích đất NN của tỉnh; phân bố ở tất cả các địa phương, trong đó tập trung nhiều ở các huyện Thoại Sơn 821,14 ha, Châu Phú 720,51 ha và Chợ Mới 538,77 ha NTTS luôn là thế mạnh trong SXNN của An Giang trong nhiều năm qua Nhưng hiện nay ngành NTTS đang gặp rất nhiều khó khăn

+ Đất trồng cây hàng năm khác (ngoài đất trồng lúa)

Toàn tỉnh có 9.299,3 ha đất trồng cây hàng năm khác (chủ yếu là đất trồng rau, màu các loại), chiếm 3,12% diện tích đất NN, phân bố nhiều ở các huyện Chợ Mới 4.239,54

ha, An Phú 1.530,94 ha, Tân Châu 1.304,5 ha

Trang 30

30

SXNN là 1,62 ha (vùng ĐBSCL là 1,23 ha, cả nước là 0,85 ha) Cơ cấu hộ chia theo quy

mô như sau: dưới 0,2 ha có 14% số hộ, từ 0,2 đến dưới 0,5 ha có 25% số hộ, từ 0,5 ha đến dưới 2 ha có 45% số hộ, từ 2 ha trở lên có 16% số hộ Như vậy, có đến 84% số hộ có diện tích đất SXNN dưới 2 ha; 39% số hộ dưới 0,5 ha [Toàn vùng ĐBSCL có 90% số hộ

có đất SXNN dưới 2 ha; 48% số hộ dưới 0,5 ha]

Đối với đất trồng cây hàng năm, toàn tỉnh có 155.889 hộ có sử dụng đất trồng cây hàng năm Diện tích đất trồng cây hàng năm bình quân 1 hộ có đất trồng cây hàng năm là 1,71 ha (vùng ĐBSCL là 1,33 ha) Cơ cấu hộ chia theo quy mô như sau: dưới 0,2 ha có 7% số hộ, từ 0,2 đến dưới 0,5 ha có 27% số hộ, từ 0,5 ha đến dưới 2 ha có 49% số hộ, từ

2 ha trở lên có 17% số hộ Như vậy, có đến 83% số hộ có diện tích đất trồng cây hàng năm dưới 2 ha; 34% số hộ dưới 0,5 ha [Toàn vùng ĐBSCL có 88% số hộ có đất trồng cây hàng năm dưới 2 ha; 42% số hộ dưới 0,5 ha]

Đối với đất trồng lúa, toàn tỉnh có 145.011 hộ có sử dụng đất trồng lúa Diện tích đất trồng lúa bình quân 1 hộ có trồng lúa là 1,78 ha (vùng ĐBSCL là 1,41 ha) Cơ cấu hộ chia theo quy mô như sau: dưới 0,2 ha có 5,5% số hộ, từ 0,2 đến dưới 0,5 ha có 26% số

hộ, từ 0,5 ha đến dưới 2 ha có 50% số hộ, từ 2 ha trở lên có 18,5% số hộ Như vậy, có đến 81,5% số hộ có diện tích đất trồng lúa dưới 2 ha; 31,5% số hộ dưới 0,5 ha [Toàn vùng ĐBSCL có 87% số hộ có đất trồng lúa dưới 2 ha; 38,5% số hộ dưới 0,5 ha]

Cũng theo TĐTNNNTTS-2011, toàn tỉnh có 172.435 hộ (cả nước có 11.948.261 hộ)

có sử dụng đất SXNN, giảm 53.748 hộ (-31,2%) so với TĐTNNNTTS-200616 (cả nước tăng 2,5%) Do đó, quy mô đất SXNN của hộ tăng từ 1,02 ha năm 2006 lên 1,62 ha năm

2011 nhưng vẫn phổ biến là nhỏ lẻ Đến năm 2011 vẫn còn 39% số hộ sử dụng đất SXNN có quy mô dưới 0,5 ha (giảm không nhiều so với mức 34% của năm 2006); 84%

số hộ có quy mô dưới 0,2 ha (giảm không nhiều so với mức 86% của năm 2006) Điều này đã và đang hạn chế ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong SXNN; hạn chế NN phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, phân công lại lao động trong NT Tuy nhiên, đến năm 2011, toàn tỉnh có 16% số hộ có quy mô đất SXNN từ 2

ha trở lên, tăng 2 điểm phần trăm so với năm 2006 (14%) Đây là một dấu hiệu tích cực của tích tụ ruộng đất, góp phần thực hiện chủ trương phát triển mô hình “cánh đồng mẫu lớn” đáp ứng yêu cầu sản xuất lớn hàng hóa trong SXNN Thực tế khảo sát ở Chợ Mới, Châu Thành cho thấy: những nông dân có diện tích sản xuất quy mô trên 30 ha đều đầu

tư máy móc, phương tiện sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật vào cây trồng đạt năng suất

và lãi thu được sau thu hoạch cao hơn so với các nông hộ có sử dụng đất đai chỉ vài ba héc-ta Các hộ có diện tích nhỏ đều phải chịu chi phí sản xuất cao do phải thuê mướn máy móc từ khâu sản xuất đến thu hoạch…

16 Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn năm 2006

Trang 31

31

Đối với đất trồng lúa: Số hộ có sử dụng đất trồng lúa chiếm trên 84% số hộ có sử dụng đất SXNN So sánh năm 2011 với năm 2006, diện tích đất trồng lúa giảm 2,1% (-5.460 ha), trong khi số hộ có sử dụng đất trồng lúa giảm đến 47,2% (giảm 68.505 hộ) nên diện tích đất lúa bình quân 1 hộ đã tăng từ 1,23 ha năm 2006 lên 1,78 ha năm 2011 (+0,55 ha/hộ) Nhưng quy mô sử dụng đất lúa của đại đa số các hộ nhìn chung còn rất nhỏ (81,5% số hộ có diện tích đất trồng lúa dưới 2 ha; 31,5% số hộ dưới 0,5 ha) Phản ánh ngành sản xuất lúa đến nay vẫn ở tình trạng nhỏ lẻ, manh mún, tích tụ, tập trung ruộng đất chậm

Tình trạng trên là do: Một là, SXNN rủi ro cao, tỷ lệ đầu tư thấp; Hai là, đất đai vẫn được coi là tài sản quý của gia đình nông dân, có đất đai nông dân thấy an toàn hơn; Ba

là, tỷ lệ số hộ trong NT chia đất cho thế hệ con cái [theo truyền thống kế thừa tài sản]

chiếm tới 90%, trong khi đó, số hộ tập trung ruộng đất để phát triển trang trại chưa đầy

3%; Bốn là, Thị trường đất NN chỉ phát triển ở những nơi có sản xuất phi NN và NN

được phát triển theo hướng hàng hóa

ha đến dưới 3 ha có 30,3% số hộ, từ 3 ha đến dưới 5 ha có 4,5% số hộ, từ 5 ha đến dưới

10 ha có 0,9% số hộ và từ 10 ha trở lên có 1,4% số hộ [Tỷ lệ này của vùng ĐBSCL là 45,4% - 10,6% - 29,9% - 12,5% - 1,6%]

2.1.2 Thực trạng phát triển ngành nông lâm thủy sản

2.1.2.1 Tổng quan kinh tế nông lâm thủy sản

Kinh tế NN (theo nghĩa rộng bao gồm: NN, LN và thủy sản, còn gọi là Khu vực I, viết tắt là KV I) đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế và ổn định chính trị,

xã hội đối với tỉnh An Giang

Đến năm 2012, NLTS vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao: 31% trong tổng GDP (tỷ lệ này của các năm 2000, 2005, 2010 lần lượt là 41,5%, 38,5%, 33,6%) và 56% tổng số lao động đang làm việc (tỷ lệ này của các năm 2000, 2005, 2010 lần lượt là 78%, 71%, 57%)

Trang 32

32

Tuy nhiên, đóng góp của KV I vào tăng trưởng kinh tế cả tỉnh đã suy giảm nhanh từ 23%

giai đoạn 2000-2005 xuống còn 12% giai đoạn 2005-2010 và chỉ còn 7% giai đoạn

2010-2012

GDP KV I tăng bình quân 4,5%/năm ở thời kỳ 2001 – 2010, thấp hơn so với Khu

vực II17 (12,3%/năm) và Khu vực III18 (12,2%/năm) [Cùng trong thời kỳ này, tổng GDP

của cả nền kinh tế tăng bình quân 9,6%/năm]

Hình 2.4 cho thấy tăng trưởng GDP Khu vực I không ổn định: tăng/giảm, âm/dương

đan xen nhau; liên tục giảm từ năm 2007 và giảm nhanh ở các năm 2010, 2011, 2012

Năm 2012, toàn ngành NLTS tăng 1,7%, trong đó: NN tăng 2,3%, TS giảm 2,6%

Bảng 2.3: Tăng trưởng GDP thời kỳ 2001-2010, các năm 2010, 2011, 2012

Phần trăm đóng góp vào tăng trưởng kinh tế (%) 100 100 100

Nguồn: NGTK năm 2012 tỉnh An Giang

Các con số trên cho thấy khu vực kinh tế NN đang bất ổn, suy giảm liên tục và

nhanh (từ năm 2007) Đây là khu vực sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa chủ lực, thế

mạnh của tỉnh như lúa, cá; và là khu vực tạo ra thu nhập (chính) và việc làm cho phần lớn

17 Khu vực II gồm ngành công nghiệp – xây dựng

18 Khu vực III gồm các ngành dịch vụ

Trang 33

33

dân cư, nhất là ở khu vực NT Nếu tỉnh An Giang không chủ động kiểm soát những bất

ổn và ngăn chặn đà suy giảm này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, chính trị, an sinh xã hội trên địa bàn

Trong 3 năm gần đây (2010-2012), GTSX trên 1 ha đất NN đạt 115 – 150 triệu đồng/năm, trong đó: GTSX trên 1 ha đất SXNN là 95 – 130 triệu/năm, GTSX trên 1 ha đất NTTS là 1,6 – 2 tỷ/năm (gấp 14 – 15 lần GTSX trên đất SXNN) Tuy nhiên, đất NTTS đến nay cũng chỉ chiếm 1,5% diện tích đất NN [mặc dù tăng rất nhanh trong giai đoạn 2000 – 2012 (bảng 2.2)]

Hình 2.4

Nguồn: NGTK năm 2012 tỉnh An Giang

So với các tỉnh trong vùng ĐBSCL, GTSX/ha đất NTTS của tỉnh An Giang cao hàng thứ 2, chỉ đứng sau Tp Cần Thơ – khoảng 4 tỷ đồng/ha nuôi trồng (xem Phụ lục bảng PL2 và PL3)

Bảng 2.5: Chỉ tiêu kinh tế nông lâm thủy sản tỉnh An Giang

Trang 34

Nguồn: NGTK năm 2012 tỉnh An Giang

(*) NSLĐ khu vực I năm 2010 của tỉnh Kiên Giang là 31,4 triệu đồng/lao động, tỉnh Cà

Mau là 20,5 triệu đồng/lao động, Đồng Tháp là 20,8 triệu đồng/lao động

Trang 35

Theo TĐTNNNTTS-2011, tổng lao động NLTS trong độ tuổi lao động20 của toàn tỉnh An Giang vào năm 2011 là 529.900 người, trong đó: lao động NN chiếm 96%, lao động LN 0,2% và lao động TS 3,8% [Tỷ lệ này của vùng ĐBSCL là 83,6% - 0,2% - 16,2%] Chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật như sau: chưa qua đào tạo và không có bằng/chứng chỉ 98,54%, sơ cấp, công nhân kỹ thuật 0,56%, trung cấp 0,55%, cao đẳng 0,15% và đại học trở lên 0,20% [Tỷ lệ này của vùng ĐBSCL là 98,29% - 0,57% - 0,69%

- 0,21% - 0,24%] Có thể nói, trình độ chuyên môn của lao động NLTS hiện rất thấp (hơn 98,5% chưa qua đào tạo) Đây thực sự là một rào cản, thách thức lớn để tỉnh An Giang phát triển nền NN hàng hóa cạnh trạnh, năng suất và chất lượng

2.1.2.3 Về số đơn vị kinh tế thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản

Theo TĐTNNNTTS-2011, số đơn vị NLTS của tỉnh như sau: có 4 doanh nghiệp, 76 HTX, 227.965 hộ (trong đó có 662 trang trại21, gồm 602 trang trại trồng trọt, 3 chăn nuôi,

56 NTTS và 1 tổng hợp) So với các tỉnh trong vùng ĐBSCL, An Giang đứng đầu về số trang trại trồng trọt (602/2.247 trang trại trồng trọt của vùng ĐBSCL), nhưng khá thấp về

số trang trại chăn nuôi (3/657 trang trại chăn nuôi của vùng ĐBSCL) và số doanh nghiệp hoạt động trong ngành NN (4/949 doanh nghiệp NN của vùng ĐBSCL)

a) Hộ NLTS

Hộ NLTS là nhóm đơn vị sản xuất quan trọng nhất trong lĩnh vực NLTS trên các phương diện sử dụng đất đai, lực lượng lao động, hàng hóa sản xuất ra

Theo Điều tra năm 2011, toàn tỉnh có 227.965 hộ NLTS, giảm 22.098 hộ (-8,84%)

so với Diều tra vào năm 2006 Trong đó, hộ NN là 218.998 hộ, chiếm 96%; hộ LN là 453

hộ và hộ thủy sản là 8.594 hộ (chiếm 4%)

19 NSLĐ được tính bằng GDP (giá thực tế) chia cho số lao động đang làm việc

20 Lao động trong độ tuổi lao động bao gồm: Nam từ 15 đến dưới 60 tuổi và Nữ từ 15 đến dưới 55 tuổi

21 Ngày 13 tháng 4 năm 2011, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư số 27/2011/TT - BNNPTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Theo tiêu chí mới này, số lượng trang trại ở nước ta giảm mạnh

từ 146 ngàn trang trại vào năm 2010 xuống còn hơn 20 ngàn trang trại vào thời điểm 01/7/2012 Do đó, Báo cáo này không so sánh số lượng trang trại giữa 2 cuộc điều tra năm 2006 và 2011

Trang 36

Tăng giảm so với 01/07/2006

Số vốn (tài sản) bình quân trên 1 HTX có đến 31/12/2010 là 1,16 tỷ đồng (vốn

SXKD năm 2005 là 575 triệu/HTX) Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của

76 HTX trong năm 2010 đạt 83,2 tỷ đồng, bình quân doanh thu là 1,1 tỷ đồng/HTX (của

vùng ĐBSCL là 1,6 tỷ đồng/HTX)

Sau 5 năm 2005 – 2010, hoạt động của các HTX NLTS đã có những chuyển biến

trên một số mặt Các HTX đã làm được một số khâu dịch vụ cơ bản phục vụ sản xuất

NLTS Hoạt động kinh doanh của nhiều HTX NN là vừa bảo đảm nguyên tắc thu đủ bù

chi lại vừa tạo nền tảng phục vụ sản xuất, kinh tế hộ và sự phát triển chung của cộng

đồng Tuy nhiên, HTX NLTS còn không ít khó khăn, bất cập: số HTX giảm so với năm

2005 (giảm 16 HTX), chưa tương xứng với yêu cầu phát triển sản xuất Vai trò HTX dịch

vụ cho kinh tế hộ còn mờ nhạt HTX tổ chức hoạt động dịch vụ nhưng phần lớn các dịch

Trang 37

c) Doanh nghiệp NN

Tổng vốn (tài sản) của 4 doanh nghiệp NN có đến 31/12/2010 là 907 tỷ đồng, bình quân tài sản là 90 tỷ đồng/doanh nghiệp (của vùng ĐBSCL là 6,9 tỷ đồng/doanh nghiệp) Như vậy, mặc dù số lượng doanh nghiệp rất ít nhưng quy mô vốn của doanh nghiệp NN trên địa bàn tỉnh An Giang là khá lớn so với các tỉnh trong vùng ĐBSCL Năm 2010 SXKD của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, bình quân 1 doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế là âm 1 tỷ đồng

d) Kinh tế trang trại

Theo TĐTNNNTTS-2011, toàn tỉnh có 663 trang trại22 Số lao động làm việc thường xuyên tại các trang trại là 3.166 người, bình quân có 5 lao động/trang trại Các trang trại sử dụng 7.231 ha đất SXNN (trong đó: đất trồng cây hàng năm chiếm 97,4% diện tích, đất cây lâu năm 0,5%, đất LN 0,2% và đất NTTS 1,9%); bình quân 1 trang trại

có 10,9 ha đất sản xuất (chủ yếu là đất trồng cây hàng năm) Kết quả SXKD trong năm 2010: tổng giá trị thu từ NLTS của 663 trang trại là 1.070 tỷ đồng, doanh thu bình quân 1,6 tỷ đồng/trang trại (của vùng ĐBSCL là 1,5 tỷ đồng/trang trại) Giá trị thu được bình quân 1 ha đất canh tác của loại hình kinh tế trang trại là 148 triệu đồng, cao hơn 35 triệu/ha so với loại hình kinh tế hộ (bình quân là 113 triệu đồng/ha) Tuy nhiên, xét về hiệu quả kinh tế, kinh tế trang trại chưa tương xứng với yêu cầu phát triển

Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất NLTS Loại hình sản xuất trang trại đa dạng đã góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất NLTS Các trang trại sử dụng đất đai với số lượng lớn, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, tạo ra nhiều sản phẩm và sản phẩm hàng hoá NLTS

22 Tiêu chí trang trại theo Thông tư số 27/2011/TT – Bộ NNPTNT

Trang 38

38

Bên cạnh những kết quả đạt được, đến nay trang trại vẫn còn nhiều khó khăn như: (1) thiếu đất sản xuất; thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật; thiếu vốn; thiếu thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm; thiếu giống; thiếu dịch vụ hỗ trợ sản xuất; thiếu lao động; khó tiêu thụ sản phẩm Khảo sát thực tiễn cho thấy các trang trại mong muốn: (1) được cấp giấy quyền sử dụng đất; (1) hỗ trợ dịch vụ giống, cây, con; (3) hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm; (4) hỗ trợ đào tạo kiến thức quản lý; (4) hỗ trợ lãi suất ngân hàng và (5) hỗ trợ khoa học

kỹ thuật sản xuất và sơ chế sản phẩm Trong thời gian tới, tỉnh An Giang cần quan tâm nghiên cứu và tìm giải pháp để phát huy lợi thế của loại hình kinh tế này

2.1.3 Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp

Theo giá so sánh 1994:

GTSX ngành NN năm 2010 là 7,7 ngàn tỷ đồng, năm 2012 là 8,2 ngàn tỷ; đạt tốc độ tăng bình quân 5,2%/năm thời kỳ 2001-2010, trong đó: trồng trọt tăng 5,2%/năm, chăn nuôi tăng 3,9%/năm và dịch vụ NN tăng 5,7%/năm) (bảng 2.5)

GDP ngành NN năm 2010 là 3,8 ngàn tỷ đồng, năm 2012 là 4 ngàn tỷ; đạt tốc độ tăng bình quân 4,7%/năm ở thời kỳ 2011-2010

Theo giá thực tế:

GTSX ngành NN năm 2010 là 26,7 ngàn tỷ đồng và năm 2012 là 35,2 ngàn tỷ; Trong đó: trồng trọt chiếm 81,3%, chăn nuôi 6,4% và dịch vụ NN 12,3% Cơ cấu nội bộ ngành NN gần như không thay đổi trong hơn 10 năm qua: trồng trọt luôn chiếm tỷ lệ rất lớn (thấp nhất là 77,5% năm 2001, cao nhất là 84,4% năm 2011), chăn nuôi chưa vượt ngưỡng 10% và dịch vụ NN dao động từ 7% đến 15% tổng GTSX ngành NN

Trong trồng trọt, dẫn đầu là nhóm cây lương thực có hạt (chiếm 75 – 80% tổng GTSX của ngành), tiếp đến là nhóm rau đậu các loại (chiếm 15 – 20%) và sau cùng là nhóm cây công nghiệp hàng năm và lâu năm (chiếm dưới 10%) Trong chăn nuôi, nhóm gia súc (chủ yếu là bò, heo) luôn chiếm tỷ trọng lớn, chiếm trên 65%; nhóm gia cầm (gà, vịt) tăng nhanh trong năm 2012 và hiện chiếm 30% (so với 11%, 12% các năm 2010, 2011)

GDP ngành NN năm 2010 là 13,6 ngàn tỷ đồng, năm 2012 là 17,9 ngàn tỷ, chỉ chiếm 27,4% tổng GDP nền kinh tế nhưng chiếm đến 88% GDP KV I Cho thấy NN vẫn

là ngành kinh tế chính trong KV I cũng như trong toàn nền kinh tế tỉnh An Giang

Xét về hiệu quả kinh tế: tỷ lệ GDP/GTSX (hay tỷ lệ VA/GO) của ngành NN cũng

có xu hướng giảm, giảm từ gần 55% năm 2000 xuống mức 51% năm 2012

Trang 39

39

Bảng 2.7: Chỉ tiêu kinh tế ngành nông nghiệp tỉnh An Giang

2000 2005 2010 2011 2012 Quy mô GTSX ngành NN

Cơ cấu nội bộ ngành trồng trọt

Quy mô ngành chăn nuôi

Trang 40

40

2.1.3.1 Ngành trồng trọt

Nhiều năm qua, tỉnh An Giang luôn nỗ lực chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng kết hợp giữa đa dạng hóa các sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao với tăng cường ứng dụng KH - CN để nâng cao năng suất, chất lượng và giảm chi phí, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa, gia tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác GTSX trồng trọt bình quân trên 1 ha đất canh tác hiện đạt trên 100 triệu đồng23 (năm

2010 là 81 triệu đồng), tăng gần 85 triệu/ha so với năm 2000

Đất canh tác NN ổn định khoảng 279 ngàn ha từ năm 2010 đến nay So năm 2010 với năm 2000, diện tích đất canh tác tăng gần 24 ngàn ha, bình quân tăng thêm 2.400 ha/năm (chủ yếu là đất trồng cây hàng năm)

Có sự gia tăng đáng kể trong diện tích gieo trồng cây hàng năm, đã nâng hệ số sử dụng đất (hệ số lần) cây hàng năm trên địa bàn tỉnh từ 1,95 lần năm 2000 lên 2,30 lần năm 2010 và gần 2,56 lần năm 2012

Diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm giảm 980 ha trong giai đoạn 2000 – 2012, bình quân giảm trên 80 ha/năm

Năng suất các loại cây trồng (cây lương thực, rau màu thực phẩm…) đều tăng bình quân trên 2%/năm, riêng nhóm đậu thực phẩm tăng trên 6%/năm

Hai mặt hàng xuất khẩu chính là gạo và rau quả đông lạnh Khối lượng xuất khẩu gạo trên 570 ngàn tấn (2012), rau quả đông lạnh trên 4.700 tấn (2012) Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 288,5 triệu USD năm 2012, chiếm trên 33% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh

Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu chủ yếu ngành trồng trọt

ĐVT 2000 2005 2010 2011 2012 TĐTBQTK 2001-2010

I Tổng DT canh tác Ha 255.465 281.862 279.349 279.131 279.080 0,9 TĐ: cây hàng năm Ha 248.454 272.108 267.206 266.935 266.881 0,7

Ngày đăng: 21/11/2016, 02:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Ban chấp hành Trung ương (2008). Nghị quyết số 26 - NQ/T.Ư của Ban chấp hành Trung Ương Khóa X về NN, nông dân, NT Khác
2) Ban chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết 24-NQ/TW Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Khác
3) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006). Chiến lược phát triển giống cây Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 Khác
4) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007). Chiến lược Quốc gia sau thu hoạch lúa, ngô, đậu tương và lạc đến năm 2020 Khác
5) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008). Chiến lược nghiên cứu Lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020 Khác
6) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009). Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 - 2020 Khác
7) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013). Nông nghiệp Việt Nam ứng phó với BĐKH: Cơ hội và thách thức Khác
9) Chính phủ Việt Nam (2003). Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo Khác
10) Chính phủ Việt Nam (2006). Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước Khác
11) Chính phủ Việt Nam (2006). Quyết định số 2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 Khác
12) Chính phủ Việt Nam (2007). Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 Khác
13) Chính phủ Việt Nam (2007). Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 Khác
14) Chính phủ Việt Nam (2008). Chiến lược phát triển Chăn nuôi đến năm 2020 Khác
15) Chính phủ Việt Nam (2009). Định hướng Chiến lược Phát triển thuỷ lợi Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Sử dụng đất đai nông nghiệp giai đoạn 2000 – 2010, 2011, 2012 - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 2.2 Sử dụng đất đai nông nghiệp giai đoạn 2000 – 2010, 2011, 2012 (Trang 26)
Hình 2.12: Chuyển dịch cơ cấu diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Hình 2.12 Chuyển dịch cơ cấu diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm (Trang 62)
Hình 2.14: Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành lâm nghiệp thời kỳ 2001-2012 - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Hình 2.14 Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành lâm nghiệp thời kỳ 2001-2012 (Trang 73)
Bảng 2.35 cho thấy tỷ trọng GDP ngành thủy sản liên tục giảm dần từ 6,2% năm - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 2.35 cho thấy tỷ trọng GDP ngành thủy sản liên tục giảm dần từ 6,2% năm (Trang 84)
Bảng 2.40: Số lượng lồng bè nuôi thủy sản - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 2.40 Số lượng lồng bè nuôi thủy sản (Trang 87)
Hình 2.24: Sản lượng cá rô phi nuôi lồng bè và nuôi ao hầm năm 2012 - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Hình 2.24 Sản lượng cá rô phi nuôi lồng bè và nuôi ao hầm năm 2012 (Trang 96)
Hình 2.28: Thực hiện chuỗi liên kết - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Hình 2.28 Thực hiện chuỗi liên kết (Trang 104)
Bảng 2.45: Số xã, số thôn, hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo mới của quốc gia - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 2.45 Số xã, số thôn, hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo mới của quốc gia (Trang 109)
Bảng 2.51: Trình độ của cán bộ chủ chốt xã - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 2.51 Trình độ của cán bộ chủ chốt xã (Trang 124)
Bảng 4.17: Vị trí, diện tích có khả năng trồng rừng mới giai đoạn 2011- 2020 - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 4.17 Vị trí, diện tích có khả năng trồng rừng mới giai đoạn 2011- 2020 (Trang 217)
Bảng 4.23: Diện tích nuôi trồng thủy sản - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 4.23 Diện tích nuôi trồng thủy sản (Trang 229)
Bảng 4.26: Diện tích NTTS năm 2015 - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 4.26 Diện tích NTTS năm 2015 (Trang 232)
Bảng PL2: - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
ng PL2: (Trang 304)
Bảng PL3: - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
ng PL3: (Trang 304)
Bảng PL5: - QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
ng PL5: (Trang 306)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w